PDA

View Full Version : [qdnd]Điệp viên hoàn hảo



Winner
04-10-2009, 01:04 AM
(Kỳ 1): Nhà tình báo và người bạn

http://www.qdnd.vn/portal/images/Share/sknc-xuan-an-ky-2-(2).jpgPhạm Xuân Ẩn đi đến tiệm cà phê Girval, Sài Gòn năm 1973Thiếu tướng tình báo - anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Phạm Xuân Ẩn nói về cái nghiệp tình báo đã vận vào mình: "Người ta có thể nói gì về cuộc sống khi mà luôn chuẩn bị sẵn sàng hi sinh".
Dưới ngòi bút của giáo sư - nhà sử học Mỹ Larry Berman trong cuốn sách Điệp viên hoàn hảo, nhà báo trong vỏ bọc mà Phạm Xuân Ẩn tạo ra thuở nào nhằm hoàn thành nhiệm vụ tình báo được giao đã nhập vai một cách hoàn hảo. Hai cuộc đời hoàn hảo trong một cuộc đời hoàn hảo.
Tháng 8-1970. Chuyến bay 90 phút từ Singapore đến Sài Gòn đối với cô Diane Anson dường như dài bất tận. Vài ngày trước đó, cô nhận được thông báo chính thức rằng chồng cô, nhà báo Robert Sam Anson, làm việc cho tạp chí Time, đãmất tích ở Campuchia.
Ngày mất tích là 3-8-1970. Ngoài ra không có một thông tin nào khác.
Rời phi trường, Diane đi thẳng tới trụ sở văn phòng tạp chí Time-Life đặt tại khách sạn Continental. Một tay bế con trai Sam mới 15 tháng tuổi, còn tay kia dắt đứa con gái Christian mới hai tuổi rưỡi, cô vào hết phòng này đến phòng khác để hỏi các phóng viên tại đây thông tin về chồng mình. Diane sợ điều xấu nhất đã xảy ra đối với người phóng viên trẻ nhất của tạp chí Time, đồng thời là người chồng mới 25 tuổi của mình.
Quan điểm chung
Khi nhận nhiệm vụ sang Việt Nam, cũng như hầu hết các phóng viên trẻ đến Việt Nam, Bob Anson kỳ vọng rằng chuyến công tác này là cơ hội để anh tạo dựng danh tiếng của mình giống như các đồng nghiệp David Halberstam, Malcolm Browne và Neil Sheehan đã từng làm những năm đầu thập kỷ 1960.
Nhưng sau vài tháng ở Việt Nam, các bài viết của Anson không được đăng trên tạp chí Time. Hai phóng viên cao cấp thường trú tại Sài Gòn là Clark và Burt Pines dường như cũng gặp ít nhiều rắc rối khi các bài viết của họ không được trưởng ban biên tập tạp chí Time ở New York duyệt.
Trong mắt của Anson, cuộc chiến tranh này là giết chóc và vô đạo đức. Đây cũng chính là quan điểm chung về cuộc chiến tranh tồi tệ được cảm nhận ở mọi nơi, trừ bên trong bốn bức tường của văn phòng tạp chí Time ở Sài Gòn cũng như tại tổng hành dinh tờ tạp chí này ở New York.
Khi Anson nêu vấn đề với ban biên tập tạp chí Time về sự tự quyết của người Việt Nam, anh liền bị gán cho nhãn hiệu là kẻ phản chiến nhụt chí và ấm đầu.
Trong một bữa tiệc tối tại văn phòng tạp chí Time do John Scott - một ủy viên biên tập - chủ tiệc, cuộc nói chuyện xoay quanh vấn đề Mỹ đang giành được những tiến bộ lớn trong chiến tranh, người ta lảng tránh thực tế bằng cách đưa ra những thành tích bằng con số lấp lánh.
Anson không thể chịu được nữa, anh xổ ra một tràng: "Các bạn đã bỏ qua một điểm chính rồi. Người Việt Nam đã từng đánh bại Nhật Bản, đánh bại Pháp, và họ đang đánh bại chúng ta, bất kể chúng ta đã dùng đến vũ khí gì để đánh họ. Người Việt Nam kiên trì lắm, họ rất quyết tâm, và lịch sử đang đứng về phía họ. Có lẽ các người không nhận ra điều đó”.
Anson không hề cảm thấy hối tiếc những điều anh đã nói. Nhưng chính những lời anh nói ra đã mang lại tai họa cho anh. Marsh Clark bí mật gửi một lá thư báo cáo các sếp ở New York.
Nhận được thư của Clark, lãnh đạo tạp chí Time ở New York liền gửi một lá thư cho tất cả các phóng viên và biên tập viên của tạp chí Time đang làm việc trên khắp thế giới rằng: "Trước khi đến Việt Nam, Bob đã từng cảm thấy rằng cuộc chiến tranh ở Việt Nam là vô đạo đức; và rằng Việt Nam hóa chiến tranh chỉ đơn giản là kéo dài cuộc chiến tranh vô đạo đức mà thôi. Chẳng có điều gì ở Việt Nam khiến Bob thay đổi được cách nhìn cũ của anh ta".
Bob Anson muốn từ chức sau khi đọc được những điều mà anh hiểu rằng Clark đã công khai muốn đuổi anh đi. Đó là lý do tại sao anh đã đi tìm gặp một người bạn thân nhất của mình ở Việt Nam: Phạm Xuân Ẩn. Giống như hầu hết các phóng viên ở Sài Gòn, Anson khâm phục Phạm Xuân Ẩn vì các mối quan hệ của ông trong phủ tổng thống và Bộ Tổng tham mưu quân đội Sài Gòn.
Phạm Xuân Ẩn dường như biết tất cả mọi người và mọi điều xảy ra ở Sài Gòn, đồng thời luôn sẵn sàng giúp đỡ các phóng viên Mỹ tìm hiểu về đất nước ông. Tại phân xã các tòa báo nước ngoài, người ta đồn rằng Phạm Xuân Ẩn là cựu nhân viên mật vụ dưới thời Ngô Đình Diệm, một điệp viên của Pháp, một nhân viên CIA, một điệp viên của Chính quyền Sài Gòn, hoặc là cùng lúc làm điệp viên cho tất cả các cơ quan nói trên.
Trách nhiệm nặng nề
Diane khóc nức nở khi cô tới văn phòng Phạm Xuân Ẩn. Suốt cuộc gặp, Phạm Xuân Ẩn cứ nhìn chằm chằm vào hai đứa trẻ. Phạm Xuân Ẩn lắng nghe lời của Diane cầu xin giúp đỡ tìm kiếm chồng mình. Trong đầu ông bỗng nhớ lại cách đó vài tuần, Bob Anson đã hẹn gặp ông ở tiệm cà phê Givral để nhờ ông đọc qua lá thư xin từ chức mà Bob định sẽ gửi cho Marsh Clark. Ông đã bảo Anson xé lá đơn xin từ chức đó đi.
Nếu ông không khuyên Anson như vậy, rất có thể hôm nay biết đâu gia đình Anson lại chẳng đang cùng nhau đi nghỉ ở Singapore hay Bali. Nếu Anson trước đó từ chức thì anh đã không phải sang Campuchia. Bởi vì vài tuần sau khi Anson gặp ông ở tiệm cà phê Givral, Marsh Clark gọi Anson tới văn phòng của ông ta - nơi có treo trên tường một tấm bản đồ Đông Dương khổ lớn.
Clark chỉ vào Việt Nam, nói với Anson: "Tôi phụ trách đưa tin khu vực này". Sau đó ông ta chỉ sang vị trí nước Lào và Campuchia nói: "Còn hai nước này thuộc về anh phụ trách". Kết thúc buổi làm việc hôm ấy, Clark bảo Anson đóng gói đồ đạc để ra sân bay: "Tôi không muốn thấy mặt anh ở đây nữa".
Phạm Xuân Ẩn cố tìm lời an ủi Diane bằng cách nói rằng ông sẽ làm tất cả mọi điều có thể để giúp đỡ, nhưng trong lòng thì cũng nghĩ rằng bạn mình có thể không còn nữa. Chính vì thế mà ông thấy mình càng phải có trách nhiệm hơn. Phạm Xuân Ẩn hứa với Diane rằng ông sẽ tiếp tục kiểm tra các nguồn tin.
Sau khi Diane và hai đứa nhỏ rời văn phòng, Phạm Xuân Ẩn suy nghĩ mông lung về người bạn Bob Anson của mình. Ông biết rõ những điều cần làm, nếu không cẩn thận có thể làm hỏng sứ mệnh của mình.
Nhà tình báo hàng đầu của Hà Nội ở Sài Gòn chấp nhận rủi ro bị lộ tẩy để cứu mạng sống cho một phóng viên người Mỹ. Ông biết rằng nếu Bob Anson chết, người Việt Nam cũng mất đi một người bạn chân chính. Trong lòng ngập tràn trách nhiệm nặng nề về sự mất tích của Anson, Phạm Xuân Ẩn quyết tâm tìm bằng được câu trả lời về việc Anson còn sống hay đã chết.
http://www.qdnd.vn/QDNDSite/vi-VN/89/70/79/79/79/21175/Default.aspx

Winner
04-10-2009, 01:06 AM
Kỳ 2: Ai là người mang bí số H.3?

Giữa mịt mù khói và dòng người cuồn cuộn trong ngày 30-4-1975 đó, có lẽ H3 là người lính cộng hoà hiếm có thấy cuộc đời thật bình yên. Bởi hơn ai hết, H3 là người hiểu rõ rằng: Chiến tranh ở Việt Nam đã thực sự kết thúc. Và người Mỹ không có ý định quay trở lại xứ sở này.


Để có được niềm tin chắc chắn như vậy, ông đã phải ẩn mình suốt 10 năm trời trong hàng ngũ của chính quyền Sài Gòn.
Những câu hỏi không được phép trả lời sai
Trở lại năm 1973. Hiệp định Paris về việc Mỹ chấm dứt sự can thiệp vào chiến tranh Việt http://www.qdnd.vn/portal/images/Share/070500dung-my-lai.jpg
Lính Mỹ thảm sát dân thường ở Mỹ Lai
Nam được ký kết. Miền Bắc nỗ lực chuẩn bị cho cuộc tổng tấn công hoàn toàn giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam chuẩn bị gấp rút cho 1 cuộc tổng nổi dậy để hoàn toàn giành chính quyền. Chính quyền Sài Gòn cũng cố gắng tối đa tận dụng mọi nguồn lực để giành đất, giành dân theo kế hoạch "tràn ngập lãnh thổ".
Tuy nhiên, người ta vẫn thấy trong những trận càn, trận đánh trên chiến trường Nam bộ cái bóng dáng chiến tranh kiểu Mỹ, bởi những đồng đôla xanh, những vũ khí Mỹ, trang bị Mỹ và cố vấn Mỹ vẫn tiếp tục được gửi sang miền Nam Việt Nam.
Chính vì thế, trong hàng ngũ tướng tá cộng hoà đã xì xầm lên những tin đồn, rằng: nếu như Sài Gòn thất thủ, Mỹ sẽ không để yên cho phe cộng sản Bắc Việt. Những cuộc tắm máu có thể xảy ra...
Tin đồn ấy cứ như vệt dầu loang, trở thành đòn tâm lý chiến buộc những người cầm quân giữa hai phía phải thực sự cân não. Là người Việt, không kể Nam hay Bắc, dẫu có lạc quan nhất cũng không thể không trăn trở: Vậy thì cuối cùng, Mỹ thực sự đang quan tâm điều gì? Mỹ đã thật sự “ớn” với cuộc chiến ở xứ Đông Dương?
Tất cả mạng lưới tình báo mật của quân giải phóng ở miền Nam đã phải vào cuộc. Căng thẳng. Gấp rút. Dồn dập. Mọi sức lực và trí tuệ đều được huy động tối đa để tìm ra câu trả lời chính xác, giúp Bộ Chính trị tại Hà Nội có được quyết định đúng đắn nhất.
Chỉ riêng với đầu mối H3, ngay sau khi tổ chức tình báo miền Nam bắt lại được liên lạc, liên tiếp trong những tháng cuối năm 1974, hàng loạt câu hỏi tới tấp từ Hà Nội dội về tận trong lòng của BTTM Quân đội Sài Gòn: Liệu khi ta giải phóng miền Nam, Mỹ có thể can thiệp và can thiệp tới đâu? Khả năng cung cấp phương tiện chiến tranh của Mỹ như thế nào? Mỹ có tiếp tục duyệt ngân sách hỗ trợ quân sự cho chính quyền Nam Việt Nam hay không? Bố phòng quân lực, kế hoạch đôn quân, bắt lính của chính quyền Sài Gòn ra sao? Địch đánh giá tình hình về ta như thế nào?...
Thời điểm đó, hai miền vẫn nằm trong thế giằng co nhau để giữ đất. Nhìn trên bản đồ bố phòng của quân đội Việt Nam Cộng hoà, rõ ràng là nếu muốn chấm dứt cuộc chiến này, chắc chắn ta phải dùng đến quân đội chủ lực.
Song lại có một vấn đề nữa đặt ra, khi đã dốc toàn lực vào miền Nam tức là ta phải đảm bảo một kết quả toàn thắng. Toàn thắng không chỉ cho một năm, hai năm mà là vĩnh viễn. Nhưng, nếu bỗng nhiên Mỹ...? Câu hỏi ấy ai cũng hiểu, nhưng chẳng ai muốn viết thêm vào.
Trên thực tế, những lo ngại đó của các nhà lãnh đạo miền Bắc Việt Nam không phải không có cơ sở. Bởi ngay cho đến những ngày cuối cùng của chế độ Việt Nam Cộng hoà, một số tướng Mỹ vẫn xem việc sử dụng sức mạnh quân đội Hoa Kỳ như một giải pháp có thể cân nhắc trên chiến trường Việt Nam.
Ngày 4-4-1975, trong bản lượng giá về tình hình Việt Nam mà Tổng tham mưu trưởng Mỹ Fred C. Weyand gửi cho Tổng thống G. Ford, chính nhân vật này đã đề cập tới khả năng tham gia trở lại của quân đội Mỹ:
“Chính phủ Nam Việt Nam đang bên bờ vực thẳm của một sự thất bại quân sự hoàn toàn. Tuy nhiên, miền Nam Việt Nam đang dự tính sẽ tiếp tục phòng ngự với nguồn lực sẵn có của mình, và nếu như được nghỉ ngơi, có thể sẽ tái thiết lại khả năng chiến đấu tùy thuộc vào sự yểm trợ về trang thiết bị mà phía Hoa Kỳ cho phép.
Tôi tin là chúng ta phải có nghĩa vụ yểm trợ giúp họ.[...] Việc sử dụng không lực Hoa Kỳ nhằm tăng cường khả năng chống lại sự xâm chiếm của Bắc Việt sẽ hỗ trợ cho chính phủ Nam Việt Nam trên cả hai bình diện: phương tiện và tâm lý, đồng thời sẽ đem lại một thế trì hoãn cần thiết trên chiến trường”.
Bình tĩnh mà ngẫm kỹ mới thấy, những đề nghị trợ giúp đó không phải để “cứu nguy” cho chính quyền Nam Việt Nam, mà chính xác hơn là “cứu nguy” cho danh dự của chính nước Mỹ. Từng thản nhiên “bỏ rơi” anh bạn nhỏ phương Nam trong Hiệp định Paris, khi vào giờ phút “lâm chung” của chế độ đó, tướng Weyand vẫn nói: “Chữ tín của Hoa Kỳ trên phương diện đồng minh đang trong thế đổ bể tại Việt Nam. Để duy trì sự tin tưởng đó, chúng ta phải nỗ lực tối đa trong việc hỗ trợ cho miền Nam Việt Nam ngay bây giờ”. http://www.qdnd.vn/portal/images/Share/070500dung-tro-ve.jpgSau hiệp định Paris năm 1973, lính Mỹ rút khỏi Việt Nam, nhưng các tướng Mỹ vẫn luôn đưa ra những lá bài "Mỹ sẽ quay trở lại". Đó là đòn cân não giữa những người chỉ huy ở cấp cao nhất từ cả 2 phía, và rốt cuộc thì Hà Nội đã chiến thắng khi ra quyết định cuối cùng: Tổng tấn công giải phóng hoàn toàn miền Nam, từ những tin tình báo đặc biệt lấy từ trung tâm "bộ não chiến tranh" của Mỹ lẫn VNCH.

Một ngày sau, 5-4-1975, trong bản báo cáo về tình hình Việt Nam gửi cho tướng Brent Scowcroft - Phó trợ lý Tổng thống về các vấn đề an ninh Quốc gia, đại tá Clinton Granger - sĩ quan quân sự cao cấp của Nhà Trắng - vẫn còn nhắc đi nhắc lại:
“Chữ tín của chúng ta với tư cách một đồng minh sẽ được đánh giá bằng những nỗ lực của chúng ta trong vài tuần tới, và hy vọng là vài tháng tới. Tuy khả năng thành công có vẻ thấp, nhưng Hoa Kỳ cần thiết phải thể hiện một hình ảnh rõ ràng về thái độ trợ giúp cho miền Nam Việt Nam. Điều này sẽ khiến cho chính phủ Việt Nam có chút cơ may sống sót và quan trọng hơn, sẽ bảo vệ được chữ tín của Hoa Kỳ trên thế giới”.
Như vậy, rõ ràng là mối quan tâm lớn nhất của Mỹ lúc này không phải là “tình trạng bên bờ vực thẳm” của Sài Gòn như cách họ vẫn gọi, mà chính là danh dự của nước Mỹ, sức mạnh của nước Mỹ trong con mắt các quốc gia khác.
Tuy nhiên, giải pháp cuối cùng mà Mỹ đã lựa chọn cho cuộc chiến này là: Mỹ coi chiến tranh ở Việt Nam đã kết thúc. Mỹ sẽ không chi viện cho Việt Nam Cộng Hoà bằng lực lượng chiến đấu của Mỹ”. Đó chính là nội dung bức điện mà Mỹ đã trả lời Bộ Tổng tham mưu chế độ cũ khi Sài Gòn gửi thư sang cầu viện, ngay sau trận tiến công và giải phóng Phước Long của đội quân cộng sản.
Song, các tướng Mỹ vẫn luôn có cách làm cho những người Việt Nam ở cả hai phía tin rằng Mỹ sẽ trở lại. Đơn giản, để người Việt tự hồ nghi lẫn nhau, để họ sẽ dè dặt "giữ miếng" của nhau mà cuối cùng người hưởng lợi sẽ lại là nước Mỹ.
Nhưng ý đồ và nội dung bức điện mật mà Mỹ gửi cho Bộ Tổng tham mưu Sài Gòn đó đã nhanh chóng được H3, cùng rất nhiều điệp viên khác của Bắc Việt, chuyển về các nhà lãnh đạo miền Bắc để họ ra quyết định cuối cùng.
Nhờ đó, những bước chân thần tốc của quân giải phóng tiến vào Sài Gòn càng trở nên táo bạo. Thậm chí, họ còn giữ cho người Mỹ những danh dự cuối cùng. Trước khi vào thành phố, quân giải phóng còn dừng hẳn bên ngoài 1 ngày để người Mỹ di tản hết. Bởi họ “đợi vì mục đích chính là để giải phóng Sài Gòn chứ không phải để giết người” (Trần Văn Trà).
Bí ẩn H3?
Năm 1977, trong cuốn sách nói về sự sụp đổ của Sài Gòn (Decent Interval), Frank Snepp, cựu chuyên gia phân tích chiến lược của CIA, đã bắt đầu tò mò về "con người vô danh" mà ông gọi là “điệp viên trong hàng ngũ thân cận của Tổng thống Thiệu”.

Ba thập kỷ sau. Năm 2006, trong hội thảo quốc tế về “Tình báo trong Chiến tranh Việt Nam” do Trung tâm Việt Nam thuộc Đại học Công nghệ Texax cùng Trung tâm Nghiên cứu Tình báo thuộc CIA, Merle Pribbenow - cựu nhân viên CIA - căn cứ từ nhận định của Frank Snepp, những đoạn hồi ký của đại tướng Võ Nguyên Giáp, Văn Tiến Dũng và một vài chi tiết báo chí khác, đã chắp nối và phỏng đoán rằng:
http://www.qdnd.vn/portal/images/Share/070500dung-h32.jpg
H.3, người bí mật ở BTTM chế độ cũ, đã cung cấp những tin tức chiến lược về Hà Nội, giữ bí mật đến phút cuối cùng, mà CIA đến năm 2006 vẫn thắc mắc: Ông là ai?. Ảnh: Thế Vinh.

đúng là phải có một điệp viên cộng sản từng nằm ngay trong lòng BTTM. Dường như không phải là sĩ quan cao cấp, không phải là tuỳ tùng thân cận của Tổng thống Thiệu, song chắc chắn nhân vật này đã gửi ra Bộ Chính trị Bắc Việt nhiều tin tình báo chiến lược.
Và đến giờ, họ vẫn đang cố đoán thử: Đó là ai?
Nếu đảo sáng góc bên kia, nhìn từ phía những người lính của quân đội Việt Nam, manh mối đầu tiên để những trùm mật vụ Sài Gòn hay CIA khởi sự điều tra thường là: Đó có phải là Đảng viên Đảng Cộng sản?
Nhưng câu trả thứ nhất: H3 chưa từng là Đảng viên trong suốt quá trình cấp tin cho ngành tình báo thời kỳ trước giải phóng Sài Gòn. Ông chỉ chính thức đứng trong hàng ngũ của Đảng vào cuối năm 1975, khi đất nước đã hoàn toàn thống nhất.
Vậy thì câu hỏi thứ hai: Đó hẳn là một cán bộ cao cấp, một người được đào tạo tình báo bài bản, có thời gian tập kết hay tham gia kháng chiến 9 năm...? Bởi chỉ những người như vậy mới có đủ trình độ và lá gan để làm công việc nguy hiểm tày đình này.
Nhưng câu trả lời thứ hai vẫn chỉ là... bỏ ngỏ.

Những phút giây vọng về
…Trong ngôi nhà nằm ở ngay quận ngoại ô TP.HCM, vào một ngày cuối tháng 4-2007, H3 lặng ngồi hồi tưởng lại khoảnh khắc 30/4 của đời mình:
"Khi đó, đang ở toà nhà chính, tôi thấy người của anh Bảy Vĩnh treo cờ. Tôi liền kiếm cái khác cho mấy ảnh treo.
Đến 3 giờ chiều, thấy máy truyền tin vẫn hoạt động, tôi tắt máy. Khi bàn giao cho quân giải phóng, tôi nói 20 năm nữa mình cũng không sản xuất được máy truyền tin tự động như thế này đâu.
Rồi lúc trung đoàn xe tăng vô, đi tới đâu bắn tới đó. Tôi ngồi trong nhà lầu chắc chắn nhưng vẫn thấy rung rinh. Tôi lấy áo trắng ngoắc làm tín hiệu cho xe vô để khỏi bắn tốn đạn. Lúc đó tôi đã thay thường phục rồi. Cảm giác khi ấy mừng lắm. Mấy chục năm rồi... nay tôi đã thoát vòng nguy hiểm. Mừng, mà không chia sẻ được với ai".
Mấy ngày sau, ông ra trình diện, đi học tập cải tạo mất... 3 ngày, trước khi chính thức khoác lên mình bộ quân phục của người chiến sỹ tình báo Quân đội Nhân dân Việt Nam. Bộ quân phục của ông khi ấy hẳn vẫn là bộ ngoại cỡ: dài lòng khòng cho cái thân gầy lọc cọc.

Winner
04-10-2009, 01:09 AM
Kỳ 3: Những con vật dẫn đường

Theo ông, trong nhà phải nuôi ba con vật: Con trung thành, “con có thể chê cha mẹ khó chứ không bao giờ chê chủ nghèo”. Con chim thì nhảy hoài. Nó tiêu biểu cho sự bận rộn làm việc suốt ngày, không làm biếng. Còn con cá thì dạy sự khôn ngoan, im lặng, không nói nhiều mà suy tư...
Trong bản thành tích tóm tắt in ra công khai, ở trang “Anh hùng Trần Văn Trung” (tên ông Ẩn) chỉ khoảng 20 dòng: Sinh năm 1927, quê Biên Hòa - Đồng Nai, nhập ngũ tháng 12-1952. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là trung tá, cán bộ tình báo thuộc Bộ tham mưu Miền, Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. http://125.214.17.5/portal/images/Share/231006h16.jpgTrung tướng Nguyễn Chí Vịnh: "Đồng chí Phạm Xuân Ẩn mãi mãi là một trí thức lớn, một tinh hoa của ngành tình báo Việt Nam…(ảnh: Vnn).

Từ năm 1952 đến tháng 4-1975 do yêu cầu của nhiệm vụ tình báo, suốt 23 năm cùng ăn, ở, làm việc với địch, Trần Văn Trung vẫn luôn giữ vững lòng trung thành với Đảng, tin tưởng vào thắng lợi của Cách mạng. Trong công tác, Trần Văn Trung đã khôn khéo, dũng cảm, mưu trí, sáng tạo bám chắc địa bàn, lập nhiều thành tích xuất sắc. Đồng chí đã cung cấp kịp thời nhiều tài liệu nguyên bản có giá trị lớn. Trần Văn Trung luôn giữ nếp sống giản dị, trong sạch, có ý thức tổ chức, kỷ luật cao. Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương chiến công giải phóng hạng Nhất, 2 Huân chương chiến công giải phóng hạng Nhì, 1 Huân chương chiến công giải phóng hạng Ba, 6 lần được bầu là Chiến sĩ thi đua.
Năm 1976 ông Ẩn, tức Trần Văn Trung được Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Nhưng cuộc đời và cuộc chiến đấu mấy chục năm của ông chắc chắn phong phú, đầy sự kiện, đã không được công bố cho báo giới hoặc in ra trên các phương tiện in ấn khác.
Những thư báo cáo tin tức về việc Mỹ đang thay dần quân Pháp ở Việt Nam là thời kỳ trước năm 1961. Sau đó là những tài liệu có tính chiến lược để chúng ta có thể nắm vững các kỹ thuật và chiến thuật mới của Mỹ - ngụy. Có những tài liệu mang giá trị cực lớn nêu rõ chiến lược quân sự, bình định theo cách chống nổi dậy được các chuyên gia Mỹ đúc kết kinh nghiệm từ các nước để áp dụng vào Miền Nam. Tài liệu về tổ chức, trang bị, các kế hoạch hành quân và các dự định hoạt động của địch, vừa mang ý nghĩa chiến lược, vừa tổng kết kinh nghiệm hoạt động quân sự và bình định. Đó là những nét khái quát lớn nhất về sự đóng góp của điệp viên Phạm Xuân Ẩn. Những tài liệu cực kỳ quan trọng này được chuyển ra rất sớm, giúp cho quân dân ta tìm được các biện pháp chiến lược chiến thuật đối phó đánh giặc, lập được nhiều chiến công xuất sắc.
Những kế hoạch lập ấp chiến lược, bình định nông thôn, chiến tranh đặc biệt, chiến tranh cục bộ… được kịp thời chuyển tới Trung ương, là kết quả của một cuộc phấn đấu, một đời hoạt động khá độc lập của ông tại các cơ quan cao nhất của kẻ địch. Ông đã làm việc, quen thân, ra vào dễ dàng, được lòng tin cậy từ những cơ quan lớn của chính quyền Sài Gòn như cơ quan Trung ương tình báo ngụy, Tổng nha Cảnh sát, An ninh Quân đội, được Phủ Tổng thống mời với tư cách chuyên viên tham gia đánh giá, đọc các tài liệu tối mật, tham gia ý kiến vào việc hoạch định chiến lược quan trọng của chế độ.
Ông đã làm việc cùng với nhân viên của đại tá Edward G. Lansdale, chỉ huy trưởng Phái bộ quân sự Sài Gòn (Saigon Military Mission - phái bộ này hoạt động cả quân sự, tình báo CIA và chính trị), người tổ chức hàng loạt chiến dịch phá hoại chống Việt Cộng. Ông Ẩn là một trong số ít phóng viên Việt Nam được mời dự giao ban quân sự. Đã có thời kỳ ông tư vấn đề cử các sĩ quan tham gia các khóa học huấn luyện ở các trường đào tạo quân sự tại Mỹ. Chính ông là người đã làm thủ tục cho Nguyễn Văn Thiệu đến Hoa Kỳ lần đầu tiên tham gia khóa học chỉ huy và tham mưu tại Leavenworth. Đám chỉ huy hành quân Mỹ còn cho phép ông lên trực thăng HU.1A đi theo hành quân sát trận địa, chiến trường, đến các phòng thuyết trình tình hình xem những bản đồ chiến sự mới nhất.
Nhưng có phải tất cả những thành công trên đây là do ông Ẩn là phóng viên chiến tranh của tờ báo Time lớn nhất nước Mỹ? Ở vị trí đó nên ông được sự thân thiết của giới cầm quyền cao nhất như Ngô Đình Cẩn ở Huế, Trần Kim Tuyến, Trần Văn Đôn, Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ, Tôn Thất Đính, Đỗ Cao Trí và rất nhiều dân biểu, bộ trưởng Phạm Kim Ngọc, giám đốc chiến tranh tâm lý Nguyễn Hữu Có, Cao Văn Viên, Lam Sơn?... Có phải tất cả các nhà báo đều có thể dễ dàng tạo dựng những mối quan hệ như vậy? - Mối quan hệ thân tới mức “lại nhà chơi cũng được”…
Có lần Trần Kim Tuyến yêu cầu ông đứng ra làm chủ bút một tờ báo, lời ăn, lỗ thì bác sĩ Tuyến chịu. Nhưng ông Ẩn đâu có tham vọng làm chủ báo, đâu có mục đích làm giàu. Đã có lần Ẩn phỏng vấn Ngô Đình Cẩn sau vụ đảo chính hụt về việc chính Cẩn đã phát hiện âm mưu đảo chính. Đã có báo cáo lên nhưng bị vứt vào sọt rác. “Thưa ôn nếu ôn chịu, con viết chi tiết đó cho Reuters”. - Ẩn thăm dò. Ngô Đình Cẩn phải bảo thôi đừng đăng: “Mi phỏng vấn tao thiếu nước lạy. Mồm ác lắm!”. Ông Ẩn có một người anh họ làm giám đốc Cảnh sát Công an Trung phần. Biết Cẩn thích chơi chim, ông anh thấy Ẩn có con chim loan liền bảo: “Mi cho tao để biếu ôn”. Ẩn có cái ống nhòm, anh cũng xin “Cho anh biếu ông Cậu để ổng đi câu cá”. “Câu cá, hay là để dòm các cô?”, “Cái miệng mi ra Huế chết tao”.
Sinh hoạt thời kỳ ấy có những chuyện vui bên lề. Phủ Tổng thống thấy Ngô Đình Diệm thích có người Nam mà biết Huế, biết Bắc, nói chuyện thẳng thắn và vui, họ muốn chọn Ẩn vì Ẩn đủ “tiêu chuẩn”. Diệm thích trò chuyện với những tay thẳng thắn, lại thích cây cối. Một lần Diệm xuống Vĩnh Long thăm ông anh là Ngô Đình Thục làm đức cha ở dưới miền Tây. Ngô Đình Diệm thích cây cối. Đi dọc đường, ông ta ưa thích nhìn mạ xanh bên ruộng hai bên đường thẳng cánh cò bay. Ông luôn mồm rủa những kẻ đang tâm chặt cây cối về làm cây Noel. Đang nhìn chiếc cổng làng phía xa có cây cổ thụ, dưới gốc cây nhiều nông dân đang nghỉ ăn trưa, Diệm thính lắm bèn hỏi: “Cây chi rứa mi?”. Người lái xe cự lại: “Cây chi cụ nhìn cụ biết chứ, con đang chạy xe 100km/giờ sao dám nhìn cây! Tính mạng cụ nằm trong tay con đây nè”. Sau lần đi ấy, Diệm thường than mắng các cấp dưới chỉ biết a dua nịnh bợ ông mà chẳng ai thật lòng. Có người bộ trưởng vào tiếp kiến vâng, dạ lễ độ, lúc đi ra không dám quay lưng đi tử tế, lại đi giật lùi, chẳng may đụng phải đôn chậu cây vấp ngã, Diệm khoái trá cười: “Chỉ quen a dua nịnh bợ, các ông không thương tôi bằng người Sốp - phơ”.
Có lần ở sát biên giới Miên có tranh chấp. Thiếu tướng Becna Trần Tử Oai làm Tư lệnh vùng 4 sát biên giới, Ngô Trọng Hiếu lúc đó làm đại sứ, bị Xihanúc phiền trách. Diệm kiếm chuyên gia về Campuchia để hỏi ý kiến tìm cách giải quyết tình hình căng thẳng, liền xuống Cần Thơ tìm Tư lệnh vùng 3. “Cụ kêu lên” - viên tướng cấp tốc lên gặp, chào kiểu nhà binh cái rốp. “Tư lệnh vùng phải không?”. “Dạ phải”. “Ở biên giới có tranh chấp, cho ý kiến giải quyết thế nào?”. “Mật lắm Cụ ạ”. “Nói đi. Mật hoài.” “Phải rồi, cái này mật. Cụ cho con một ngày đi, một ngày về, tổng cộng khoảng 5 ngày con giải quyết xong”. “Năm ngày là sao?”, “Con hành quân đến Phompenh đánh một ngày”. “Đâu có được. Tưởng có mưu gì ngoại giao”. “Con quân sự chỉ có hành quân thôi. Quân sự là thế. Con nói Cụ rồi, mật lắm!”. Diệm khoái những người như “Oai” và nói thẳng như thế, có khi dám phản ứng theo cách của mình. Vì vậy người ta nhắm “chắc thằng Ẩn” đủ tiêu chuẩn để trò chuyện với Cụ. Nhưng cũng có người phát hiện “Nó ẩu lắm. Nó dám dắt ông Cụ đi dancing thì lộ hết mặt đám quan chức ăn chơi đi dancing tối ngày”. Ai chứ Ẩn thì dám dắt ông Diệm đi chơi đêm bất tử, lòi ra các bộ trưởng nhảy đầm!
Một dịp Tết, Ẩn lại chơi nhà Trần Kim Tuyến. Có mấy vị bộ trưởng mới tới chào Tuyến, Ẩn liền lại nói chuyện với bà vợ Tuyến. Thấy nhà họ được biếu quá nhiều hoa thủy tiên, Ẩn miệng nói, tay bốc: “Xài không hết. Tôi không có”. Vị bộ trưởng lấy làm lạ hỏi “Thằng nào hỗn vậy?”. “À, anh Ẩn nhà báo thân đó mà” - bà Tuyến cười giải thích.
Ông Ẩn được nhiều quyền đặc biệt không chỉ do nghề nghiệp mà là do quan hệ rộng. Ông đi lại có cả giấy của an ninh Phủ Tổng thống, có súng. Ông lái xe đi Buôn Mê Thuột khi cần. Cùng với các nhà báo nước ngoài, Ẩn đi cả vĩ tuyến 17. Đi tham quan khu trù mật thì bằng xe của Phủ Tổng thống. Ẩn có chiếc xe riêng, xe taxi nhỏ hiệu Renault dùng suốt từ năm 1960 tới khi miền Nam giải phóng.
Người ta đã quen chiếc xe nhỏ của tay ký giả chuyên viết chiến sự, đi khắp nơi, tự lái và luôn chở con đi cùng. Ông nuôi bécgiê giống quý. Con bécgiê mua từ Đức cũng nổi tiếng vào hàng số một Sài Gòn lúc đó với giá 30 cây vàng. Những đêm ông làm báo cáo bí mật con nằm dưới chân. Nếu có động tĩnh gì, con thính lắm. Cảnh sát đi khám sổ gia đình (hộ khẩu) ban đêm giờ giới nghiêm ngoài đường cách gần cây số nó nằm yên nghe, lấy chân khều khều báo cho chủ. Ban đêm khi ông chụp lại các tài liệu, bản đồ dưới ánh đèn 500 watt che kín, nếu có tiếng sủa tức là có ai đó đi bên ngoài.
Sau này ông bán con đó để mua con khác từ Mỹ đem qua. Nó cũng tinh tường một cách đặc biệt. Những đêm Mỹ đem máy bay B.52 rải bom ở xa tận ngoài chiến khu, đất rền rung rất nhẹ nó đã sủa khi chưa ai cảm thấy. Mãi sau khi nghe nó sủa rồi, cố để ý mới thấy cửa rung. Con thường ngồi sau xe. “Có lần tôi trao đồ cho người liên lạc, bà khựng lại sợ quá vì thấy con chó”. Khi ông vào nhà hàng (ông thường vào các nhà hàng Brô-đa, Givràl, Continental… nơi tập trung giới báo chí, các quan chức, dân biểu) con được lệnh ngồi chờ ở ngoài xe. Nó có thể tuân lệnh ngồi yên như thế chờ đến một, hai tiếng tới khi ông chủ ra. Nếu được vào nhà hàng, nó chui nằm yên dưới bàn.
Hẳn là nó quá ấn tượng với đám bạn làm báo hồi đó. Đến nỗi nhiều năm sau này khi Sài Gòn giải phóng, họ trở lại thăm ông Ẩn, làm các cuộc phỏng vấn, như ta đã thấy trong miêu tả của họ, bao giờ bên ông Ẩn cũng có hình ảnh con vật thân thiết của ông. Morley đã tả lại kỷ niệm cũ khi tiếp xúc với Ẩn ngày xưa ở nhà hàng, cái mõm đen của con thò ra khỏi gầm bàn im lặng khi chủ của nó đang nói cười. Và hình ảnh gặp lại ông Ẩn ở Sài Gòn sau hàng chục năm cũng có “Ẩn và những con thân yêu của anh ta”. Kết thúc bài viết, cũng là “Ẩn giơ cánh tay xương dài vẫy vẫy từ biệt cùng với tiếng sủa theo chúng tôi ra ngoài con lộ”.
Ngày Tết, đám bạn bè và quan chức thường mừng rỡ nếu thấy chàng ký giả vốn “rất Mỹ” này lại khăn đóng áo dài dẫn bécgiê đến chúc Tết. “Ông nội này láo” - đám bạn bè trêu chọc bình luận. Nhưng Ẩn bảo: “Không đi với vợ mà đem bécgiê theo là hên”. Con cũng giúp Ẩn mở quan hệ thân thiết. Ông thân với Đỗ Cao Trí (tướng nắm Vùng 3 chiến thuật, vùng Sài Gòn và Đông Nam Bộ), cũng qua con . “Chả khoái bécgiê, đi chợ luôn. Cố vấn Mỹ mua cho chả 3 con: hai đực, một cái, nhưng đẻ con ra không đẹp. Ổng xin giống từ con của tôi. Nó nhảy, đẻ con rất đẹp. Ông nào thích thì cho giống với giá 100 đô một lần nhảy. Có khi tôi đem con đến biếu những người giúp đỡ mình. Họ mừng lắm”.
Lansdale phụ trách Phái bộ quân sự Sài Gòn, trong đó có hoạt động của CIA, cũng nuôi một con . Ông ta nhìn phản ứng của để dò xét người khác. Lansdale cho rằng người không có tà tâm thì của y nằm yên lặng. Người nào con nó dòm chừng thì có vấn đề gian dối tà tâm gì đó. Theo ông ta: “Con nó đánh giá được”. Có lần ông Ẩn bảo: “Mỗi lần tiếp tôi, anh để ớn lắm”. “Anh nuôi mà lại ớn sao? Nó giúp canh chừng, nó dòm cảm tình thì tâm địa tốt”. Lansdale lại giải thích. Ông Ẩn bảo: Đâu có nhất nhất như vậy. Có con nhạy có con không, sủa tầm bậy vu vơ. Chẳng có sách nào dạy cái “đồ” này.
Bây giờ ông Ẩn vẫn nhận xét thế. Nhưng theo ông, trong nhà phải nuôi ba con vật: con trung thành, “con có thể chê cha mẹ khó chứ không bao giờ chê chủ nghèo”. Con chim thì nhảy hoài. Nó tiêu biểu cho sự bận rộn làm việc suốt ngày, không làm biếng. Còn con cá thì dạy sự khôn ngoan, im lặng, không nói nhiều mà suy tư. Ông còn đùa: không nên làm nghề xuất nhập khẩu. Bệnh do khẩu nhập họa do khẩu xuất mà!
“Bệnh ăn bệnh nói dễ vô tù”.

Winner
04-10-2009, 01:12 AM
Kỳ 4: Những "đồng chủ nhân" trong vườn

Cả một “thế giới nhộn nhịp”, thăm dò nhau, ngó nghiêng, chim, kiến, sóc… Ông Ẩn, chờ đón, xem xét, lặng lẽ để thức ăn ra hàng ngày cho chúng đến ăn rồi lại đi. Chúng là những "đồng chủ nhân" trong mảnh vườn nhỏ với người đàn ông cao gầy có bộ óc và cuộc đời của một triết gia, suốt đời cận kề với hiểm nguy, sống chết. Thấu hiểu cuộc đời trong cả nghĩa đen của sự sống...
Chiếc cổng sắt lúc nào cũng đóng kín, có một cái chuông cũng đặc biệt: không nhấn nút cho reo, mà giật vào sợi dây dài. Một cái chuông nhỏ ở đâu đó kêu leng keng lạ tai. Có lẽ vì vậy mà thỉnh thoảng đám con nít đi qua cổng “ngứa tay” lại giật chơi. Chúng tưởng rằng chỉ có bầy sẽ xô ra sủa mà không biết rằng mỗi lần như thế, có rất nhiều “nhân vật” kinh động. Không phải chỉ có chủ nhà... http://125.214.17.5/portal/images/Share/231006h17.jpgPhạm Xuân Ẩn tại Mỹ (1957-1959) (ảnh: Tuổi trẻ).
Thông thường, ở Sài Gòn thời mở cửa, bắt đầu cuộc làm ăn thị trường sôi động, nhà mặt tiền trên phố thế này chẳng ai không nghĩ cách tận dụng, xoay ra tiền bạc. Ngôi nhà của ông là một biệt thự hạng thường mà theo miêu tả của Henry Kamm thì “tướng của quân đội Việt Nam cũ không bao giờ cư ngụ trong căn nhà khiêm nhường đến thế”. Nếu ông bán đi như người ta thường làm, để lấy số tiền lớn mua một căn nhà nhỏ hơn, dôi ra được ít tiền. Hoặc nếu ông xây cất thêm chi chít, cho thuê, mở cửa hàng, hoặc làm quán ăn, café vườn… thì đó cũng là phương án thông thường của người Sài Gòn ngày nay. Nhưng ngôi nhà của ông giữ nguyên một mảnh vườn nhỏ phía trước. Tôi cảm nhận nó giống như một lời thầm nói lên tính cách của chủ nhân.
Một người từng trải qua mọi sang, hèn, đã là một ký giả như một chính khách thời thượng nhất, giờ đây “ông Ẩn còn yếu đuối hơn những ngày ông làm phóng viên” - lại lời của Henry - “Một người yếu đuối cong xuống nhưng không dễ dàng bị đánh gục giống như cái cây trong giông bão”.
Tôi cũng giật vào cái chuông đặc biệt trước nhà. Ông ra mở cổng sau khi đã chải đầu thật gọn gàng. Không rõ là kiểu tóc luôn được chải vậy hay là vừa mới gội đầu. Có khi ông vẫn mặc áo ba lỗ, ra mở cổng ngay sợ khách chờ lâu bên ngoài. Nếu mà nghe kể tên những thứ ở khoảnh vườn nhỏ thì rất dễ bị hình dung ra bài trí của biệt thự sang mà ta hay gặp. Nhưng khu vườn lại rất bình thường với vài ba khóm cây cao, còn lại là các loại hoa cây nhỏ và thấp xuống bên dưới khiến người ta khó mà nói ngay rằng đó là mảnh vườn trồng rau hay là vườn êm ả của các bụi cây cho bóng mát và sự yên tĩnh. Một con đá đen trùi trũi ở gần bậc cửa, nơi có một chiếc bàn đá nhỏ có thể ngồi chơi uống nước hóng mát các buổi chiều. Cái bàn này chỉ cách đường phố ầm ĩ gầm gào xe cộ suốt ngày đêm bởi vài bụi cây nhỏ. Vậy mà vị trí của nó đã đem lại ngay sự thanh bình rồi.
Mỗi tiếng chuông giật không chỉ là bầy sủa, mà làm kinh động nhiều “nhân vật” nào vậy? Khách không nhận ra ngay bởi họ đang bước vào khoảnh vườn vắng trước cửa. Chỉ đến khi quan sát các công việc tỉ mỉ, rất nhẹ nhõm của ông, mới thấy ở đây được khá nhiều vị khách lạ nhòm ngó lui tới. Không chỉ mình ta là vị khách bước vào.
Ông Ẩn bắt ổ chim, đỏ lói mới nở và cho chúng ăn bằng trứng kiến. Ông lấy ra thứ trứng kiến trắng như gạo, mềm, nhỏ li ti. Đó là trứng mới đẻ. “Kiến vàng đít chua lắm. Nấu canh chua thì bắt nguyên ổ, vớt kiến bỏ đi, còn lại nước chua lắm”. Ông giải thích như chia sẻ với một người cùng sở thích. Lời nói đó nhẹ nhàng “như thi nhân” bởi nó giống lời thì thào say sưa của đứa trẻ lúc đang chơi. Một thói chơi hồn nhiên như trẻ. Không có gì to lớn hoặc cầu kỳ theo kiểu dân chơi nhà nghề sành điệu đưa lên thành nghệ thuật. Thú chơi của ông khác lắm. Chiều theo thiên nhiên, lặng lẽ và có vẻ gì đó hưởng thụ như một cậu bé con tò mò, tinh quái.
Chẳng có nhiều điều kiện để cầu kỳ, nhưng lại khá “oái ăm” bất ngờ. Ai mà có thể nghĩ ra cái tác dụng nấu canh bằng cái đít chua của bầy kiến! Chắc chắn vợ ông đi chợ chỉ vài ngàn đồng là có đủ rau, thơm, bạc hà, lá giang cho nồi canh chua. Nhưng ông biết hết “tính năng” của các loài vật. Còn oái ăm hơn cả các món ăn: “Viết thơ tình bằng nước xanh chua chua bóp ra từ kiến. Viết bằng bút học sinh. Ông bồ hơ lửa thấy chữ. Cái này đi học được. Khổ vậy kia, cái gì cũng học!”. Ông nói như than thở, mà mắt lại ánh vui.
“Chú bé Ẩn” chơi các con vật từ lúc 5 tuổi, chứ không phải kiểu chơi chim chơi thú của những ông già về hưu nhàn rỗi đỡ buồn. Ông có con khướu đã sống 15 năm ở khu vườn nhỏ này. “Sáo, họa mi, năm con sóc còn hai. Nó ở đâu đó đến! Tôi treo thức ăn lên vỏ trái dừa, ngày ngày nó đến ăn rồi lại đi. Đất lành chim đậu là vậy. Sẻ rất nhiều. Súng hơi người ta bắn riết nay không còn. Hai con chích chòe lửa, tôi bắt được ở đây”. “Chị ngồi chờ, để tôi chỉ cách bẫy sẻ này”.
Ông lấy ra hai cục gạch, đặt trên cái bàn uống nước: “Lấy ba cái que lớn lớn tí thôi. Bỏ lúa trong rải vài hột thôi”. Ông say sưa: “Cây trúc cương trực. Sẻ là tiểu nhân láu lia láu lịa, không bao giờ được người ta vẽ đậu trên cành trúc. Sẻ xấu, đa nghi. Gạch đè xuống là ra bắt liền, không nó chết”. Ông hướng dẫn cứ như là tôi cũng hiểu hết, đang muốn học chơi theo. Hình như ông muốn tôi cũng nên biết chơi, vì theo ông “con nít giờ không biết, giảng không hiểu, không biết chơi”. Ông dặn tôi: “Rải một ít ở bên ngoài kẻo nó ăn no không vào ăn phía trong hòn gạch nữa”. Ngày trước thì ông bẫy chích chòe. Bẫy đâu có như bây giờ! Cây tre có cành buộc như cần câu, một đầu cắm xuống đất. Có một cái vòng bằng tre, có cái cò để vô cột con dế. Có thòng lọng, có chỉ rút. Chim vào mổ cào cào, dế. Cái cần cò bật lên siết lấy con chim. Ông lại dặn: “Đừng treo cao quá siết cổ nó chết”. Còn bắt chim én, nó thường bay thấp, ăn ruồi rác. Nó bay sớt qua sớt lại không đậu. Phải để cái vòng có con ruồi ở giữa, chim chui đầu vô, bị giật.
Thì đó, có cả một “thế giới nhộn nhịp”, thăm dò nhau, ngó nghiêng, chim, kiến, sóc… đủ cả. Nhiều khi chúng sống đâu đó, trên phố xá ta nào thấy được. Chỉ ở nơi đâu, có những người như ông Ẩn, chờ đón, xem xét nó, lặng lẽ để thức ăn ra hàng ngày cho nó đến ăn rồi lại đi. Chỉ có kẻ nào hào phóng, không định sở hữu, bắt nhốt chúng, chúng mới tới “sống cùng” trong chốc lát, rồi lại là “người của tự do”. Chúng là những nhân vật đông đúc ở khu vườn nhỏ, khách vào nào có ai biết là chính họ đang làm kinh động nhiều vị “đồng chủ nhân” cùng với người đàn ông cao gầy có bộ óc và cuộc đời của một triết gia, suốt đời sống cận kề với hiểm nguy, sống chết. Thấu hiểu cuộc đời trong cả nghĩa đen của sự sống.
Những ký giả phương Tây luôn ngạc nhiên không chỉ vì ông Ẩn là một ký giả xuất sắc, săn tin giỏi, mà còn vì óc hài hước, sự thành thạo nhiều mặt trong đời sống. Trong mảnh sân vườn nhỏ này, có lẽ tôi là nhân vật xa lạ nhất xâm nhập vào đây, mong mỏi được quan sát tìm hiểu về một con người đặc biệt. Đôi khi tôi có cảm giác hình như con đá nó đang cười tôi phía sau lưng, mỗi khi ông Ẩn tiễn tôi ra cổng. Dường như cả con kiến ở trong vườn này nó cũng biết rằng tôi không hiểu ông Ẩn bằng nó.
Cũng công bằng thôi, một khi mà với con chim huýt cô sầu ông nuôi nó 8 năm, đi chơi Vũng Tàu cũng mang nó theo. Có cả lồng tắm riêng cho nó. Ông nhìn cái lồng và bảo: “Lồng không sạch vầy ở Úc nó đuổi đó, không cho nuôi chim đâu. Còn nếu khi nào thấy cá lội tung tăng quá thì đừng có tưởng là vui tươi khỏe mạnh. Đó là lúc nước bẩn".
Những con chim ấy biết sắp được ăn “bít tết” như Tây khi ông cầm sâu tươi và những con rắn liu điu nhỏ xíu ra. Dường như con huýt cô sầu biết ông Ẩn đã hiểu ra lai lịch vì sao nó có cái tên buồn rầu đó: Có đứa con gái nhỏ mồ côi được cô nuôi. Khi cô chết, nó ra mả khóc không ăn uống đến chết biến thành con chim huýt cô sầu. Cái sự tích chuyện đời con hoàng anh cũng được ông Ẩn kể: Cô nương kia chờ chồng chinh chiến. Chờ đến kiệt sức thì chim bay về báo tin cô ráng sống vì chồng sắp về. Cô ráng sống, được gặp chồng là nhờ chim hoàng anh.
Ông còn bình luận vui: Nhà nào mà có con gái, lại trồng cây liễu rủ buồn, thêm con chim huýt cô sầu nữa thì con gái đến là tự tử thôi. Phải cấm con gái trồng liễu và nuôi chim huýt cô. Thêm ông nội này kêu thì chết con nhà người ta.

Winner
04-10-2009, 01:15 AM
Kỳ 5: "Có ba nền văn hoá trong tôi"

Ông Ẩn thường nói với nhà báo nước ngoài, đồng nghiệp của mình rằng “có ba nền văn hóa trong tôi”. Còn các ký giả phương Tây lại cứ muốn tin rằng ông là sản phẩm của văn minh Mỹ. Vì sao vậy? Có phải vậy không?...
Quả thật ông không bao giờ giấu giếm ý nghĩ rằng đã học được rất nhiều điều ở Mỹ và có thể coi thời gian đi học ở trường báo chí Orange Coast tại quận Cam, California là những năm quyết định quan trọng đối với ông. Người dân Mỹ trung thực, công bằng, cởi mở và tử tế. Họ cho thấy phần nào khái niệm về tự do và lòng tôn trọng quyền của con người. “Họ chỉ cho tôi cách nhìn mọi sự theo con mắt của người khác, phê phán bản thân mình trước hết. Họ dạy các thế hệ biết lao động, biết trở về thực tế. Tôi mong muốn con cái tôi được giáo dục ở Mỹ”. Ký giả nước ngoài vẫn thường trích dẫn ý kiến này. http://125.214.17.5/portal/images/Share/231006h18.jpgÔng Mười Hương (người đã cử ông Ẩn đi Mỹ học) đã cùng những người bạn cũ ra tận Nghĩa trang TP. HCM tiễn đưa ông Ẩn (ảnh: BN)
Nhưng họ không biết rằng việc Ẩn sang Mỹ du học vào cái năm 1957 trên danh nghĩa tự túc bằng tiền hưu trí thôi việc lúc mới 30 tuổi, có 7 năm làm việc, có đủ tiền máy bay lúc đó giá 600 đô - cuộc đi đó do Đảng Cộng sản Việt Nam quyết định. Nếu không quá khó khăn, Đảng muốn Ẩn học từ 4 đến 6 năm để có bằng tiến sĩ. Mục đích của Đảng giao cho Ẩn phải học thật giỏi, và tìm hiểu nước Mỹ. Chính vì thế Ẩn đăng ký học lịch sử - địa lý - kinh tế Mỹ, báo chí, quân sự… Không những thế, Ẩn có ý thức tích lũy những kỹ thuật, nghiệp vụ, các bài học rút ra từ các tài liệu của Mỹ, Liên Xô, Nhật. Ông đã kể lại những ngày đi học ở Mỹ, với bạn ông, nhà báo Hồng Liên như sau:
… “Chính người Mỹ dạy tôi nhiều bài học bổ ích. Tôi còn nhớ, trước khi đi, bên nhà dặn tôi phải ráng học cho xuất sắc. Tôi vâng lời. Một hôm, bà giáo dạy môn Anh văn hỏi: Tôi thấy môn này anh đã giỏi rồi, đâu cần học nữa. Tôi nghi anh qua đây không phải để học mà làm chuyện khác. Giật mình, tôi ráng trả lời một cách bình thản: nước tôi nghèo, nên tôi phải ráng học, học bất cứ cái gì có thể để về phụng sự quê hương tôi. Bà đáp: Ừ, bây giờ thì tôi tin anh. Tôi nghi ngờ anh là vì hồi Đệ nhị thế chiến, tôi huấn luyện sĩ quan tình báo, nên có bệnh nghề nghiệp (!). Anh bạn học chung lớp cũng thắc mắc tại sao tôi phải cố học cho giỏi. Hắn nói: Mày học xong sẽ về hay ở lại? Nếu ở lại, tao khuyên mày nên đi chơi nhiều hơn. Người Mỹ không thích học quá giỏi, vì học giỏi khó kiếm được việc làm hơn người học trung bình. Người thuê lao động nếu mướn người có học lực khá, họ yêu cầu phải làm việc gấp rưỡi hoặc gấp hai người thường. Và họ cũng không thích mướn những người học giỏi làm chung với người học bình thường.
Từ dạo ấy, tôi bắt đầu mê chơi. Một bài học khác: Khi học môn nói chuyện trước công chúng, tôi không hiểu sao bài của mình luôn bị điểm C dù đã gắng hết sức. Tức quá, tôi hỏi chị bạn ngồi kế bên. Chị nói: Vị giáo sư là người không ưa Cộng sản. Mà tôi thì thấy anh ưa dùng từ kiểu Cộng sản. Anh không được điểm cao là phải. Hóa ra là khi tôi ở Việt Nam, tôi hay đọc sách báo cách mạng viết bằng tiếng Anh. Tôi quen vốn từ vựng cách mạng và sử dụng nó trong bài kiểm tra mà không biết. Về sau, mỗi lần làm bài, tôi lại nhờ chị sửa giúp từ vựng. Và bài đạt được điểm B. Mặt khác, khi về nước tôi không dám giao hảo với nhiều người Việt. Tôi làm báo nhưng làng báo Việt Nam tôi hầu như không quen ai, trừ một vài chủ bút. Ngay cả trong tình cảm riêng cũng phải đè nén lại. Hồi ở Mỹ tôi có yêu một cô gái và định cưới cô ấy. Nhưng tôi cưới vợ Mỹ thì công việc của tôi sẽ càng rắc rối thêm. Vậy là chúng tôi chia tay nhau”.
Sau khi học ở Mỹ về, ông làm việc ở Việt Tấn xã, cơ quan thông tấn chính thức của chính quyền Sài Gòn. Một năm sau chuyển sang viết cho Reuters. Bốn năm sau, ông chuyển về tờ New York Herald Tribune. Từ năm 1965 - 1976 ông là phóng viên Việt Nam duy nhất viết cho Time.
Ngày nay, khi mà loài người tự nhận thấy sự biến đổi của thế giới một cách rõ ràng hơn, giao lưu với bên ngoài nhiều hơn, thì lối sống cũng thay đổi. Người ta biết rõ có nhiều lối sống khác với bao nhiêu là thách thức: Thông qua Internet, người ta có thể thấy những luồng thông tin như thác đổ. Nhân loại biết tự phê phán và mổ xẻ những nghịch lý của thời đại mình và họ đã viết ra trên Internet: “Chúng ta có nhiều tòa nhà cao hơn nhưng tính cách lại nhỏ hơn, đường cao tốc rộng hơn nhưng quan điểm hẹp hòi hơn, chúng ta chi xài nhiều hơn nhưng gia đình lại nhỏ hơn. Nhiều tiện nghi hơn nhưng ít thời gian hơn. Nhiều bằng cấp hơn nhưng lại kém ý thức hơn. Thời của thức ăn nhanh mà tiêu hóa chậm, lợi nhuận quá cao nhưng quan hệ hời hợt. Thời của hòa bình thế giới nhưng nội chiến và thiên tai nhiều hơn”…
Nhân loại tự nhận thấy mình uống quá nhiều, chi quá lố, giận quá mau, thức quá muộn, dậy quá mệt, tăng số của cải nhưng lại giảm giá trị của mình… Một thời kỳ mà nhân loại nhìn lại mình tiến những bước dài để sang một thiên niên kỷ mới - Trong đó vệ tinh đầu tiên con người đầu tiên đi lên vũ trụ, bệnh AIDS được phát hiện, có cuộc cách mạng Internet và có công ty Microsof, và nhân bản được cả con người…
Trong thế giới ấy, ở khắp nơi có đủ các kiểu sống. Chẳng phải chỉ ở phương Tây xa lạ mà ngay ở phương Đông, ở nước Nhật, người ta cũng đã thấy được một lối sống không phải của ít người, có tới 10 triệu “con ký sinh sống độc thân”. Công thức và hình ảnh tiêu biểu thường là: một cô gái ngủ 9 giờ mới dậy, mẹ đã làm thức ăn sáng. Lao vào đi làm tới 9, 10 giờ đêm mới về. Đi chơi, cưỡi ngựa, đánh golf, mỗi năm nghỉ nước ngoài tiêu hết 9.000 đô. Thời đại của những ký sinh sống độc thân, dựa vào cha mẹ, rút vào vỏ ốc, xa rời xã hội. Người ta nói rằng có cả thế hệ người - chứ không phải số ít - đã lẫn lộn giữa hai chữ hạnh phúc và tiện nghi vật chất. Rồi người ta lại hy vọng như một vị giáo sư ở Nhật nhận định: Một xã hội sau thời kỳ nhộn nhịp sẽ đạt đến thời kỳ trầm lắng và chỉ đến lúc tụt xuống quá mức thì những nhu cầu bức bách sẽ giục nó dậy lên…
Nếu như vào thời hiện đại, thì suy nghĩ của ông Ẩn về con đường rèn luyện cho một niên thiếu thành người theo cách ông thấy được ở Mỹ sẽ chẳng có gì đáng ngạc nhiên. Nhưng nếu ta đứng lùi lại nửa thế kỷ khi đất nước Việt Nam còn biệt lập trong nỗi đau bị xâm lược, thì những mong muốn của ông Ẩn, cách suy nghĩ của ông cho con cái mình yêu lao động và thực tế “dễ lòi ra mình là Việt Cộng vì lúc đó ở Miền Nam giới công chức không ai nghĩ và làm như vậy”. Ông Ẩn nhớ lại cái thời mà ông là phóng viên của tờ Time, muốn con mình gần đời sống bình dân, thấy cảnh cơ cực để mà thành người. Ông nói: “Ngày đó tôi còn muốn con đi theo các chuyến xuống nông thôn cho nó thấy cảnh cực. Cho nó biết lội bùn, thấy con nít nhà quê ăn cơm bằng chén làm từ muỗng dừa đen bóng”. Ông muốn thằng con trai mình phải tập làm việc, biết giao tiếp, và định xin cho nó tập làm bồi ở nhà hàng Givral.
“Tôi muốn cho nó làm trong dịp nghỉ hè, biết làm bồi làm bếp, giao dịch, chạy bàn, lấy menu. Để sát với dân”. Ông sợ con mình giống như con cái của gia đình khá giả xa cách với cuộc sống - lúc đó Ân, con trai ông mới 12 tuổi.
“Mình làm vậy là bị nghi Việt Cộng. Nhưng tôi là vậy. Con nhà Mỹ nó làm việc nhiều. Mỹ nó dạy như vậy. Tôi thấy vậy là khôn”. Người ta ngạc nhiên và cũng ngại không dám nhân cho Ân tập làm bồi. “Các ông sợ nó lóng ngóng không biết làm? Hễ nó đập bể cái gì, tôi thường”. Nhưng ý định này chưa kịp thực hiện thì miền Nam giải phóng, cuộc đời đã thay đổi. Ông nói: “Cái cách nghĩ như vậy, giới thượng lưu miền Nam lúc đó cho chỉ có Việt Cộng mới dạy con lao động cực khổ. Tôi thì nghĩ điểm này nói là của Việt Cộng cũng được, mà nói Mỹ hóa cũng được”. Con của tụi Mỹ như ông đã thấy, “người ta nuôi con, đảm bảo cho con ăn học, có bệnh tật thì chạy chữa, đảm bảo những nhu cầu cơ bản. Nếu muốn xài hơn, thì đi làm việc kiếm tiền. Rửa xe, cắt cỏ… Dạy nó biết tiền từ lao động mà ra. Dù gia đình có là tỷ phú cũng vậy. Tôi thấy vậy là khôn”.
Phải lao động tay chân - lao động bao giờ cũng phát triển nhanh tư duy. Từ lao động chân tay mới vô trí óc. Phải lao động mới ra sáng kiến. Nhà trường Mỹ dạy kỹ lắm. Nhỏ xíu đã phải học cả những giờ học về cây cối. Ông thầy chỉ cách, trò tự trồng đậu, bắp, mía, biết cái cây nó lớn thế nào. Lớn chút ít học thêm nghề mộc, được dạy cách cầm bào, cưa, tập đóng bàn đóng ghế.
Ông thường dẫn con trai lên Thủ Đức vào những ngày nghỉ, vạch cả hàm răng trâu cho con xem để biết con trâu chỉ có một hàm răng. Chẳng gì làm cho nó nhớ liền bằng cái cách nhìn thấy tận mắt như vậy. Về quan niệm lao động để phát triển con người thì ông Mác đã dạy - Việt Cộng càng coi là lối sống căn bản. Vậy mà nếu anh sống theo cách đó, có thể là Mỹ hóa.
“Có ba nền văn hóa trong tôi” - lời ông Ẩn tự nhận, nó bao trùm lên toàn bộ tính cách và cuộc đời hoạt động của ông. Có lẽ phải hiểu lời ấy trên cách cảm nhận về thời cuộc, sự lựa chọn con đường dấn thân. Như ông đã từng trả lời phỏng vấn Morley khi được hỏi là làm thế nào để không bị lộ tung tích trong suốt bấy nhiêu năm. Ông nói: “Cái đó không khó bằng sự trung kiên”, sự trung kiên mới thực sự là vấn đề. Một số ký giả Mỹ cho rằng ông học được ý niệm về sự trung thành này từ các đại học Mỹ. Cũng có thể ông Ẩn đã được thấy và sống cùng với những người bạn Mỹ trung thực. Do đó theo ông, ở một mức nào đó, sự trung thành hoàn toàn là một ý niệm Mỹ.
Những lời như thế, không rõ thực hư là ông Ẩn có nói như vậy và các ký giả Mỹ có phần vội vã chăng khi họ có thể thừa nhận sự thấu hiểu triết lý thâm sâu của văn hóa Việt Nam. Trong ngôi nhà giản dị nhưng không quá nghèo khổ, cả gia đình ông sống theo tinh thần “xã hội chủ nghĩa” - chữ dùng của ông, khi tâm sự chút ít về chi tiêu trong nhà: “Phải có ngân sách, phải biết rõ kiếm từ đâu ra để chi. Các con nhỏ còn đi học, chi tiêu theo mức của ngân sách cho phép. Phải tiết kiệm”. Ăn thứ gì đủ dinh dưỡng, không cần xài đồ mắc tiền. Xưa người ta mặc đủ ấm, nay đẹp, tùy con mắt, nhưng phải coi ngân sách mà tính. Đi làm cũng vậy. Phải đọc sách, phải học. Con trai cũng phải biết chăm con…”.
Đó là khái niệm “Việt Cộng” hay khái niệm Mỹ, ai muốn nói gì thì nói, điều chủ yếu không phải chỉ là lối sống vụn vặt bình thường hàng ngày. Nếu muốn nói đến nguồn cội văn hóa nào đã làm nên tính cách một người Việt Nam như ông Ẩn, thì phải bắt nguồn từ nhiều điều sâu xa hơn. Nó được chứng minh bằng sự lựa chọn của cá nhân đối với vận mạng gieo neo của đất nước mình. Nó còn là sự khôn ngoan của con người trước mọi biến đổi của pháp tướng vô thường.

wind_viet
05-10-2009, 09:44 PM
xin ngả mũ kính phục các bậc lão thành của việt nam