PDA

View Full Version : Đảo Nam Yết



anteo
24-01-2010, 01:04 PM
Phía dưới là toàn văn. Tớ sẽ post dần để mọi người dễ theo dõi và soi!
Vẫn còn một số thắc mắc! Chờ giải đáp!

anteo
24-01-2010, 01:26 PM
CHƯƠNG I. NAM YẾT – ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN


Nam Yết (tên quốc tế: Namyit) là một hòn đảo thuộc chủ quyền Việt Nam (http://vi.wikipedia.org/wiki/Vi%E1%BB%87t_Nam) trong quần đảo Trường Sa (http://vi.wikipedia.org/wiki/Qu%E1%BA%A7n_%C4%91%E1%BA%A3o_Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_ Sa), ở tọa độ 10o11’00’’ độ vĩ Bắc; 114o21’42’’ độ kinh Đông, cách đảo Ba Bình (http://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A3o_Ba_B%C3%ACnh) do Đài Loan (http://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%C3%A0i_Loan) đang chiếm giữ khoảng 10 hải lý và cách đảo Sơn Ca khoảng 12 hải lý về phía Tây Nam, cách đảo Ga Ven (http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Ga_Ven&action=edit&redlink=1) do Trung Quốc (http://vi.wikipedia.org/wiki/Trung_Qu%E1%BB%91c) đang chiếm giữ khoảng 6 hải lý (http://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BA%A3i_l%C3%BD) về phía Đông, và cách xa đất liền hơn hai ngày, hai đêm đi tàu thủy (http://vi.wikipedia.org/wiki/T%C3%A0u_th%E1%BB%A7y). Đảo Nam Yết là một phần của cồn Tizard cùng với đảo Ba Bình (Thái Bình), đảo Sơn Ca, bãi Bàn Than, đá Núi Thị.



http://hoangsa.org/forum/picture.php?albumid=189&pictureid=1305


Bia chủ quyền trên đảo Nam Yết

Đảo Nam Yết có dáng hình bầu dục hơi hẹp bề ngang, nằm theo hướng Đông - Tây dài khoảng 650 mét, chiều rộng khoảng 170 mét, diện tích khoảng 96.500m2. Quanh đảo có bờ kè bằng bê tông (http://vi.wikipedia.org/wiki/B%C3%AA_t%C3%B4ng), được xây dựng trong 8 năm, từ năm 1998 đến năm 2006 thì hoàn thành. Ở đây nước biển rất trong và có màu xanh nhạt khác hẳn với màu xanh thẫm của đại dương, nhờ đó, giới hạn của vành đai san hô hiện ra rất rõ rệt.
Đảo Nam Yết được hình thành do sự đông đặc của dung nham phun trào từ núi lửa ngầm dưới mặt nước từ đại Mezozoi (đại Trung sinh, cách ngày nay 240 triệu năm). Lâu ngày, san hô phát triển trên nền phún xuất đó rồi chết đi, dần hình thành đá vôi san hô. Đảo có một vành đá san hô (http://vi.wikipedia.org/wiki/San_h%C3%B4) bao quanh với đủ loại san hô màu sắc sặc sỡ. Bãi san hô ngập nước bao quanh đảo, lan ra cách bờ từ 300 đến 1.000 mét. Khi thủy triều thấp nhất, bãi san hô nhô lên khỏi mặt nước từ 0,2 đến 0,4 mét. Đây là một trong những ám tiêu san hô tiêu biểu trong vùng biển Thái Bình Dương.



http://hoangsa.org/gallery/files/8/5/6/1/namyit_island.jpg


Đảo Nam Yết nhìn qua google maps.

Về thời tiết, mùa mưa liên tục từ tháng 6 đến tháng 1 năm sau, thời gian kéo dài từ 6 đến 8 tháng, lượng mưa trung bình hàng năm từ 2.848mm đến 3.235mm. Mùa khô từ tháng 2 đến tháng 5, thời gian kéo dài 4 tháng, (có năm kéo dài 5 tháng). Nhiệt độ trung bình hàng năm ở đảo Nam Yết từ 25 đến 29ºC, cao nhất 35ºC, thấp nhất từ 14ºC đến 21ºC. Gió mùa Tây Nam thổi từ tháng 5 đến tháng 10, gió Đông Bắc từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau. Từ tháng 7 đến tháng 12 thường xuyên hay có bão đổ bộ vào đảo. Độ ẩm trung bình hàng năm trên đảo Nam Yết là 79%; độ ẩm cao nhất là 96%; thấp nhất là 61%. Độ ẩm cao mang theo nhiều hơi sương muối, làm cho trang bị vũ khí, khí tài nhanh xuống cấp, lương thực, thực phẩm nhanh hư hỏng.
Khi thủy triều thấp nhất, đảo cao khoảng từ 3 đến 4 mét. Khi biển lặng, sóng cao từ 0,2 đến 0, 5 mét. Biển động, sóng cao từ 4 đến 5 mét. Từ tháng 8 đến tháng 12 là thời kỳ cao điểm mưa to, gió lớn, gây khó khăn cho tàu ta neo đậu làm nhiệm vụ tại đảo.
Trên đảo có nhiều cây xanh: dừa (http://vi.wikipedia.org/wiki/D%E1%BB%ABa), nhào (http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Nh%C3%A0o&action=edit&redlink=1), mù u (http://vi.wikipedia.org/wiki/M%C3%B9_u), phi lao (http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Phi_lao&action=edit&redlink=1), keo (http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Keo_%28c%C3%A2y%29&action=edit&redlink=1), phong ba (http://vi.wikipedia.org/wiki/Phong_ba), bão táp (http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=B%C3%A3o_t%C3%A1p&action=edit&redlink=1).... Theo ghi nhận của phái đoàn Viện Khảo sát Nông nghiệp và điền địa (chính quyền Sài Gòn cũ) do Ung Văn Khiêm dẫn đầu ra đảo tháng 7/1973, thì dừa là cây chủ đạo trên đảo Nam Yết. Đoàn cũng nhận xét đất đai của đảo có thể trồng một số loại cây ăn trái như nhãn, mãng cầu, hay một số loại cây nông sản phụ như sắn, rau cải. Đất trên đảo là cát san hô (phân tích của đoàn khảo sát trên xếp đất đai trên đảo vào nhóm đất Regosol, nhưng có nhiều điểm khác biệt so với các loại đất khác cùng nhóm ở ven biển miền Trung do đây là đất phát triển trên đá vôi san hô và trong môi trường giữa đại dương) nên hầu như không trồng được các loại cây ăn quả, rau, chỉ phù hợp với các loại cây nước lợ như mù u, bàng quả vuông, phong ba, dừa và các loại cây leo, cỏ dại. Thực vật ở đây có nguồn gốc từ sinh trưởng tự nhiên như phong ba, bão táp.... và do hạt trôi nổi từ vùng duyên hải Việt Nam và Sarawak (Malaysia) đến; nhưng thời gian gần đây có nhiều cây được đưa từ đất liền ra như dừa, phi lao, bàng.... Đất qua cải tạo có thể trồng được rau muống, bầu, bí. Đảo không có nước ngọt nhưng là một trong số ít đảo thuộc quần đảo Trường Sa như Ba Bình, Trường Sa, Song Tử...có nước lợ tương đối nhiều, có thể dùng tắm giặt.


http://hoangsa.org/gallery/files/8/5/6/1/tizard_bank.jpg

Nam Yết trong cụm Tizard.

Về động vật, đoàn khảo sát ghi nhận phía Tây của đảo là nơi trú ẩn của các giống chim biển, nhất là hải âu, phân chim góp phần tăng độ phì của đất. Trên đảo còn có muỗi, chuột (to cỡ chuột cống). Ban đêm có vít (vích) to bò lên đụn cát đẻ trứng.
Nam Yết và vùng biển xung quanh đảo có quần thể sinh vật khá phong phú và đa dạng. Trong chương trình đặc biệt Biển đông - Hải đảo giai đoạn 1993 – 1997 và 2001 – 2003 của Viện Nghiên cứu Hải Sản, đã thống kê được ở đảo Nam Yết có trữ lượng ốc nhảy bình quân 40g/m2 trên diện tích 100 ha, rong có khoảng hơn 500 kg và nhiều loại sinh vật khác. Tuy nhiên, kết quả cuộc khảo sát những năm 2006 – 2007 của Viện Tài nguyên và Môi trường Biển cho thấy giảm sút về mật độ và trữ lượng; thay đổi về phân bố và tập tính của loài trong các rạn san hô ở đảo Nam Yết. Cụ thể, mật độ của nhóm cá kinh tế suy giảm rất nhanh, từ 35% – 45%, trong vòng 2 năm 2006 – 2007. Việc mất đi của nhóm san hô tạo rạn – habitat (nơi sống – ổ sinh thái) quan trọng của các sinh vật sống kèm khác là một trong những nguyên nhân chính làm cạn kiệt nguồn lợi sinh vật quanh đảo Nam Yết. Trên cơ sở những cuộc khảo sát sinh vật từ trước đến nay, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn đã đề xuất thành lập khu bảo tồn biển Nam Yết vào năm 2015. Đây sẽ là một trong 15 khu bảo tồn biển của Việt Nam.

anteo
24-01-2010, 02:39 PM
CHƯƠNG II. LỊCH SỬ ĐẢO NAM YẾT

2.1. Sơ lược về lịch sử chung quần đảo Trường Sa


Với tư cách người làm chủ, Nhà nước Việt Nam trong nhiều thế kỷ đã liên tiếp điều tra, khảo sát, khai thác, lập bản đồ quần đảo Trường Sa.Trong các tài liệu và bản đồ cổ của Việt Nam cũng như của các nhà hàng hải châu Âu để lại đều đã ghi rõ hai quần đảo nói trên là lãnh thổ và chịu sự quản lý về mặt hành chính của nhà nước Việt Nam đương thời. Trong lịch sử trước đây, việc chiếm hữu và khai thác quần đảo Trường Sa của Nhà nước Việt Nam chưa bao giờ gặp sự chống đối của bất cứ quốc gia nào. Ngay cả Trung Quốc từ thế kỷ XIX trở về trước vẫn thừa nhận và tôn trọng chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Trường Sa.
“Bản đồ Biển Đông” do anh em nhà Vanlangren người Hà Lan in năm 1595 và bản đồ “Méccto” in năm 1693 đã vẽ hai quần đảo “Trường Sa” và “Hoàng Sa” thành một dải liền nhau nằm sát bờ biển miền trung Việt Nam ngày nay.
Trong tác phẩm “Phủ Biên Tạp Lục” của Lê Qúy Đôn viết vào năm 1776 có ghi “phủ Quảng Ngãi,ở ngoài cửa biển An Vĩnh,huyện Bình Sơn có núi gọi là Cù Lao Ré,phía ngoài đó có đảo Đại Trường Sa, trước kia có nhiều hải vật và những hóa vật của tàu, lập đội Hoàng Sa để lấy, đi ba ngày đem mới đến”. “Đại Trường Sa” mà Lê Qúy Đôn nói tới là “quần đảo Trường Sa” ngày nay.
Triều Tây Sơn tuy phải đối phó liên miên với quân xâm lược vẫn luôn quan tâm đến việc duy trì và sử dụng các đội Hoàng Sa để khai thác tài nguyên thiên nhiên ở Hoàng Sa và Trường Sa. Năm 1786, Nguyễn Huệ sai cai Hội Đức Hầu dẫn đội Hoàng Sa gồm 4 chiếc thuyền câu vượt biển thu lượm đồ vàng bạc, đồ đồng, đồi mồi, hải ba cùng cá gáy mang về kinh đô dâng nộp. Kết quả khảo sát, điều tra quần đảo Trường Sa được ghi chép tỷ mỷ trong các sách địa lý và lịch sử của Việt Nam. Sách “Lịch triều hiến chương loại chí" viết năm 1821, "Việt sử cương giám khảo lược" năm 1876, “Hoàng Việt dư địa chí" năm 1883, “Đại Nam thực lục tiền biên” viết năm 1884 ghi chép về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của ông cha ta cách đây hơn 2 thế kỷ trùng hợp với các số liệu trong các tài liệu khảo sát hàng hải hiện đại ngày nay.
Sử sách các triều đại nhà Nguyễn còn ghi chép tỷ mỷ các đội Hoàng Sa hàng năm được cử ra hai quần đảo để khảo sát, vẽ bản đồ và thực hiện chủ quyền của mình. Bản đồ vẽ xứ đằng trong của Bùi Thế Đạt vẽ năm 1774 và “Đại Nam nhất thống toàn đồ” được vẽ vào khoảng 1838 thì “Bãi Cát Vàng” và “Vạn Lý Trường Sa” đều được thể hiện là lãnh thổ Việt nam.
Năm 1815, vua Gia Long cử Phạm Quang Ảnh chỉ huy đội Hoàng Sa; năm 1816 cho thủy quân và đội Hoàng Sa ra khảo sát và đo đạc đường biển.
Vào tháng cuối mùa đông mỗi năm, nhà Nguyễn đưa từ 5 đến 10 hoặc 18 đến 20 chiếc thuyền đến các đảo xa lấy hoá vật, được phần nhiều là vàng, bạc, tiền, súng đạn.
Việc thực hiện chủ quyền và nghĩa vụ của Nhà nước Việt Nam còn thể hiện ở sự giúp đỡ, cứu nạn tàu bè qua lại và thường xuyên tiến hành tuần tiễu bảo vệ hai quần đảo. Tháng 10 năm 1714, ba tàu buồm Hà Lan bị đắm ở Hoàng Sa, thủy thủ các tàu này đã được ngư dân Việt Nam cứu và dẫn vào đất liền trình diện chúa Nguyễn. Họ đã được giúp đỡ ăn, ở chu đáo cho đến ngày về nước. Những tài liệu lịch sử nghĩa cử, hoạt động nói trên và các văn kiện chính thức của Nhà nước phong kiến Việt Nam đã ghi chép đầy đủ các mặt địa lý hành chính, kinh tế của quần đảo và việc thực hiện chủ quyền với danh nghĩa Nhà nước đối với quần đảo đó đã có giá trị pháp lý vững chắc, không ai có thể thay đổi được. Việc thành lập đội Hoàng Sa, hàng năm có mặt đều đặn ở hai quần đảo để thực hiện nhiệm vụ do Nhà nước giao chứng tỏ rằng Nhà nước Việt Nam thực sự thực hiện quyền làm chủ, củng cố và giữ vững chủ quyền của mình đối với quần đảo Trường Sa.



http://hoangsa.org/gallery/files/1/2/4/3/3/lequydon_vnm_1776.gif
(http://hoangsa.org/forum/imagehosting/149154b16890f92c3d.gif)

Đại Nam Nhất Thống Chí (khởi soạn 1848, in năm 1910) của Quốc Sử Quán Triều Nguyễn khẳng định: “đội Bắc Hải khiến đội Hoàng Sa kiêm quản, ra Bắc Hải, các đảo Côn Lôn tìm hải vật”. Đội Bắc Hải tuy không được chính quyền Chúa Nguyễn coi quan trọng như đội Hoàng Sa song vẫn do Nhà nước quản lý. Đây là bằng chứng có tính cách Nhà nước rõ ràng của đội Bắc Hải. Đội Bắc Hải do đội Hoàng Sa kiêm quản, mà nhiệm vụ của đội Hoàng Sa không những để khai thác tài nguyên mà còn có nhiệm vụ kiểm soát các hải đảo và vùng biển Việt Nam.



http://hoangsa.org/gallery/files/1/2/0/7/5/van_langren_1595.jpg
(http://hoangsa.org/forum/imagehosting/149154b16897190697.jpg)
“Bản đồ Biển Đông” của anh em nhà Vanlangren

Như vậy đến thời kỳ này thì “Bãi Cát Vàng” và “Vạn Lý Trường Sa” không còn là hai quần đảo vô chủ nữa mà đã là lãnh thổ của Việt Nam.
Theo Hiệp ước Pháp - Việt 1874 cùng Hiệp ước ngày 6 tháng 6 năm 1884 giữa Pháp và Triều đình Nhà Nguyễn về việc Nhà Nguyễn đồng ý cho Pháp thay mặt Nhà nước Việt Nam trong các hoạt động đối ngoại, ký các văn bản ngoại giao và bảo vệ chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, chính quyền thực dân Pháp ở Việt Nam đã chính thức chiếm hữu Trường Sa trong tình trạng không có nước nào chiếm hữu.
Năm 1887, Pháp và Triều đình Mãn Thanh ký công ước về hoạch định biên giới cả trên biển và trên bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc.
Năm 1909, nhà cầm quyền Pháp cho các pháo hạm tuần tiễu trên vùng biển hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Từ năm 1920, các tàu của Sở Hải quân Đông Dương cũng được tăng cường để làm nhiệm vụ tuần tiễu chống bọn buôn lậu ở vùng biển Hoàng Sa và Trường Sa.
Năm 1933, chính quyền thực dân Pháp đã làm đầy đủ thủ tục chiếm hữu theo nghi thức truyền thống phương Tây với một hạm đội đem đến mỗi đảo một văn bản chiếm hữu do các thuyền trưởng ký đóng kín trong một cái chai được gắn trong một trụ xi măng xây trên mỗi đảo. Người ta kéo cờ và thổi kèn trên từng hòn đảo Trường Sa (Spratly), đảo An Bang (Caye d’Aboine), đảo Ba Bình (Itu-Iba), đảo Loại Ta (Loaito), đảo Thị Tứ cùng các tiểu đảo phụ thuộc. Sau đó Bộ Ngoại giao Pháp đã có một thông tri đăng công báo Pháp ngày 26 tháng 7 năm 1933 về sự chiếm hữu đảo Trường Sa ngày 13 tháng 4 năm 1930 và các đảo An Bang, Ba Bình, Loại Ta, Thị Tứ cùng các đảo phụ cận từ ngày 7 tháng 4 năm 1933 đến ngày 12 tháng 4 năm 1933.
Ngày 21 tháng 12 năm 1933, thống đốc Nam kỳ Grơthayme đã ký Nghị định số 4762/S-P đặt quần đảo Trường Sa vào tỉnh Bà Rịa.
Ngày 15 tháng 6 năm 1938, toàn quyền Đông Dương Brêviê đã ký Nghị định số 156/S-P xây dựng một đèn biển, trạm khí tượng thuỷ văn, đài vô tuyến điện ở đảo Ba Bình trong quần đảo Trường Sa.
Suốt thời gian đại diện cho Nhà nước Việt Nam về mặt đối ngoại, Chính phủ Pháp luôn khẳng định chủ quyền của Việt Nam với quần đảo Trường Sa, đồng thời phản kháng lại những hành động xâm phạm chủ quyền của Việt Nam ở quần đảo đó.
Ngày 14 tháng 10 năm 1950, Chính phủ Pháp chính thức bàn giao việc quản lý và bảo vệ hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa cho Chính phủ Bảo Đại. Tổng trấn Trung phần Phan Văn Giáo đã ra Hoàng Sa chủ trì việc bàn giao. Ngày 9 tháng 7 năm 1951, tại Hội nghị Xan Phranxixcô, sau khi Nhật tuyên bố từ bỏ mọi quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà họ đã chiếm đóng trái phép từ trước chiến tranh thế giới lần thứ hai, Trần Văn Hữu, Thủ tướng Chính phủ của chính quyền Bảo Đại đã tuyên bố khẳng định chủ quyền của Việt Nam với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Lời khẳng định này được đưa ra trước Hội nghị có đại diện của 51 nước tham dự nhưng không có đại biểu nào lên tiếng phản đối.
Sau khi Hiệp định Giơnevơ năm 1954 được ký kết, ngày 28 tháng 4 năm 1956, quân đội viễn chinh Pháp rút khỏi Đông Dương, chính quyền Sài Gòn vẫn duy trì các lực lượng đồn trú bảo vệ, khảo sát quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Ngày 20 tháng 10 năm 1956, chính quyền Sài Gòn ra Nghị định số 143/NV về việc đổi tên các tỉnh miền Nam, trong đó quần đảo Trường Sa được đưa về tỉnh Phước Tuy.
Năm 1957, các lực lượng thuỷ quân lục chiến của quân đội Sài Gòn đã được đưa ra quần đảo Trường Sa làm nhiệm vụ bảo vệ các đảo thay cho các đơn vị đồn trú trước đây. Năm 1963, chính quyền Sài Gòn đã dựng bia chủ quyền trên các đảo Trường Sa, An Bang, Song Tử Tây,...Trong các năm từ 1961 đến 1973, liên tục phái các đội tàu làm nhiệm vụ tuần tiễu, kiểm soát và tiến hành khảo sát hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Ngày 6 tháng 9 năm 1973, Bộ trưởng Bộ Nội vụ chính quyền Sài Gòn ra Nghị định số 420-BNV/HDCP/26 sáp nhập quần đảo Trường Sa vào xã Phước Hải thuộc quận Đất Đỏ, tỉnh Phước Tuy.
Như vậy, từ sau khi Pháp rút khỏi Đông Dương cho đến tháng 4 năm 1975, chính quyền Sài Gòn và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam đã tiến hành những hoạt động thực hiện chủ quyền của Nhà nước Việt Nam với quần đảo Trường Sa một cách hoà bình, thực sự và liên tục.
Tháng 4 năm 1975, trong hào khí của cuộc Tổng tiến công nổi dậy của quân và dân ta giải phóng miền Nam, chấp hành mệnh lệnh của Bộ Quốc phòng, Hải quân nhân dân Việt Nam đã giải phóng hoàn toàn quần đảo Trường Sa, góp phần đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta giành được thắng lợi trọn vẹn.
Từ sau khi thống nhất đất nước, nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam liên tục có những hoạt động khẳng định chủ quyền của mình đối với hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa. Về mặt hành chính, trước năm 1982, Trường Sa thuộc huyện Long Đất, tỉnh Đồng Nai; ngày 9 tháng 12 năm 1982, theo quyết định số 193 của Hội đồng bộ trưởng, huyện Trường Sa được thành lập và thuộc tỉnh Đồng Nai; ngày 28/12/1982, huyện Trường Sa được chuyển sang tỉnh Phú Khánh. Sau khi chia tách tỉnh (30/6/1989), huyện Trường Sa thuộc tỉnh Khánh Hòa. Theo Nghị định số 65/2007/NĐ-CP của Chính phủ được ban hành vào tháng 4 năm 2007, huyện Trường Sa (thuộc tỉnh Khánh Hòa) có 3 đơn vị hành chính trực thuộc gồm thị trấn Trường Sa và các xã Song Tử Tây, Sinh Tồn.

anteo
24-01-2010, 02:52 PM
2.2. Vài nét lịch sử đảo Nam Yết trước 1975

Trên đảo Nam Yết đã có các hoạt động của người Việt từ rất lâu, và người Việt Nam qua các thời kỳ đã liên tục có các hoạt động khai thác tại đây. Môt bằng chứng là cuộc khai quật năm 1993 với diện tích hố khai quật 28 mét vuông, tầng văn hóa dày từ 35-50cm, đã thu về 184 hiện vật chủ yếu là đồ sứ và sành. Qua nghiên cứu, các hiện vật có những nét tương đồng với những hiện vật tìm thấy ở di chỉ Thanh Hà (Huế). Chủ nhân là người Việt từng đến sinh sống ở đây từ thế kỷ XIV-XV.
Đảo Nam Yết được người phương Tây ghi nhận lần đầu tiên có lẽ là vào năm 1767, khi tàu Dolphin (cá heo) của thuyền trưởng William Wallis quan sát được đảo này vào ngày 03 – 04/11/1767. Tàu Dolphin (cùng các tàu Swallow và Prince Frederick) khởi hành từ cảng Plymouth nước Anh ngày 22 tháng 08 năm 1766, có chuyến hải trình dài hai năm vòng quanh thế giới. Đoàn đã đi qua phía Tây bán cầu và đến Philippin tháng 10/1767, sau đó đi qua quần đảo Trường Sa và bờ biển miền Nam Việt Nam. W. Wallis chính là người đặt tên cho hòn đảo ông quan sát được vào ngày 04/11/1767 là đảo mới (Namyit) – cái tên được dùng cho đến ngày nay.
Nằm trong quần đảo Trường Sa, các chính quyền Việt Nam thời phong kiến và chính quyền thuộc địa Pháp đã liên tục quản lý đảo Nam Yết trong các thế kỷ XVIII, XIX đến những năm đầu thế kỷ XX. Các cuộc khảo sát cũng được tiến hành thường xuyên. Có thể kể đến cuộc khảo sát về san hô đảo Nam Yết của B. Smith năm 1890 hay Bernard năm 1897. Năm 1952 Dawydoff đã thống kê được 32 loài thân mềm, 14 loài da gai, một số loài giáp xác và giun đốt ở đảo Nam Yết, Ba Bình, Loại Ta và Trường Sa.
Trong chiến tranh thế giới thứ hai, phát – xít Nhật đã chiếm đóng cụm đảo Tinzard vào năm 1944 và xây dựng trên đảo Nam Yết một căn cứ tàu ngầm.
Sau thế chiến, chính quyền miền Nam thực hiện quản lý trên thực tế đảo Nam Yết. Tháng 8/1956, họ đã đưa tàu chiến Tuy Đông (HQ – 04) ra quần đảo Trường Sa nhằm mục đích dựng bia chủ quyền trên hầu hết các đảo thuộc quần đảo này và xây các bệ cột để cắm cờ Việt Nam.
Năm 1962, các tàu tuần tiễu Tuy Đông và Tây Kết đã đến đảo Trường Sa và Nam Yết. Sau năm 1963, do chiến tranh, các cuộc tuần tiễu ra quần đảo Trường Sa đã được giảm bớt. Tuy nhiên, các hoạt động tuần tiễu, điều tra, khảo sát vẫn được tiến hành liên tục. Có thể kể đến các chuyến khảo sát của đoàn điền địa năm 1973 đã kể trên hay chuyến đi “công tác dầu hỏa” của tàu hải quân (Việt Nam cộng hòa) HQ – 3 đầu năm đó.
Quân đội miền Nam Việt Nam chỉ thực sự đóng quân trên đảo Nam Yết từ tháng 8 năm 1973 với quân số 70 người (địa phương quân). Đây là đảo duy nhất ở quần đảo Trường Sa có lính Việt Nam cộng hòa trú quân thường xuyên trước năm 1974. Sau sự cố 20/01/1974, Việt Nam cộng hòa gấp rút tăng cường bảo vệ các đảo thuộc quần đảo Trường Sa với chiến dịch mang tên Trần Hưng Đạo 48, đổ bộ lên một số đảo khác của quần đảo Trường Sa, mỗi đảo từ 20 đến 40 địa phương quân. Lúc này, lực lượng bộ binh trú đóng ở Trường Sa thuộc Đại đội 4, Tiểu đoàn 371 Điạ phương quân tỉnh Phước Tuy. Bộ chỉ huy đặt căn cứ trên đảo Nam Yết do trung úy Đoàn Cận Tiêm chỉ huy.


[/URL]http://hoangsa.org/forum/imagehostnew/153394b5c09bc1fabf.jpg (http://hoangsa.org/forum/imagehostnew/153394b5c09bc1fabf.jpg)


William Walis, người đặt tên cho đảo Nam Yết (Namyit)
http://hoangsa.org/gallery/files/8/5/6/1/namyet_418831.jpg (http://hoangsa.org/gallery/files/8/5/6/1/namyet_418831.jpg)





Bia chủ quyền của chính quyền Sài Gòn trên đảo Nam Yết.


http://hoangsa.org/gallery/files/8/5/6/1/songtutay1973.jpg (http://hoangsa.org/gallery/files/8/5/6/1/songtutay1973.jpg)


Đảo Nam Yết năm 1973



[URL="http://hoangsa.org/gallery/files/8/5/6/1/namyet1974.jpg"]http://hoangsa.org/gallery/files/8/5/6/1/namyet1974.jpg (http://hoangsa.org/gallery/files/8/5/6/1/namyet1974.jpg)


Nam Yết năm 1974.

anteo
24-01-2010, 03:00 PM
2.3. Đảo Nam Yết thời kỳ 1975 đến nay.

Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975, thực hiện mệnh lệnh của Bộ Tổng Tham mưu, lực lượng đặc công, tàu vận tải Hải quân có sự tham gia của bộ đội Tiểu đoàn 471 Quân khu 5 đổ bộ đánh chiếm giải phóng đảo Song Tử Tây vào ngày 13 tháng 4 năm 1975. Tiếp đến ngày 21 tháng 4 năm 1975, hai tàu 641, 673 xuất phát từ cảng Đà Nẵng chở lực lượng đặc công hải quân và bộ binh của Tiểu đoàn 4, Sư đoàn 2, Quân khu 5 ra đảo Song Tử Tây chuẩn bị đánh chiếm giải phóng các đảo Nam Yết, Sơn Ca, Sinh Tồn. Theo hồi ký của Thượng tướng Phùng Thế Tài, sau thắng lợi Song Tử Tây, đoàn 125 tiếp tục chở bộ đội đi tấn công đảo Sơn Ca. Lần này Bộ Tư lệnh Hải quân quyết định sử dụng 2 tàu của đoàn 125, đó là tàu 673 và tàu 641 (tàu 673 do đồng chí Thơm làm thuyền trưởng, tàu 641 do đồng chí Trần Tú làm thuyền trưởng). 4 giờ sáng ngày 21 tháng 4, hai tàu được lệnh xuất phát. Chiều 24 tháng 4, đến được vị trí tập kết. Đêm 24 tháng 4, theo kế hoạch, tàu 673 và tàu 641 tách ra làm hai mũi. Tàu 673 chở quân tiến đánh đảo Nam Yết, vào gần khu vực đảo Nam Yết thì gặp tàu khu trục của địch đang hoạt động ở đó. Yếu tố bí mật đổ bộ lên đảo Nam Yết không còn. Tàu 673 quay về hướng Song Tử Tây, neo ở đó đợi thời cơ. Ngày 25 tháng 4, ta tiến công giải phóng đảo Sơn Ca và ngày 26 tháng 4, nhận được tin địch rút chạy khỏi các đảo trên Trường Sa, lập tức ta điều tàu 673 chở bộ đội từ đảo Song Tử Tây tiến về đảo Nam Yết. Tối 26 tháng 4, ta biết được địch sắp chuẩn bị chạy khỏi đảo còn lại, Sở chỉ huy tiền phương của quân chủng Hải quân lập tức lệnh cho hai tàu 673 và 641 tiếp tục lên đường đi giải phóng đảo Nam Yết. Các tàu địch thấy tàu ta đến vội vã giục quân trên đảo rời đảo xuống tàu, bỏ chạy. Lực lượng ta khẩn trương lên đảo. 1 giờ 30 phút ngày 27 tháng 4 năm 1975, bộ đội trên tàu 673 đổ bộ giải phóng hoàn toàn đảo Nam Yết. Ngày 27 tháng 4 năm 1975 trở thành ngày truyền thống của bộ đội đảo Nam Yết.

Ngay sau khi giải phóng, làm chủ 5 đảo Song Tử Tây, Sơn Ca, Nam Yết, Sinh Tồn, Trường Sa, theo lệnh của Bộ Tổng Tham mưu, Tiểu đoàn 4 bộ binh, Sư đoàn 2, Quân khu 5 chuyển sang làm nhiệm vụ chốt giữ bảo vệ các đảo trên quần đảo Trường Sa. Sở chỉ huy của tiểu đoàn đóng tại đảo Nam Yết. Tiểu đoàn trưởng là đồng chí Trường, chính trị viên tiểu đoàn là đồng chí Nhân. Chốt giữ bảo vệ đảo Nam Yết do Đại đội 2 đảm nhiệm, dưới sự chỉ huy của đồng chí Ca, đại đội trưởng.

Ngày 5 tháng 9 năm 1975, Bộ Quốc phòng ra quyết định thành lập Lữ đoàn Hải quân đánh bộ 126, gồm lực lượng của 2 Trung đoàn 46 và Trung đoàn 126 Đặc công Hải quân, làm nhiệm vụ phòng thủ bảo vệ quần đảo Trường Sa và sẵn sàng cơ động chiến đấu bảo vệ vùng biển. Ngày 23 tháng 3 năm 1976, Bộ Tổng Tham mưu tiếp tục điều động Trung đoàn Công binh 83 thuộc Quân khu 5 về trực thuộc Bộ Tư lệnh Hải quân làm nhiệm vụ xây dựng các công trình chiến đấu phòng thủ bảo vệ quần đảo Trường Sa.
Tháng 11 năm 1975, Đoàn cán bộ của Bộ Tư lệnh Hải quân và của Lữ đoàn 126 do đồng chí Phó Tư lệnh - Tham mưu trưởng, Đại tá Hoàng Hữu Thái làm trưởng đoàn đi kiểm tra tình hình sẵn sàng chiến đấu của các đảo trên quần đảo Trường Sa và nghiên cứu việc tổ chức các lực lượng phòng thủ đảo. Nhìn thấy anh em mặc quần đùi bằng bao đạn khâu tay, người nào cũng đen cháy, nhiều đồng chí trong đoàn không cầm được nước mắt. Trên cơ sở nghiên cứu khảo sát thực tế tình hình các đảo, Quân chủng xác định biên chế tổ chức lực lượng chiến đấu bảo vệ các đảo Nam Yết, Trường Sa, Song Tử Tây là cấp đại đội tăng cường, các đảo còn lại biên chế tổ chức cấp đại đội thiếu.

Tháng 5 năm 1977, đoàn cán bộ của Quân chủng hải quân do đồng chí Tư lệnh, Thiếu tướng Giáp Văn Cương và Chính ủy, Thiếu tướng Hoàng Trà dẫn đầu kiểm tra tình hình sẵn sàng chiến đấu của cán bộ, chiến sĩ đảo Nam Yết. Đây là lần đầu tiên đồng chí Tư lệnh và Chính ủy đi nắm tình hình trên đảo Nam Yết. Trong chuyến đi đó, đồng chí Tư lệnh xác định hình thức tổ chức đảo Nam Yết tương đương cấp tiểu đoàn, biên chế có các phân đội hoả lực bộ binh, pháo binh, pháo cao xạ, các bộ phận thông tin, ra đa.
Xuất phát từ vị trí, đặc điểm quần đảo Trường Sa và yêu cầu nhiệm vụ phòng thủ bảo vệ quần đảo, từ cuối năm 1977, Quân chủng chủ trương và tiến hành tách một bộ phận lực lượng, chủ yếu là cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 46 cũ của Lữ đoàn 126 tổ chức thành một trung đoàn chuyên trách làm nhiệm vụ phòng thủ bảo vệ Trường Sa. Theo đề nghị của Quân chủng Hải quân, ngày 8 tháng 5 năm 1978, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ra Quyết định 391/QĐ-QP thành lập Trung đoàn 145 phòng thủ Trường Sa. Sau đó, thể theo nguyện vọng của cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn, để ghi dấu truyền thống các đơn vị tiền thân là Trung đoàn 126 và Trung đoàn 46, Trung đoàn 145 được đổi phiên hiệu thành Trung đoàn 146 phòng thủ Trường Sa. Đồng chí Trung tá Cao Anh Đặng được bổ nhiệm Trung đoàn trưởng; đồng chí Trung tá Vũ Quang Chinh là Chính ủy Trung đoàn. Ngày 12 tháng 2 năm 1979, Bộ Quốc phòng ra Quyết định nâng cấp Trung đoàn 146 thành Lữ đoàn 146. Đến tháng 6 năm 1981, Bộ Tổng Tham mưu quyết định chuyển Lữ đoàn 146 trực thuộc Quân chủng về trực thuộc Vùng 4 Hải quân.
Thực hiện chủ trương tăng cường sức phòng thủ bảo vệ chủ quyền quần đảo Trường Sa, tháng 4 năm 1988, Quân chủng quyết định thành lập 5 khu vực đảo phòng thủ và thành lập các tiểu đoàn pháo binh, phòng không trên các đảo Trường Sa, Nam Yết, Song Tử Tây. Trong đó, đảo Nam Yết được xác định là trung tâm chỉ huy khu vực 2.

Như vậy, đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới, đầu năm 1988, đảo Nam Yết có bước phát triển mạnh về tổ chức các lực lượng chiến đấu cả về chất lượng và số lượng, quân số cao nhất năm 1989 lên tới gần 400 cán bộ, chiến sĩ, quy mô tổ chức của đảo Nam Yết là đảo cấp I tương đương trung đoàn. Ban chỉ huy đảo gồm có đảo trưởng, đảo phó chính trị, đảo phó - tham mưu trưởng, đảo phó Pháo binh, đảo phó phòng không, đảo phó bộ binh (lục lăng đột kích). Về tổ chức lãnh đạo, thành lập Đảng bộ bộ phận đảo trực thuộc Đảng bộ Lữ đoàn.

Từ năm 1991 đến 1996, để phù hợp với cách đánh, với các phương án tác chiến mới, tiểu đoàn pháo binh, tiểu đoàn phòng không của đảo Nam Yết được giải thể, thành lập các cụm chiến đấu và các phân đội hoả lực cơ động. Những năm tiếp theo đến năm 2006, tổ chức lực lượng các đảo tiếp tục được tinh hoá theo hướng gọn, mạnh, giảm dần số lượng, nâng cao chất lượng phòng thủ, chất lượng và trình độ sẵn sàng chiến đấu của bộ đội.
Hàng năm, đảo tập trung làm tốt việc bổ sung, hoàn chỉnh các văn kiện theo các phương án chiến đấu phòng ngự; hiệp đồng chiến đấu; đánh địch tập kích ban đêm ở các cấp toàn đảo, cụm và phân đội. Tổ chức luyện tập, toàn đảo tháng 1 lần, cụm một tháng 2 lần, phân đội một tháng 3 lần. Kết quả luyện tập thường xuyên đạt khá, giỏi. Trong luyện tập phương án, chú trọng luyện tập các phương án đánh địch ban đêm, đánh biệt kích người nhái, chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu. Bên cạnh đó, đảo tổ chức thực hiện tốt các kế hoạch luyện tập thực hành bắn xua đuổi các tàu thuyền xâm phạm khu vực biển đảo quản lý. Hàng năm, các đoàn kiểm tra của Bộ Quốc phòng, Quân chủng, Vùng và Lữ đoàn về huấn luyện sẵn sàng chiến đấu, đảo luôn đạt yêu cầu, có nhiều năm liên tục đạt khá, giỏi như các năm 1993- 1995 và liên tục các năm 1998-2005.

Cùng với việc phát triển lực lượng, hệ thống công sự trận địa phòng ngự trên đảo Nam Yết tiếp tục được đầu tư xây dựng. Trung đoàn 83 sau khi hoàn thành xây dựng các công tình quân sự của kế hoạch "Z76" năm 1980 tiếp tục được Quân chủng giao nhiệm vụ xây dựng các công trình quân sự lâu bền, kiên cố trên đảo Nam Yết, bao gồm hệ thống lô cốt, hầm trú ẩn, hầm chỉ huy. Đến cuối năm 1984, Trung đoàn hoàn thành xây dựng xong các công trình trên đảo, có hạng mục xong trước thời gian kế hoạch 3 tháng.
Những năm 1989, 1995 vào mùa khô, đảo như một công trường xây dựng lớn với hàng trăm cán bộ, chiến sĩ công binh cùng các trang thiết bị công trình miệt mài lao động. Các tàu vận tải chở hàng ra vào đảo như con thoi. Bộ mặt của đảo mỗi năm một đổi mới như một pháo đài mỗi ngày một thêm vững chắc. Bộ đội đảo Nam Yết tổ chức đóng gạch, xây dựng được 1.000m2 nhà cấp bốn, tham gia vận chuyển hàng nghìn tấn vật liệu tu sửa, kè đá được hàng nghìn mét hào dã chiến. Năm 1992, khánh thành hai nhà đảo bộ hai tầng và sau đó hàng loạt các công sự, trận địa hoàn thành đưa vào sử dụng.

Những năm 1996-2005, hàng chục công trình kiên cố tiếp tục được xây dựng. Hệ thống kè bê tông vòng quanh đảo; cầu cảng cho xuồng chuyển tải hoàn thành là những điểm nhấn đánh dấu sức vươn lên không ngừng của đảo Nam Yết, xứng đáng với vị trí tiền tiêu, mảnh đất thiêng liêng của Tổ quốc.


Năm 1991, hoàn thành xây dựng hệ thống mạng lưới điện sinh hoạt trên đảo. Tháng 5 năm 1992, ăng ten Parabôn thu tín hiệu truyền hình được lắp đặt đưa vào sử dụng. Kể từ năm 1975, đây là lần đầu tiên bộ đội đảo Nam Yết được xem truyền hình trực tiếp. Những năm sau đó, đảo tiếp tục lắp đặt hệ thống loa truyền thanh đến các cụm. Hàng ngày theo giờ quy định, bộ đội được xem, nghe, các chương trình thời sự, văn hoá, khoa học, xã hội và thể thao của Đài truyền hình Việt Nam, Đài tiếng nói Việt Nam, các bản tin thi đua tuần, tháng của đơn vị, các tài liệu tuyên truyền nhân dịp các ngày lễ lớn, sự kiện quan trọng của đất nước, của quân đội.


Ngày 30 tháng 4 năm 1978, hai tàu 610, tàu 608 của Hải đoàn 125 chở đoàn cán bộ Quân chủng cập đảo Nam Yết. Đi theo đoàn còn có Đội văn nghệ quần chúng của Hạm đội 171 và Đội chiếu phim của Cục Chính trị ra phục vụ bộ đội đảo. Đây là lần đầu tiên bộ đội đảo Nam Yết được xem biểu diễn văn nghệ và xem chiếu bóng trên đảo. Những năm sau đó, vào mùa biển lặng, Quân chủng đều tổ chức văn công ra đảo phục vụ bộ đội và đội chiếu bóng của Vùng 4 đi theo các tàu vận tải ra chiếu phim. Từ năm 1983, Quân chủng đầu tư xây dựng tủ sách cho đảo từng bước hình thành thư viện đảo sau này. Từ đó cho đến những năm sau này, bộ đội Trường Sa luôn nhận được sự chi viện bằng vật chất và tinh thần hết sức có ý nghĩa của nhân dân cả nước, của các cấp, các ngành, các tổ chức xã hội, nhất là Thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Khánh Hoà góp phần cải thiện nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của bộ đội trên các đảo Trường Sa, trong đó có bộ đội đảo Nam Yết. Hàng năm, ngoài các đoàn của Bộ Quốc phòng, của Quân chủng ra kiểm tra và thăm đảo, còn có các đoàn của Quốc hội, Nhà nước, của các địa phương, đoàn thể xã hội ra thăm động viên bộ đội. Trong đó có chuyến thăm của đồng chí Phó Thủ tướng Trần Đức Lương ra thăm đảo Nam Yết, tháng 4 năm 1993.

Nước ngọt phục vụ cho sinh hoạt, ăn uống của bộ đội đảo Nam Yết là vấn đề nan giải và khó khăn. Về mùa mưa anh em tận dụng nguồn nước mưa tự nhiên, còn về mùa khô luôn trong tình trạng thiếu nước trầm trọng. Hệ thống chứa nước của đảo gồm bể xây và bể téc sắt chỉ bảo đảm lượng chứa hơn 200 khối, chia theo mỗi đầu người 1m3 sử dụng thường xuyên và dự trữ. Bể nước xây trên đảo thường hay bị lún và nứt rò chảy do xây trên nền san hô yếu, bị rung do các loại pháo lớn bắn đạn thật thường xuyên trên đảo nên cũng chỉ dùng một thời gian lại phải xây, sửa. Còn nước chứa trong téc sắt bị ô xi hoá, bị vàng, bẩn không bảo đảm vệ sinh nhất là về mùa khô, đơn vị phải lọc nước mới sừ dụng được. Vì vậy việc quản lý và sử dụng nước ngọt đơn vị quy định rất chặt chẽ, phân phối theo định lượng đầu người trong ngày để duy trì cho sinh hoạt và dự trữ sẵn sàng chiến đấu.
Từ năm 1978, đơn vị bắt đầu triển khai trồng và chăm sóc cây xanh để cải thiện môi trường sống trên đảo. Giống cây từ bờ đưa ra đảo chủ yếu là cây phi lao, bàng quả vuông, dừa, mù u là những loại cây phù hợp với đảo Nam Yết. Mặc dù tỉ lệ cây sống thấp và thường xuyên bị bão nhưng sau nhiều năm số lượng cây xanh không ngừng tăng lên, đảo luôn giữ được màu xanh.

Trong xây dựng, củng cố đảo, sau năm 1988, phong trào trồng cây xanh tiếp tục được đẩy mạnh và là một phong trào quan trọng trong các hoạt động hàng năm của đảo. Ngoài một số giống cây từ bờ cung cấp, đảo tổ chức gây giống cây tại chỗ như phi lao, bão táp, bàng quả vuông, mù u, những năm sau này thí nghiệm trồng thêm cây ăn quả. Hàng năm đảo triển khai trồng từ 1.500 đến 2.000 cây xanh các loại, có 30-40 cây dừa, tỷ lệ sống đạt 15-20%. Cho nên dù khí hậu khắc nghiệt, bão gió hàng năm ảnh hưởng lớn, song đảo luôn luôn giữ được màu xanh, số lượng các loại cây xanh thường xuyên được nhân lên, được chăm sóc phát triển tươi tốt, rợp bóng trên đảo, mang đậm hình bóng của đất liền, ấm áp tình cảm quê hương đất nước.

Từ tháng 4 năm 1989, các đoàn tàu đánh cá của ngư dân tỉnh Khánh Hoà ra Trường Sa đánh bắt hải sản và tiếp sau đó là ngư dân một số tỉnh ven biển Nam Bộ cũng tổ chức các đoàn tàu ra đánh bắt hải sản trên vùng biển Trường Sa, đảo Nam Yết luôn giữ mối liên lạc chặt chẽ, nắm chắc tình hình các tàu đánh cá trên khu vực biển quản lý. Những năm 1992-2006, đảo đã giúp đỡ hàng trăm tàu thuyền dân với hàng vạn lít nước ngọt, hàng nghìn lít dầu; kịp thời cứu chữa hàng chục ngư dân bị bệnh, tai nạn trên biển, nuôi dưỡng tạm thời và cung cấp hàng trăm viên thuốc các loại. Cuối năm 2002, đảo kịp thời tổ chức cứu nạn một tàu ngư dân bị sự cố kỹ thuật bảo đảm an toàn cho người và phương tiện; đầu năm 2006, quân y của đảo kịp thời cấp cứu sống một số ngư dân bị thương khi đang sản xuất được Quân chủng tặng Bằng khen.

Với những thành tích đạt được, cán bộ chiến sỹ đảo Nam Yết đã được nhà nước khen thưởng:
+ Đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân thời kỳ đổi mới, tuyên dương ngày 22-12-2004.
+ Huân chương Chiến công hạng Nhất, năm 1984.
+ Huân chương Chiến công hạng Ba, năm 2003.
+ Bác Tôn tặng Lẵng hoa, năm 1979.
được Thủ tướng chính phủ tặng:
+ Bằng khen các năm 1997, 1998, 1999.
và được tư lệnh hải quân tặng cờ thưởng:
+ “Đơn vị dẫn đầu trong phong trào thi đua” các năm 1997, 1999, 2000, 2002.
+ "Đơn vị huấn luyện giỏi 5 năm 1996-2000”.
+ Đơn vị hoàn thành xuất sắc cuộc vận động xây dựng môi trường văn hóa 1992-2002".
+ Bằng khen về thành tích cứu hộ, cứu nạn năm 2005.
+ Danh hiệu "Đơn vị quyết thắng" (1997-2001 và 2004, 2005).

anteo
24-01-2010, 03:16 PM
CHƯƠNG 3. NHỮNG CÂU CHUYỆN VỀ ĐẢO NAM YẾT

1. Nam Yết - đảo xanh bên ánh thép

20/05/2008
(HNM) - Trong những ngày tháng 4, đầu tháng 5 vừa qua, tuyến đường biển từ đất liền tới huyện đảo Trường Sa, tỉnh Khánh Hòa và vùng thềm lục địa phía Nam của Tổ quốc như tấp nập hơn bởi những chuyến tàu đưa các đại biểu ra thăm, động viên cán bộ chiến sỹ, đồng bào nơi hải đảo. Trường Sa tràn đầy sức sống và tiềm năng phát triển trong tình cảm nồng ấm của đồng bào, chiến sĩ cả nước là cảm nhận của phóng viên báo Hànội mới ghi được trên hải trình...

http://hoangsa.org/forum/imagehostnew/153394b5c131478ee6.jpg (http://hoangsa.org/forum/vbimghost.php?do=displayimg&imgid=5758)
Đảo Nam Yết nhìn từ phía xa giống như một khu du lịch nghỉ dưỡng giữa biển khơi.

Suốt gần ba ngày hai đêm vượt gần 900 km đường biển, trên boong tàu HQ 936 ai nấy ngất ngư vì sóng gió... Nhưng, đảo kia rồi! cả đoàn công tác Bộ Tư lệnh Hải quân và đại biểu các cơ quan dân, chính, Đảng do Thiếu tướng Phan Khuê Tảo, Phó Tư lệnh Quân chủng Hải quân dẫn đầu như bừng tỉnh. Từ phía xa, đảo Nam Yết xanh ngắt với những tán dừa xòe lá trên những mái nhà thấp thoáng giữa biển trời bao la. “Đẹp quá, nhìn như resort (khu du lịch nghỉ dưỡng) - thiên đường nhiệt đới giữa biển vậy...!”- ai đó thốt lên.

Tàu lớn thả neo ngoài khơi, thuyền nhỏ cập bến, thủ trưởng gặp chiến sĩ, đại biểu đất liền hội ngộ người miền biên hải, tay bắt mặt mừng, niềm vui bừng lên dưới tán lá bàng, lá phong ba, cây bão táp như chung một niềm tự hào về biển trời giàu có của Tổ quốc. Quả cũng không sai khi ai đó nói rằng, Nam Yết là đảo đẹp nhất trong quần đảo Trường Sa của Việt Nam, nằm ở vị trí trung tâm giữa hai đầu hải phận đất nước. Dưới bàn tay những cán bộ chiến sỹ nơi đây, bên cạnh những dây muống biển hoa tím bò trườn mềm mại trên bờ cát trắng là một vườn cây xanh mướt với những bóng dừa, mù u, bàng, đu đủ, cây nhàu, cây tra, cây phong ba, cây bão táp và những vườn rau cải, mồng tơi, lá mơ lông, rau muống... đủ loại.

Bước chân lên Nam Yết không còn cái ấn tượng ngày xưa khi nhắc tới hải đảo là nhắc tới sự khắc nghiệt của nắng gió và cát trắng. Nay với sự nỗ lực của cán bộ chiến sỹ trên đảo và tinh thần cả nước hướng về Trường Sa, đảo đã được phủ sóng điện thoại di động Viettel, lương thực, chế độ dinh dưỡng của cán bộ chiến sỹ được bảo đảm khá đầy đủ. Trên đảo bộ đội có đầy đủ sân chơi thể thao, doanh trại với TV, radio, dàn karaoke, hội trường sinh hoạt văn nghệ, trạm xá, nhà bếp khang trang... Không giấu nổi niềm tự hào, Trung tá Phạm Văn Hóa, Đảo trưởng Nam Yết cười tươi cho biết: “Anh em ở đảo quí màu xanh cây lá, mỗi khi tắm xong đều tận dụng nước ngọt để tưới cây. Chúng tôi giờ không thiếu rau xanh, có khi còn nhiều hơn cả trên đất liền ấy chứ...”. Trên đảo, anh em cán bộ chiến sỹ nuôi tới gần 100 con lợn béo, hàng trăm con gia cầm. Bên những hàng cây, doanh trại, công sự... từng đàn lợn nhởn nhơ rũi cát như ở chốn quê nhà. Là sĩ quan cơ yếu của đảo nhưng Đại úy Bùi Văn Ngãi còn là một tay nuôi gia cầm mát tay, anh và một đồng đội nữa hiện nuôi tới hơn 40 con ngan, vịt (chỉ có điều chúng đều không biết bơi do chỉ hoàn toàn được nuôi trên cạn). Trên đảo, mỗi anh em cán bộ chiến sỹ hàng năm cũng đều đặt ra tiêu chuẩn thi đua trồng và chăm sóc 5 cây xanh sống khỏe, đồng thời tận dụng diện tích trồng thật nhiều các loại rau xanh... Mỗi năm toàn đảo thu được hàng chục tấn rau, hàng chục tấn thịt, cá, cải thiện cho đời sống bộ đội.

Hoa Văn Phương Anh, 19 tuổi, chiến sĩ trẻ nhất đảo, quê ở Khoái Châu, Hưng Yên, ra đảo tháng 1-2008 tâm sự, lúc ở đất liền anh có đôi chút ngại ngùng khi nghĩ tới hải đảo xa xôi, nhưng nay thì đã yên tâm. Ngoài những giờ luyện tập và làm nhiệm vụ, Phương Anh vẫn chú ý ôn luyện kiến thức văn hóa để sau khi hoàn thành nghĩa vụ sẽ tiếp tục đăng ký thi đại học. Cùng ý nghĩ như Phương Anh, bác sĩ Phong, bác sĩ Tịnh trong kíp y tế của Bệnh viện 103 mới tăng cường ra đảo từ tháng 3-2008 cũng vững tin và xác định hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Năm qua, đảo đã cứu giúp 60 ngư dân gặp bão trôi dạt trên biển, can thiệp kịp thời giành lại sự sống cho nhiều trường hợp ngư dân lặn biển bị tai biến giảm áp, trong đó, có công sức không nhỏ của các anh.

Cán bộ chiến sỹ trên đảo Nam Yết có chung niềm tự hào là những người lính gánh vác sứ mạng bảo vệ chủ quyền nơi tiền tiêu của Tổ quốc. Ngày đêm trên đảo, dưới hương thơm của hoa mù u, cán bộ chiến sỹ đảo Nam Yết với chất thép của người chiến sỹ quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng và lòng yêu quê hương, đất nước, đã không ngừng luyện tập, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ từng tấc đất biên cương của Tổ quốc. Khi Nguyễn Mậu Trường mới được hai tuổi (anh sinh năm 1986) cha anh là liệt sĩ hải quân Nguyễn Mậu Phong đã chiến đấu và hy sinh anh dũng để bảo vệ chủ quyền Tổ quốc. Lớn lên trong tình thương của mẹ và bà con lối xóm, hun đúc lòng tự hào về người cha anh hùng, nay Trường lại từ quê hương Quảng Bình rèn luyện và trở thành chiến sĩ hải quân trên đảo Nam Yết. Nở nụ cười thật hiền và rắn rỏi, Trường bảo: “Cha em và những người đồng đội của cha đã hy sinh vì Trường Sa, nay em tự hào mình lại được tiếp bước cha gìn giữ vững chắc biển trời của quê hương. Với em biển trời Trường Sa như máu thịt, như gần gũi đâu đây linh hồn của cha em và đồng đội...”.



Bài, ảnh: Việt Khánh

anteo
24-01-2010, 03:26 PM
2. Có người vợ lính ra với Trường Sa



Mùa biển lặng cuối tháng 3-2005, êkip làm chương trình “Người đương thời” (VTV) đã có một chuyến hành trình “không thể nào quên ” đến với quần đảo Trường Sa.
Lặng lẽ trong đoàn có một cô gái trẻ không là diễn viên, phóng viên hay thanh niên đoàn công tác nào, cô vượt biển ra thăm chồng - điều hiếm hoi với lính Trường Sa...
Cô gái đó tên Phạm Thị Lương (tức Hiền Lương), nhân viên văn phòng Trường tiểu học Vĩnh Nguyên 1 (Nha Trang, Khánh Hòa), ra thăm chồng - thiếu úy Nguyễn Hải Dương (thuộc lữ đoàn 146 hải quân), họ mới cưới nhau được một tháng thì anh lên đường ra đảo.



http://hoangsa.org/forum/imagehostnew/153394b5c11828458c.jpg (http://hoangsa.org/forum/vbimghost.php?do=displayimg&imgid=5757)

Vợ chồng Lương - Dương (giữa) với các đồng đội đảo Nam Yết

Hôm hay tin sẽ được ra đảo thăm chồng, Hiền Lương chạy ào ra chợ mua ít quà cho chồng mà chân lập cập như người say rượu vì mừng. Chưa bao giờ ra biển, chưa bao giờ hiểu được sóng gió đại dương nên Hiền Lương bị say sóng nằm bẹp gí trong khoang tàu dù đang mùa biển lặng.
Sau hai ngày đêm, Lương choàng tỉnh khi nghe tiếng reo hò ngoài boong. Chị nhờ hai người dìu ra bên ngoài. Trước mắt chị là một chấm nhỏ ở đường chân trời. Cái chấm đó to dần, to dần... Hiền Lương nói về cảm nhận của mình: “Giữa biển cả mênh mông cái chấm nhỏ hiên ngang quá đỗi”.
Ở cầu tàu đảo Nam Yết (huyện đảo Trường Sa), Hiền Lương được đưa vào đảo bằng chuyến xuồng thứ hai. Thiếu úy Hải Dương đã biết trước trên chuyến tàu này có vợ mình, nhưng đến khi thấy vợ ngay trước mặt cứ nhìn sững như không tin đó là sự thật. Hiền Lương ào đến ôm chồng, nước mắt cứ thế trào ra, bao tháng ngày thui thủi bất chợt ùa về... Chỉ huy đảo Nam Yết toát mồ hôi trước sự kiện đặc biệt này.


Bấy lâu ở đảo chỉ toàn dân nhà binh, biên chế quân số đâu ra đó, nay lại có một “nữ binh” vượt biển ra thăm chồng mới... “chết đứng” chứ. Tính toán căng thẳng, cuối cùng phòng của hai anh lính đảo được trưng dụng nhường cho đôi uyên ương hưởng tuần trăng mật hôm nào dở dang và thật đặc biệt: Trường Sa...



Ngày đầu tiên dẫn vợ đi chào đồng đội khắp đảo, nhiều lính trẻ trên đảo trêu: “Tớ cưới vợ cùng ngày với cậu mà được thế đâu, sẽ đề nghị thủ trưởng sau này cho vợ con ra thăm mới công bằng chứ”.
Bấy giờ là mùa khô, đảo oi bức, nước dự trữ trong hồ cạn kiệt, nước uống còn phải cầm chừng, thế nhưng những người lính đảo đã bảo nhau nhường “vàng” (nước) cho Hiền Lương. Có khách đặc biệt đến thăm mà Hiền Lương nhìn đồng đội của chồng quây quần bên mâm cơm chỉ toàn đồ hộp, càng thương chồng và những người lính Trường Sa hơn. Hiền Lương ước ao: giá như ở đất liền mình sẽ trổ tài nấu cho những người lính một nồi canh và một rổ rau xanh to tướng.
Lính đảo sống cực vậy mà “ướt át” lắm, họ xuống biển chọn những vỏ ốc đẹp nhất đem kết thành hoa gọi là “hoa đảo” để tặng những người đến từ đất liền.


Đêm cuối cùng, vợ chồng Lương thức trắng. Ngày mai tàu rời đảo về đất liền, cô vợ trẻ sẽ trở về với mái nhà, còn chồng vẫn ở lại giữa mịt mù biển khơi... Khi những cánh tay trên boong tàu vẫy chào nhỏ dần, có những giọt nước mắt của người trên tàu, Hiền Lương cũng khóc nhưng cô nhớ mãi lời Hải Dương động viên: “Thôi em về trước, tết này anh lại về với em...”.
Hiền Lương nhớ mãi ngày chồng khoác balô lên tàu ra đảo. Ngày ấy, anh mím môi không chịu cho người vợ trẻ đi tiễn ở Cam Ranh nên không có cảnh tiễn đưa, chia tay như hôm ở Trường Sa. Một mình thui thủi, những lúc ở trường còn có đồng nghiệp, học trò, mỗi chiều vừa về tới nhà là trái tim người vợ trẻ cứ nhói lên.
Ấy vậy mà hàng chục lá thư gửi ra đảo xa chị đều kể anh nghe toàn những chuyện vui nơi đất liền. Hiền Lương bộc bạch: “Không có cũng ráng kiếm chuyện vui của học trò, đồng nghiệp kể cho anh ấy nghe, có vậy anh ấy mới yên tâm công tác”.


Hôm chúng tôi đến xã Phước Đồng, thành phố Nha Trang trời đang mưa dầm. Căn nhà nhỏ vẫn còn tươi trên vách dòng chữ của ngày tân hôn “Hiền Lương - Hải Dương, trăm năm hạnh phúc”. Mấy hôm trước Hiền Lương đã chuẩn bị đi mua sắm ít quà để tết này vợ chồng cùng về quê thăm gia đình ở Quỳnh Lưu, Nghệ An, nhưng rồi tin gửi về từ đảo xa: “Tết này thiếu úy Hải Dương sẽ không về do phải làm nhiệm vụ đảo xa”.
Biết làm vợ lính đảo phải chấp nhận hi sinh, thiếu thốn, nhưng Hiền Lương cũng cảm thấy buồn thế nào ấy. Những lúc như vậy Hiền Lương tìm đến Ngọc, một người bạn cũng có người yêu là lính đảo. Hai chị em cùng cảnh rủ rỉ tâm sự suốt những lần ngủ chung. Người yêu của Ngọc ra đảo suốt gần hai năm, bạn bè nói xa nói gần: “Người gần không yêu, yêu chi người mấy năm không nhìn thấy mặt”.


Chỉ có Hiền Lương mới hiểu nỗi lòng của những người đã dành nửa của mình cho những người lính đảo: “Khi người ta yêu thật sự thì có lẽ như cây phong ba ở Trường Sa vậy, giữa sóng gió, bão tố vẫn vươn lên...

Bài và ảnh: THÁI BÌNH

anteo
24-01-2010, 04:15 PM
3. Giao lưu "Đảo là nhà, biển cả là quê hương"

Phóng viên Hà Trường: Chúng tôi đang có mặt tại đảo Nam Yết, cách đất liền gần 300 hải lý, đảo Nam Yết như một cánh cung hướng ra phía Biển, nhưng cũng là điểm đòn gánh giữa trên quần đảo Trường Sa, nằm ở vĩ độ 10 độ, 10 phút 45 Bắc, 114 độ 22 phút Đông. Đây là hành trình cuối cùng trong chuyến thăm Trường Sa của chúng tôi.
Có mặt tại buổi giao lưu có Thượng tá Ngô Văn Cải, nguyên đảo trưởng đảo Nam Yết. Anh Cải vừa bàn giao công việc trưởng đảo để trở về đất liền ăn tết Mậu Tý sau hai năm làm việc trên đảo.
Vị khách mời thứ hai là trung tá Phạm Văn Hòa, người vừa từ đất liền ra nhận nhiệm vụ trưởng đảo. Người thứ ba là hạ sĩ Nguyễn Mậu Trường. Anh là một câu chuyện dài của đảo này. Tên của anh chưa chắc đã nhiều người nhớ, nhưng trong số 63 chiến sỹ nằm lại để bảo vệ hòn đảo này, vào sự kiện tháng 3 năm 1988, hẳn không ai quên được cái tên Nguyễn Mậu Phong, cha của Trường.


Chúng tôi bắt đầu câu chuyện với Thượng tá Cải: Thưa anh, được biết anh đã có hai năm làm việc trên đảo. Nhiều sự kiện đã diễn ra trong suốt thời gian này nhưng câu chuyện nào làm anh nhớ nhất?
- Thượng tá Ngô Văn Cải: Tôi là một trong những người thế hệ sau. Đi sau, chúng tôi xác định xây đảo là một nhiệm vụ quan trọng nhất. Chúng tôi đã được Đảng, lãnh đạo giao nhiệm vụ xây dựng Nam Yết thành một điểm đảo quan trọng, đặc biệt. Tôi rất tin vào những việc đã làm.


- Về với gia đình, câu chuyện nào anh sẽ kể con nghe?
- Thượng tá Ngô Văn Cải: Tôi sẽ nói với con tôi là bất kỳ ở môi trường nào, hoàn cảnh nào, bản thân cũng phải phấn đấu vươn lên và tổ chức mọi công việc của bản thân, tập thể đảm bảo tốt nhất.
- Ấn tượng tôi nhìn thấy rõ là hơn một tấn đất phải chuyển từ đất liền ra, để khắc phục việc nhiễm mặn sau bão?
- Thượng tá Ngô Văn Cải: Thời tiết của Nam Yết cũng giống như những nơi khác. Chúng tôi cố gắng dùng đất chở từ đất liền ra để trồng cây xanh trên đảo. Thực ra cũng không cần thiết. Vì cải tạo đất ở đây cũng đã đủ cho chúng tôi trồng cây, trồng rau.


- Có thể thành quả lao động đó chính là hình ảnh mà chúng tôi nhìn thấy khi đi ra đảo, đó là Nam Yết như một làng quê yên tĩnh nằm giữa biển Đông. Trong tâm trạng về đất liền đón Tết, anh nhắn nhủ gì cho đồng đội?
- Thượng tá Ngô Văn Cải: Chúng tôi đã xây dựng đảo trong một thời gian dài và thực hiện trách nhiệm của mình. Thực ra, ở lại cũng không khác nhau. Về đất liền, là tình cảm với đất liền. Ở lại đảo lại là tình cảm với cán bộ, chiến sĩ trên đảo. Ở đâu cũng là tình cảm với Tổ Quốc.

Sóng gió không khuất phục được ý chí chúng tôi
- Lính đảo có một câu khẩu hiệu: "Đảo là nhà, biển cả là quê hương". Tiếp theo là câu chuyện với anh Phạm Văn Hòa, anh có thể kể về quá trình anh là một chiến sĩ của Trường Sa và bây giờ đang là một sĩ quan của Trường Sa, là chỉ huy của Nam Yết?
- Trung tá Phạm Văn Hoà: Đảo là một phần máu thịt của tổ quốc. Từ thời Lạc Long - Âu Cơ đẻ 50 con lên rừng, 50 xuống biển. Chúng tôi kế thừa được truyền thống đó. Những người cũ từng xây dựng đảo và những người lính bây giờ. Bao nhiêu tầng lớp cha anh đã giữ vững truyền thống. Không những thế, còn phải xây dựng vững mạnh hơn, để xứng đáng với cha ông.


- Nghe cái tên Nam Yết, chúng tôi chỉ biết nó là một đảo thuộc Trường Sa?
- Trung tá Phạm Văn Hoà: Thực chất mà nói, Nam Yết là 1 đảo tiền tiêu của Tổ quốc. Những người dựng đảo đã mang cây, đất từ đất liền ra. Là một đảo mà cảnh quan môi trường luôn được xây dựng, được cả cán bộ chăm lo, cống hiến, xem như quê hương thứ hai. Tất cả hơi ấm đất liền đều mang ra đảo, nhành cây, trái ngọt. Nam Yết luôn được tôn vinh và chăm lo. Vì nó là mảnh đất thiêng liêng cho Trường Sa.


- Là một sĩ quan hải quân, anh có câu chuyện gì gắn với đời lính không quên được, nhất là kỷ niệm với Trường Sa?
- Trung tá Phạm Văn Hoà: Sống ở đây, kỷ niệm của tôi rất dồi dào. Sống ở đây mới thấy tình cảm rất thiêng liêng. Chúng tôi xác định, sống giữa biển, hòa nước biển chén rượu ngọt ngào, mọi người sống chan hòa. Lúc thực hiện nhiệm vụ, phải phân biệt trên dưới nhưng khi sinh hoạt với nhau, đó là tình đồng đội, tình anh em.... cha chú.


- Những gì đã chứng kiến cho tôi hiểu tình cảm đại gia đính giữa biển Đông. Nhưng cuộc sống vẫn còn khó khăn. Vậy trong những gì mà đất liền có thể gửi cho Trường Sa, theo anh còn thiếu gì?
- Trung tá Phạm Văn Hoà: Như các anh cũng đã hiểu, đồng bào chiến sĩ cả nước cũng hiểu, Trường Sa bốn mùa sóng gió. Nếu có một cơn bão đi qua, Trường Sa phải gánh chịu hết. Là những thiệt thòi. Nhưng sóng gió không khuất phục được ý chí. Cây xanh tàn, chúng tôi trồng lại. Muốn gửi gắm rằng Trường Sa luôn là lá chắn tuyệt vời, vững chắc cho hậu phương phát triển kinh tế.



- Là người cha, người chồng, tết mọi năm được xum vầy, năm nay đón Tết trên đảo, nếu có một lời nhắn cho gia đình, anh muốn gửi điều gì?
- Trung tá Phạm Văn Hoà: Năm năm công tác, 4 năm tôi đón Tết trên đảo. Tình cảm gia đình, tình anh em đồng đội đều quý như nhau. Không được đón tết với gia đình thì còn đồng đội. Tôi cũng san sẻ tình cảm với đồng đội như với gia đình. Cũng mứt Tết, cũng bánh chưng, hoa đào... Tôi tạo dựng hình ảnh trên Trường Sa một cái Tết đất liền thu nhỏ. Vợ con tôi cũng hãnh diện vì điều đó. Không thể trách chồng, cha đi công tác đảo xa.


Cuộc hội ngộ giữa hai mẹ con
- Với hạ sỹ trẻ Nguyễn Mậu Trường, anh vừa có một ngày đầu tiên trên đảo Nam Yết. Lần đầu tiên đón Tết xa nhà, Trường thấy thế nào?
- Nguyễn Mậu Trường: (xúc động không nói được gì)
- Là chiến sĩ trẻ nên hẳn Trường còn dễ xúc động. VietNamNet đã chuẩn bị một cuộc liên lạc để kết nối với Quảng Bình, nơi mẹ Trần Thị Liễu của em đang ngóng tin con. Xin hỏi đầu cầu Quảng Bình đã sẵn sàng?


Phóng viên VietNamNet: Tôi hiện đang ở nhà mẹ Liễu.
- Phóng viên Hà Trường: Tôi đang ngồi với con trai chị Liễu. Xin chị gửi lời gì cho con?



http://images.vietnamnet.vn/dataimages/200801/original/images1487059_boquanphuc.jpg

Chị Liễu đang lần giở những kỷ vật của người chồng Nguyễn Mậu Phong.

Chị Trần Thị Liễu: Mẹ ở nhà rất khỏe, mẹ rất tự hào vì con đang đứng trên mảnh đất cha mình đã ngã xuống. Tết con không về, mẹ chúc con ở lại đơn vị ăn tết mạnh khỏe, vui mà không quên nhiệm vụ.
- Nguyễn Mậu Trường: Con muốn chúc mẹ ăn tết vui và hạnh phúc.
- Phóng viên Hà Trường: Câu chuyện Nguyễn Mậu Trường rất xúc động. Em từng mơ đi qua đảo nơi người cha Nguyễn Mậu Phong đã ngã xuống để thắp cho cha một nén hương. Còn chị Liễu cũng nói rằng đây là tết đầu tiên sau 20 năm gia đình được xum họp. Người con trai cả đang cùng với hương hồn cha ngoài đảo xa.
Tết đến, xuân về, anh chỉ biết chúc mẹ một cái tết vui vẻ. Với Trường Sa, chúng tôi đã rất gần, ở ngay đây. Nam Yết giờ đang mưa. Hành trình về với đất liền sẽ khó khăn vì biển động. Nhưng như vậy là Nam Yết lại sẽ có thêm nước dự trữ cho một cái tết an lành. Chúng tôi đang chuẩn bị xuất phát về trở về đất liền.
Nhân dịp năm mới, phóng viên VietNamNet chúng tôi xin chúc các chiến sĩ đảo Trường Sa ăn tết vui vẻ, luôn chắc tay súng bảo vệ lãnh thổ, chủ quyền của tổ quốc. Chúc các anh mạnh khỏe!



VietNamNet


Cuộc giao lưu được thực hiện ngày 22 /01/2008

stars_angel06
24-01-2010, 04:27 PM
khi doc bai viet nay e da rat xuc dong!!!cac anh va ca nhung nguoi than da chiu nhieu hy sinh. Nhan dip dau nam xin gui toi cac anh loi chuc mung nam moi voi that nhieu niem vui.

sanleo
24-01-2010, 05:33 PM
Bạn cố gắng tìm thêm tài liệu để làm rõ thêm các vấn đề

1.

Đảo Nam Yết có dáng hình bầu dục hơi hẹp bề ngang, nằm theo hướng Đông - Tây dài khoảng 650 mét, chiều rộng khoảng 170 mét, diện tích khoảng 96.500m2.Cố gắng check thêm thông tin về diện tích của đảo Nam yết. Ở chủ đề này http://hoangsa.org/forum/showthread.php?p=205906#post205906 cũng đang tranh luận với bác vaputin đảo Nam yết không thể là một đảo nhỏ nằm ngoài 15 đảo lớn nhất ở quần đảo Trường Sa

2.
Đây là một trong những ám tiêu san hô tiêu biểu trong vùng biển Thái Bình Dương. Gọi là bãi ngầm đi:D Nhiều tài liệu cũ thích dùng từ Hán trong khi đã có nhiều từ Việt để gọi, thậm chí còn dùng các tên Tung Của như Thái Bình, Vĩnh Lạc chứ không dùng tên Việt. Book mình viết lại thì nên sửa các chỗ đó


3. Bạn thử xem cuốn sách này (chỉ preview được 1 ít thông tin) http://books.google.com/books?id=RiEVC6wJ3bcC&printsec=frontcover&source=gbs_v2_summary_r&cad=0#v=onepage&q=&f=false
xem có thêm được gì cho phần thông tin về tài nguyên sinh vật ở Nam Yết hay không. Xem sơ sơ thì thấy nói năm 1986, tàu HQ602 của hải quân Việt Nam khảo sát đảo Nam Yết và đảo Sơn Ca, thu được thông tin của 80 mẫu vật. Năm 1994, tàu HQ653 của hải quân Việt Nam khảo sát đảo Nam Yết, Sơn Ca, Song Tử Tây, Trường Sa thu thập được 380 mẫu vật

4.

“Bản đồ Biển Đông” do anh em nhà Vanlangren người Hà Lan in năm 1595 và bản đồ “Méccto” in năm 1693 đã vẽ hai quần đảo “Trường Sa” và “Hoàng Sa” thành một dải liền nhau nằm sát bờ biển miền trung Việt Nam ngày nay.Liệu có thể kiếm các bản đồ đó để minh họa hay không? Người thứ hai vẽ bản đồ nói trên tên là Mercator chứ không phải là Méccto và ông này vẽ trong năm 1613 chứ không phải là 1693 http://tusach.tuoitre.com.vn/ArticleView.aspx?ArticleID=311536&ComponentID=-1

5.
Tháng 10 năm 1714, ba tàu buồm Hà Lan bị đắm ở Hoàng Sa, thủy thủ các tàu này đã được ngư dân Việt Nam cứu và dẫn vào đất liền trình diện chúa Nguyễn. Họ đã được giúp đỡ ăn, ở chu đáo cho đến ngày về nước.Có thể tìm thêm thông tin chi tiết về 3 tàu đó không nhỉ? Liệu có phải là tàu De Auon hay không http://hoangsa.org/forum/downloads.php?do=file&id=277 ?

Quyển sách trên bằng tiếng Hà Lan thì chắc ít người đọc được, nhưng có thể dùng translate.google dịch qua sang tiếng Anh phần có thông tin liên quan. Thắc mắc là sự kiện 1714 ở đó không nói đến 3 tàu mà chỉ nói đến 1 cái tên De Auon. Nếu tìm được thêm thông tin kiểm chứng thì càng hay

6.
Trong chiến tranh thế giới thứ hai, phát – xít Nhật đã chiếm đóng cụm đảo Tinzard vào năm 1944 và xây dựng trên đảo Nam Yết một căn cứ tàu ngầm.Cái này thì tôi nghĩ là còn nghi vấn, đảo Ba Bình thì chắc chắn có căn cứ tàu ngầm của Nhật nhưng đảo Nam Yết thì chưa chắc, có lẽ chỉ là đóng quân để yểm trợ cho Ba Bình. Xung quanh đảo Ba Bình đã có rất nhiều hoạt động tuần tra, các trận chiến tàu ngầm cua Hải quân Mỹ. Nếu như Nam yết cũng là một căn cứ tàu ngầm thì chắc cũng phải có nhiều trận tấn công, nhiều hoạt động đổ bộ, hay tuần tra, nhưng có vẻ như là không phải như vậy. Bạn kiểm tra thêm thông tin trên footnote.com nhé, ở đó có nhiều tài liệu của hải quân Mỹ về WW2 có thể download free
Một ví dụ là ở đây http://www.southchinasea.org/docs/Schippke/ituaba.html nói rằng
In 1944 the Japanese Kuamitang Armee occupated all islands on the Tizard Bank and built up a submarine base on Itu Aba Island, and a radio base on the southern Namyit Island. tức là chỉ xây một đài radio trên đảo Nam Yết thôi

Bạn cố gắng tìm tài liệu xem Nhật gọi tên đảo Nam yết là đảo nào trong số các tên gọi Kitahutagozima, Minamihutagozima, Nisiaozima, Kikkozima, Nanyoto, Kitakozima, Minamikozima, Asukazima để có thể từ đó tìm thêm thông tin về hoạt động của Nhật trong WW2 http://hoangsa.org/forum/showthread.php?p=250464#post250464
http://hoangsa.org/forum/showthread.php?p=250464#post250464

7.
Sau thế chiến, chính quyền miền Nam thực hiện quản lý trên thực tế đảo Nam Yết. Tháng 8/1956, họ đã đưa tàu chiến Tuy Đông (HQ – 04) ra quần đảo Trường Sa nhằm mục đích dựng bia chủ quyền trên hầu hết các đảo thuộc quần đảo này và xây các bệ cột để cắm cờ Việt Nam.
Hình như là tàu Tuy Động thì phải

8. Phần Vài nét lịch sử đảo Nam Yết trước 1975 thì có lẽ nên tách ra làm : Các chuyến khảo sát ở đảo Nam yết trong thế kỷ 19

và đảo Nam Yết trong nửa đầu thế kỷ 20 và chiến tranh thế giới lần thứ hai

và đảo Nam Yết trong thời kỳ chính quyền Sài Gòn quản lý

Thông tin về các chuyến khảo sát trong thế kỷ 19 thì có thể xem trong thư viện các file liên quan đến voyage, maritime, navigation v... http://hoangsa.org/forum/downloads.php?do=cat&id=2&sort=date

Có nhiều tài liệu của phương Tây viết về Spratly, Tizard...nên chắc có thể viết tách riêng ra được

Phần Nam Yết trong chiến tranh thế giới lần thứ hai thì cố gắng tìm theo các tài liệu như footnote.com, tài liệu của Mỹ về chiến tranh thế giới thứ hai đã không còn là mật http://digicoll.library.wisc.edu/FRUS/Search.html hoặc các trang web khác tại đây http://hoangsa.org/forum/showpost.php?p=243967&postcount=42 Nếu tìm được tài liệu để viết chi tiết thì tốt, nếu không thì đành để làm 1 phần vậy
Các mem soi được thêm điều gì thì bổ xung luôn nhá:thumbs-up-nomi: Cố gắng thêm được các thông tin mới thì tốt hơn là bê nguyên các bài báo chỉ phần nhiều là tuyên truyền tư tưởng nhưng ít thông tin chi tiết

anteo
25-01-2010, 03:01 PM
@Sanleo:

1. Thông tin về diện tích đảo do hải quân đưa ra thì tớ cho là chính xác nhất! Vì chỉ có hải quân mới có thể thực hiện công tác trắc địa, bản đồ trên các đảo ở Trường Sa mà thôi! Họ nói là khoảng thì ta phải theo thôi, nếu họ không muốn đưa chính xác. :smack: Để thực hiện tính diện tích trên bản đồ theo MapInfo chẳng hạn, đòi hỏi phải có công tác trắc địa trước đã. Không thể dựa vào ảnh vệ tinh được. Kinh nghiệm thực tế của tớ là khi sử dụng thiết bị định vị vệ tinh cầm tay, việc xác định tọa độ đôi khi lệch hẳn so với bản đồ, lệch vài chục, vài trăm mét là chuyện thường vì việc nắn chỉnh bản đồ địa hình từ không ảnh cũng rất phức tạp. Wiki sai là chuyện thường!

Dù sao thì Nam Yết vẫn cứ là một đảo lớn của Trường Sa, chắc không thể có diện tích chỉ 0,05 km2 được!

2. Ám tiêu là thuật ngữ vẫn được ghi trong Bách khoa toàn thư mà! Nhưng đồng ý là nên sử dụng tiếng Việt cho trong sáng:D. Đề nghị dùng từ "rạn".

3. Đã từng hỏi về vấn đề này, nhưng chưa có ai trả lời! Tài liệu về tài nguyên sinh vật tại quần đảo Trường Sa chắc chắn có ở Viện Hải Dương học Nha Trang (Bác Phụng) và Viện Tài nguyên môi trường biển ở Hà Nội (Bác Tuấn). Bạn nào quen thì làm ơn tìm hiểu hộ. Các bài báo khoa học thường chỉ công bố các thông tin khái quát thôi. Đen là trong bài báo của bác Phụng thì lại gộp chung toàn bộ quần đảo chứ không tách riêng từng đảo. Chỉ có các báo cáo chi tiết mới có, mà các báo cáo đó thì lại chỉ có trong tay tác giả và hội đồng nghiệm thu!:-& Sau này nếu viết quyển chung về Trường Sa thì nên dành riêng một mục về tài nguyên ở Trường Sa (trong đó có tài nguyên sinh vật). Nhưng để làm được thế thì đòi hỏi phải ... quen biết rộng và chịu khó tìm tòi trong các tạp chí chuyên ngành! Tức là phải có các bạn làm trong các chuyên ngành đó tham gia.

4. Sửa! Mà sách của Hải quân ghi sai! Đề nghị các đồng chí sửa ngay! Sách đó còn có một chi tiết nữa là thời gian ta đổ bộ lên đảo Nam Yết. Sách ghi là 1h30 ngày 27 tháng 4, trong khi hồi ký của Thượng tướng Phùng Thế Tài ghi là 10h30! Theo tớ thì hồi ký của Thượng tướng là chính xác vì theo như lời kể thì ta xuất phát từ đảo Sơn Ca và địch rút lui ngay khi thấy tầu của ta đến nên không có giao chiến, vì vậy, thời gian chiếm đảo là rất ngắn. Hơn nữa, nếu ghi 1h30 thì không đúng lắm! Chẳng lẽ là 1h30 đêm! Nếu thế thì hơi bị vô lý, mà địch làm sao để thấy ta trong đêm nhỉ? Còn nếu là chiều thì phải ghi rõ là 1h30 chiều chứ? Nên tớ cho là cô/cậu đánh máy ghi thiếu số 0.:banghead: (lại lỗi của cậu đánh máy).

5. Tiếng Hà Lan!:smilie_crazy: Tớ đã thử dịch sang tiếng Anh nhưng không ăn thua lắm. Nhưng tớ đoán là có ba tàu thật vì có đề cập đến ba cái tên, mà theo tớ thì câu chuyện này là: tàu của Gerard Voogd mắc cạn và gặp tàu De Aoun cũng mắc cạn (tháng 10/1714), tổng số 92 thuỷ thủ được đưa lên bờ vào tháng 1/1715 và tháng 2/1716 họ gặp 65 thủy thủ tàu Battalia, tàu của Conelis Lardijns, nhà buôn nô lệ tới Decima(?). Nhưng phải nhờ ai biết tiếng Hà Lan dịch thôi chứ đoán bừa thế này thì hỏng!

6. Thế mà cũng vẫn cái ông Wolfgang Schippke ấy, trong phần về đảo Nam Yết lại viết là " In 1944 the Japanese Kuamitang Armee occupated all islands on the Tizard Bank and built up a submarine base on Namyit Island like on Itu Aba Island (http://www.southchinasea.org/docs/Schippke/ituaba.html)" thật chẳng biết đâu mà lần!:banghead:

Trong hồi ký của vụ trưởng Viễn Đông của Mỹ (Hamilton) thì năm 1939, lãnh sự Nhật Suma đã trao cho ông ta tờ giấy và bản đồ (viết và vẽ bằng tay) về quần đảo mà họ tuyên bố chủ quyền và gọi là quần đảo Sinnan. Khi Hamilton hỏi Suma rằng Sinnan có phải là tên khác của Trường Sa không thì ông ta trả lời là không phải và nói rằng Sinnan lớn hơn Trường Sa rất nhiều. Trong bản đồ vẽ tay đó có vạch ranh giới của quần đảo Sinnan nằm trong vùng nối các điểm sau:
12o B, 117oD; 9o30B, 1170D; 8oB, 116oD; 7oB, 114oD, 7oB, 111o30D; 9oB, 111o30D; 12oB, 114oD và 12oB, 117oD.
Các bác thử so sánh xem! Còn tên thì chắc phải nhờ các bác bên Nhật!

7. Tuy Đông hay Tuy Động? Ai biết chính xác giơ tay!

8.Thoạt đầu cũng định như thế nhưng vì tài liệu có quá ít! Khi nào rảnh sẽ cố gắng bổ sung thêm để tách ra! Bác nào có thêm thông tin xin bổ sung! Nhất là về các cuộc khảo sát của B. Smith năm 1890 hay Bernard năm 1897 cũng như các hoạt động khai thác phosphat của Nhật những năm 1930.

sanleo
25-01-2010, 06:25 PM
Ừ nhể, chẳng hiểu ông Wolfgang Schippke nhầm lẫn ra sao. Nếu có email của ông này thì thử hỏi lại xem nhể:) Nhưng tôi đoán không có căn cứ tàu ngầm ở Nam Yết mà chỉ là căn cứ tàu ngầm Ba Bình, đài radio ở Nam Yết. Cái này cần check lại thêm

vaputin
25-01-2010, 06:40 PM
Ừ nhể, chẳng hiểu ông Wolfgang Schippke nhầm lẫn ra sao. Nếu có email của ông này thì thử hỏi lại xem nhể:) Nhưng tôi đoán không có căn cứ tàu ngầm ở Nam Yết mà chỉ là căn cứ tàu ngầm Ba Bình, đài radio ở Nam Yết. Cái này cần check lại thêm

Thằng cha Wolfgang Schippke đưa thông tin nhảm và sai sự thật trên trang web đó (có lợi cho Tàu). Bản thân em đã hai lần gửi mail đề nghị hiệu chỉnh một số thông tin sai nhưng chưa bao giờ được hồi âm

Có thể xem đấy là một web do bọn Tàu dựng lên dưới tên tổ chức XYZ của một quốc gia phương Tây nhằm tạo nên "tiếng nói trung lập" có lợi cho chúng. Hoangsa.org có nhiệm vụ phải điểm mặt từng website dạng này.
Cái tên Wolfgang Schippke có thể nhầm làm cho người đọc tưởng đâu tác giả là người Đức thật:unhappy-028:

sanleo
25-01-2010, 07:17 PM
Thằng cha Wolfgang Schippke đưa thông tin nhảm và sai sự thật trên trang web đó (có lợi cho Tàu). Bản thân em đã hai lần gửi mail đề nghị hiệu chỉnh một số thông tin sai nhưng chưa bao giờ được hồi âm

Có thể xem đấy là một web do bọn Tàu dựng lên dưới tên tổ chức XYZ của một quốc gia phương Tây nhằm tạo nên "tiếng nói trung lập" có lợi cho chúng. Hoangsa.org có nhiệm vụ phải điểm mặt từng website dạng này.
Cái tên Wolfgang Schippke có thể nhầm làm cho người đọc tưởng đâu tác giả là người Đức thật:unhappy-028:
À ra vậy, à tui có nảy ra ý là bên cạnh chương trình tìm tài liệu để làm ebook thì có thể các mem cùng tham gia chương trình Tìm kiếm, điểm mặt các nguồn tin tức bậy bạ của Trung Quốc về Paracel, Spratly để phản bác (http://hoangsa.org/forum/showthread.php?t=23433)

anteo
25-01-2010, 09:27 PM
Mình cũng đã nghi nghi vì lão Schippke này có viết là (đại khái) các đảo trên được cho là có hoạt động của con người từ thế kỷ thứ 8 (?) - giống luận điệu của Tàu quá!

Nhưng những chi tiết kiểu như vậy thì lão viết dưới dạng nghi vấn (it seems, it is sayed - sayed? - khó tin là lão là người Đức lắm - người Đức dùng tiếng Anh đâu có tệ thế nhỉ?), còn thông tin về căn cứ tàu ngầm thì lão viết cứ như đinh đóng cột như trên!

Nhưng đồng ý là loại bỏ những thông tin của lão này đi! Đề nghị sửa lại là "Người Nhật chiếm một số đảo trong quần đảo Trường Sa vào ngày 30 tháng 3 năm 1931, trong đó có Nam Yết và có lẽ đã xây dựng trên đảo này một số căn cứ quân sự. Trước đó, người Nhật tuyên bố chủ quyền với quần đảo mà họ gọi là Sinnan, có vị trí nằm trong vùng nối các điểm 12o B, 117oD; 9o30B, 117oD; 8oB, 116oD; 7oB, 114oD, 7oB, 111o30D; 9oB, 111o30D; 12oB, 114oD và 12oB, 117oD. Người Nhật tuyên bố rằng quần đảo Sinnan là quần đảo vô chủ trước năm 1921 và Công ty của Nhật Rasa Phosphate Co đã khai thác quần đảo này từ năm 1917, đầu tư đáng kể vào các công trình vĩnh cửu trên các đảo ở đây với sự ủng hộ của Chính phủ Nhật Bản."

vaputin
25-01-2010, 10:01 PM
Về căn cứ tàu ngầm ở Ba Bình hay Nam Yết em cũng từng cố công tìm hiểu nhưng đó hình như chỉ là tin đồn. Cũng có thể Nhật có đưa tàu ngầm đến đây lúc mới chiếm đóng nhưng về sau đó không hề có ghi nhận về tàu ngầm Nhật trong khu vực này. Có thể do địa hình nguy hiểm, không phù hợp

Đội Quế Hương
26-01-2010, 01:44 AM
Bác thử nghiên cứu trang về công ty Đông Ấn Hà Lan (Vereenigde Oost-Indische Compagnie) http://www.vocsite.nl/ xem sao. Hà Lan có rất nhiều sự kiện liên quan đến Paracel, rất nhiều tàu chìm thì hẳn có thể tìm được thông tin nào đó. Bác cứ thử tìm xem có được gì không, lại dùng translate google dịch qua:thumbs-up-nomi:

anteo
26-01-2010, 08:16 PM
Cảm ơn Đội Quế Hương, Vaputin và Sanleo!

Hôm qua tạm dừng để tránh loãng phần trao đổi. Hôm nay tiếp tục post tiếp phần 3 để mọi người tiện theo dõi. Thực ra đây cũng là những câu chuyện cảm động về Trường Sa, đáng để nhắc lại!

4. Đảo Nam Yết anh hùng rợp bóng dừa xanh




http://hoangsa.org/forum/imagehostnew/153394b5ef8f50fe01.jpg (http://hoangsa.org/forum/vbimghost.php?do=displayimg&imgid=5817)


Đại tá Nguyễn Văn Lăng, Chính ủy, Bộ CHQS tỉnh Bến Tre thay mặt đoàn đại biểu tỉnh trao thư và tặng quà cho bộ đội đảo Nam Yết. (Ảnh : Hoàng Vũ)

16 giờ 30 ngày 17-4, chúng tôi đặt chân lên đảo Nam Yết anh hùng, đảo đầu tiên trong chuỗi đảo mà chúng tôi sẽ lần lượt ghé thăm. Điều đầu tiên làm chúng tôi ngạc nhiên là ở đây sạch sẽ và rợp bóng cây xanh dù thời tiết đang ở vào đỉnh điểm nắng nóng của mùa khô. Quang cảnh nhìn từ xa cũng như khi đến tận nơi đều thấy đẹp như một hòn đảo trong chuyện cổ tích. Những con đường bê- tông thẳng tắp rợp bóng cây xanh. Đặc biệt là dừa ở đây rất nhiều làm chúng tôi ngỡ mình đang đi trên đất Bến Tre. Các loại cây khác có nhiều trên đảo là nhào, mù u, phi lao, keo. Riêng hai loại cây nổi tiếng gắn liền với tên tuổi Trường Sa là phong ba và bão táp thì lại mọc ngoài rìa đảo.
Đi tham quan một vòng quanh đảo mới thấy hết kỳ công của bao lớp chiến sĩ ngày đêm làm nhiệm vụ canh giữ và xây dựng đảo. Để bê tông hóa hoàn toàn một hòn đảo rộng 96.500 m2 cách xa đất liền hơn hai ngày, hai đêm đi tàu thủy quả thật không phải chuyện đơn giản. Bộ đội phải vượt qua sóng to, gió lớn để chở từ đất liền ra đảo các loại vật liệu: cát, đá, xi-măng, sắt thép và nước ngọt để trộn bê-tông. Việc xây bờ kè quanh đảo kéo dài 8 năm, bắt đầu từ năm 1998 và hoàn thành vào năm 2006. Đại úy Lê Việt Hùng, Trợ lý công binh trên đảo cho biết: “Chúng tôi thường phải thi công bờ kè từ 9 giờ tối đến 4 giờ sáng, thời điểm nước thủy triều xuống. Bình quân độ dài bờ kè tính theo mỗi bước chân trị giá khoảng 30 triệu đồng.” Chúng tôi tận mắt thấy không chỉ bờ kè mà hệ thống công sự, giao thông hào, lô cốt chằng chịt trên toàn đảo đều được bê tông hóa kiên cố.
Đảo Nam Yết ở tọa độ 10o11’00’’ độ vĩ Bắc; 114o21’42’’ độ kinh Đông, cách đảo Ba Bình do Đài Loan đang chiếm giữ khoảng 10 hải lý về phía Tây Nam, cách đảo Ga Ven do Trung Quốc đang chiếm giữ khoảng 6 hải lý về phía Đông. Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975, bộ đội ta giải phóng hoàn toàn đảo vào ngày 27-4-1975. Trải qua nhiều năm tháng xây dựng và trưởng thành, đảo đã giành được nhiều danh hiệu và phần thưởng cao quí của Đảng, Nhà nước, Bộ Quốc phòng và Quân chủng hải quân. Đặc biệt, năm 2004, đảo được Nhà nước tuyên dương Đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân thời kỳ đổi mới.
Chúng tôi gặp chiến sĩ Cao Tuấn Anh, quê Thanh Hoá, da sạm đi vì nắng gió nhưng gương mặt, ánh mắt vẫn ngời lên vẻ tự tin, kiên định. Anh đã ra đảo được một năm. Anh tâm sự: “Chúng em là thanh niên, ở xa đất liền lâu ngày nên khát khao tình cảm lắm. Nghe tin có tàu ra thăm đảo, cả đêm em thao thức, không tài nào ngủ được . Em trông tàu ra để nhận thư, nhận quà”. Tôi hỏi: “Bây giờ em có nguyện vọng gì thêm nữa?”. Anh trả lời ngay: “Có tàu ra đảo thường xuyên và cho em được phục vụ quân đội lâu dài”. Những gì được “mắt thấy, tai nghe” tại đây đã làm dịu ngay những ánh mắt, nét mặt trong đoàn chúng tôi lúc ban đầu lộ vẻ nghi ngại, lo lắng về tư tưởng, đời sống của bộ đội trên đảo.
Đại úy Trịnh Quang Khương đang chỉ huy anh em đào hố móng xây bể nước và nhà kho, ngưng tay xà beng, quyệt mồ hôi, tươi cười chào đón chúng tôi. Giữa hố móng rộng khoảng 4m2, sâu hơn 1m, một cây dừa cao khoảng 4m vẫn đứng ung dung. Nghe tôi hỏi, anh Khương cho biết: “Lính đảo vốn quí từng chiếc lá xanh nên giữ cây dừa lại cho đến lúc nào vẫn còn có thể.”
Tôi đã từng nghe, trong quần đảo Trường Sa có rất nhiều đảo chìm. Những nơi ấy quanh năm trời tuôn nắng lửa. Lính ta luôn khát khao trên đảo có một vòm lá xanh tạo cảm giác dịu bớt cái nắng vốn chói chang đến độ “phỏng” cả mắt lại còn được nước biển phản quang thêm một lần nữa cho thêm bỏng rát cũng mãnh liệt như mơ ước nhìn thấy một mái tóc dài thiếu nữ vậy.
Riêng chuyện trồng và chăm sóc rau trên đảo của bộ đội ta rất công phu. Điều đó còn cực khổ hơn việc chăm sóc cây kiểng ở trong đất liền. Đất trồng rau được đựng vào ba lớp bao để tránh rơi vãi hoặc bị nước biển thấm vào trong khi vận chuyển từ đất liền ra. Bộ đội được trang bị những chiếc khay hoặc tận dụng những thứ khác như thùng hư, can bể, xoong, nồi lủng đựng đất vào. Nước ngọt để tưới rau cũng phải định lượng như khẩu phần nước cho người. Vào tháng có gió Đông Bắc thổi bụi nước biển lên đảo, các anh bộ đội phải lấy vải mủ, lá dừa che cho rau. Khi nào gió thổi mạnh quá, các anh phải bưng các khay, chậu rau vào nhà. Nếu lỡ tay để chậm một đêm thì rau bị “cháy” không có gì cứu vãn nổi. Chúng ta ở trong đất liền, nơi mà chuyện “rau cỏ” luôn thừa thãi nên vô tình không nghĩ đến sự quan trọng của nó trong mối tương quan về chế độ dinh dưỡng. Nếu con người mà thiếu rau lâu ngày trông sẽ khô khốc như “cây củi nương”, còn ruột thì cứ như bị thắt lại từng khúc.
Mặc dù việc trồng rau khó khăn và vất vả như vậy nhưng Thượng tá Ngô Văn Cải, Đảo trưởng, cho biết năm 2006, bộ đội tự túc được bình quân 14 kg rau/người/tháng với các loại như: bầu, bí, rau mồng tơi, rau muống, rau lang, rau sam.v.v... Có năm nhờ thời tiết thuận lợi cả đảo thu hoạch đến 3 tấn rau xanh, 4 tấn bầu bí. Rõ ràng để trồng được nhiều rau trong hoàn cảnh ngặt nghèo như vậy, các anh không chỉ đơn thuần là trồng rau vì nhiệm vụ, vì cải thiện bữa ăn mà phải có cả niềm đam mê, yêu thích và nghệ thuật. Bằng tất cả sự kính trọng và cảm phục, tôi xin được gọi các anh là “nghệ nhân” trồng rau! Tất nhiên, nguồn thực phẩm của các chiến sĩ không chỉ có rau xanh. Bên cạnh đó các anh còn thu hoạch từ chăn nuôi được 1.000 kg heo, gà, vịt... Nguồn hải sản mà các anh đánh bắt có năm được tới 3 tấn cá, 2 tấn rùa biển.
Đến với quần đảo Trường Sa lần này còn có ba vị tiến sĩ của Viện ứng dụng công nghệ. Các anh đem xương rồng Nopal ra trồng thử nghiệm trên đảo, coi đó là một cách chia sẻ những khó khăn về rau xanh với bộ đội. Tiến sĩ Phan Xuân Dũng, Ủy viên dự khuyết BCH TW Đảng, Viện trưởng, cho biết: “Xương rồng Nopal có xuất xứ từ Nam Mỹ. Lá non của nó làm rau ăn, hiện có bán tại các siêu thị bên đó. Lá già được nghiền ra đề lấy bột dùng làm nguyên liệu chế mỹ phẩm và dược phẩm. Đặc biệt là loại xương rồng này chịu nắng hạn rất tốt”. Chưa ai biết chắc kết quả của việc trồng xương rồng Nopal trong tương lai thế nào. Tuy nhiên, việc ba vị tiến sĩ đã rời khỏi bàn giấy trong những căn phòng có máy điều hòa không khí “hàn lâm” để dãi dầu nắng gió trong thời điểm thời tiết cực kỳ nắng nóng này là một việc làm mang lại hiệu quả cổ vũ tinh thần và chia sẻ tình cảm đối với bộ đội Trường Sa chắc chắn là không nhỏ!

http://hoangsa.org/forum/imagehostnew/153394b5ef9444eb57.jpg (http://hoangsa.org/forum/vbimghost.php?do=displayimg&imgid=5818)
Chiến sĩ đảo Nam Yết vui vẻ trả lời các câu hỏi của phóng viên báo chí. (Ảnh: Hoàng Vũ)

7 giờ 30 tối. Đoàn Văn công Hải quân biểu diễn phục vụ với một chương trình khá bài bản, có đơn ca, tam ca, tốp ca, múa, ảo thuật.v.v...Sân khấu là nền sân ngay bên cột mốc chủ quyền đảo Nam Yết. Tuy nhiên, những tiết mục giao lưu văn nghệ đầy ngẫu hứng của của các ca sĩ, diễn viên với bộ đội thường là những tiết mục vui vẻ, sôi động nhất. Bộ đội vừa hát theo vừa vỗ tay rền vang, những tiếng cười át cả tiếng sóng biển. Chúng tôi thật bất ngờ khi tốp ca của đảo bước lên sân khấu. Các chiến sĩ hát rất đúng nhịp với giọng hát hào hứng, lạc quan. Thậm chí có chiến sĩ còn lên nhảy với ca sĩ Hồng Nhung khi được mời. Có anh chiến sĩ nói với tôi: “Lính đảo thấy văn công như lân thấy pháo”.
10 giờ tối. Các anh bộ đội bố trí cho đoàn Văn công nghỉ tại khu nhà Ban chỉ huy. Cánh nhà báo được chia ra làm hai, một tốp nghỉ ở khu A, tốp kia nghỉ ở khu B. Trung úy Phan Nhiên Thạo nhường giường cho tôi. Tất cả nhà cửa trên đảo đều xây dựng kiên cố, có cái một tầng, có cái hai tầng và đều lót gạch bông. Bộ đội ăn ở cực kỳ sạch sẽ và ngăn nắp, mền gối xếp khéo léo, vuông vức như cái hộp hình chữ nhật.
6 giờ sáng ngày 18-4, các đoàn đại biểu từ dưới tàu lên tập trung tại cột mốc chủ quyền để thăm hỏi, tặng quà cho bộ đội. Đại tá Nguyễn Văn Lăng, Chính ủy Bộ CHQS tỉnh, thay mặt đoàn đại biểu tỉnh Bến Tre lên trao thư và tặng quà cho các chiến sĩ.
Thay mặt cán bộ chiến sĩ đang làm nhiệm vụ trên đảo, Thượng tá Ngô Văn Cải, Đảo trưởng, báo cáo một số hoạt động trong công tác xây dựng, bảo vệ biển, đảo. Bình quân, hàng năm các anh quan sát, phát hiện 1.500 lần chiếc máy bay hoạt động trên không; 800 lượt tàu thuyền xuất hiện trên biển, khả năng xử lý mục tiêu ngày càng chính xác.v.v...
Thay mặt đoàn công tác, Chuẩn Đô đốc Phan Khuê Tảo, Phó Tư lệnh Hải quân, căn dặn bộ đội luôn đề cao cảnh giác, tăng cường luyện tập, quan sát mọi diễn biến trên biển, trời; kịp thời báo cáo lên cấp trên; sẵn sàng đánh tan mọi cuộc đột kích, tấn công lên đảo.
Để đáp lại lòng tin cậy của Đảng, nhân dân và các cấp chỉ huy, bộ đội trên đảo đã tổ chức bắn đạn thật như một lời báo cáo về kết quả tập luyện, sẵn sàng chiến đấu của các anh. Tất cả các mục tiêu giả định đều bị các anh bắn trúng chính xác.



Người viết: Lý Hà Thao



17/05/2007

anteo
26-01-2010, 08:23 PM
5. Trồng rừng trên đảo Trường Sa

(TT&VH) - Nắng cháy gió cào, những tưởng chỉ có cây “phong ba” rắn giỏi như thép đã tôi mới tồn tại được ở nơi đầu sóng ngọn gió của Tổ quốc. Nhưng thật bất ngờ, giữa Trường Sa lại có một “thiên đường cây xanh” - theo cách gọi mà các chiến sỹ rất mực tự hào.


“Thiên đường” ấy nổi lên giữa đảo Nam Yết, đảo nổi có diện tích lớn thứ hai trong quần đảo Trường Sa (sau đảo Ba Bình).
Đảo sở hữu một bờ biển đẹp, cát trắng trải dài, loài muống biển chen ra theo sóng; bóng dừa đua tán ra biển; tiếng chim không lúc nào ngớt; chiều chiều đàn cò tìm chỗ đậu còn những chú heo nằm ngủ ngay bên dậu hoa rực rỡ… Có thể nói, nếu quần đảo Trường Sa là một bức tranh lớn thì Nam Yết chính là một mảng xanh lớn trên bức tranh ấy.

Đẹp như đảo Nam Yết!
Trên đảo, mỗi cây đều có một đời sống riêng, nét đẹp riêng. Cây mù u quanh năm xanh lá, mùa hè hoa thơm như hoa bưởi, quả to như quả táo, các chiến sĩ hải quân dùng làm nước giải khát. Cây lá nhàu thì cứ mọc tràn ra cả lối đi, tràn ra bờ cát. Các chiến sĩ phải buộc thân cây vào cột, tạo ra hàng lối, trật tự nhất định cho cây. Hoa bàng vuông đặc trưng của Trường Sa có màu đỏ như hoa râm bụt, rực rỡ trong tán cây xanh rất đẹp.


Trung tá Nguyễn Hữu Lục, từng có ý định thống kê tất cả các loài cây ở trên đảo. Tuy nhiên sau một thời gian lặn lội săm soi từng tán cây ngọn cỏ anh đành phải từ bỏ vì “Những loài cây liên tục sinh sôi. Khó có ai thống kê hết được các giống cây trên đảo cũng như tuổi tác của nó. Nắng, gió, đất, cát tại vùng hải đảo thiêng liêng này của Tổ quốc đã tạo nên những loài cây tự nhiên không nơi đâu có”.



http://hoangsa.org/forum/imagehostnew/153394b5efa2fe8d75.jpg (http://hoangsa.org/forum/vbimghost.php?do=displayimg&imgid=5819)

Bờ biển trải dài cát trắng với cây xanh ngả bóng

Trồng cây là một niềm vui, hơn nữa là một tình yêu đối với người lính đảo quanh năm làm bạn với biển trời đầy nắng gió. Niềm tự hào của các chiến sĩ đảo được cụ thể hóa qua số lượng cây mà họ đã chung sức vun trồng được: 280 cây dừa; 100 cây phong ba; 132 cây bàng vuông lớn, nhỏ; 200 cây mù u to nhỏ, có cây trên 100 năm tuổi; 300- 400 cây tra... Vườn cây ăn quả cũng có những “kỷ lục chưa sách vở nào ghi nhận” như có quả đu đủ nặng hơn 10kg. Riêng cây đu đủ tính đầu người mỗi người có 5 cây. Còn vườn chuối sai quả, ít buồng nào có dưới 10 nải.
Tháng 10, tháng 11 từng đàn chim kéo về đảo cư trú với đủ loài như én, họa mi, sẻ…. Những chú chim “dạn người” đậu cả vào cọc màn, hành lang. Buổi chiều, chúng tôi ngỡ ngàng chứng kiến cảnh trong ánh nắng dát vàng, đàn cò sải cánh về đậu trong vùng trồng phong ba, mù u. Trước cảnh vật đẹp kỳ lạ ấy, đại tá Nguyễn Văn Liên đã phải thốt lên: “Nam Yết là thiên đường cây xanh của Trường Sa!”.

Chăm cây theo… quân luật
Trồng cây ở đất liền vốn không dễ, trồng cây ở đảo còn khó khăn gấp bội phần. Những nguồn sống căn bản nhất của cây còn thiếu thốn, đất và nước đều khan hiếm, môi trường hải đảo khắc nghiệt. Kỹ thuật chiết, trồng các loại cây ở đảo cũng khá phức tạp. Để có được thiên đường xanh ấy, những người chiến sỹ đã đổ biết bao mồ hôi, công sức. Theo các chiến sĩ, khó nhất vẫn là chiết cây keo. Cây keo có thân dẻo dai nhưng nhiều mủ nên muốn chiết phải cạo vỏ vào thân gỗ 1-2 ngày. Thân của cây keo vốn mềm nên muốn cây đứng phải tạo thế cho cây. Còn cây phong ba là cây không chiết được theo cách thông thường. Bởi vì cây rất cứng, chắc như lim nhưng lại rỗng ruột. Phải để cây mọc cây con rồi mới mang đi trồng ở nơi khác được. Những điều tỉ mỉ ấy được các chiến sĩ ghi nhận và truyền đạt lại cho các thế hệ chiến sĩ.



http://ttvh.vcmedia.vn/Images/Uploaded/Share/2008/11/20081117084213757/23.jpg

Những chú heo tha thẩn trong vườn và ngủ trên lối đi

Như trong đất liền, phong trào trồng cây xanh trên đảo cũng thường được phát động từ mùa Xuân song có điểm khác là phong trào này được diễn ra tới… hết năm. Quá trình trồng cây thường được định hướng cụ thể, có sự chuẩn bị chu đáo về chủng loại và số lượng cây. Nhiệm vụ chăm sóc cây giao cụ thể từng đơn vị, chiến sĩ: việc trồng cây giao theo đầu người, mỗi chiến sĩ có nhiệm vụ trồng 3-4 cây; mỗi ngày 2 đợt tưới cây vào 6 giờ 30 sáng và 16 giờ 30 chiều. Các cây to phải bẻ cành khô, cành nứt gãy gây nguy hiểm. Trực ban sẽ kiểm tra lượng người tham gia, lượng nước tưới cho cây. Đơn vị, cá nhân nào không chấp hành sẽ bị phê bình trên loa phóng thanh toàn đảo.
Ngày hai buổi, các chiến sĩ dành ra 30 phút để dọn đảo. Rác ở đảo được quét hàng ngày, có một hố lớn để đốt, không để mất vệ sinh và nhất là phát sinh sâu bệnh gây hại cho “thiên đường xanh”. Đảo phát động dùng thùng phi đựng dầu cũ, sơn xanh làm thùng rác. Bởi vậy, đảo Nam Yết không hề có rác, mọi góc đều sạch sẽ, tươi tắn. Ngoài ra, Nam Yết còn có những “lệ đảo” riêng như: ai bẻ cây xanh thì sẽ bị đánh giá về nhận thức vào phong trào và nộp vào quỹ Đoàn thanh niên 50.000 đồng; ăn thịt một con chim bị phạt 100.000 đồng. “Nhưng tất nhiên, chưa có đồng chí nào vi phạm. Vì trên đảo ai cũng yêu cây xanh cả. Thậm chí trên đảo nhiều khi các chiến sĩ tưới cây trước khi tưới rau”, đảo phó Nguyễn Hữu Lục vui vẻ nói.
Nói đến cây xanh trên Nam Yết nhất ai cũng nhắc đến đại úy Bùi Văn Ngãi, 38 tuổi, quê Diễn Châu, Nghệ An. Anh đã có 5 năm gắn bó với đảo. Quan trọng hơn, anh là người hướng dẫn các kỹ thuật chiết, trồng cây cho toàn bộ chiến sĩ. Sở dĩ được giao trách nhiệm này vì ngày còn ở quê, anh từng làm nghề bán cây giống với gia đình. Vì thế, các chiến sĩ vẫn thường nói vui anh Ngãi là “bà đỡ” cho cây cối. Anh kể, lần đầu tiên anh ra đảo là năm 1995 cây cối mới chỉ lưa thưa, nhìn đâu cũng chỉ thấy cát và nắng.



http://ttvh.vcmedia.vn/Images/Uploaded/Share/2008/11/20081117084213757/33.jpg

Đại úy Bùi Văn Ngãi giới thiệu kỹ thuật chiết các loại cây trên đảo

Giờ thì đảo đã trở thành nơi cung cấp cây tra, dừa, bàng vuông, chuối.v.v. sang các đảo khác. Sắp tới đảo Nam Yết còn xanh hơn nữa, vì đảo mới có thêm cỏ từ đảo Sinh Tồn về phủ xanh các vùng cát trắng. Lãnh đạo đảo sắp quy hoạch các vườn cây khác nhau như: vườn cây sĩ quan, vườn cây chi đoàn thanh niên, vườn cây Đảng viên… nhằm gắn ý nghĩa việc trồng cây với nhiệm vụ từng người.
Để tạo nên kỳ tích ấy các chiến sĩ đã đổ không ít mồ hôi, công sức. Nhớ lại cơn bão cuối năm 2007, đảo trưởng Hòa vẫn nhớ cảm giác hụt hẫng. Gió cấp 12, mưa lớn, sóng to… tất cả đều dồn vào đảo với tất cả sức mạnh tàn phá. Những con sóng đẩy nước tràn qua đảo cao tới 50 cm. Bão kết thúc, đảo chỉ còn trơ trọi một số cây dừa và cổ thụ. Các cây xanh nhỏ hầu như đều bị dập nát hoặc cuốn trôi theo nước biển. Nhìn cây lá xơ xác ngổn ngang, ai cũng xót xa. “Chỉ chưa đầy nửa năm, vườn cây đã xanh trở lại. Lúc ấy mới cảm nhận hết tình cảm của chiến sĩ dành cho cây trên đảo. Màu xanh của đảo là đóng góp lớn của các chiến sĩ và là niềm tự hào của các chiến sĩ”, đảo trưởng Phạm Văn Hòa chia sẻ.



Ghi chép của Tử Yến

anteo
26-01-2010, 08:30 PM
6. Đảo xanh Nam Yết

SGGP (http://www.sggp.org.vn/chinhtri/bodoicuho/2008/5/152686/) - 19/05/2008
Nằm ở phía Bắc của quần đảo Trường Sa, đảo Nam Yết (http://tintuc.xalo.vn/Nam_Y%E1%BA%BFt) được ví như “hòn đảo xanh” giữa trùng khơi bão tố. Đặt chân lên đảo, ấn tượng đầu tiên đập vào mắt chúng tôi là khung cảnh ngút ngàn của dừa xanh, của các loại cây đa, nhàu, chuối, đu đủ, mù u… mọc khắp nơi trên đảo. Đi đến đâu trên hòn đảo xinh đẹp này cũng gặp một màu xanh của cây lá khác hẳn với trước đó gần chục năm, hòn đảo chỉ trơ ra cái nắng gắt cháy bỏng và những bãi cát chìm trong gió biển mịt mù…



http://hoangsa.org/forum/imagehostnew/153394b5efbac54591.jpg (http://hoangsa.org/forum/vbimghost.php?do=displayimg&imgid=5820)
Chăm sóc cây nhàu tại công trình lấn biển thuộc đảo Nam Yết.

Thượng tá Đảo trưởng Ngô Văn Cải chỉ tay về bãi bồi nằm phía Nam của đảo giới thiệu về công trình lấn biển được thực hiện bởi mồ hôi và công sức của toàn thể cán bộ - chiến sĩ trên đảo trong hơn 2 năm qua.
Anh cho biết: Lợi dụng lúc thuỷ triều rút xuống, anh em khuân đá đắp thành một con đập chạy dài uốn lượn theo doi cát nhô lên trên mặt nước. Đắp đá đến đâu là chuyển cát lấp vào đến đó. Cứ như vậy, lâu dần trở thành một bãi bồi nhô lên trên mặt biển, có đoạn cao hơn 1m. Có được mét vuông đất nào là phải giữ bằng đủ cách, từ lấp xuống cây, lá, rác mùn đến chuyển đất thịt từ đất liền ra. Đất “nở” ra đến đâu được anh em cho trồng cây xanh ngay đến đó. Đầu tiên là trồng cây dừa, cây nhàu chắn gió, chắn cát, sau đến chuối, đu đủ phủ xanh đảo.
Chỉ tay về phía doi cát nhô lên mỗi khi con sóng rút xuống, Thượng tá Đảo trưởng Ngô Văn Cải nhẩm tính: “Chỗ đó cũng hơn 1.000m² và chỉ 1 năm nữa thôi là thành đất, thành lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc với màu xanh được phủ kín”.
Để màu xanh phủ kín trên hòn đảo là cả một quá trình gian nan được các chiến sĩ trên đảo ví như một việc làm “dời non, lấp biển”. Đảo trưởng Ngô Văn Cải nhớ lại: “Đầu năm 1996, hai cây dừa đầu tiên được mang ra đảo trồng thử nghiệm trong điều kiện nước ngọt và đất trồng thiếu trầm trọng. Cả đảo dồn mọi công sức, vật dụng để che chắn gió cát và chăm sóc, tưới nước cho dừa dưới cái nắng gió của biển đảo. Dừa nhanh chóng thích nghi với thời tiết khắc nghiệt và trở thành “cây chiến lược” tạo màu xanh cho đảo. Đến cuối năm 1999, đảo Nam Yết được phủ xanh bóng dừa.
Sau cây dừa, anh em trên đảo đưa cây nhàu ra trồng thử nghiệm. Khác với cây dừa, cây nhàu cần một lượng nước rất lớn để sinh trưởng, nhưng khi đã bám rễ được trên cát rồi thì lớn rất nhanh. Quả và lá nhàu phơi khô, sắc ra uống còn là vị thuốc chữa được các bệnh thông thường.


http://hoangsa.org/forum/imagehostnew/153394b5efbe761d3c.jpg (http://hoangsa.org/forum/vbimghost.php?do=displayimg&imgid=5821)


Cây nhàu dễ trồng ở chỗ chịu được nắng gió và có thể trồng xen với các loại cây khác như mù u, đu đủ… Mỗi con đường trên đảo được trồng một loại cây khác nhau và mang tên “Đường thanh niên”.
Bí thư chi đoàn đảo Nguyễn Đình Hoán cho biết, phong trào trồng cây xanh trên đảo được phát động rất rầm rộ và lấy cây nhàu làm chỉ tiêu phấn đấu. Ở đâu có đất là anh em cắm cây nhàu xuống và chỉ một mùa là đã lên xanh tốt. Hiện toàn đảo đã trồng được hàng ngàn cây xanh, trong đó nhiều nhất là dừa (hơn 300 cây), sau đến là nhàu và đu đủ. Dừa của đảo Nam Yết hiện nay còn được đưa sang trồng tại nhiều đảo ở Trường Sa và nhanh chóng tạo màu xanh, giữ đất cho đảo.
Dẫn chúng tôi đi thăm khu trại chăn nuôi trên đảo, chiến sĩ Vũ Đức Thuấn giới thiệu: Nhờ có màu xanh của cây lá, mấy năm gần đây đảo đã nuôi được heo, gà vịt - điều mà nhiều năm trước chỉ có sống được. Dưới bóng mát của hàng dừa, các chiến sĩ trung đội 2 dùng lưới quây lại thả hơn 20 con vịt cỏ. Đàn vịt hơn 1 tháng tuổi rộ lên cạp cạp khi Thuấn vãi nắm thóc xuống đất.
Để “tắm” cho vịt, các chiến sĩ dùng một chảo lớn đổ nước vào để đàn vịt “tung tăng” mỗi ngày một lần. Với cách nuôi này, cả đảo hiện đã nuôi được hơn 200 con vịt lớn nhỏ. Còn gà và ngan (vịt Xiêm) thì đơn vị nào cũng nuôi được. Heo những năm trước chỉ đến dịp tết đất liền chuyển ra mới có - thì nay tháng nào anh em trên đảo cũng giết heo cải thiện bữa ăn.
Thuấn còn cho biết, không chỉ gia súc chăn nuôi được trên đảo mà nhờ có cây xanh, bóng mát những năm gần đây các loài chim biển và chim di trú còn tụ về sinh sống, đã tạo nên cho hệ sinh thái biển đảo Trường Sa thêm phong phú và đa dạng.
Chia tay đảo Nam Yết, Đảo trưởng Nguyễn Văn Cải không ngần ngại khi nói với chúng tôi về “hòn đảo xanh” trong tương lai không xa sẽ đón những cư dân đầu tiên ra đảo sinh sống. Và màu xanh hôm nay sẽ tạo một vùng sinh thái bền vững trên vùng đất thiêng liêng của Tổ quốc giữa muôn trùng khơi.





Phạm Yên

anteo
26-01-2010, 08:40 PM
6. Ở một chi đoàn quyết thắng

Chủ nhật, 11 Tháng hai 2007
Chi đoàn 3 - Liên chi đoàn đảo Nam Yết, thuộc quần đảo Trường Sa, họ là những chàng trai trẻ, thuộc 5 tỉnh thành khác nhau.
Đó là Nghệ An, Nam Định, Hải Phòng, Thái Bình và TP Hồ Chí Minh gặp nhau, luôn đoàn kết thương yêu, coi nhau như anh em một nhà. Là một chi đoàn có nhiều công trình mang tên thanh niên.
- Mỗi người một việc, những bạn có tay nghề thợ xây như Võ Thanh Thủy, Phan Văn Toàn, Trần Văn Hoàn thì giúp sức cùng lực lượng công binh đào đắp, xây dựng làm đẹp những con đường mang tên thanh niên.
- “Trồng cây Phong ba - Bão táp” để “phủ xanh bóng mát - che kín trận địa” là việc làm thường xuyên của chi đoàn, chỉ riêng 2 tháng đầu năm 2006, toàn chi đoàn đã trồng và chăm sóc tốt 500 cây. Ngoài ra họ còn tự chiết và trồng mới được 86 cây Mù u, Dừa, Tra biển.
- Trong đợt hội thao quyết thắng cuối năm, đội bóng đá của chi đoàn đã giành giải nhất, 3 đợt hội diễn văn nghệ, chào mừng các ngày lễ lớn trong năm (3/2, 19/5, 22/12) thì 2 lần chi đoàn giành giải nhất, một lần giải nhì.
Năm 2006 chi đoàn giành danh hiệu: 3 điểm cao quyết thắng. Học tập - Rèn luyện tốt, phấn đấu tốt, lý tưởng đẹp. Nhiều người trở thành đối tượng kết nạp Đảng. Riêng đoàn viên Nguyễn Văn Tú được kết nạp Đảng vào tháng 6/2006.
Trên con tàu HQ 996, ra quần đảo Trường Sa, tôi đã được nghe nhiều cán bộ trong đoàn công tác nói về Thư viện do Báo Tiền phong tặng cán bộ chiến sỹ (CBCS) quần đảo Trường Sa.
Đảo Nam Yết, thư viện được đặt trang trọng tại tầng hai, tòa nhà 2 tầng, gần trung tâm đảo, rộng trên 100m2.
Thư viện này do cán bộ, phóng viên, nhân viên báo Tiền phong tặng vào cuối năm 2003, với trên 1.000 đầu sách, nhiều tập báo và các ấn phẩm của Tiền phong.

http://www2.vietbao.vn/images/vn7/the-gioi-tre/70079141-92994sm.jpg

Thư viện trên đảo Nam Yết

Năm tháng qua đi, cộng với khí hậu khắc nghiệt ngoài đảo, nhiều tập báo đã cũ nát, có tập mất cả bìa, song vẫn được các CBCS trân trọng giữ gìn và truyền tay nhau đọc (chỉ được mượn đọc tại chỗ), họ coi đây là nguồn tư liệu quý,rất cần cho việc nghiên cứu và sưu tầm mỗi khi có các cuộc thi tìm hiểu về Đảng, Bác Hồ, về truyền thống Quân đội, về Đoàn thanh niên...
Thư viện hiện có 2.301 cuốn thuộc các lĩnh vực: văn học, tiểu thuyết, truyện ngắn, hồi ký, sách về Bác Hồ, về quân đội, tuổi trẻ, khoa học...
Vào mỗi sáng mở cửa, thường có từ 40 - 50 CBCS đến đọc, còn phần lớn họ mượn mang về nhà (ở đảo các chiến sỹ gọi phân đội chiến đấu là nhà), mỗi tuần, một người chỉ được mượn 2 cuốn.
Ngồi nói chuyện với các chiến sỹ, tôi mới vỡ ra một điều, những người lính trẻ xa quê, nơi đảo xa, nhu cầu học và đọc là rất lớn. Ai cũng muốn sau khi hoàn thành nghĩa vụ trở về sẽ không lạc hậu so với bạn bè. Dẫu biết năm nào các thư viện, tủ sách trên các đảo cũng được quân đội bổ sung, song không nhiều trong khi nhu cầu học và đọc của chiến sỹ lại lớn.
Sau nhiều lần trò chuyện với cán bộ và chiến sỹ, chúng tôi thấy, nếu mỗi Tỉnh, thành Đoàn hay một tổ chức quần chúng nào đó đứng ra tổ chức, kết nghĩa, giúp đỡ các đảo xây dựng môt tủ sách hay một thư viện như cách Báo Tiền phong đã làm năm 2003 thì các đầu sách báo phục vụ nhu cầu đọc của lính đảo sẽ được nâng lên.
Để rồi mai đây trong mỗi chuyến tàu ra đảo, trên tay người chiến sỹ họ sẽ lại có thêm nhiều đầu sách mới, họ thường ví nó như hơi ấm của đất liền truyền đến, động viên giúp cho họ tăng thêm sức mạnh, để hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao và đó chính là cách để Trường Sa sẽ ngày một gần hơn.



Phạm Yên

anteo
26-01-2010, 08:45 PM
8. Ký sự Trường Sa (kỳ 3): Món quà Nam Yết (http://hoaphuongdo.vn/news/phan-tich-va-binh-luan/5388-ky-s-trng-sa-k-3-mon-qua-nam-yt-.html)

Thứ sáu, 08 tháng 5 năm 2009
Rời khỏi đảo Đá Lớn, tàu đưa chúng tôi đến đảo Nam Yết. Tại nơi này, đoàn đại biểu của 5 tỉnh, thành phố được đảo tặng lại một món quà mà ai cũng nâng niu, trân trọng. Đó là lá cờ Tổ quốc đã bạc màu vì sương gió hằng ngày vẫn tung bay trên đảo, khẳng định chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Trường Sa.

Món quà của ý chí quyết tâm
Chúng tôi đến đảo Nam Yết vào sáng 15-4. Quân và dân trên đảo tập trung đón khá đông. Những chàng lính trẻ hăm hở chở quà vào đảo, ai cũng vui vì có người từ đất liền đến thăm. Nhưng điều bất ngờ nhất không phải ở những món quà các đoàn tặng đảo, mà là món quà đảo tặng lại các đoàn. 5 lá cờ Tổ quốc được gấp lại vuông vắn hướng ngôi sao vàng năm cánh ra phía trước, trên được đóng dấu và ghi những bút tích của lính đảo. Những lá cờ ấy từng tung bay trên Nam Yết, nay được trân trọng trao tặng các đoàn đại biểu đến thăm đảo. Lá cờ là minh chứng khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên đảo Nam Yết và cũng là ngọn lửa tiếp sức cho lớp lớp thế hệ chiến sĩ hải quân nhân dân Việt Nam ngày đêm bảo vệ phần lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc trước sự nhòm ngó của thế lực bên ngoài.

Lễ trao cờ ngắn ngủi nhưng xúc động. Các chiến sĩ hải quân nghiêm trang nâng lá cờ mang hình ảnh Tổ quốc trao lãnh đạo các đoàn. Giây phút trang nghiêm ấy, cả hội trường bỗng yên lặng lạ thường, chỉ nghe tiếng gió ru cây xào xạc trong buổi trưa hè. Các đoàn nhận cờ xong, cả hội trường rộn tiếng vỗ tay. Không ai bảo ai, chúng tôi ào đến ngắm thật kỹ lá cờ Tổ quốc đã bạc màu theo thời gian. Lá cờ ấy chính là hình ảnh của nước Việt trên quần đảo Trường Sa. Thượng tá đảo trưởng Bùi Hải Phước cho biết, những lá cờ đảo tặng các đoàn đại biểu đến thăm tượng trưng tình cảm của người lính đảo đối với đất liền, cũng là thể hiện quyết tâm bảo vệ chủ quyền đất nước của người lính đảo. Noi gương lớp lớp người đã sống, chiến đấu bảo vệ chủ quyền non song, dưới lá cờ Tổ quốc, những người lính đảo Nam Yết không ngừng học tập, rèn luyện xứng đáng với truyền thống cha ông và Quân đội quân nhân dân Việt Nam anh hùng. Nâng lá cờ trên tay, Phó chủ tịch UBND thành phố Đỗ Trung Thoại không giấu nổi xúc động: “Mang lá cờ về, chính là mang theo hình ảnh của Trường Sa đến với thành phố Cảng. Thành phố sẽ có các chương trình hành động hướng đến Trường Sa như sự tri ân đến với quân và dân nơi này”.

Lời hứa của những người con đất Cảng


http://hoangsa.org/forum/imagehostnew/153394b5efff2ae4b1.jpg (http://hoangsa.org/forum/vbimghost.php?do=displayimg&imgid=5822)


Nam Yết có nhiều cán bộ, chiến sĩ quê hương Hải Phòng (http://telet-solution.hoaphuongdo.vn/) đóng quân. Cũng như bao lính đảo khác, họ coi Nam Yết là quê hương thứ hai. Những khuôn mặt trẻ trung sạm đen vì nắng gió, càng tăng phần rắn rỏi.
Thiếu úy Đồng Xuân Việt, quê ở xã Tân Phong (Kiến Thụy (http://hoaphuongdo.vn/news/component/content/article/286-don-vi-hanh-chinh/12443-huyen-kien-thuy.html)) tâm sự: “Thỉnh thoảng nhớ nhà, em liên lạc cho mẹ. Được cái mẹ em cũng vui và thông cảm với người lính hải quân như chúng em, cứ luôn dặn dò con phải cố gắng rèn luyện, học tập sao cho xứng đáng với người ở đất liền”. Tôi trêu: “Thế mẹ có nhắc nhở thêm gì không”, Việt cười ngượng nghịu: “À, cũng có nhắc em về chuyện gia đình, nhưng đến giờ em vẫn chưa có gì, là người lính em cứ phải làm tốt nhiệm vụ của mình đã, chuyện riêng thì… tính sau”. Còn Đỗ Văn Toanh, nhà ở Tràng Cát (quận Hải An (http://hoaphuongdo.vn/news/component/content/article/286-don-vi-hanh-chinh/12426-quan-hai-an.html)) tâm sự, ra đảo làm nhiệm vụ là vinh dự đối với mỗi chiến sĩ hải quân nhân dân Việt Nam. Mọi khó khăn chắc chắn sẽ vượt qua và những người ở đất liền hãy tin tưởng vào chúng tôi. Phát huy truyền thống của thành phố Cảng Trung dũng-Quyết thắng”, chúng tôi sẽ sống, chiến đấu theo gương những anh hùng thế hệ trước.

Ở Nam Yết, những người lính đảo như Nguyễn Văn Công (ở D4- Cát Bi), Bùi Thanh Tuấn (Đồng Thái- An Dương (http://hoaphuongdo.vn/news/component/content/article/286-don-vi-hanh-chinh/12435-huyen-an-duong.html)), Bùi Văn Vươn (Đại Bản- An Dương (http://hoaphuongdo.vn/news/component/content/article/286-don-vi-hanh-chinh/12435-huyen-an-duong.html)), Bùi Việt Anh (Văn Đẩu- Kiến An) và còn nhiều người khác vẫn đang thực hiện lời hứa của mình đối với thành phố Cảng. Đó là ngày đêm canh giữ, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của Tổ quốc. Lá cờ đoàn Hải Phòng (http://telet-solution.hoaphuongdo.vn/) mang về cũng có hình ảnh của các anh, những chiến sĩ Hải quân nhân dân Việt Nam đang sống, chiến đấu tại đảo Nam Yết, trong đó có tình cảm của những người con đất Cảng đang làm nhiệm vụ thiêng liêng, cao cả trên đảo.

Chia tay Nam Yết lúc trưa, gió biển nhẹ, trời nắng như đổ lửa, nhưng đi theo con đường ra bến tàu dưới bóng cây anh, chúng tôi cảm thấy dễ chịu. Nam Yết rợp cây xanh tỏa bóng mát. Để có màu xanh ấy, quân và dân trên đảo đã dày công xun xới và chăm bón suốt 34 năm qua, kể từ khi lá cờ đỏ sao vàng tung bay trên đảo, khẳng định chủ quyền của một nước Việt Nam thống nhất, độc lập tại nơi đây.



Bài và ảnh Mai Lâm



Theo baohaiphong.com.vn

vaputin
17-04-2010, 12:42 PM
Một số thông tin về Đảo Nam Yết

Đảo Nam Yết có hình bầu dục bề, ngang theo hướng đông tây. Đây là một đảo nổi có diện tích lớn thứ hai trên quần đảo Trường sa. Với chất đất tốt, trên đảo Nam Yết có thể trồng được nhiều loại cây như phong ba, mù u, bàng vuông. Ngoài ra có thể trồng xoài, đu đủ, dừa và những cây thích nghi với khí hâu nơi đây, trong đó cây nhàu, một cây thuốc quý hay còn gọi là cà phê dại.

Cách đây hơn 30 năm trong chiến dịch nổi dậy mùa xuân 1975, sau chiến thắng vang dội của ta ở mặt trận Huế, Đà Nẵng, Buôn Mê Thuột, Khánh Hoà và một số tỉnh khác.Thực hiện mệnh lệnh của hải quân, một bộ phận hải quân nhân dân Việt Nam đã tiến công ra đảo Trường Sa. Sau khi giải phóng đảo Song Tử Tây và Sơn Ca, hệ thống phòng thủ trên đảo Trường Sa bị đe dọa nghiêm trọng. Đảo Nam Yết mặc dù là trung tâm của địch ở đảo Trường Sa nhưng vẫn không thể kháng cự được trước sự tấn công như vũ bão của quân giải phóng, buộc địch phải rút chạy trước thời cơ lực lượng của ta nhanh chóng tiến công giải phóng đảo. Lúc 10 giờ 30 phút ngày 27-4-1975, quân ta đã hoàn toàn làm chủ đảo Nam Yết. Lá cờ đỏ sao vàng đã phần phật tung bay trước gió trong nắng gió.

Từ đó đến nay lớp lớp cán bộ chiến sĩ của đảo Nam Yết luôn phát huy truyền thống của Lữ đoàn Trường Sa anh hùng, sát cánh bên nhau đồng cam cộng khổ, một lòng khắc phục khó khăn cùng nhau bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc, xây dựng đảo ngày càng vững mạnh, xứng đáng với niềm tin yêu của Đảng và nhân dân cả nước.

Hiện nay, các công trình quốc phòng và dân sinh được xây dựng trên đảo khá vững chắc. Công trình tường chắn sóng được xây dựng quanh đảo có cầu cảng, có nhà ở bảo đảm nơi ăn chốn ở cho cán bộ chiến sĩ. Trên đảo có trạm thu phát tín hiệu truyền hình từ vệ tinh, hệ thống năng lượng gió và phưong tiện phục vụ cho đời sống bộ đội. Đảo tuy không có nước ngọt nhưng lại có rất nhiều cây cối xanh tươi, khắc phục được sự thiếu thốn rau xanh và một phần thực phẩm.

Năm 2009 cán bộ chiến sĩ đảo Nam Yết đã thu được 9066 kg rau xanh, 1765 kg cá các loại, 2494kg thịt gia súc gia cầm, tổng giá trị ước đạt 150 triệu đồng.

Nam Yết được đánh giá là đảo đẹp nhất về cảnh quan môi trường của quần đảo Trường sa. Đảo đã có sân bóng chuyền, bãi thể thao và đàn gia súc béo mập.

Hơn 30 năm xây dựng chiến đấu và trường thành, lớp lớp cán bộ chiến sĩ của đảo Nam Yết đã góp phần tô thắm truyền thống quý báu. Từ đó đến nay Đảo đã nhận được nhiều danh hiệu, bằng khen do Đảng, Nhà nước, Bộ quốc phòng, quân chủng hải quân… trao tặng. Đặc biệt, ngày 22-12-2004 Đảo đã được Đảng và Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Năm 2010, Đảo đang hướng tới mục tiêu mạnh về phòng thủ, tốt về nếp sống và sạch về cảnh quan môi trường, xứng đáng với lòng mong mỏi, tin yêu của nhân dân cả nước