PDA

View Full Version : Những thông tin báo chí mới nhất về Trường sa, Hoàng sa và Biển Đông



Trang : 1 2 3 4 5 6 7 [8] 9 10 11 12 13

longtt88
08-07-2011, 02:35 PM
Báo Straits Times hôm qua 7.7 đăng ý kiến của một độc giả phản đối một cách mạnh mẽ những tuyên bố chủ quyền vô căn cứ của Trung Quốc trên biển Đông và những hành động được xem là “ăn hiếp” của Trung Quốc đối với các quốc gia Đông Nam Á.


http://www.thanhnien.com.vn/Pictures20116/Nam/0907/p4a_Chup-trang-bao.jpg

Bản chụp bài viết trên báo Straits Times ngày 7.7.2011

Độc giả tên K.Sabesan có bài viết nhan đề China should tread carefully to preserve its Asean image (tạm dịch Trung Quốc nên hành xử cẩn thận để bảo vệ hình ảnh của mình trước ASEAN), là một phản hồi đối với bài xã luận của báo Straits Times ngày 1.7 (bài xã luận ngày 1.7 hoan nghênh việc Việt Nam và Trung Quốc đạt được đồng thuận giải quyết căng thẳng trên biển Đông bằng giải pháp hòa bình, và kêu gọi các bên nhanh chóng hoàn thiện Bộ quy tắc ứng xử biển Đông và tuân thủ công pháp quốc tế trong cuộc tranh chấp).

Bài báo viết: “Rõ ràng, quần đảo Trường Sa không hề nằm trong lãnh hải của Trung Quốc. Nó cũng chẳng nằm trong vùng đặc quyền kinh tế có chiều rộng 200 hải lý, mà căn cứ vào đó các quốc gia tuyên bố chủ quyền của mình theo Công ước LHQ về Luật Biển năm 1982”.

Sau khi trình bày các quan điểm và hiểu biết của mình về vấn đề biển Đông, tác giả nhận định: “Việc Trung Quốc dùng sức mạnh cơ bắp của mình để khống chế quyền khảo sát và khai thác của các công ty dầu khí của các quốc gia có tuyên bố chủ quyền đương nhiên sẽ bị nhìn nhận là hành động cậy quyền. Chúng ta có thể chấp nhận Trung Quốc là người anh cả, nhưng không phải một kẻ chuyên ăn hiếp. Vì thế, Trung Quốc cần gột rửa những tuyên bố chủ quyền của mình quanh quần đảo Trường Sa”. Cuối cùng, tác giả kết luận: “Trung Quốc phải nhận thức nguy cơ mất mát lớn nếu họ không giải quyết thỏa đáng tranh chấp vùng biển với ASEAN theo luật pháp”.

Nguồn: TNO (http://www.thanhnien.com.vn/pages/20110707/bao-singapore-dang-bai-phan-doi-tuyen-bo-cua-trung-quoc-tren-bien-dong.aspx)

longtt88
08-07-2011, 02:38 PM
Quân đội Philippines kêu gọi ngư dân tăng cường cảnh giác khi hoạt động ở biển Đông vì không thể bảo đảm an toàn 100% cho họ.

Báo Philippine Daily Inquirer hôm qua dẫn lời phát ngôn viên của Lực lượng vũ trang Philippines là Miguel Jose Rodriguez nói: ngư dân nước này không thể dựa dẫm hoàn toàn vào khả năng bảo đảm an ninh của quân đội tại khu vực đang tranh chấp ở biển Đông. Ông cũng kêu gọi ngư dân đề cao cảnh giác trước các hành động quấy rối trên biển.

Tuyên bố trên của ông Rodriguez được đưa ra sau khi Bộ trưởng Quốc phòng Philippines Voltaire Gazmin hôm 4.7 cho hay một máy bay chiến đấu “lạ” đe dọa tàu đánh cá của Philippines ở biển Đông. Theo đó, máy bay nói trên lượn sát tàu cá đang hoạt động trong vùng biển gần quần đảo Trường Sa của Việt Nam. AP dẫn lời ông Gazmin nói ngư dân trên tàu không thể xác định được máy bay của nước nào hay thuộc loại gì nhưng nhắc lại rằng tàu Philippines gần đây thường bị Trung Quốc quấy rối. Trước tình hình căng thẳng ở biển Đông, Philippines đã yêu cầu đồng minh Mỹ cung cấp thêm khí tài hiện đại, như máy bay tầm xa.


http://www.thanhnien.com.vn/Picture20117/MinhNguyet/Thang7/Tauchien2.jpg

Giàn khoan dầu khổng lồ của Trung Quốc

Cũng hôm qua, ngay trong ngày Ngoại trưởng Philippines Albert del Rosario đến thăm Bắc Kinh, Đại sứ quán Trung Quốc tại Manila lên tiếng về vụ một nhà ngoại giao nước này bị cấm cửa. Hôm 5.7, AP dẫn lời một số quan chức giấu tên cho hay Philippines đã cấm Bí thư thứ nhất Đại sứ quán Trung Quốc Lý Vĩnh Thịnh vì hành động “không có tư cách” trong một cuộc họp về biển Đông hồi tháng 6. Phát ngôn viên Sứ quán Trung Quốc là Tôn Dực hôm qua không xác nhận hay phủ nhận vụ việc mà chỉ nói “không cần phản hồi về những thông tin từ những người không rõ tên họ”.

Cùng ngày, tổ chức US Pinoys for Good Governance của người Mỹ gốc Philippines thông báo cộng đồng Philippines ở Canada, Mỹ và Úc sẽ tổ chức tuần hành trong tuần này để phản đối các hành động đơn phương của Trung Quốc ở biển Đông. Đặc biệt là kế hoạch triển khai giàn khoan dầu khổng lồ trong vùng biển quần đảo Trường Sa, theo Đài ABS-CBN. Trong khi đó, Tân Hoa xã dẫn lời phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hồng Lỗi tiếp tục tuyên bố Bắc Kinh tôn trọng tự do hàng hải ở biển Đông.

Trong một diễn biến khác, báo chí Đài Loan đưa tin đảo này lần đầu tiên bắn thử tên lửa đối hạm tự chế Hùng Phong II hồi cuối tháng rồi. Theo tờ Liberty Times, tên lửa bắn từ tàu ngầm này được thiết kế nhằm đối phó mối đe dọa từ Trung Quốc.

Nguồn: TNO (http://www.thanhnien.com.vn/pages/20110708/philippines-khuyen-cao-nguy-co-doi-voi-ngu-dan.aspx)

longtt88
08-07-2011, 02:42 PM
Góp ý cho chương trình hoạt động của mặt trận các cấp tại Hội nghị lần thứ VI Ủy ban MTTQ TPHCM nhiệm kỳ IX (2009-2014) tổ chức ngày 7-7, các chuyên gia, trí thức, Ủy viên Ủy ban MTTQ TP đều cho rằng Mặt trận cần tham gia tích cực, chủ động hơn trong tuyên truyền về chủ quyền quốc gia đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và hỗ trợ có hiệu quả hơn nữa người dân nghèo TP trước tình hình lạm phát.

Tại hội nghị, hầu hết các đại biểu đều cho rằng thông tin về những sự kiện liên quan đến chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và cách thức tuyên truyền trong nhân dân chưa thực sự đầy đủ. Đại biểu Trần Thiện Tứ cho rằng những vấn đề khẳng định chủ quyền của chúng ta liên quan đến luật pháp Việt Nam và luật pháp quốc tế chưa được thông tin nhiều, nên Mặt trận phải có tiếng nói trước Đảng, Nhà nước và đại diện cho người dân TP thể hiện tiếng nói đó ra quốc tế. Đại biểu Huỳnh Văn Minh, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp TP, cho rằng Mặt trận cần phát động rộng khắp trong hệ thống để kêu gọi hỗ trợ cho đời sống các chiến sĩ đang ngày đêm bảo vệ chủ quyền biển đảo và hỗ trợ ngư dân bám biển.

“Trong tim mỗi người Việt Nam ở trong nước hay nước ngoài đều thường trực một tình yêu nước, yêu thềm lục địa thiêng liêng của Tổ quốc, nếu Mặt trận phát động các phong trào cụ thể, chắc chắn người dân sẽ hưởng ứng nhiệt tình, bởi đó chính là hành động thiết thực để người dân ở đất liền đến gần hơn với biển đảo” - ông Minh khẳng định.

Nhà báo Đinh Phong cho rằng: “Mặt trận cần có những hoạt động cụ thể và phù hợp để thể hiện ý chí của người dân, của dân tộc trước vấn đề có liên quan lớn đến vận mệnh của từng người dân. Mặt trận cần tạo sự đồng thuận trong nhân dân và kiều bào ta ở nước ngoài bởi hiện nay người dân đang rất nóng lòng, phải huy động cho được lòng dân để bảo vệ chủ quyền biển đảo quê hương”.

Còn đại biểu Huỳnh Tấn Mẫm khẳng định: “Biển Đông đang phức tạp, người dân Việt ai cũng thấy rất tâm trạng. Đảng và Nhà nước ta cần tranh thủ được sự đồng tình của các nước trong khu vực và trên thế giới, bên cạnh đó, Mặt trận và các đoàn thể cũng cần có tiếng nói rõ ràng, quyết liệt hơn để người dân hiểu đầy đủ và thực hiện theo, tạo khối đoàn kết thống nhất toàn dân tộc trong bảo vệ chủ quyền đất nước”.

Ghi nhận các đóng góp trên, Chủ tịch Ủy ban MTTQTP Dương Quan Hà khẳng định: Trong tình cảm yêu nước, lòng tự tôn dân tộc, chúng ta vẫn cần thể hiện cách nào đó để giải quyết vấn đề biển Đông, thềm lục địa trên cơ sở đảm bảo hòa bình. Trước mắt, Mặt trận sẽ tổ chức các hội nghị chuyên đề về chủ quyền biển đảo, mời chuyên gia am hiểu trong lĩnh vực này nói chuyện. Ủy ban MTTQ TP cũng đã phát động mạnh hơn trong nhân dân việc ủng hộ cho Quỹ “Vì Trường Sa thân yêu - Vì tuyến đầu Tổ quốc” để hỗ trợ thiết thực cho các chiến sĩ, ngư dân.

Nguồn: SGGP (http://sggp.org.vn/chinhtri/2011/7/262038/)

longtt88
08-07-2011, 03:04 PM
Nhằm thực hiện thắng lợi Chương trình hành động Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) về “Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020”, Đại tá Trịnh Ngọc Văn - Phó Chính ủy Bộ đội Biên phòng (BĐBP) thành phố Đà Nẵng đã kiến nghị: Thành ủy Đà Nẵng nên đưa nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biên giới, biển - đảo và xây dựng lực lượng Bộ đội Biên phòng (BĐBP) vào chỉ thị về nhiệm vụ quốc phòng an ninh (QPAN) hàng năm để gắn với phát triển kinh tế biển.


http://dangcongsan.vn/cpv/Upload/News/2011/7/1309494666-ban-dao-son-tra1.jpg

Bán đảo Sơn Trà, Đà Nẵng.( Ảnh tư liệu)

Theo Đại tá Trịnh Ngọc Văn, để xây dựng nền biên phòng toàn dân vững mạnh, Đảng ủy, Bộ Chỉ huy BĐBP thành phố Đà Nẵng đã ký kết chương trình phối hợp hoạt động với các ngành, đoàn thể như: Ủy ban MTTQ thành phố về “Thực hiện ngày biên phòng và xây dựng nền biên phòng toàn dân”, với Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn về “Quản lý, bảo vệ nguồn lợi thủy sản, quản lý hoạt động nghề cá và bảo đảm an toàn cho ngư dân”; với Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch về “Xây dựng điểm sáng văn hóa trên các tuyến biên giới, bờ biển, hải đảo”. Đồng thời ký kết và triển khai các chương trình phối hợp với Hội Liên hiệp phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Chữ thập đỏ, Sở Y tế và Sở Giáo dục và Đào tạo đẩy mạnh công tác xây dựng phong trào cách mạng của quần chúng, phát triển kinh tế xã hội, chăm lo sức khỏe cộng đồng, xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư, xóa đói giảm nghèo, xóa nhà tạm, xóa mù chữ …, góp phần nâng cao dân trí và ổn định an sinh xã hội ở khu vực biên giới biển.

Đảng ủy BĐBP thành phố cũng đã ký kết và triển khai thực hiện quy chế phối hợp với 5 Quận ủy và Huyện ủy Hòa Vang để tổ chức thực hiện nhiệm vụ QPAN bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới, tuyến sau hướng về biên giới, biển - đảo và tăng cường công tác dân vận - vận động quần chúng của BĐBP trên địa bàn thành phố; tổ chức liên kết, kết nghĩa giữa các đơn vị BĐBP với các đơn vị, địa phương, xây dựng mối đoàn kết quân dân, củng cố thế trận biên phòng toàn dân vững mạnh và xây dựng BĐBP vững mạnh toàn diện.

Để tiếp tục đẩy mạnh và triển khai các chủ trương, giải pháp gắn nhiệm vụ phát triển kinh tế biển với QPAN, bảo vệ chủ quyền biên giới, biển- đảo đáp ứng yêu cầu phát triển và tình hình trên biển hiện nay, BĐBP thành phố phối hợp với các ngành, lực lượng và các địa phương tập trung xây dựng 17 phường biên giới biển vững mạnh toàn diện, QPAN vững mạnh, đẩy mạnh phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc gắn với bảo vệ chủ quyền biên giới, biển- đảo. Tập trung xây dựng các mô hình “Điểm sáng văn hóa trên biên giới, bờ biển, hải đảo“, xây dựng khu dân cư văn hóa biển. Quy hoạch các bến đậu tàu thuyền, bến du thuyền, cảng cá, tập trung xây dựng “Bến bãi, âu thuyền, cảng cá an toàn, văn hóa” theo mô hình tự quản ở âu thuyền, cảng cá Thọ Quang do UBND quận, BĐBP và Sở NN và PTNT xây dựng.

Một hoạt động ý nghĩa, thiết thực thể hiện lòng yêu nước và góp phần bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc, vừa qua Công đoàn và Đoàn Thanh niên Viễn thông Đà Nẵng đã tổ chức lễ phát động “Góp đá xây Trường Sa” do Trung ương Đoàn và Báo Tuổi Trẻ phát động. Hơn 200 cán bộ, công nhân viên, đoàn viên thanh niên đại diện cho hơn 800 CBCNV Viễn thông Đà Nẵng đã quyên góp được hơn 90 triệu đồng. Lãnh đạo Viễn thông Đà Nẵng đã trao số tiền này cho Văn phòng đại diện Báo Tuổi Trẻ tại Đà Nẵng để chuyển đến Trường Sa./.

Nguồn: CPV (http://www.cpv.org.vn/cpv/modules/news/newsdetail.aspx?cn_id=467639&co_id=30692)

anh2
08-07-2011, 06:11 PM
Tàu vận tải Trung Quốc đâm chìm một tàu cá Lý Sơn

SGTT.VN - Sáng nay 8.7, tin từ UBND huyện Lý Sơn cho hay, một tàu cá của ngư dân đảo Lý Sơn đang hành nghề trên biển thì bị một tàu vận tải của Trung Quốc tông chìm.

Vụ việc xảy ra vào chiều hôm qua 7.7, tại tọa độ 15,13 độ vĩ Bắc, 109,15 độ kinh Đông, cách đảo Lý Sơn khoảng 4 hải lý về phía đông bắc. Khi tàu cá QNg 6025 TS của thuyền trưởng Trần Văn Có ở thôn Đông, xã An Vĩnh đang đánh bắt hải sản trên biển thì tàu chở hàng Hoa Lư (Trung Quốc) trên hành trình từ Trung Quốc đến cảng Thái Lan chạy ngang qua địa điểm nói trên đâm vào. Hậu quả là, tàu QNg 6025 TS bị chìm, và hai lao động rơi xuống biển. Sau đó, hai ngư dân này được tàu vận tải Trung Quốc vớt và chở về cảng Qui Nhơn, tỉnh Bình Định.

Theo ông Nguyễn Văn Lê, trưởng phòng Kinh tế hạ tầng, huyện Lý Sơn, đến sáng nay 8.7, hai ngư dân này sức khỏe đã ổn định. Các ngành chức năng đang điều tra để làm rõ thêm vụ việc.
Theo SGTT (http://sgtt.vn/Thoi-su/147518/Tau-van-tai-Trung-Quoc-dam-chim-mot-tau-ca-Ly-Son.html)

longtt88
09-07-2011, 08:17 AM
Bộ trưởng Ngoại giao Philippines Albert del Rosario đã đến Bắc Kinh vào hôm qua (7/7) để hội đàm với người đồng cấp Trung Quốc Dương Khiết Trì nhằm bàn về việc xử lý các vấn đề quan hệ song phương giữa lúc căng thẳng trên biển Đông đang gia tăng.


Ông Del Rosario đã đến Bắc Kinh vào hôm qua sau lời mời của người đồng cấp Dương Khiết Trì nhằm chuẩn bị cho chuyến thăm của Tổng thống Aquino đến Trung Quốc. Theo Bộ Ngoại giao Phippines (DFA), ông Del Rosario cũng sẽ có cuộc họp với Phó Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình.

Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hồng Lỗi cho biết, ông Del Rosario sẽ thảo luận với Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Dương Khiết Trì về việc “tăng cường trao đổi cấp cao, thúc đẩy hợp tác cùng có lợi, xử lý đúng đắn các vấn đề cụ thể trong quan hệ song phương, cùng nhau thúc đẩy hợp tác khu vực Đông Á và các chủ đề khác”.

Cuộc gặp diễn ra giữa lúc căng thẳng về tranh chấp biển Đông giữa hai nước đang leo thang. Mới đây, Philippines đã cấm một nhà ngoại giao cấp cao của Trung Quốc tham gia các cuộc họp song phương do có hành vi “thô lỗ” liên quan đến vấn đề tranh chấp giữa Trung Quốc và Philippines ở quần đảo Trường Sa.


http://farm.vtc.vn/media/vtcnews/2011/07/08/del-rosario-300x225.jpg

Bộ trưởng Ngoại giao Philippines Del Rosario

Theo dự kiến, ông Del Rosario sẽ bàn về loạt chủ đề bao gồm: thương mại, đầu tư, văn hóa, du lịch, hợp tác quốc phòng, giáo dục, khoa học và công nghệ, quan hệ giữa con với con người và hợp tác chống tội phạm xuyên quốc gia.

Ông Del Rosario cho biết, ông “hy vọng sẽ thảo luận về vấn đề biển Đông mặc dù vấn đề này không nằm trong dự kiến bàn thảo giữa hai nước”.

Phát ngôn viên của Lực lượng vũ trang Philippines (AFP) Miguel Rodriguez cho biết, chuyến thăm của Ngoại trưởng Del Rosario tới Trung Quốc có thể giúp xoa dịu những căng thẳng trong khu vực tranh chấp trên biển Đông. Ông Rodriguez cũng cho biết, Philippines và Trung Quốc có thể giúp duy trì sự ổn định trong khu vực thông qua tăng cường minh bạch hóa thông tin. Ông khẳng định trao đổi thông tin, cởi mở và minh bạch là điều cần thiết để đạt được mục tiêu này.

Căng thẳng trên biển Đông đã leo thang những tuần gần đây. Trong vụ việc mới nhất, lực lượng Hải quân Philippines cho biết, một máy bay “nước lạ” đã quấy nhiễu tàu cá Philippines ở khu vực quần đảo Trường Sa đang tranh chấp tại Biển Đông.

Mới đây, Philippines đã tuyên bố sẽ cấp phép nhiều hơn cho các công ty tư nhân tìm kiếm dầu và khí tự nhiên ở biển Đông cho dù đang có tranh chấp căng thẳng với Trung Quốc.

Nguồn: VTC News (http://vtc.vn/311-292764/quoc-te/philippines-thuc-day-doi-thoai-song-phuong-voi-bac-kinh.htm)

longtt88
09-07-2011, 08:20 AM
Theo Kyodo, lực lượng phòng vệ trên biển (MSDF) của Nhật Bản ngày 8/7 thông báo họ sẽ lần đầu tiên tiến hành tập trận chung với hải quân Mỹ và Australia trên Biển Đông từ ngày 9/7 ở ngoài khơi bờ biển Brunei.


http://www.vietnamplus.vn/avatar.aspx?ID=99123&at=0&ts=300&lm=634457343431530000

Tàu của hải quân Mỹ chuẩn bị tham gia tập trận. (Ảnh minh họa: AFP/TTXVN)

Cuộc tập trận này, từng được tiến hành tại các vùng biển phía phía Tây Kyushu hoặc gần Okinawa, miền Tây Nam của Nhật Bản, nay sẽ được tiến hành tại các vùng biển phía Nam quần đảo Trường Sa, nơi xảy ra các cuộc tranh cãi gay gắt về chủ quyền lãnh thổ giữa Trung Quốc và các nước láng giềng Đông Nam Á.

Tàu khu trục của MSDF Shimakaze, một tàu khu trục của Hải quân Mỹ và một tàu tuần tra của Hải quân Australia sẽ tiến hành huấn luyện tác chiến thông tin và các cuộc tập trận khác. Ba tàu này đang tham gia một cuộc thao diễn quốc tế ở Brunei.

Đây là hành động cụ thể hóa nội dung hợp tác quốc phòng giữa ba nước cũng như mục tiêu chiến lược chung về an ninh hàng hải mà Nhật Bản và Mỹ thống nhất trong phiên họp ngoại giao-quốc phòng (2+2) hồi tháng 6/2011./.

Nguồn: Vietnam+ (http://www.vietnamplus.vn/Home/Nhat-My-Australia-tap-tran-hai-quan-tren-Bien-Dong/20117/96661.vnplus)

longtt88
09-07-2011, 08:28 AM
Đến thăm Khu tập thể quân nhân Vùng 4 Hải quân ở xã Cam Thành Bắc (Cam Lâm, Khánh Hòa), chúng tôi ngỡ ngàng vì khu vực này không có đất trồng lúa mà sao trước sân nhà chị Phan Thị Thanh vẫn thấy phơi thóc. Chúng tôi hỏi thì chị Thanh ngồi lặng đi, những giọt nước mắt cứ vậy tuôn rơi...


http://image.qdnd.vn/Upload//hoangha/2011/7/8/080711hha03151026315.jpg

Chị Thanh đang chăm sóc đàn gà.

Chị Thanh có chồng là Trung tá Lê Đình Hải. Khi chúng tôi tới thăm nhà, anh đang giữ trọng trách Đảo trưởng đảo Sơn Ca, Lữ đoàn Trường Sa, Vùng 4 Hải quân. 19 năm về trước, Trung úy Lê Đình Hải, khi đó 26 tuổi, đang là Trung đội trưởng, công tác tại quần đảo Trường Sa về phép thì gặp “mối tình sét đánh” với cô thôn nữ đồng hương Phan Thị Thanh. Năm đó, chị Thanh 21 tuổi, nhà cùng thôn với gia đình anh Hải ở xã Đại Hòa (Đại Lộc, Quảng Nam). Chị kể: “Lần đầu gặp mặt, trông anh đen nhẻm nên thấy cứ thương thương. Lúc anh ngỏ lời rồi... hỏi cưới luôn, mình bất ngờ lắm nhưng không nỡ từ chối. Tết năm đó, anh về phép, làm lễ cưới rồi đưa mình ra khu tập thể Vùng 4 Hải quân này sinh sống. Khu tập thể lúc đó hoang vắng lắm, chỉ lơ thơ vài nóc nhà, mà nhà nào cũng chỉ thường xuyên có vợ và con nhỏ, còn những người cha họa hoằn vài ba tháng, thậm chí ra đảo biền biệt vài ba năm mới trở về”.

“Cuộc sống của vợ một người lính đảo, mà lại là lính Trường Sa có như tưởng tượng ban đầu của chị không?” – chúng tôi hỏi chị Thanh. “Không giống một chút nào. Khi cưới anh, tôi biết là phải chấp nhận khó khăn nhưng không ngờ lại khó khăn đến thế. Ngày theo chồng ra đơn vị, anh dẫn tôi đi đăng ký phòng khách ở khu tập thể. Sau đó, anh trở vào đơn vị rồi miết một tháng không thấy trở ra. Tôi phải tìm cách hỏi thăm thì chỉ huy đơn vị cho biết anh đang trực cho đồng đội về phép sau Tết. Cuộc sống vợ bộ đội của tôi bắt đầu như thế”.


http://image.qdnd.vn/Upload//hoangha/2011/7/8/080711hha04151029565.jpg

Anh Hải (thứ 3, từ trái sang) đang giải trí cùng bộ đội trên bãi tập đảo Sơn Ca.

Bây giờ, chị Thanh là “kiện tướng nuôi gà”, “kiện tướng trồng rau” ở Khu tập thể Cam Thành Bắc. Từ một cô gái Quảng Nam có làn da “trắng như trứng gà bóc”, nay đã chuyển màu bánh mật sau 18 năm dãi gió, dầm sương nơi cửa biển. Chị bảo, 18 năm cùng anh sống đời vợ chồng, ít khi anh có mặt ở nhà nhưng hạnh phúc thì rất đủ đầy. Anh thường xuyên công tác trên các hòn đảo, theo “tăng” nhiều tháng. Vì thế, mỗi lần vào bờ, anh thường gọi điện trước, nhắc chị nhớ dồn quần áo bẩn lại, để anh về giặt giùm. Chỉ có giặt áo cho vợ con, anh mới thấy lòng mình được vỗ về. Một hành động tưởng có phần “trẻ con” như vậy nhưng giúp mẹ con chị quên đi mọi vất vả, muộn phiền. Nhiều lần, chị muốn kể anh nghe chuyện ở nhà bị mất trộm cả đàn gà, hai mẹ con ôm nhau khóc; hay những lần cả hai đứa nhỏ thi nhau ốm, trong nhà không còn xu nào, ông bà nội ngoại hai bên phải đem tiền, gạo từ Quảng Nam vào “cứu đói”. Nhưng rồi chẳng lần nào chị kể, vì thấy chồng vui, lẽ nào ôn lại chuyện buồn...

Những câu chuyện đầy cảm động về nghị lực của vợ một người lính đảo sẽ không bị ngắt quãng, nếu như cháu Lê Minh Hòa (con thứ hai của anh chị) bật lên những cơn ho. Căn nhà của anh chị ở trong ngôi làng hướng ra biển nên mùa này gió lộng, trẻ nhỏ dễ bị bệnh đường hô hấp. Biết ý, chúng tôi tạm chia tay chị, sang hỏi hàng xóm mới biết rằng: Bà cụ thân sinh ra chị Thanh, những ngày đầu vào thăm con, thấy đời sống của anh chị khó khăn quá, nên thỉnh thoảng lại dành dụm gửi cho con 10 cân thóc. Bây giờ, kinh tế gia đình anh Hải – chị Thanh đã khá lên và "đề nghị" cụ không gửi gạo vào nữa. Nhưng cụ không tin. Cụ nói: “Làm vợ bộ đội là cực lắm, tụi bây có nói thế nào, má vẫn gửi cho 10 cân thóc!”.

Nguồn: QĐND Online (http://www.qdnd.vn/qdndsite/vi-VN/61/43/10/91/91/153540/Default.aspx)

HQ0909
11-07-2011, 04:28 PM
http://vitinfo.vn/upload/Anh/Anhtieude/2011/7/11/LA90672_11_7_15.jpg
Một tàu hải giám của Trung Quốc

Trong bản tin ảnh phát đi vào lúc 15 giờ 41 phút ngày 10/7, phóng viên Tân Hoa xã Hầu Kiến Sâm cho biết sáng cùng ngày, tàu ngư chính số 46012 đã rời cảng Tú Anh thuộc thành phố Hải Khẩu, tỉnh Hải Nam lên đường đi Trường Sa (Trung Quốc gọi là Nam Sa) thay thế tàu ngư chính số 301 làm nhiệm vụ bảo vệ đảo đá ngầm Vành Khăn (Trung Quốc gọi là đá ngầm Mỹ Tế) và quản lý ngư chính trong thời gian 50 ngày.

Đây là lần đầu tiên ngành cá hải dương tỉnh Hải Nam thực hiện tuần ngư chính ở Trường Sa.

Liên quan tới sự kiện này, trong bản tin phát đi vào lúc 20 giờ 26 phút tối 10/7, hãng thông tấn bình luận Trung Quốc dẫn lời Trưởng phòng Hải dương và nghề cá Hải Nam Triệu Trung Xã cho biết việc tuần tra bảo vệ ngư chính ở Trường Sa là hành động chấp pháp chuyên ngành do Cục Ngư chính khu Nam Hải tổ chức thực hiện nhằm bảo vệ quyền lợi biển quốc gia, bảo vệ an toàn sản xuất, quy phạm hành vi sản xuất của các tàu cá Trung Quốc, tăng cường bảo vệ và quản lý tài nguyên sinh vật biển ở Trường Sa và cung cấp dịch vụ cứu trợ cần thiết cho các tàu cá Trung Quốc.

Đồng thời, hành động tuần tra bảo vệ ngư chính là biện pháp quan trọng thể hiện chủ quyền và sự quản lý của Trung Quốc đối với vùng biển Trường Sa.

Theo thuyền trưởng tàu ngư chính số 46012 Tạ Bất Phong, thực hiện nhiệm vụ lần này, tàu ngư chính số 46012 có tổng cộng 22 nhân viên ngư chính, vật tư dự trữ trên tàu gồm nước ngọt, thực phẩm, thuốc... đủ sử dụng trong 60 ngày.

Nhằm đối phó với khả năng xảy ra bão biển, sóng lớn..., các nhân viên ngư chính làm nhiệm vụ phải đề ra phương án phòng chống, bảo đảm tác động của thiên nhiên không ảnh hưởng tới việc thực hiện nhiệm vụ.

Cần nhắc rằng các tàu hải giám và ngư chính của Trung Quốc đã nhiều lần xâm phạm vùng biển chủ quyền của Việt Nam.

Gần đây, các tàu cá Trung Quốc với sự yểm trợ của các tàu ngư chính đã liên tục phá hoại hoạt động khảo sát bình thường do Tập đoàn Dầu khí Việt Nam tiến hành trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam./.

Theo Vietnamplus
Nguồn đ ă ng lạ i vit (http://vitinfo.vn/MMuctin/Quocte/LA90672/default.html)

HQ0909
11-07-2011, 10:53 PM
http://vitinfo.vn/upload/Anh/Anhtieude/2011/7/8/LA90623_14_35_50.jpg

Tại ngôi miếu có hình chiếc tàu mũi hướng ra biển thờ các hương linh bỏ mình trên biển cả, chiều nào thuyền trưởng Xin cũng ngồi thẫn thờ... Ảnh: Huỳnh Anh/SGTT



Thuyền trưởng Đỗ Văn Xin – một trong những đầu lĩnh của đoàn câu mực Hoàng Sa ở Đà Nẵng, người chỉ huy cứu nạn trong bão Chanchu năm 2006, nhân vật “Người đương thời” của Truyền hình Việt Nam – cách đây hai năm đã phải bán tàu, giải nghệ. Đoàn câu mực Hoàng Sa – Đà Nẵng hơn 120 chiếc tàu đã tan tác…

Trùm câu mực giải nghệ

Thuyền trưởng Đỗ Văn Xin, biệt hiệu Xin “nhà quê”, gốc ngư dân Hội An, mồ côi cha mẹ từ nhỏ. Năm 12 tuổi anh được bà ngoại đưa ra Đà Nẵng theo ngư dân làng chài Thanh An – Thanh Thuỷ phụ việc trên tàu. Năm nay 50 tuổi, tính ra tuổi nghề của Đỗ Văn Xin gần 40 năm, trong đó, thời gian chinh chiến ở Hoàng Sa lên tới trên 20 năm, chủ yếu là nghề câu mực.

Được tín nhiệm giao chỉ huy một tổ đánh bắt gồm bốn tàu câu mực Hoàng Sa, năm 2006, đoàn tàu câu mực 29 chiếc này của Đà Nẵng gặp nạn trong bão Chanchu. Con tàu ĐNa 90152 của thuyền trưởng Đỗ Văn Xin may mắn không bị chìm. Bão vừa ngớt, Đỗ Văn Xin ngay lập tức chỉ huy các tàu còn lại tìm kiếm những người sống sót và thi thể bạn nghề. Khi những nỗ lực cuối cùng đã tắt, các thúng câu mực trên tàu của anh đầy... xác người ướp bằng những hạt muối cuối cùng, anh cho tàu hướng mũi vào bờ để tàu cứu nạn SAR 412 ra đón.

Buổi trưa ngày 23.5.2006, ngày tàu SAR 412 vào tới đất liền, cũng chính là buổi trưa tang tóc nhất của đoàn câu mực Hoàng Sa – Đà Nẵng. Hàng ngàn thân nhân từ Quảng Nam, Quảng Ngãi, Thừa Thiên – Huế… đội nắng khóc than trên đường Bạch Đằng cạnh cảng. Đoàn câu mực Hoàng Sa đi 29 chiếc về 11 chiếc, 33 người sống sót và 15 thi thể may mắn trở về đất liền. Hơn 250 người khác nằm lại ở Hoàng Sa! Anh Xin nói: “Trận Chanchu cũng kinh nhưng quen rồi, chỉ hơn tháng sau là anh em tụi tui đi biển lại. Tui nói thiệt, đi ngang qua Cát Vàng lính Trung Quốc bắn chéo chéo cũng không sợ, gặp bão cũng lờn… Anh thử tưởng tượng đoàn câu mực của mình ra Biển Đông thì các tàu Trung Quốc, Nhật Bản, Philippines… trong khu vực đó cũng phải nể. Họ toàn tàu hiện đại, mình chỉ có cái thúng chai bập bềnh mà cũng không thua…” Nói tới đó, thuyền trưởng dày dạn kinh nghiệm biển khơi bỗng lặng thinh.

Hoàng Sa từ Đà Nẵng, theo kinh nghiệm của anh Xin, đi hai ngày hai đêm thì tới. Đi từ Lý Sơn ra càng gần hơn. Hoàng Sa có nhiều cá, mực, là chỗ thân thuộc bao đời này của ngư dân Đà Nẵng và Lý Sơn. Dân Đà Nẵng chuyên nghề câu mực, dân Lý Sơn chuyên lặn vú nàng từ lâu đã thành làng nghề. Lúc cao điểm nhất, đoàn câu mực Đà Nẵng ở Hoàng Sa có trên 120 chiếc tàu. Hàng năm, mùng 10 tháng giêng, bạn nghề từ Quảng Nam, Quảng Ngãi… hàng ngàn người tập trung về bến, chỗ đường ven biển Nguyễn Tất Thành bây giờ, chuẩn bị chuyến ra khơi đầu năm vui như hội. Vậy mà bây giờ, cả đoàn chỉ còn lại sáu chiếc tàu nhỏ. Thuyền trưởng lừng danh Đỗ Văn Xin, ngư dân câu mực Hoàng Sa dày dạn kinh nghiệm, cũng đã phải bán tàu giải nghệ.

Chết vì thương lái Trung Quốc



http://vitinfo.vn/upload/Anh/Anhnoidung/2011/7/8/LA90623_14_34_56.jpg

Giống như nhiều ngư dân khác trong đoàn câu mực Hoàng Sa, thuyền trưởng Đỗ Văn Xin phải bán tàu, thất nghiệp ở nhà nuôi gà và buôn bán phụ vợ. Ảnh: Huỳnh Anh/SGTT


Năm 2009, anh Đỗ Văn Xin, một trong những ngư dân cuối cùng còn cầm cự của đoàn câu mực Hoàng Sa, đành phải nuốt nước mắt bán đi chiếc ĐNa 90152 từng nuôi sống gia đình anh và nhiều gia đình bạn nghề khác ở Quảng Nam.

Thời hoàng kim của nghề câu mực xà (trước bão Chanchu), nhiều gia đình ngư dân ở Thanh Khê đua nhau vay mượn tiền đóng tàu. Tàu đóng mới, đi chừng sáu chuyến biển đã lấy lại vốn, bạn câu mỗi chuyến đi cũng kiếm được vài chục triệu đồng. Đó là thời điểm thương lái Trung Quốc đột ngột đẩy giá mực xà lên cao chất ngất. Thương lái trong nước mua sáu, thương lái Trung Quốc mua lại mười. Chỉ một mùa mực, toàn bộ các đầu nậu đều trở thành “con chạy” cho thương nhân Trung Quốc. Mỗi lần đoàn câu mực Hoàng Sa về, hàng trăm tấn mực xà ùn ùn đổ qua cửa khẩu Tân Thanh, xe tải chở mực nối đuôi hàng đàn trên quốc lộ. Thấy gia đình này trúng mực, gia đình kia cũng dốc sức đóng tàu, bao nhiêu tiềm lực của ngư dân Thanh Khê đổ hết vào đoàn tàu câu mực Hoàng Sa. Anh Xin kể: “Họ giỏi thiệt, cũng con mực xà của mình, họ thuê bãi tập kết ở cửa khẩu Tân Thanh, sau khi đem qua biên giới và đưa trở lại Việt Nam con mực trắng tinh, thơm phức, to hẳn ra với giá bán cao gấp nhiều lần giá mua mực thô của Việt Nam”.

Mực xà Hoàng Sa có đặc điểm phơi khô lên có màu hơi đen, vị hơi nhẫn, thị trường trong nước không chuộng vì chế biến không tốt. Ngư dân câu mực cũng hiếm khi ăn mực xà tươi tại tàu vì đặc điểm đó nhưng giai đoạn hoàng kim, nó từng là sản phẩm đem lại hiệu quả kinh tế cao cho ngư dân đánh bắt ở ngư trường Hoàng Sa. Đùng một cái, năm 2007, thương nhân Trung Quốc không chịu “ăn hàng” nữa. Mực xà rớt giá từ 100.000 đồng/kg xuống còn 18.000 đồng/kg. Dân câu mực ngã ngửa. Mực đánh về không đủ tiền dầu, tiền lương thực, nước đá. Năn nỉ ỉ ôi thương nhân Trung Quốc cũng không chịu mua. Đoàn câu mực Hoàng Sa nổi tiếng của ngư dân Đà Nẵng bắt đầu tan tác. Các chủ tàu bán đổ bán tháo trả nợ ngân hàng. Những người bạn nghề táo tác trở về quê Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định… kiếm sống bằng nghề lưới ven bờ hoặc làm nghề khác.

Thuyền trưởng Đỗ Văn Xin nói, làm nghề quen rồi, không đi nhớ biển lắm nhưng giờ nếu bảo vay ngân hàng để đi thì thà giải nghệ còn hơn. Biết là biển của mình nhưng đành phải bỏ trống cho người khác khai thác. Bây giờ, chiều chiều trên con đường tuyệt đẹp Nguyễn Tất Thành, đi ngang qua ngôi miếu thờ các hương linh bỏ mình trên biển cả có hình chiếc tàu mũi hướng ra biển, nếu nhìn thấy vài ba người đàn ông ngồi chơi ở đấy thì chắc chắn đó là những ngư dân trong đoàn câu mực Hoàng Sa đã bỏ nghề trở thành thất nghiệp...
Theo SGTT
VIT (http://vitinfo.vn/MMuctin/Xahoi/LA90623/default.html)

scorpion_king84
12-07-2011, 08:57 PM
http://www.moingay1cuonsach.com.vn/?page=product_detail&category_id=11944&id=37478&portal=minhchau



Video điểm sách Moingay1cuonsach VTV1 ngày 29/04/2009

Nội dung cuốn sách là tập hợp một số bài nghiên cứu, bài báo và những tư liệu mới của các nhà sử học và các nhà nghiên cứu, chứng minh chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, xét về mặt lịch sử và luật pháp quốc tế. Cuốn sách cũng đề cập tới bối cảnh của cuộc tranh chấp hiện nay đối với hai quần đảo này nói riêng và Biển Đông nói chung, cũng như những ý kiến về một giải pháp cho cuộc tranh chấp phù hợp với luật pháp quốc tế. Kèm theo đó là những tư liệu liên quan, chẳng hạn toàn văn bản Tuyên bố về các nguyên tắc ứng xử của các bên trên Biển Đông mà các nước ASEAN và Trung Quốc đã ký kết năm 2002.

anh2
13-07-2011, 04:15 PM
Ninh Bình tiếp nhận đá chủ quyền quần đảo Trường Sa- Ngày 12-7 tại TP Ninh Bình, Ban thường vụ tỉnh ủy Ninh Bình đã tổ chức tiếp nhận 21 rặng san hô tượng trưng 21 điểm chủ quyền lãnh thổ Việt Nam tại quần đảo Trường Sa của Bộ Tư lệnh Hải quân. Tham dự buổi lễ trao tặng có Trung tướng Nguyễn Văn Hiến, Ủy viên TƯ Đảng, Phó đô đốc, Tư lệnh Quân chủng Hải quân ; Đinh Tiến Dũng, Ủy viên TƯ Đảng, Bí thư tỉnh ủy Ninh Bình cùng các đồng chí trong ban thường vụ, ban chấp hành đảng bộ Ninh Bình và 500 đại biểu là cán bộ chiến sĩ Bộ Tư lệnh Hải quân, tăng ni phật tử và các ban ngành, đoàn thể trong tỉnh Ninh Bình.Cũng trong buổi lễ, Trung tướng Nguyễn Văn Hiến đã trao tặng ba gia đình liệt sĩ hải quân là người Ninh Bình đã hy sinh bảo vệ vùng biển đảo thiêng liêng của tổ quốc mỗi suất trị giá năm triệu đồng. Đảng bộ và nhân dân tỉnh Ninh Bình trao tặng cán bộ, chiến sĩ đảo Trường Sa 500 triệu đồng.Theo http://www.baomoi.com/Ninh-Binh-tiep-nhan-da-chu-quyen-quan-dao-Truong-Sa/122/6612121.epi

HQ0909
13-07-2011, 10:23 PM
Mới đây, lãnh đạo cấp cao của Trung Quốc đề ra chiến lược mới cũng như ban hành một số chỉ lệnh liên quan tới diễn biến của sự kiện tranh chấp các đảo ở Biển Đông.

Lập tổ lãnh đạo, thực hiện 5 tăng cường

Theo đó, Trung Quốc sẽ tiến hành những bước đi đầy toan tính như:

- Tăng cường tuyên truyền trên các phương tiện thông tin truyền thông về sách lược ngoại giao và tuyên bố chủ quyền Trung Quốc.
- Tăng cường, nâng cao công tác tham vấn và hiệp thương nội bộ với các nước liên quan tới tranh chấp, phản đối "mưu đồ" quốc tế hóa tranh chấp.
- Tăng cường công tác giáo dục nội bộ về tình hình quốc tế, tranh chấp Biển Đông và lịch sử trong quân đội Trung Quốc.
- Tăng cường "ý chí bảo vệ lãnh thổ tổ quốc", các đảo và tài nguyên mà Trung Quốc cho là thuộc chủ quyền Trung Quốc.
- Tăng cường "cảnh giác bảo vệ chủ quyền" cũng như tại vùng biển gần các đảo này, bảo vệ các quyền lợi mà Trung Quốc cho là "chính đáng".

Ngoài ra, Bộ Chính trị Trung ương Trung Quốc còn thông qua quyết nghị thành lập tổ lãnh đạo xử lý sự kiện khủng hoảng Biển Đông, do Phó Chủ tịch nước Tập Cận Bình làm tổ trưởng.

Mục đích của cơ quan này nhằm nắm chắc diễn biến của tình hình Biển Đông và dự báo các tình huống bất ngờ và xử lý các báo cáo về vấn đề tranh chấp kinh tế, quân sự tại "khu vực tiền duyên" Biển Đông.

Như vậy, có thể thấy Trung Quốc đang "đầu tư" cho công cuộc thôn tính biển Đông một cách có tính toán. Điều này đặt ra thách thức lớn với các nước trong khu vực và có quyền lợi kinh tế liên quan trong khu vực. Sự thành lập của "tổ lãnh đạo" trên cho thấy Bắc Kinh phải chịu trách nhiệm trước những gì bất ổn sẽ xảy ra trên biển Đông từ cấp cao nhất.

Việc lựa chọn ông Tập Cận Bình vào vị trí lãnh đạo của tổ xử lý vấn đề biển Đông gợi nhắc tới chiến lược đào tạo đội ngũ kế cận rất bài bản của Trung Quốc. Theo đó, các "ứng viên" sẽ được giao trọng trách ở những vấn đề nhạy cảm để thử thách và rèn luyện. Còn nhớ, trước khi trở thành Tổng bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc, ông Hồ Cẩm Đào từng giữ chức bí thư đảng ủy khu tự trị Tây Tạng đúng vào lúc khu vực này đang là "điểm nóng" trong đời sống chính trị Trung Quốc.

Kết thúc chuyến thăm Trung Quốc của Đô đốc Mỹ Mike Mullen

Tại một cuộc họp báo sau khi kết thúc hội đàm với phái đoàn quân sự Mỹ, ông Trần Bỉnh Đức còn cho rằng, phía Mỹ đã lặp đi lặp lại câu nói “ Mỹ không có ý muốn can thiệp vào các vụ việc tranh chấp trong khu vực, tuy nhiên, với quan điểm cũng như những động thái của Mỹ cho thấy điều hoàn toàn ngược lại với những gì mà Mỹ cam kết”.

Tuy nhiên, ông Trần Bỉnh Đức cũng cho rằng, thông qua cuộc gặp lần này 2 bên đã thảo luận 4 chủ đề chính đó là: Tranh chấp trên Biển Đông; Thái độ của một số chính trị gia Mỹ đối với Trung Quốc; An ninh mạng và tiềm lực phát triển quân sự của Trung Quốc. Cả hai bên đã trao đổi quan điểm về các vấn đề một cách thẳng thắn, ông nói thêm.

Theo Đô đốc Mike Mullen, Mỹ lo ngại rằng các tranh chấp trên vùng biển giàu tài nguyên có thể dẫn đến một cuộc xung đột nghiêm trọng, chính vì thế Mỹ khẳng định duy trì sự hiện diện của Mỹ tại Biển Đông là điều cần thiết.
Ông cũng nhấn mạnh rằng sự hiện diện của Mỹ đi kèm theo đó là trách nhiệm lâu. Mỹ sẽ nỗ lực tìm kiếm sự ủng hộ mạnh mẽ cho một giải pháp hòa bình đối với những bất đồng đang diễn ra.

Các tờ báo của Trung Quốc đăng bài xã luận rằng ASEAN không nên để các lực lượng bên ngoài can thiệp vào các vấn đề tranh chấp song phương Tuy nhiên, ông Mike Mullen vẫn nhấn mạnh rằng, Mỹ mong muốn thấy được một giải pháp hòa bình về tuyên bố chủ quyền lãnh thổ ở Biển Đông, và Mỹ sẽ giữ nguyên lập trường về việc duy trì sự hiện diện tại khu vực.
Nam Hoàng (theo Taipei Times)
baodatviet (http://quocphong.baodatviet.vn/Home/QPCN/Trung-Quoc-lap-to-lanh-dao-xu-ly-van-de-bien-Dong/20117/155071.datviet)

HQ0909
14-07-2011, 12:21 PM
http://images.vietinfo.eu/2011/07/14/159225/466_thumb.jpg


Đài Loan không có ý định đàm phán chính trị với Trung Quốc, trong đó có vấn đề Biển Đông, Bộ trưởng thông tin Đài Loan Philip Yang ngày 12/7 tuyên bố.

Trả lời phỏng vấn Asia Society khi đang ở thăm Mỹ, ông Yang cho biết, ở thời điểm hiện tại, chính quyền Đài Loan không có kế hoạch hợp tác với Bắc Kinh trong vấn đề tranh chấp Biển Đông.

Ông này cũng khẳng định thêm, chuyến thăm Mỹ của ông lần này nhằm mục đích công khai các chính sách cơ bản của Đài Loan, đặc biệt là về vấn đề an ninh.

“Chúng tôi hy vọng chính phủ Mỹ sẽ cân nhắc bán vũ khí cho Đài Loan vì mục đích quốc phòng”, ông Yang nói.

Ông cũng nhấn mạnh thêm, Đài Loan hy vọng Mỹ có thể hiểu quan hệ kinh tế giữa Đài Loan và Trung Quốc không chỉ mang lại lợi ích cho Đài Loan mà còn cho Mỹ và đóng vai trò quan trọng trong các diễn biến ở khu vực.

Mặc dù quan hệ Bắc Kinh-Đài Loan trong những năm gần đây đã được cải thiện đáng kể, nhưng Đài Loan vẫn theo đuổi chính sách “kinh tế là trên hết”.

Tuyên bố của ông Yang được đưa ra sau khi Bắc Kinh kêu gọi sự hợp tác của chính quyền Đài Loan, và khẳng định bảo vệ chủ quyền Biển Đông là trách nhiệm chung của hai bên

Nguồn: Focus Taiwan, Global Times, Gafin
vietinfo (http://www1.vietinfo.eu/chuyen-muc-bien-dong/dai-loan-se-khong-dam-phan-bien-dong-voi-bac-kinh.html)

HQ0909
14-07-2011, 12:52 PM
Theo hãng tin AP và Kyodo, Ngoại trưởng Philippines, Albert del Rosario ngày 13/7 đã chỉ trích việc Trung Quốc bác bỏ đề nghị của Manila về việc đưa vấn đề tranh chấp chủ quyền trên Biển Hoa Nam (Biển Đông) ra tòa án của Liên hợp quốc.

Theo ông Rosario, phản ứng kiểu này sẽ khiến Bắc Kinh không thể chứng minh được chủ quyền của mình trên Biển Đông dựa trên luật pháp đã được quốc tế công nhận.





http://giaoduc.net.vn/images/stories/2011/07/13/ngao(1).jpg



Ngoại trưởng Philippines, Albert del Rosario



Cùng ngày, một quan chức ngoại giao cấp cao của Philippines cho biết nước này sẽ kêu gọi các quốc gia láng giềng thuộc Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) có quan điểm kiên định trước "những hành động đe dọa và hung hăng" của Trung Quốc tại khu vực đang tranh chấp trên Biển Đông
.
Trong cuộc họp của các ngoại trưởng ASEAN sắp tới ở Bali của Indonesia, Manila sẽ một lần nữa bày tỏ "quan ngại sâu sắc" về việc Trung Quốc đã ít nhất 10 lần xâm nhập lãnh hải Philippines.

Theo nhà ngoại giao nói trên, Ngoại trưởng Rosario sẽ nhấn mạnh sự cần thiết của việc ASEAN phải "tái khẳng định sự tôn trọng cũng như cam kết đối với vấn đề tự do hàng hải" trên Biển Đông.
giaoduc (http://www.giaoduc.net.vn/quoc-te/43-tu-lieu/7414-philippines-mun-asean-kien-nh-v-bin-ong.html)

Sat That
14-07-2011, 07:53 PM
Một số nhân sĩ gửi kiến nghị bảo vệ và phát triển đất nước

Tác giả: Tuần Việt Nam
Bài đã được xuất bản.: 14/07/2011 06:00 GMT+7

Để vươn lên giành thời cơ, thoát hiểm họa, cả dân tộc ta, từ người lãnh đạo, cầm quyền đến người dân thường phải dấn thân cùng với cả nhân loại tiến bộ đấu tranh cho những giá trị đang là nền tảng cho một thế giới tiến bộ, đó là hòa bình, tự do dân chủ, quyền con người, bảo vệ môi trường, nhóm nhân sĩ kiến nghị.

Ngày 13/7/2011, 20 nhân sĩ, trí thức đã gửi bản kiến nghị đến Quốc hội và Bộ Chính trị về bảo vệ và phát triển đất nước trong tình hình hiện nay.
Bản kiến nghị gồm có 3 phần: phần 1 phân tích sâu về những sự kiện xảy ra gần đây trong quan hệ Việt - Trung, phần 2 nói về thực trạng còn nhiều bất cập trong nước và phần cuối cùng nêu 5 điểm kiến nghị với lãnh đạo Đảng và Quốc hội.

Trong danh sách ký tên đính kèm bản kiến nghị, có nhiều tên tuổi như ông Hồ Uy Liêm (Phó Chủ tịch thường trực Liên hiệp các hội khoa học Việt Nam (VUSTA)), Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh ( nguyên Đại sứ VN tại Trung Quốc), nhà nghiên cứu Trần Việt Phương, Trần Đức Nguyên (nguyên thành viên Ban nghiên cứu của Thủ tướng), GS Hoàng Tụy, GS Nguyễn Huệ Chi, Nguyễn Trung, Phạm Chi Lan, Chu Hảo (nguyên Thứ trưởng Bộ Khoa học và công nghệ), nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu, Linh mục Huỳnh Công Minh, ông Lê Hiếu Đằng, Gs Tương Lai, Luật sư Trần Quốc Thuận, chuyên gia kinh tế Vũ Thành Tự Anh, Thiền sư Lê Mạnh Thát, nhà văn Nguyên Ngọc, Ts Nguyễn Xuân Diện, Nguyễn Hữu Châu Phan, Nguyễn Đình An.

"Độc lập, tự chủ và toàn vẹn lãnh thổ đang bị uy hiếp"

Trước tình hình Biển Đông nóng lên, nhóm nhân sĩ cho rằng, "Độc lập, tự chủ và toàn vẹn lãnh thổ của nước ta đang bị uy hiếp, xâm phạm nghiêm trọng".

"Từ khát vọng trở thành siêu cường, với vai trò là "công xưởng thế giới" và chủ nợ lớn nhất của thế giới, dưới chiêu bài "trỗi dậy hòa bình", Trung Quốc đang ra sức phát huy quyền lực dưới mọi hình thức, nhằm thâm nhập và lũng đoạn nhiều quốc gia trên khắp các châu lục...Thời gian gần đây, Trung Quốc đã có những bước leo thang nghiêm trọng trong việc thực hiện âm mưu độc chiếm Biển Đông với nhiều hành động bất chấp luật pháp quốc tế, ngang nhiên xâm phạm chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ, lãnh hải của các quốc gia giáp Biển Đông. Trung Quốc tự ý vạch ra cái gọi là "đường chữ U 9 đoạn", thường được gọi là "đường lưỡi bò", chiếm hơn 80% diện tích Biển Đông, nhiều lần tuyên bố trước thế giới toàn bộ vùng "lưỡi bò" này thuộc chủ quyền không thể tranh cãi của Trung Quốc và đã liên tục tiến hành nhiều hoạt động bất hợp pháp trên Biển Đông để khẳng định yêu sách trái luật quốc tế này.

Hiện nay Trung Quốc đang ráo riết tăng cường lực lượng hải quân, chuẩn bị giàn khoan lớn, tiến hành nhiều hoạt động quân sự hoặc phi quân sự ngày càng sâu vào vùng biển các quốc gia trong vùng này, gắn liền với những hoạt động chia rẽ các nước ASEAN trong quan hệ với Trung Quốc.

Trên vùng Biển Đông thuộc lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, năm 1974 Trung Quốc đã tấn công chiếm nốt các đảo ở Hoàng Sa, năm 1988 đánh chiếm thêm 7 đảo và bãi đá thuộc quần đảo Trường Sa của ta; từ đó đến nay thường xuyên tiến hành các hoạt động uy hiếp và xâm phạm vùng biển thuộc chủ quyền của nước ta, như tự ý ra lệnh cấm đánh bắt cá trên Biển Đông, xua đuổi, bắt giữ, cướp tài sản của các tàu đánh cá trên vùng này, gây sức ép để ngăn chặn hoặc đòi hủy bỏ các hợp đồng mà các tập đoàn kinh doanh dầu khí của nước ngoài đang hợp tác với Việt Nam, liên tục cho các tàu hải giám đi tuần tra như đi trên biển riêng của nước mình. Gần đây nhất, tàu Trung Quốc cắt cáp quang và thực hiện nhiều hành động phá hoại khác đối với tàu Bình Minh 02 và tàu Viking II của ta đang hoạt động trong vùng thuộc đặc quyền kinh tế của Việt Nam; đó là những bước leo thang nghiêm trọng trong các chuỗi hoạt động uy hiếp, lấn chiếm vùng biển của nước ta.

Vị trí địa lý tự nhiên, vị thế địa chính trị và địa kinh tế trong bối cảnh quốc tế hiện nay khiến cho Việt Nam bị Trung Quốc coi là chướng ngại vật trên con đường tiến ra biển phía Nam để vươn lên thành siêu cường...", bản kiến nghị viết.

Từ phân tích trên, nhóm nhân sĩ cho rằng "xem xét cục diện quan hệ hai nước, phải nhìn nhận thẳng thắn rằng Trung Quốc đã đi được những bước quan trọng trong việc thực hiện ý đồ chiến lược của họ".

Kiến nghị dẫn chứng: Nhập siêu của ta từ Trung Quốc mấy năm qua tăng rất nhanh (năm 2010 gấp 2,8 lần năm 2006) và từ năm 2009 xấp xỉ bằng kim ngạch xuất siêu của nước ta với toàn thế giới. Hiện nay, nước ta phải nhập khẩu từ Trung Quốc khoảng 80-90% nguyên vật liệu cho công nghiệp gia công của ta, một khối lượng khá lớn xăng dầu, điện, nguyên liệu và thiết bị cho những ngành kinh tế khác; khoảng 1/5 kim ngạch nhập khẩu từ Trung Quốc là hàng tiêu dùng, chưa kể một khối lượng tương đương như thế vào nước ta theo đường nhập lậu. Đặc biệt nghiêm trọng là trong những năm gần đây, 90% các công trình kinh tế quan trọng như các nhà máy điện, luyện kim, hóa chất, khai thác bô-xít, khai thác ti-tan... được xây dựng theo kiểu chìa khóa trao tay (EPC) rơi vào tay các nhà thầu Trung Quốc với nhiều hệ quả khôn lường.

Trong khi đó Trung Quốc nhập khẩu từ nước ta chủ yếu dưới dạng vơ vét nguyên liệu, nông sản và khoáng sản, với nhiều hệ quả tàn phá môi trường. Ngoài ra còn nạn cho Trung Quốc thuê đất, thuê rừng ở vùng giáp biên giới, nạn tiền giả từ Trung Quốc tung vào. Sự yếu kém của nền kinh tế trong nước chính là mảnh đất màu mỡ cho sự xâm nhập, thậm chí có mặt chi phối, lũng đoạn về kinh tế của Trung Quốc. Chưa nói tới hệ quả khôn lường của việc Trung Quốc xây nhiều đập trên thượng nguồn hai con sông lớn chảy qua nước ta.

Cũng không thể xem thường sự xâm nhập của Trung Quốc vào các nước xung quanh ta. Nếu Trung Quốc thực hiện được mưu đồ độc chiếm Biển Đông, Việt Nam coi như bị bịt đường đi ra thế giới bên ngoài.

Trong khi đó tình hình đất nước lại có nhiều khó khăn và mối nguy lớn...

Theo các nhân sĩ trên, do "vị trí địa lý nước ta không thể chuyển dịch đi nơi khác, nên toàn bộ thực tế hiện nay buộc dân tộc ta phải tạo được bước ngoặt có ý nghĩa quyết định đối với vận mệnh của đất nước: Là nước láng giềng bên cạnh Trung Quốc đầy tham vọng đang trên đường trở thành siêu cường, Việt Nam phải bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền quốc gia, trở thành một đối tác được Trung Quốc tôn trọng, tạo ra một mối quan hệ song phương thật sự vì hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển.

Mặt trận gìn giữ lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, biển đảo, vùng trời của nước ta trong Biển Đông đang rất nóng do các bước leo thang lấn chiếm ngày càng nghiêm trọng của Trung Quốc... Tuy nhiên, mặt trận nguy hiểm nhất đối với nước ta mà Trung Quốc muốn dồn quyền lực và ảnh hưởng để thực hiện, đó là: thâm nhập, lũng đoạn mọi mặt đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa của nước ta...

Sự xuất hiện một Trung Quốc đang cố trở thành siêu cường với nhiều mưu đồ và hành động trái luật pháp quốc tế, bất chấp đạo lý, gây nhiều tác động xáo trộn thế giới, tạo ra một cục diện mới đối với nước ta trong quan hệ quốc tế: Hầu hết mọi quốc gia trên thế giới, có lẽ ngoại trừ Trung Quốc, đều mong muốn có một Việt Nam độc lập tự chủ, giàu mạnh, phát triển, có khả năng góp phần xứng đáng vào gìn giữ hòa bình và ổn định trong khu vực, thúc đẩy những mối quan hệ hữu nghị, hợp tác vì sự bình yên và phồn vinh của tất các các nước hữu quan trong khu vực và trên thế giới"

Các nhân sĩ này cho rằng: "cục diện thế giới mới này là cơ hội lớn, mở ra cho đất nước ta khả năng chưa từng có trong công cuộc phát triển và bảo vệ Tổ quốc, qua đó giành được cho nước ta vị thế quốc tế xứng đáng trong thế giới văn minh ngày nay. Để vươn lên giành thời cơ, thoát hiểm họa, cả dân tộc ta, từ người lãnh đạo, cầm quyền đến người dân thường phải dấn thân cùng với cả nhân loại tiến bộ đấu tranh cho những giá trị đang là nền tảng cho một thế giới tiến bộ, đó là hòa bình, tự do dân chủ, quyền con người, bảo vệ môi trường

Kiến nghị 5 điểm

Từ những phân tích trên, các nhân sĩ "khẩn thiết kiến nghị với Quốc hội và Bộ Chính trị"

1. Công bố trước toàn thể nhân dân ta và nhân dân toàn thế giới thực trạng quan hệ Việt - Trung; nêu rõ những căn cứ phù hợp với luật pháp quốc tế, có sức thuyết phục về chủ quyền của Việt Nam đối với biển đảo ở vùng Biển Đông để làm sáng tỏ chính nghĩa của nước ta; khẳng định thiện chí trước sau như một của nước ta xây dựng, gìn giữ quan hệ hữu nghị, hợp tác láng giềng tốt với Trung Quốc, nhưng quyết tâm bảo vệ độc lập, chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia của mình ... Chúng ta luôn phân biệt những mưu đồ và hành động phi đạo lý và trái luật pháp quốc tế của một bộ phận giới lãnh đạo Trung quốc, khác với tình cảm và thái độ thân thiện của đông đảo nhân dân Trung quốc đối với nhân dân Việt Nam. Chúng ta sẵn sàng là bạn và đối tác tin cậy của tất cả các nước, đặc biệt coi trọng quan hệ hữu nghị, hợp tác với các nước Đông Nam Á và các nước lớn, cùng với các nước có liên quan giải quyết hoà bình các vấn đề tranh chấp ở Biển Đông.

2. Trình bày rõ với toàn dân thực trạng đất nước hiện nay, thức tỉnh mọi người về những nguy cơ đang đe dọa vận mệnh của Tổ quốc, dấy lên sự đồng lòng và quyết tâm của toàn dân đem hết sức mạnh vật chất, tinh thần, trí tuệ để bảo vệ và phát triển đất nước. Cải cách sâu sắc, toàn diện về giáo dục và kinh tế ngày càng trở thành yêu cầu cấp thiết, là kế sâu rễ bền gốc để nâng cao dân trí, dân tâm, dân sinh làm cơ sở cho quá trình tự cường dân tộc và nền tảng cho sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước.

3. Tìm mọi cách thực hiện đầy đủ các quyền tự do, dân chủ của nhân dân đã được Hiến pháp quy định, nhằm giải phóng và phát huy ý chí và năng lực của nhân dân cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, tận dụng được cơ hội mới, đáp ứng được những đòi hỏi và thách thức mới của tình hình khu vực và thế giới hiện nay.

4. Kêu gọi toàn thể quốc dân đồng bào, mọi người Việt Nam ở trong nước và ở nước ngoài, không phân biệt chính kiến, tôn giáo, dân tộc, địa vị xã hội, hãy cùng nhau thực hiện hòa hợp, hòa giải, đoàn kết dân tộc với lòng yêu nước, tinh thần vị tha và khoan dung. Tất cả hãy cùng nhau khép lại quá khứ, đặt lợi ích quốc gia lên trên hết, để từ nay tất cả mọi người đều một lòng một dạ cùng nắm tay nhau đứng chung trên một trận tuyến vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, cùng nhau dốc lòng đem hết trí tuệ, nghị lực sáng tạo và nhiệt tình yêu nước xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của chúng ta.

5. Lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam với tính cách là đảng cầm quyền duy nhất và cũng là người chịu trách nhiệm toàn diện về tình hình đất nước hiện nay, đặt lợi ích quốc gia lên trên hết, giương cao ngọn cờ dân tộc và dân chủ đẩy mạnh cuộc cải cách chính trị, giải phóng mọi tiềm năng của nhân dân cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đẩy lùi mọi tệ nạn tham nhũng và tha hóa, đưa đất nước thoát ra khỏi tình trạng yếu kém và lệ thuộc hiện nay, chuyển sang thời kỳ phát triển bền vững, đưa dân tộc ta đồng hành với cả nhân loại tiến bộ vì hòa bình, tự do dân chủ, quyền con người, bảo vệ môi trường.

Nguồn:www.vietnamnet.vn

HQ0909
16-07-2011, 04:45 PM
Vietsovpetro góp phần bảo vệ chủ quyền biển Đông

TT - “Với 30 năm hoạt động tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí và xây dựng các công trình dầu khí, liên doanh Vietsovpetro đã góp phần quan trọng giữ gìn và bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Việt Nam trên biển Đông” - Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhấn mạnh tại lễ kỷ niệm 30 năm thành lập liên doanh Việt - Nga Vietsovpetro chiều 15-7.

Thủ tướng chỉ đạo liên doanh tiếp tục đẩy mạnh công tác tìm kiếm, thăm dò để gia tăng trữ lượng dầu khí, góp phần bảo đảm an ninh năng lượng, ưu tiên tìm kiếm, thăm dò ở các vùng nước sâu, xa bờ. Tích cực nghiên cứu, tìm kiếm cơ hội để mở rộng vùng hoạt động tìm kiếm - thăm dò - khai thác ở Liên bang Nga, các nước cộng hòa thuộc Liên Xô trước đây và các nước thứ ba.

Ông Nguyễn Hữu Tuyến, tổng giám đốc Liên doanh Việt - Nga Vietsovpetro, cho biết hoạt động của liên doanh không chỉ đem lại lợi ích về kinh tế mà điều quan trọng đó là việc làm trên vùng biển, thềm lục địa của VN để bảo vệ và khẳng định chủ quyền.

Sáng cùng ngày, Thủ tướng đã làm việc với lãnh đạo tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Thủ tướng cho rằng Bà Rịa - Vũng Tàu có lợi thế để đẩy nhanh công nghiệp hóa - hiện đại hóa nên phải chớp lấy thời cơ. Trong đó, cụm cảng nước sâu Cái Mép - Thị Vải là cảng xuất hàng đi thẳng qua Mỹ, châu Âu, nên cả trung ương và địa phương tập trung phát triển nhanh cảng ở đây. Thủ tướng lưu ý cảng nước sâu là tài sản của quốc gia nên việc cấp phép phải hết sức chặt chẽ, đồng thời tỉnh phải làm thật tốt dịch vụ logistics để giảm chi phí, nâng cao năng lực cạnh tranh cho nền kinh tế. Thủ tướng nhận định trong tương lai, với việc sân bay quốc tế Long Thành đi vào hoạt động cùng với cụm cảng của Bà Rịa - Vũng Tàu sẽ tạo lực tăng trưởng mới cho đất nước.
ĐÔNG HÀ
http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/446846/Vietsovpetro-gop-phan-bao-ve-chu-quyen-bien-Dong.html

HQ0909
16-07-2011, 04:49 PM
Đô đốc Mỹ Mike Mullen:
Mỹ, Trung bất đồng quân sự sâu sắc

TT - Trong chuyến thăm Trung Quốc ba ngày, tổng tham mưu trưởng liên quân Mỹ - đô đốc Mike Mullen và các quan chức quân đội Trung Quốc đã cam kết thúc đẩy quan hệ quân sự hai nước. Thế nhưng khi vừa rời Bắc Kinh, đô đốc Mullen khẳng định hai bên vẫn còn quá nhiều khác biệt.


http://images1.tuoitre.vn/tianyon/ImageView.aspx?ThumbnailID=508187


Đằng sau cái bắt tay thân thiện giữa đô đốc Mike Mullen và tướng Trần Bính Đức là sự nghi kỵ sâu sắc
- Ảnh: Reuters



Theo Fox News, tại cuộc họp báo ở Tokyo (Nhật), nơi ông kết thúc chuyến thăm châu Á, đô đốc Mullen cho biết các cuộc đối thoại giữa ông và giới lãnh đạo quân sự Trung Quốc “nhìn chung là tích cực”.

Chuyến thăm của ông Mullen là chuyến thăm đầu tiên của một lãnh đạo quân đội Mỹ đến Trung Quốc trong vòng bốn năm qua. Mục tiêu là thúc đẩy trao đổi, đối thoại nhằm giảm căng thẳng đang gia tăng giữa hai nước về việc Trung Quốc ồ ạt tăng cường sức mạnh quân sự.

Còn một quãng đường dài

Đô đốc Mullen cho biết ông hài lòng về việc trao đổi với tổng tham mưu trưởng quân đội Trung Quốc Trần Bính Đức, nhưng thừa nhận chuyến thăm đã phơi bày những bất đồng sâu sắc giữa hai nước.

“Vẫn còn một quãng đường rất dài - Fox News dẫn lời đô đốc Mullen - Sự khác biệt giữa hai bên là quá lớn”.
Những dấu hiệu của sự bất đồng thể hiện rất rõ. Trong cuộc gặp hôm 11-7, như Tân Hoa xã đưa tin, ông Trần Bính Đức chỉ trích Washington đã đổ quá nhiều tiền vào quân đội dù đang đối mặt với suy thoái kinh tế.

Ông Trần cho rằng Mỹ đã thổi phồng “mối đe dọa Trung Quốc” bởi cho rằng Trung Quốc vẫn thua xa Mỹ xét về sức mạnh quân sự. Ông Trần khẳng định Trung Quốc đầu tư vào quốc phòng vì mục đích tự vệ. Tuy nhiên, đô đốc Mullen đã tỏ rõ sự nghi ngờ khi nhấn mạnh: “Hãy còn quá sớm để nói Trung Quốc sẽ đi đến đâu với sức mạnh quân sự của họ. Họ nói đầu tư quân sự mang mục đích tự vệ. Chúng ta hãy chờ xem sao”.

Theo đô đốc Mullen, các hành động của Bắc Kinh thời gian qua, đặc biệt trên biển Đông, đã gây quan ngại về ý đồ quân sự của Trung Quốc. Không chỉ gây căng thẳng với Việt Nam và Philippines trên biển Đông, Trung Quốc còn xung đột với Nhật và Hàn Quốc về vấn đề lãnh hải.

Ông cho biết Washington lo ngại việc Trung Quốc phát triển công nghệ tên lửa, vệ tinh quân sự và các hoạt động của Bắc Kinh trên mạng Internet. “Mỹ sẽ không đi đâu cả - ông Mullen khẳng định như đã nói với các quan chức Trung Quốc - Chúng tôi đã hoạt động trên biển Đông nhiều thập niên qua và chúng tôi sẽ tiếp tục điều đó”.

Một cuộc đối đầu “lạnh”?

Báo New York Times dẫn lời một số chuyên gia quân sự quốc tế bình luận sự nghi kỵ lẫn nhau giữa Mỹ và Trung Quốc là hoàn toàn có cơ sở. Gần đây, quân đội Trung Quốc công bố sẽ hạ thủy tàu sân bay đầu tiên, cho bay thử máy bay chiến đấu tàng hình đầu tiên và đang đóng thế hệ tàu ngầm mới. Quân đội Trung Quốc thừa nhận đang phát triển loại tên lửa có khả năng bắn tàu địch từ khoảng cách xa gần 2.000km.

Các chuyên gia phân tích Mỹ xác định việc Trung Quốc tăng cường đầu tư quân sự nhằm cạnh tranh với sức mạnh quân sự Mỹ trên Thái Bình Dương, chống lại hạm đội 7 của hải quân Mỹ vốn đã thống trị Thái Bình Dương hơn nửa thế kỷ qua. “Mỹ không muốn có một kẻ thù như kiểu Liên Xô - New York Times dẫn lời chuyên gia Bonnie S.Glaser thuộc Trung tâm Nghiên cứu chiến lược và quốc tế ở Washington - Nhưng Mỹ phản ứng với việc Trung Quốc không minh bạch về ý đồ và mục tiêu của họ”. Nhiều nhà quan sát cho rằng vũ khí của Trung Quốc chỉ nhằm mục đích tấn công các mục tiêu Mỹ.

Trong khi đó, phía quân đội Trung Quốc và giới lãnh đạo Bắc Kinh cho rằng Mỹ muốn cản trở Trung Quốc trên con đường trở thành một siêu cường khi Mỹ đưa phần lớn tàu sân bay từ Đại Tây Dương tới Thái Bình Dương, tăng cường quan hệ quân sự với Singapore và Úc, thúc đẩy hợp tác với Ấn Độ, đối thủ lớn của Trung Quốc ở châu Á, và muốn can thiệp vào xung đột trên biển Đông...

“Lầu Năm Góc và quân đội Trung Quốc đang chuẩn bị cho tình huống xấu nhất” - New York Times dẫn lời chuyên gia Dennis J.Blasko. Một số nhà quan sát Mỹ bi quan cho rằng chiến lược của Mỹ và Trung Quốc ngăn cản cơ hội hợp tác quân sự và ngoại giao thật sự. Một số thậm chí còn dự báo Mỹ và Trung Quốc có thể bị cuốn vào một cuộc chạy đua vũ trang như thời chiến tranh lạnh. Tuy nhiên, Trung Quốc có lợi thế khi đang dư thừa tiền bạc để mua vũ khí, trong khi Mỹ đang gặp rất nhiều khó khăn về tài chính.
HIẾU TRUNG
tuoitre (http://tuoitre.vn/The-gioi/446863/My-Trung-bat-dong-quan-su-sau-sac.html)

scorpion_king84
16-07-2011, 04:58 PM
http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2011-07-14-nhung-cong-dan-ra-doi-o-truong-sa

Những em bé trên đảo đều mang những cái tên nhiều ý nghĩa. Những Chúc Nữ, Ý Vi, Thu Quyền… những đứa trẻ thế hệ 2K (sinh sau năm 2000). Nhưng tên của bé Xuân còn mang thêm nhiều điều đặc biệt: tên hòn đảo nơi em cất tiếng khóc đầu tiên: Trường Sa.

VN S500
16-07-2011, 06:54 PM
http://www.baomoi.com/Home/DoiNoi-DoiNgoai/www.baodatviet.vn/Vietsovpetro-sap-co-gian-khoan-sieu-khung/6634520.epi
(http://www.baomoi.com/Home/DoiNoi-DoiNgoai/www.baodatviet.vn/Vietsovpetro-sap-co-gian-khoan-sieu-khung/6634520.epi)http://www.baomoi.com/Home/ThoiSu/www.vietnamplus.vn/Tau-ca-ngu-dan-Viet-Nam-bi-giu-tren-bien-Brunei/6638412.epi
lên :dancing-banana::dancing-banana::dancing-banana::dancing-banana::dancing-banana::dancing-banana::dancing-banana::dancing-banana::dancing-banana::dancing-banana::dancing-banana::dancing-banana:

HQ0909
16-07-2011, 11:47 PM
http://vitinfo.vn/upload/Anh/Anhtieude/2011/7/16/LA90826_7_9_26.jpg
Tổng thống Philippines, Benigno Aquino III. (Nguồn: AP)

Tổng thống Philippines tuyên bố trong chuyến thăm Bắc Kinh sắp tới, ông sẽ hối thúc Trung Quốc xem xét lại đề nghị của Philippines về việc đưa vấn đề tranh chấp chủ quyền quần đảo Trường Sa giàu tiềm năng dầu mỏ trên Biển Đông ra tòa án của Liên hợp quốc.
Hãng tin AP dẫn lời Tổng thống Philippines, Benigno Aquino III, phát biểu như trên vào ngày 15/7.

Trước đó, Trung Quốc đã bác bỏ đề nghị này của phía Philippines.

Tại cuộc gặp với báo giới, Tổng thống Aquino nói rằng Philippines không trông cậy được vào đâu, ngoại trừ việc nhờ đến Toà án Quốc tế về Luật biển để khẳng định chủ quyền của mình.

Theo các quan chức, chuyến thăm Trung Quốc của Tổng thống Aquino nhiều khả năng diễn ra vào cuối tháng Tám hoặc đầu tháng Chín.

Ngày 11/7, Ngoại trưởng Philippines Albert del Rosario cho biết Manila đã nêu với Trung Quốc ý tưởng giải quyết tranh chấp vùng lãnh hải giàu tài nguyên và khí đốt trên Biển Đông thông qua phân xử của Liên hợp quốc.

Sau khi Trung Quốc bác bỏ điều này, Ngoại trưởng Philippines Rosario ngày 13/7 đã lên tiếng chỉ trích và cho rằng phản ứng kiểu đó sẽ khiến Bắc Kinh không thể chứng minh được chủ quyền của mình trên Biển Đông dựa trên luật pháp đã được quốc tế công nhận.

Cùng ngày, một quan chức ngoại giao cấp cao của Philippines cho biết nước này sẽ kêu gọi các quốc gia láng giềng thuộc Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) có quan điểm kiên định trước "những hành động đe dọa và hung hăng" của Trung Quốc tại khu vực đang tranh chấp trên Biển Đông./.
Theo TTX VN
VIT (http://vitinfo.vn/MMuctin/Quocte/LA90826/default.html)

Sat That
17-07-2011, 09:50 AM
Cột mốc chủ quyền

Tác giả: Cẩm Thúy

Đây là Tổ quốc, là đất đai hương hỏa của ông cha, dù chỉ có đá sỏi gió cát thế này ta cũng phải canh giữ, một tấc không đi, một li không rời, dẫu có phải đổi bằng xương máu...

22 năm qua tại vùng biển của Tổ quốc, những cơn sóng cao từ 13m đến 15m, có sức tàn phá khủng khiếp đã đánh đổ, nhấn chìm 5 nhà giàn, 1 tàu trực. 13 cán bộ chiến sĩ chốt giữ nhà giàn đã anh dũng hy sinh khi tuổi đời còn rất trẻ. Nhiều người phải lênh đênh trôi dạt trên biển hàng chục giờ trong cái nắng cháy da, cái đói, cái rét thấu xương. Thế nhưng, nhà giàn này đổ lại có nhà giàn khác được xây lên, lớp trước ngã xuống lại có lớp sau tiếp bước. Đó là sự hình dung ngắn gọn nhất về những nhà giàn DK1 ở vùng biển thềm lục địa - những cột mốc chủ quyền của Tổ quốc trên Biển Đông.
22 năm qua, với việc dựng lên những nhà giàn DK1 hiên ngang giữa trùng khơi sóng gió, người Việt hôm nay tiếp tục dựng lên những cột mốc chủ quyền mà mọi thế hệ người Việt đã dựng xây và gìn giữ. Lòng yêu nước của người Việt xuyên qua mọi thời gian, chưa bao giờ vơi cạn.
Ở vào thời điểm này, càng thấy ý nghĩa cực kỳ quan trọng của dấu mốc. Ngày 5-7-1989 - ngày Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ký Quyết định dựng nhà giàn. Quyết định đó đã thể hiện tầm nhìn xa trong việc xác lập chủ quyền của Tổ quốc.


http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/assets/images/DankhoanD1_1310714543.jpg




"Tư lệnh đưa mắt nhìn suốt rẻo cát trống trơn, rồi lại nhìn cái lều bạt dã chiến cứ hộc lên trong gió tựa hồ một con ngựa bất kham, đang lồng lộn như muốn rứt tung mấy sợi xích sắt căng ghì xuống đảo mà phóng đi cùng bầy gió hoang dã.
Đẹp, nền nếp. Đúng quân phong quân kỷ. Ở đây mà giữ được như thế này là tốt lắm rồi - Giọng Tư lệnh bỗng bùi ngùi - Tất nhiên là vất vả! Chúng mày rất vất vả! Tao biết! Nhưng khổ nỗi đây lại là Tổ quốc, là đất đai hương hỏa của ông cha, dù chỉ có đá sỏi gió cát thế này ta cũng phải canh giữ, một tấc không đi, một li không rời, dẫu có phải đổi bằng xương máu..."
Đoạn văn trên được trích từ cuốn Đảo Chìm của nhà thơ Trần Đăng Khoa và vị Tư lệnh được nhắc đến trong đó là Tư lệnh Giáp Văn Cương - Tướng chỉ huy Hải quân duy nhất cho đến nay được phong hàm Đô đốc ở Việt Nam và là người mà khi nhắc đến những cột mốc chủ quyền trên Biển Đông không thể không nhắc đến tên ông. Cũng như trong ký ức của rất nhiều người, ông là "vị tướng của Trường Sa", của Nhà giàn.
Nhiều người đã nói đến "tầm nhìn Giáp Văn Cương", "ý chí Giáp Văn Cương" trong việc phòng thủ Trường Sa và khai sinh những nhà giàn DK1 ngày đêm bảo vệ thềm lục địa phía Nam.
Theo đánh giá của Thiếu tướng Lê Kế Lâm (nguyên Tham mưu phó tác chiến Quân chủng Hải quân): "Nếu không có tầm nhìn và sự quyết đoán trong hành động của Đô đốc Giáp Văn Cương, Trường Sa có thể khó khăn hơn bây giờ, không toàn vẹn như bây giờ".
Ở vào thời kỳ ấy, vị Tư lệnh với tầm nhìn của mình đã sớm dự báo: "Trong tương lai gần, vùng biển khu vực Trường Sa không được bình yên và sẽ là chiến trường chính của hải quân Việt Nam".
Và kế hoạch bảo vệ chủ quyền Việt Nam ở Trường Sa trong 2 năm 1986 - 1987 mà ông đề xuất với Bộ Chính trị là nhanh chóng dốc toàn lực, đặc biệt là công binh, ra Trường Sa để tăng cường, củng cố tất cả đảo nổi, đảo chìm mà quân dân VN đang đồn trú và sinh sống bao đời nay, đưa quân ra những đảo chìm thuộc chủ quyền VN nhưng chưa có quân đồn tru, và cùng với đó là các nhà giàn ra đời.
22 năm qua, bao thế hệ cán bộ chiến sĩ đã sống trong những nhà giàn chỉ vài chục đến 100 m2, thiếu thốn đủ bề, gian khổ đủ bề. Không ai quên trận bão số 8 năm 1998, Nhà giàn DK1 cụm Phúc Nguyên bị bão cuốn phăng, 9 chiến sĩ bị cuốn trôi giữa biển, tàu trực chiến chỉ cứu được 6 người, 3 chiến sĩ chìm vào biển cả... Có một nhà văn bảo rằng có một Nghĩa trang ở trong lòng biển, không tượng đài, bia mộ. Rộng dài hàng trăm hải lý, hồn thiêng các anh qui tụ ở chỗ nào?
Trên một vùng thềm lục địa thiêng liêng đã được xác lập chủ quyền của Tổ quốc, đang hiên ngang những cột mốc mang tên Nhà giàn DK1. Và cũng như mọi cột mốc chủ quyền ở khắp các dải biên cương, những người lính vẫn đang trụ bám, trông coi, gìn giữ. Họ - những người lính hải quân quanh năm sống trong những nhà giàn DK1 vài chục m2, xung quanh là trời, là biển, là kẻ thù nhòm ngó, là gió, là bão, là bất kể lúc nào cũng có thể hi sinh... Cho nên, giá mà bớt cho họ những thiếu thốn không đáng có khác như thiếu nước ngọt, thiếu rau xanh thì tốt biết bao nhiêu. (Gần đây nhờ chương trình Chung tay thắp sáng Nhà giàn DK1 do báo Tuổi trẻ khởi xướng nên các nhà giàn không còn cảnh thiếu điện suốt đêm).
Lãng phí trong đầu tư công vẫn tồn tại trong báo cáo mỗi năm, sao không đầu tư cho đời sống người lính ở những nhà giàn để bớt đi một phần thiếu thốn ấy?
Theo Đại Đoàn Kết

Nguồn:http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2011-07-15-cot-moc-chu-quyen

HQ0909
17-07-2011, 11:02 AM
TT - Ngày 15-7, hưởng ứng chương trình “Góp đá xây Trường Sa”, đại diện Ngân hàng Liên Việt và Công ty cổ phần Himlam, ông Trần Văn Tĩnh (phó chủ tịch HĐQT, tổng giám đốc Công ty cổ phần Himlam, thành viên HĐQT Ngân hàng Liên Việt) đã đến báo Tuổi Trẻ để thảo luận cùng phối hợp tổ chức xây dựng một nhà văn hóa trên huyện đảo Trường Sa, Khánh Hòa.



http://images1.tuoitre.vn/tianyon/ImageView.aspx?ThumbnailID=508121



Ông Trần Văn Tĩnh (trái) giới thiệu bản thiết kế nhà văn hóa sẽ được xây dựng trên huyện đảo Trường Sa, tỉnh Khánh Hòa với tổng biên tập Phạm Đức Hải - Ảnh: H. T. Vân



Nhà văn hóa được thiết kế theo dạng đa năng gồm phòng chiếu phim, đọc sách, phòng truyền thống cùng hệ thống phòng nghỉ... với mức kinh phí ban đầu ước tính khoảng 17 tỉ đồng (trích từ quỹ phúc lợi của ngân hàng và công ty).

Dự kiến nhà văn hóa sẽ được khởi công xây dựng vào dịp 2-9.

Bản thân từng là người lính nên ông Trần Văn Tĩnh chia sẻ: “Chính chương trình “Góp đá xây Trường Sa” của báo Tuổi Trẻ là nguồn cảm hứng cho chúng tôi ý tưởng và nhanh chóng hưởng ứng chương trình bằng việc xây dựng nhà văn hóa ở Trường Sa. Đây cũng là việc góp sức xây dựng huyện đảo Trường Sa ngày càng vững mạnh và chúng tôi hi vọng các đơn vị, doanh nghiệp khác sẽ cùng chung tay tham gia chương trình này”.

Ông Phạm Đức Hải, tổng biên tập báo Tuổi Trẻ, đã gửi lời cảm ơn đến toàn thể ban lãnh đạo cũng như nhân viên Ngân hàng Liên Việt và Công ty cổ phần Himlam.
Báo Tuổi Trẻ sẽ cùng Himlam và Liên Việt sớm xúc tiến thủ tục để công trình khởi công đúng tiến độ.
ĐỨC TUYÊN
http://tuoitre.vn/Ban-doc/446780/17-ti-dong-xay-nha-van-hoa o-Truong-Sa.html

VN S500
17-07-2011, 09:48 PM
http://vitinfo.vn/MMuctin/Quocte/LA90833/default.html
http://www.baomoi.com/Khu-Cong-nghiep--Cang-bien-Don-bay-cua-Hai-Ha-Quang-Ninh/148/4624912.epi :)) :)) :))

Sat That
17-07-2011, 11:16 PM
Chủ Nhật, 17/07/2011, 06:30 (GMT+7) Cựu tù Côn Đảo: Chương trình rung động trái tim
* Hội Cựu chiến binh TP Cần Thơ phát động hưởng ứng “Góp đá xây Trường Sa”
TT - Ngày 15-7, bốn cựu tù Côn Đảo là các ông Bùi Văn Toản, Dương Minh Công, Vũ Ngọc Đỉnh, Võ Ái Dân đã đại diện nhóm cựu tù Côn Đảo trại 1-6B đến trụ sở báo Tuổi Trẻ đóng góp 20 triệu đồng cho chương trình “Góp đá xây Trường Sa”.



http://images1.tuoitre.vn/tianyon/ImageView.aspx?ThumbnailID=508246


Các cựu tù Côn Đảo gửi gắm tâm sự của mình với chiến sĩ Trường Sa tại tòa soạn báo Tuổi Trẻ chiều 15-7 - Ảnh: H.T.V.


Ông Dân chia sẻ tuổi trẻ của các ông đã chịu những ngày lao tù khổ ải vì đấu tranh cho độc lập đất nước nên luôn đau đáu nghĩ về Tổ quốc. Các ông cảm thấy lo lắng, bức xúc trước tình hình biển Đông gần đây. Vì vậy khi biết báo Tuổi Trẻ có chương trình “Góp đá xây Trường Sa”, những người trong nhóm từ khắp nơi gọi điện về cho ban liên lạc tại TP.HCM bày tỏ mong muốn góp chút lòng cho Trường Sa thân yêu.
Trong vòng một tháng, điện thoại của ban liên lạc liên tục nóng vì nhận các cuộc gọi từ Quảng Trị đến Cà Mau của anh em cựu tù Côn Đảo. “Muốn góp chút công sức cho Tổ quốc nhưng sức già chẳng biết làm gì hơn, chúng tôi chỉ biết kêu gọi anh em trong nhóm góp chút tiền nho nhỏ đóng góp cho đất nước” - ông Bùi Văn Toản tâm sự.
“Góp đá xây Trường Sa là chương trình làm rung động trái tim của anh em chúng tôi. Tuổi Trẻ cố gắng có những chương trình tiên phong thế này nữa nhé”, trước khi ra về ông Võ Ái Dân gửi gắm lòng mình.
Còn tại Cần Thơ, những cựu chiến binh ở đây cũng bắt đầu kêu gọi thực hiện chương trình “Góp đá xây Trường Sa”. Ông Trần Thành Nghiệp, chủ tịch Hội Cựu chiến binh TP Cần Thơ, cho biết ban thường vụ hội vừa phát động trong toàn thể cán bộ, hội viên hưởng ứng chương trình này.
Ông nói: “Với tinh thần cựu chiến binh, chúng tôi có những người từng chiến đấu trên chiến trường kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ bảo vệ Tổ quốc. Nay tuy không còn trực tiếp chiến đấu nhưng vẫn muốn góp chút sức lực của mình giúp các đồng chí, chiến sĩ bộ đội hải quân đang ngày đêm bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc”.
Đợt phát động của các cấp hội cựu chiến binh với mức đóng góp ít nhất là 10.000 đồng/ hội viên và không hạn chế mức đóng cao nhất.
Hiện Hội Cựu chiến binh TP Cần Thơ có hơn 12.000 hội viên (khoảng 1.000 hội viên khó khăn được miễn đóng góp). Việc đóng góp đang bắt đầu và sẽ tổng kết để trao cho báo Tuổi Trẻ vào dịp kỷ niệm Quốc khánh 2-9 năm nay.



Pjico Cần Thơ góp 20 triệu đồng
Chiều 15-7, chi nhánh Bảo hiểm Pjico tại TP Cần Thơ đã trao cho đại diện báo Tuổi Trẻ số tiền 20 triệu đồng ủng hộ chương trình “Góp đá xây Trường Sa”. Đây là số tiền đóng góp hai ngày lương của mỗi cán bộ, công nhân viên Pjico tại Cần Thơ. Ngoài ra các VĐV đoạt giải thưởng của giải quần vợt chào mừng kỷ niệm 15 năm thành lập Pjico cũng quyết định dành số tiền thưởng chuyển cho chương trình “Góp đá xây Trường Sa”.
Ông Hoàng Xuân Quý, giám đốc chi nhánh Pjico tại Cần Thơ, nói: “Đây là một chương trình rất thiết thực, đã tạo được sự đồng cảm của cộng đồng về biển đảo thân yêu và khơi dậy lòng tự hào dân tộc”.



N.NGA - T.TRANG - C.QUỐC - T.LŨY
Nguồn www.tuoitre.com.vn

HQ0909
20-07-2011, 09:50 AM
Hai nghị sĩ kỳ cựu của Mỹ cảnh báo Bắc Kinh rằng những vụ xung đột với các nước láng giềng ở Biển Đông có thể làm tổn hại lợi ích của Mỹ tại khu vực. Nhận xét này chắc chắn không làm Bắc Kinh hài lòng.

“Chúng tôi lo ngại rằng một loạt vụ việc trên biển trong những tháng qua đã khiến căng thẳng trong khu vực leo thang”, John Kerry thuộc đảng Dân chủ - Chủ tịch ủy ban đối ngoại Thượng viện Mỹ cùng John McCain - cựu ứng viên tổng thống đảng Cộng hòa, tuyên bố. “Nếu không có biện pháp thích hợp nào được thực hiện để xoa dịu tình hình, những vụ việc tiếp theo có thể còn nghiêm trọng hơn nữa và làm tổn hại tới lợi ích quốc gia sống còn của Mỹ”.

Hai nghị sĩ nói trên đã đưa ra lời lẽ trên trong thư gửi cho ông Đới Bỉnh Quốc - quan chức cấp cao về đối ngoại của Đảng Cộng sản Trung Quốc, trước khi cuộc họp giữa các ngoại trưởng ASEAN cùng các nước đối tác diễn ra trong tuần này, tờ Financial Times cho hay.

Trung Quốc có thể coi tuyên bố này như một đòn khiêu khích bởi nó phản ánh lại nhận xét của Ngoại trưởng Mỹ Hilary Clinton vào năm ngoái. Phát biểu tại Diễn đàn khu vực ASEAN ở Hà Nội tháng 7 năm ngoái, Hilary Clinton đã khiến Bắc Kinh tức giận khi nói rằng Mỹ “có lợi ích quốc gia trong việc đảm bảo tự do hàng hải ở Biển Đông”.

Bà Clinton cũng sẽ có một bài phát biểu tại diễn đàn này ở Bali, Indonesia, vào cuối tuần, khi mà căng thẳng ở biển Đông đang tăng cao so với năm ngoái.

Trong những tuần gần đây, Trung Quốc đã nhiều lần yêu cầu Mỹ không can dự vào các tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông, sau khi các nghị sĩ Mỹ nhiều lần ra nghị quyết về vấn đề này. Tại hội nghị tham vấn an ninh Mỹ - Trung tháng trước, thứ trưởng ngoại giao Trung Quốc Thôi Thiên Khải thậm chí còn cảnh báo rằng "một số nước đang đùa với lửa, và (tôi) hy vọng lửa đó không cuốn vào nước Mỹ".

Biển Đông chứa những tuyến đường biển quan trọng cho hoạt động nhập khẩu dầu ở Đông Bắc Á và các giao dịch khác với châu Âu, Trung Đông, châu Phi, Ấn Độ và Đông Nam Á. Trung Quốc, Việt Nam, Philippines, Malaysia và Brunei đều tuyên bố chủ quyền với một số vùng trong khu vực, nhưng Trung Quốc đòi quyền sở hữu rộng lớn nhất.

Cảnh báo của hai nghị sĩ Mỹ được đưa ra sau khi chính quyền Obama đã giảm bớt chỉ trích đối với hành động gây hấn của Trung Quốc tại biển Đông.

Trong đối thoại Shangri-La tại Singapore vào tháng 6, Robert Gates - Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ lúc bấy giờ - đã khiến một số quan chức các nước Đông Nam Á thất vọng khi nói với Trung Quốc bằng một giọng khá ôn hòa, một dấu hiệu cho thấy không muốn làm tổn hại tới quan hệ quân sự giữa hai nước. Tuy nhiên, ông Gates vẫn cam kết với các đồng minh trong khu vực rằng Washington sẽ duy trì “sự hiện diện quân sự mạnh mẽ trong khu vực”.

Trong một diễn biến khác có thể làm gia tăng căng thẳng ở Biển Đông, ngày mai 5 nghị sĩ Philippines có kế hoạch đến đảo Thị Tứ thuộc quần đảo Trường Sa. Hòn đảo này đã được Việt Nam khẳng định chủ quyền từ lâu. Trung Quốc cũng đòi chủ quyền với đảo Thị Tứ, và vì vậy phát ngôn viên ngoại giao Trung Quốc hôm nay đã lên tiếng phản đối kế hoạch đi ra đảo của các nghị sĩ Philippines.
Hôm qua, giới chức Đài Loan được báo chí dẫn lời cho biết một đoàn học giả của Đài Loan đã tới đảo Ba Bình thuộc quần đảo Trường Sa. Ba Bình, đảo lớn nhất trong số các đảo ở Trường Sa, thuộc chủ quyền của Việt Nam.
Song Minh
VNE (http://vnexpress.net/gl/the-gioi/2011/07/nghi-si-my-canh-bao-trung-quoc-ve-bien-dong/)

HQ0909
20-07-2011, 09:59 AM
Có thể kịch bản ARF 18 tại Bali sẽ giống như tại ARF - Hà Nội về sự đồng thanh tương ứng của các quốc gia, nhưng dư luận trông đợi, kịch bản về sự phản ứng của Trung Quốc sẽ khác.

"Đồng thanh tương ứng"

Một năm trước đây, nhà báo Greg Torode của tờ South China Morning Post, Hong Kong từng nhận xét trong bài viết về ARF 17, Trung Quốc được xem là tác nhân gây chia rẽ ASEAN, khi từng thành viên trong Hiệp hội này đều đặt quan hệ của mình với Trung Quốc lên trên sự thống nhất trong ASEAN.Nhưng hiện nay, có vẻ như, với chủ trương bẻ đũa từng chiếc và những hành động gây hấn liên tục trên Biển Đông, thì chính Trung Quốc lại là yếu tố buộc ASEAN đoàn kết, đi đến một tiếng nói chung và thúc đẩy một giải pháp mang tính thực chất cho câu chuyện Biển Đông.
http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/assets/images/DuongKhietTri-LAD1_1311065383.jpg
ARF 17 tại Hà Nội. Ảnh Lê Anh Dũng

Nếu trước thềm hội nghị ARF 17, trong cuộc gặp thường niên giữa các bộ trưởng ngoại giao ASEAN với Ngoại trưởng Trung Quốc Dương Khiết Trì, chỉ Philippines nêu vấn đề Biển Đông, thì lúc này, trước ARF 18, dư luận thế giới đã sẵn sàng cho một loạt những động thái ngoại giao dồn dập xung quanh tranh chấp Biển Đông.

Mỹ, Nhật Bản, Australia và nhiều nước thành viên ASEAN dự kiến sẽ nêu vấn đề Biển Đông trong cuộc họp chính của ARF, giống như điều đã xảy ra tại Hà Nội tháng 7 năm ngoái.Đưa ra quan điểm thống nhất trong cách tiếp cận giải quyết hòa bình vấn đề Biển Đông, dựa trên luật pháp quốc tế, nhất là Công ước Luật Biển và DOC, giới quan sát nhìn thấy những tín hiệu về sự đồng lòng, quyết tâm và tích cực của ASEAN, để chứng tỏ mình "không chỉ giỏi viết nghị quyết" và "có thể giải quyết vấn đề của mình".Và hơn ai hết, ASEAN hiểu rõ thế khó của mình. Đối mặt với những vấn đề hóc búa, có nguy cơ gây chia rẽ cao trong nội bộ ASEAN và Biển Đông, ASEAN đang ở vào thời điểm cam go để chứng minh sự hiệu quả của mình. Với vấn đề Biển Đông, vị trí chiếc ghế Chủ tịch ASEAN những năm tiếp theo cũng là một thử thách, khi nước chủ nhà hoặc vốn ít thể hiện vai trò lãnh đạo khu vực, hoặc chịu sức ép quá lớn của các vấn đề nội bộ, hoặc tranh chấp song phương nội khối. Nếu như ASEAN và Trung Quốc không đạt được một giải pháp cụ thể, hiện hữu trong năm 2011 này, hay chí ít, là một thỏa thuận khung, để đi đến kí kết chính thức vào năm 2012, khi kỉ niệm 10 năm Tuyên bố về ứng xử giữa các bên trên Biển Đông DOC, không ai dám chắc, điều gì sẽ chờ đợi khu vực này trong những năm tới."Lần này, những gì ASEAN đang cố gắng làm để thực thi DOC là thực chất hơn bao giờ hết, khi mà khu vực ngày càng thiếu ổn định và bị chia rẽ. Chính điều này khiến các quốc gia ASEAN và Trung Quốc thêm quyết tâm tìm kiếm tiến bộ tại các hội nghị đang diễn ra", Ngoại trưởng nước chủ nhà Indonesia, ông Marty Natalegawa cho hay.Trong diễn văn khai mạc Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN44 hôm qua, Tổng thống nước chủ tịch ASEAN năm nay, Susilo Bambang Yudhoyono đã khẳng định quyết tâm thúc đẩy tiến bộ trong giải quyết tranh chấp Biển Đông.

"Chúng ta phải phát đi thông điệp mạnh mẽ đến thế giới rằng tương lai của Biển Đông là có thể dự đoán, có thể kiểm soát và là một tương lai lạc quan", ông Yudhoyono tuyên bố.

Phản ứng của Trung Quốc liệu có khác?

Quyết tâm là thế, nhưng thỏa thuận không thể đạt được chỉ bằng ý chí chính trị của một phía. ASEAN chìa tay hợp tác, vấn đề còn lại là sự đáp lại của nước lớn đang lên Trung Quốc.ASEAN và thế giới không quên một thực tế là sau 9 năm tồn tại, DOC vẫn chưa có được hệ thống các hướng dẫn thực hiện để có thể giải quyết hữu hiệu các tranh chấp Biển Đông. Mà lí do của nó đã được Giám đốc Ban an ninh chính trị thuộc ban thư ký ASEAN Termsak Chalermpalanupap nêu ra tại Hội thảo quốc tế về Biển Đông tại Mỹ, rằng20 lần ASEAN đã đưa ra dự thảo để thúc đẩy thực hiện DOC và xây dựng COC, thì cả 20 lần, Trung Quốc đều bác bỏ. Văn bản hướng dẫn thực thi DOC mà ASEAN sẽ trao cho Trung Quốc nhân ARF 18 lần này đã là bản dự thảo thứ 21 mà ASEAN soạn ra.

http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/assets/images/DuongKhietTri-LAD_1311065377.jpg
Ngoại trưởng Dương Khiết Trì tại ARF 17, Hà Nội. Ảnh Lê Anh Dũng

Trước thềm ARF 18 này, Ngoại trưởng nước chủ nhà Indonesia, ông Marty Natalegawa đã phải có thông điệp trấn an, rằng ASEAN sẽ tiếp cận vấn đề Biển Đông "theo hướng tích cực, thay vì chăm chăm tìm ra ai có lỗi"."Indonesia muốn biến những vấn đề này thành cơ hội, bằng cách thay đổi phương pháp lập luận và tư duy, để đại dương trở thành yếu tố kết dính thay vì chia rẽ các quốc gia."Thực ra, chuyện ai có lỗi trong tranh chấp Biển Đông đã là điều không còn phải bàn cãi. Ngay cả vị học giả vốn có cách nhìn khách quan, không thiên kiến về Biển Đông, TS Stein Tonneson cũng phải thừa nhận thực tế: "Trong vòng 2 năm qua, Trung Quốc đã có thái độ hiếu chiến hơn với các nước láng giềng. Tôi buộc lòng phải quy trách nhiệm cho Bắc Kinh... Chính quyền Trung Quốc nên xét kỹ lại chính sách sai lầm của mình, và cải thiện".

Nhưng dù sao, việc không chỉ mặt đặt tên người có lỗi sẽ giúp giữ thể diện phần nào cho nước lớn. Mặc bộ quần áo đẹp, người ta trông chờ sẽ chứng kiến hành động đẹp, theo nghĩa trách nhiệm và hợp tác từ nước lớn.Và chắc chắn, dù các động thái ngoại giao có tới tấp cỡ nào tại ARF 18, cũng không khiến ai đó bất ngờ đến mức tức giận để rồi có hành động phi ngoại giao như tại ARF 17.Có thể kịch bản ARF 18 tại Bali sẽ giống như tại ARF - Hà Nội về sự đồng thanh tương ứng của các quốc gia, nhưng dư luận trông đợi, kịch bản về sự phản ứng của Trung Quốc sẽ khác. Và một giải pháp thực chất cho tranh chấp Biển Đông sẽ được đưa ra, tiếp nối những nỗ lực minh bạch hóa vấn đề mà ARF 17 đã khởi đầu.
Hoàng Phương Loan
VNW (http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2011-07-19-kich-ban-bien-dong-tai-arf-18)

HQ0909
20-07-2011, 11:17 AM
TT - Dự kiến chương trình kỳ họp thứ nhất, Quốc hội (QH) khóa XIII (sẽ khai mạc ngày 21-7) đã được Ủy ban Thường vụ QH chốt xong.

Theo đó, Chính phủ sẽ gửi báo cáo về công tác bảo vệ chủ quyền, an ninh, trật tự vùng biển đảo, nhất là những vấn đề liên quan đến tình hình biển Đông, để đại biểu tự nghiên cứu, không đưa ra thảo luận tại hội trường. Gửi báo cáo cho từng đại biểu QH là đúng, đáp ứng quyền yêu cầu cung cấp thông tin của đại biểu QH, nhưng chưa đủ. QH cần đưa vấn đề biển Đông ra thảo luận tại phiên họp toàn thể.

Theo hiến pháp và pháp luật, Quốc hội làm việc theo chế độ hội nghị và quyết định theo đa số. Mọi ý kiến, quan điểm, quyết định quan trọng của Quốc hội đều được diễn ra tại các phiên họp toàn thể của Quốc hội. Dĩ nhiên, cá nhân ĐBQH có quyền yêu cầu cung cấp thông tin và các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác phải đáp ứng yêu cầu.

Cử tri, những người đã bầu ra ĐBQH, có quyền biết đại biểu của mình làm gì, nói gì, bảo vệ quyền lợi của cử tri và của quốc gia như thế nào. Nếu chỉ gửi báo cáo cho ĐBQH, có thể cử tri cũng tin tưởng tất cả các ĐBQH sẽ “tự nghiên cứu” một cách nghiêm túc.

Nhưng cử tri sẽ không biết được điều quan trọng nhất của ĐBQH là ứng xử ra sao, giải quyết các vấn đề của đất nước như thế nào. ĐBQH không phải là nhà nghiên cứu về biển Đông, mà là người được cử tri gửi gắm, kỳ vọng lên tiếng, quyết định về những vấn đề liên quan đến biển Đông.

Nếu chỉ gửi báo cáo đến từng ĐBQH tự nghiên cứu mà không thảo luận tại hội trường, điều đó trái với nguyên tắc hoạt động công khai, minh bạch của Quốc hội đã được quy định trong Luật tổ chức Quốc hội. Nguyên tắc công khai, minh bạch đòi hỏi Chính phủ phải chịu trách nhiệm giải trình đầy đủ, rõ ràng về các vấn đề đưa ra bàn, quyết định ở Quốc hội. Trong khi đó, nếu chỉ gửi báo cáo cho ĐBQH, vì không có trao đi đổi lại tại phiên họp toàn thể, Quốc hội sẽ không có cơ hội yêu cầu Chính phủ giải trình rõ hơn những thông tin mà cử tri và ĐBQH quan tâm về biển Đông.

Nếu đưa ra thảo luận, cử tri tin chắc rằng các ĐBQH có thừa cách thức để lên tiếng mà không ảnh hưởng đến đối ngoại, an ninh - quốc phòng. Hơn nữa, trừ những thông tin liên quan đến bí mật quốc gia, mọi vấn đề khác nếu được lên tiếng tại diễn đàn Quốc hội sẽ chỉ có lợi hơn cho đối nội và đối ngoại.

Về đối nội, Chính phủ có cơ hội giải thích, đồng thời thông qua ĐBQH, những nỗi niềm, nguyện vọng của nhân dân được phản ảnh tại Quốc hội.

Về đối ngoại, đã từng có các tuyên bố của Nhà nước, của Chính phủ, Bộ Ngoại giao, một số đoàn thể về biển Đông. Nay có thêm những tiếng nói tại Quốc hội sẽ san sẻ gánh nặng cho Chính phủ, càng tăng thêm sức nặng ngoại giao, vì đó là những tiếng nói chính danh, chính đáng nhất của những người đã được toàn thể nhân dân ủy quyền.

Ngay cả khi biển Đông không có trong chương trình thảo luận của kỳ họp, cá nhân các ĐBQH có thể kết hợp trong phiên thảo luận về tình hình kinh tế - xã hội để lên tiếng về biển Đông, ví dụ như nêu vấn đề bảo vệ ngư dân, xới lại chương trình đánh bắt cá xa bờ...

Hơn nữa, dự kiến chương trình kỳ họp sẽ được đưa ra để toàn thể Quốc hội thảo luận và quyết định tại phiên họp trù bị. Các ĐBQH vẫn có cơ hội đề xuất kiến nghị thảo luận về tình hình biển Đông, vấn đề hệ trọng hàng đầu đối với quốc gia, dân tộc.
NGUYÊN LÂM
http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/Thoi-su-suy-nghi/447373/Quoc-hoi-can-thao-luan-ve-bien-dong.html

HQ0909
20-07-2011, 11:22 AM
TT - Việt Nam đề nghị tất cả các nước phải triệt để tôn trọng các nguyên tắc của luật pháp quốc tế, nhất là Công ước Liên Hiệp Quốc về luật biển (UNCLOS) và Tuyên bố về ứng xử của các bên ở biển Đông (DOC).




http://images1.tuoitre.vn/tianyon/ImageView.aspx?ThumbnailID=508856




Bộ trưởng ngoại giao các nước ASEAN nhóm họp ngày 19-7-2011 tại Bali, Indonesia - Ảnh: Reuters





Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Việt Nam Phạm Gia Khiêm khẳng định như vậy khi phát biểu tại Hội nghị ngoại trưởng các nước Đông Nam Á lần thứ 44 (AMM 44) tổ chức ở Bali, Indonesia ngày 19-7.
Ông Khiêm nhấn mạnh hòa bình, ổn định, an ninh và an toàn hàng hải trên biển Đông là quan tâm, lợi ích chung và nguyện vọng thiết tha của khu vực và tất cả các nước. Việt Nam hoan nghênh các nỗ lực của ASEAN, tích cực trao đổi, hướng tới hoàn tất dự thảo hướng dẫn thực thi Tuyên bố về ứng xử của các bên trên biển Đông (DOC).

Trả lời câu hỏi của Tuổi Trẻ về diễn biến mới này cũng như những lo ngại là ASEAN không đủ sức mạnh và sự đoàn kết để giúp các thành viên giải quyết xung đột với nhau, hoặc giữa thành viên với đối tác của ASEAN là Trung Quốc, Ngoại trưởng Indonesia - nước đang nắm quyền chủ tịch ASEAN - tiến sĩ Marty Natalegawa nói: “Nếu thật sự điều đó diễn ra, đó cũng chưa phải là cuối con đường. Còn về đề nghị đưa bên thứ ba phân xử có thể là một sáng kiến bổ sung, tăng cường sức mạnh giúp giải quyết nhanh hơn vấn đề. Tuy nhiên, để thực hiện được việc này, tất cả các bên, hoặc hai bên liên quan phải cùng đồng ý với đề xuất đó. Thế nhưng, tôi chưa chắc chắn cả Philippines lẫn Trung Quốc hoặc các bên liên quan đều thống nhất cách làm này”.

Cũng theo thông tin từ hội nghị, các quan chức cao cấp của ASEAN (SOM) sẽ khởi động tham vấn trong ASEAN về xây dựng Bộ quy tắc ứng xử trên biển Đông (COC) và báo cáo kết quả tại cuộc họp cấp cao ASEAN 19 vào cuối năm 2011. SOM cũng đã có được dự thảo mới về hướng dẫn thực thi DOC và hi vọng ASEAN - Trung Quốc có thể đạt thỏa thuận khi hai bên gặp nhau ngày 20-7-2011. COC được xem là có tính ràng buộc pháp lý đối với các bên liên quan về vấn đề biển Đông, khác với DOC. Bên lề các hội nghị ngày 19-7, Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Việt Nam Phạm Gia Khiêm đã tiếp xúc song phương với Ngoại trưởng Philippines Alberto del Rosario.

Trước đó, khai mạc AMM 44, Tổng thống Indonesia Susilo Bambang Yudhoyono đã lên tiếng thúc giục ASEAN cần đảm bảo một tương lai tích cực qua việc giải quyết vấn đề tranh chấp và căng thẳng trên biển Đông hiện nay.
Tổng thống Yudhoyono đã nhấn mạnh về sự cần thiết tạo ra các tiến bộ trong xử lý các vấn đề trên biển Đông. Ông tỏ ra không hài lòng với tiến độ mà ASEAN và Trung Quốc đang thực hiện liên quan tới các hướng dẫn thực thi DOC.

“Mọi việc không nhất thiết phải chậm chạp như vậy - ông nhận xét - Tuyên bố đầu tiên về biển Đông của ASEAN ra đời cách đây đã lâu, từ năm 1992. Phải mất 10 năm sau đó ASEAN và Trung Quốc mới có thể đạt được thỏa thuận DOC. Nhưng chín năm sau đó chúng ta vẫn chưa thể hoàn tất các hướng dẫn thực thi DOC”.

Tổng thống Yudhoyono đã thúc giục các bên “đi nốt quãng đường cuối cùng còn lại” để cho ra một thỏa thuận nhằm xây dựng lòng tin với nhau. “Chúng ta cần phải đưa ra thông điệp mạnh mẽ cho thế giới thấy rằng tương lai của biển Đông là có thể dự báo được, có thể quản lý được và sẽ có giải pháp tích cực”.
Ông cũng kêu gọi các bên nhanh chóng hoàn tất hướng dẫn thực thi DOC để đi tới bước tiếp theo, tức là thỏa thuận các quy tắc nằm trong COC.

Chiều 19-7, tiếp xúc với giới báo chí, Ngoại trưởng Philippines Albert del Rosario cho biết sau khi thông báo chi tiết với các bộ trưởng ASEAN về đề xuất của Philippines về việc định nghĩa vùng biển nào ở biển Đông đang bị tranh chấp, nước ông buộc phải đưa vấn đề tranh chấp trên biển Đông với Trung Quốc ra Tòa án quốc tế về luật biển (ITLOS) phân xử. Ông nhấn mạnh Philippines tìm kiếm sự phân xử của bên thứ ba theo Công ước Liên Hiệp Quốc về luật biển (UNCLOS).

“Chúng tôi cho rằng phải thông qua các quy định thực thi DOC, nhưng cũng sẽ là thiếu thực tế nếu chỉ thông qua các quy định đó mà không có những khuôn khổ đi kèm có thể đối phó được với những tranh chấp đang diễn ra ở một số khu vực hiện nay” - Ngoại trưởng Albert del Rosario nói.

Ông cho biết AMM đã tranh luận rất nhiều về vấn đề này sau khi xuất hiện những yếu tố khiến cục diện thay đổi. “Đó là việc Trung Quốc đưa ra đòi hỏi về đường chín đoạn. Yếu tố này không có tại thời điểm năm 2002 khi ASEAN và Trung Quốc ký kết DOC mà chỉ xuất hiện năm 2009. Do vậy, yếu tố này cần phải được xem xét” - ông nhấn mạnh.

Ông thúc giục ASEAN đoàn kết và đồng lòng yêu cầu Trung Quốc làm rõ định nghĩa và những cơ sở khi đưa ra đòi hỏi về đường chín đoạn. Singapore đã yêu cầu Trung Quốc định nghĩa và làm rõ yêu sách này, Philippines và Indonesia đã đưa vấn đề này lên Liên Hiệp Quốc. Ông cũng cho biết một đoàn chuyên gia luật từ các quốc gia có tuyên bố chủ quyền trên biển Đông sẽ đến Philippines vào tháng 9-2011 để đánh giá các tiêu chí trước khi đệ trình vấn đề lên Liên Hiệp Quốc vào tháng 11-2011.

Ông Del Rosario nói: “Chúng tôi phải tìm các cơ chế giải quyết tranh chấp khác mà tự chúng tôi vẫn có thể đưa vấn đề ra được”. Công ước của Liên Hiệp Quốc cung cấp cho một bên trong tranh chấp có thể đơn phương tìm kiếm hai trọng tài cũng như sự hòa giải bắt buộc. Philippines cũng đề xuất các khu vực không tranh chấp có thể trở thành “khu vực hòa bình, tự do, hợp tác và hữu nghị”.

Đồng tình với ý kiến của ngoại trưởng Philippines, phóng viên Estrella Torres (báo Business Mirror, Philippines) bày tỏ: “Là người dân Philippines, tôi tin chính phủ đã có quyết định đúng khi đưa vấn đề ra tòa án quốc tế. Dư luận Philippines cho rằng Trung Quốc không nên đưa quân và các tàu hải giám ra các vùng đang tranh chấp trên biển Đông, vì như vậy là vi phạm DOC mà nước này đã ký với ASEAN. Tôi ủng hộ quyết định của chính phủ thành lập một cơ chế dựa trên các quy tắc của ASEAN phù hợp với luật quốc tế”.
KHỔNG LOAN (từ Bali, Indonesia)





Đài Loan: mối đe dọa từ Trung Quốc hiện lớn hơn bao giờ hếtBáo cáo hằng năm của cơ quan quân sự Đài Loan ngày 19-7 nhận định mối đe dọa quân sự của Trung Quốc đại lục đối với Đài Loan hiện nay lớn hơn bao giờ hết, bất chấp việc Đài Bắc trong suốt ba năm qua đã cố gắng tìm cách hòa dịu với Bắc Kinh, AFP ngày 19-7 cho biết.Báo cáo có đoạn viết: “Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc (PLA) vẫn tiếp tục triển khai nhiều vũ khí mới tại khu vực Quảng Đông và Phúc Kiến”.[...] “Việc nâng cao khả năng chiến đấu tầm xa (ám chỉ rõ ràng tới hơn 1.000 tên lửa đạn đạo được triển khai dọc bờ biển) cho thấy Trung Quốc vẫn chưa thay đổi ý định đe dọa và xâm chiếm quân sự đối với Đài Loan”.MỸ LOAN


http://tuoitre.vn/The-gioi/447363/An-ninh-an-toan-hang-hai-cho-bien-Dong.html

HQ0909
20-07-2011, 03:19 PM
Ngoại trưởng Indonesia nói Việt Nam có thể nắm vai trò điều phối quan trọng trong tiến trình đi đến những giải pháp hòa bình trên biển Đông.


Phát biểu trên được Ngoại trưởng Marty Natalegawa đưa ra trong buổi họp báo ngày 19.7 tại Bali, Indonesia, nơi đang diễn ra nhiều hội nghị quan trọng của ASEAN. Ông Natalegawa cho hay Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN lần thứ 44 (AMM 44), diễn ra trọn ngày 19.7 tại Bali, đã thảo luận thẳng thắn nhiều vấn đề. Trong đó, tranh chấp ở biển Đông được bàn bạc kỹ để chuẩn bị cho cuộc họp giữa các quan chức cấp cao ASEAN và Trung Quốc vào hôm nay. Nội dung chính của cuộc họp là về hướng dẫn thực thi Tuyên bố của các bên về ứng xử ở biển Đông (DOC), được ký kết năm 2002.




http://www.thanhnien.com.vn/Picture20117/MinhNguyet/Thang7/BoNGiao2.jpg
Các bộ trưởng ngoại giao ASEAN quyết tâm hoàn thiện bản hướng dẫn về DOC - Ảnh: Reuters





Tổng thống nước chủ nhà Susilo Bambang Yudhoyono trong phát biểu khai mạc AMM 44 nhấn mạnh: “Tuyên bố đầu tiên của ASEAN về biển Đông được đưa ra cách đây rất lâu, năm 1992. Mất thêm 10 năm nữa ASEAN và Trung Quốc mới đạt được thỏa thuận về DOC. Nhưng mãi 9 năm sau, chúng ta vẫn chưa hoàn thiện được một bản hướng dẫn thực thi tuyên bố này”. Và ông kêu gọi: “Tôi đề nghị các bộ trưởng ngoại giao nỗ lực hơn nữa để hoàn thiện bước cuối cùng đối với văn bản quan trọng này”.

Tuyên bố đầu tiên của ASEAN về biển Đông được đưa ra cách đây rất lâu, năm 1992. Mất thêm 10 năm nữa ASEAN và Trung Quốc mới đạt được thỏa thuận về DOC. Nhưng mãi 9 năm sau, chúng ta vẫn chưa hoàn thiện được một bản hướng dẫn thực thi tuyên bố này
Tổng thống Indonesia Susilo Bambang Yudhoyono

Tuyên bố chung của AMM 44 nói hội nghị quan ngại sâu sắc về các diễn biến gần đây trên biển Đông và nhấn mạnh phải cổ vũ cho một môi trường hòa bình, hợp tác và hữu nghị, trong đó đối thoại một cách xây dựng giữa ASEAN và Trung Quốc là đặc biệt quan trọng. Tuyên bố tái khẳng định tầm quan trọng của DOC, gọi đó là “văn bản cột mốc” trong quan hệ giữa ASEAN với Trung Quốc. Trả lời câu hỏi của phóng viên Thanh Niên về tầm quan trọng của bản hướng dẫn thực hiện DOC và tiến trình hình thành Bộ quy tắc ứng xử ở biển Đông (COC), vốn có tính ràng buộc pháp lý hơn, Ngoại trưởng Natalegawa khẳng định bản hướng dẫn là một văn bản quan trọng và “có đời sống riêng của nó”. Ông giải thích: “Nếu nhìn lại DOC và nhận diện tiến trình đi đến COC thì không có cái gọi là bản hướng dẫn ở giữa. Tuy nhiên, qua thời gian, chúng tôi thấy cần có một bản hướng dẫn để thực thi DOC trước đã. Bản hướng dẫn quan trọng không nhất thiết bởi nội dung của nó mà ở chỗ nó phản ánh khả năng ASEAN và Trung Quốc có thể đứng cùng nhau để tìm giải pháp hòa bình cho cuộc tranh chấp, để khẳng định việc tránh dùng vũ lực và thực thi những cam kết của mỗi bên đã thể hiện trong DOC”. Ông Natalegawa khẳng định hoàn thiện được bản hướng dẫn là một bước tiến lớn và ASEAN đang có những tiến bộ trong vấn đề biển Đông.

Tuy nhiên, phải mất bao lâu để tiến lên COC “là điều khó tiên liệu” dù “ASEAN đã bắt đầu bàn chuyện này kể cả trước khi DOC hoàn thiện”, Ngoại trưởng Natalegawa nói. Ông cho rằng đó là một tiến trình liên tục, phụ thuộc vào nỗ lực của các bên, trong đó “dĩ nhiên Việt Nam là một điều phối viên quan trọng của ASEAN trong vấn đề này”.

Việt Nam có thể nắm vai trò điều phối quan trọng trong tiến trình đi đến những giải pháp hòa bình trên biển Đông
Ngoại trưởng Indonesia Marty Natalegawa

Trong bối cảnh căng thẳng quanh biển Đông chưa có dấu hiệu thuyên giảm với những hành động đơn phương từ Trung Quốc, một phóng viên hỏi ông Natalegawa về khả năng các nước ASEAN có tuyên bố chủ quyền ở biển Đông (Việt Nam, Philippines, Malaysia và Brunei) liên kết đưa ra một tuyên bố chủ quyền chung, đối lại với Trung Quốc. Trả lời câu hỏi này, ông Natalegawa nói ông có nghe về đề xuất trên. Ông gọi đó là “cách tiếp cận phân vùng” trên nguyên tắc hòa bình, tự do và vận động. Theo đó, những bãi chìm nổi, những vùng chồng lấn hiện hành có thể được “bản đồ hóa” thành những vùng chung và cùng tiến hành khai thác. Tuy nhiên, điều đó tùy thuộc vào các nước có liên quan trực tiếp định đoạt.



Phát biểu tại AMM 44, Phó thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Gia Khiêm khẳng định hòa bình, ổn định, an ninh và an toàn hàng hải trên biển Đông là quan tâm, lợi ích chung và nguyện vọng của khu vực cũng như tất cả các nước. Các bên phải triệt để tôn trọng các nguyên tắc của luật pháp quốc tế, nhất là Công ước LHQ về Luật Biển và DOC. Việt Nam hoan nghênh nỗ lực của ASEAN tích cực trao đổi, hướng tới hoàn tất dự thảo Quy tắc hướng dẫn triển khai DOC.Ngoài ra, Việt Nam chia sẻ nhận thức Hội nghị Cấp cao Đông Á (EAS) tiếp tục là diễn đàn đối thoại và hợp tác về hòa bình, an ninh và phát triển ở khu vực. ASEAN hoan nghênh việc mở rộng và mời Nga, Mỹ tham gia EAS.
TTXVN








Indonesia muốn đàm phán đa phương về biển Đông
Trong cuộc phỏng vấn với báo Nikkei của Nhật Bản đăng ngày 19.7, Bộ trưởng Quốc phòng Indonesia Purnomo Yusgiantoro nhấn mạnh tranh chấp về biển Đông cần được giải quyết thông qua các cuộc thảo luận đa phương. Lâu nay, Trung Quốc luôn khăng khăng muốn giải quyết tranh chấp bằng đối thoại song phương. Tuy nhiên, theo Bộ trưởng Yusgiantoro, đàm phán đa phương sẽ giúp giảm căng thẳng giữa Bắc Kinh và ASEAN. Dự kiến, vấn đề biển Đông cũng sẽ được bàn trong Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF) vào ngày 23.7 tại Bali. Ngoài các nước ASEAN, tham dự còn có các đối tác lớn như Ấn Độ, EU, Mỹ, Nga, Nhật, Úc và Trung Quốc. Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton được dự đoán sẽ nhấn mạnh ở diễn đàn rằng nước này có lợi ích quốc gia trong việc bảo đảm tự do hàng hải và chống lại các đe đọa trong khu vực.
Minh Trung






Thục Minh
(từ Bali, Indonesia
http://www.thanhnien.com.vn/Pages/20110720/Van-de-bien-Dong-nong-o-Bali.aspx

HQ0909
20-07-2011, 03:24 PM
Báo giới Nhật Bản vừa lên tiếng bày tỏ lo ngại về việc Trung Quốc triển khai tàu lặn Giao Long xuống đáy Thái Bình Dương.

Theo tờ China Daily, ngày 17.7, Giao Long, tàu lặn đầu tiên do Trung Quốc tự chế tạo, đã đến địa điểm định trước ở Thái Bình Dương, tiến hành lặn xuống độ sâu 5.000m. Nếu thành công, tàu này sẽ tiếp tục lặn thử ở độ sâu 7.000m vào năm 2012. Truyền thông Trung Quốc không nói rõ vị trí lặn của tàu nhưng theo Tân Hoa xã trước đây thì khu vực thăm dò lần này là ở biển Đông.
Các hoạt động của tàu Giao Long làm dấy lên không ít quan ngại trong bối cảnh Trung Quốc đang có các hành động gây căng thẳng trong khu vực.





http://www.thanhnien.com.vn/Picture20117/MinhNguyet/Thang7/TauGLong2.jpg
Tàu Giao Long trong một lần lặn thử nghiệm - Ảnh: CRI




Không đơn thuần nghiên cứu

Chính quyền Trung Quốc xác nhận một trong những mục đích chính của tàu Giao Long là tìm vị trí tốt nhất để thăm dò và khai thác nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú dưới đáy đại dương. Cùng với sự phát triển kinh tế nhanh chóng là “cơn khát” tài nguyên đang cồn cào ở nước này, dẫn đến nguy cơ khủng hoảng nguyên, nhiên liệu. Tờ Japan Times (Nhật) dẫn lời một số nhà phân tích cảnh báo Trung Quốc có mục đích chiếm nguồn tài nguyên ở vùng biển nước này tự nhận là của mình và cả vùng biển quốc tế. Ông Kim Kiện Tài - Tổng thư ký Hội Nghiên cứu và khai thác tài nguyên khoáng sản đại dương (COMRA) từng xác nhận một trong những nhiệm vụ của Giao Long là tìm kiếm và chuẩn bị dữ liệu để hội này trình lên Cơ quan đáy biển quốc tế (ISA). Từ đây đến ngày 22.7, ISA sẽ xem xét đơn xin thăm dò khoáng sản biển ở vùng đáy đại dương quốc tế của Trung Quốc. Giao Long có trách nhiệm chụp ảnh, quay phim và thăm dò điều kiện địa hình, địa chất dưới đáy biển cho COMRA.

Đáng lo ngại hơn cả là có thể tàu Giao Long sẽ đóng vai trò quan trọng trong chiến lược quân sự và tranh chấp chủ quyền của Trung Quốc. Japan Times dẫn lời một số nhà phân tích cho rằng tàu Giao Long có thể giúp vẽ chính xác bản đồ dưới đáy biển, tăng cường năng lực hoạt động cho tàu ngầm của quân đội Trung Quốc. Ngoài ra, nó còn có thể được dùng trong việc thâm nhập vào cáp thông tin ngầm của các nước khác để chặn các bí mật ngoại giao và thương mại.

Chưa hết, Bắc Kinh bị cho là tăng cường sử dụng kỹ thuật tiên tiến dưới biển sâu để nhằm tăng tác động trong các cuộc tranh chấp chủ quyền ở Thái Bình Dương, nhất là ở biển Đông. Điều này đã được minh chứng rõ nhất qua hành động cắm quốc kỳ Trung Quốc dưới đáy biển Đông trong một lần lặn của tàu Giao Long vào năm 2010.

Chân dung Giao Long

Giao Long là tàu lặn có người lái do Cục Hàng hải Trung Quốc bắt đầu chế tạo từ năm 2002 và hoàn thành sau 6 năm theo Kế hoạch phát triển nghiên cứu kỹ thuật cao quốc gia. Tàu dài 8,2m, rộng 3m, cao 3,4m, nặng 22 tấn, có thể chở nặng được 220 kg (chưa bao gồm trọng lượng của thủy thủ đoàn 3 người), thời gian lặn tối đa 12 tiếng, có lớp vỏ bọc bằng titanium. Giao Long được trang bị nhiều công nghệ hiện đại như hệ thống thông tin liên lạc dưới nước sâu, hệ thống kiểm soát... Về lý thuyết, tàu có thể lặn ở độ sâu nhất là 7.000m và đã thực hiện 17 lần lặn trong tháng 5 và tháng 6.2010. Giao Long từng lặn thành công ở độ sâu 3.000m tại biển Đông vào ngày 26.8.2010.

Hiện tàu Shinkai (Nhật) đứng đầu danh sách những tàu lặn sâu nhất trên thế giới, với độ sâu được chứng thực là 6.500m. Những nước khác có tàu lặn sâu hơn 3.500m là Mỹ, Pháp và Nga.








Công khai căn cứ máy bay J-10
Theo Yonhap ngày 19.7, trong chuyến thăm Trung Quốc tuần trước, Bộ trưởng Quốc phòng Hàn Quốc Kim Kwan-jin đi thăm một cơ sở đồn trú của máy bay chiến đấu Thành Đô J-10. Tại căn cứ ở Thường Châu, tỉnh Giang Tô, ông Kim đã được quan sát J-10 cất cánh và hạ cánh. Khi đó, Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Lương Quang Liệt nói với người đồng nhiệm rằng trước đây Trung Quốc chưa bao giờ công khai với nước ngoài về các căn cứ của máy bay J-10. Nhận xét với giới phóng viên, Bộ trưởng Kim mô tả J-10 khá giống máy bay tác chiến F-16 của Mỹ. Theo trang tin AIN Online, Trung Quốc vừa ký hợp đồng thứ năm với Công ty Rosoboronexport của Nga mua thêm 123 động cơ cho máy bay J-10 trị giá 500 triệu USD và hàng sẽ được giao xong vào năm 2013.
Minh Trí








Nguyễn Lệ Chi
TNO (http://www.thanhnien.com.vn/Pages/20110719/Quan-ngai-ve-tau-lan-Giao-Long.aspx)

HQ0909
20-07-2011, 03:32 PM
http://www.thanhnien.com.vn/Picture20117/SonDuan/Taiwan_China_DavidLo_nd.jpg
Người phát ngôn của Cơ quan phòng vệ Đài Loan David Lo công bố bản báo cáo - Ảnh: AFP

(TNO) Mối đe dọa quân sự của Trung Quốc với Đài Loan đang lớn hơn bao giờ hết bất chấp những nỗ lực của Đài Bắc nhằm tháo gỡ căng thẳng với lục địa, theo một báo cáo của Cơ quan phòng vệ Đài Loan được công bố ngày 19.7.

Theo AFP, Lực lượng phòng vệ Đài Loan đã tổng kết những nỗ lực của Trung Quốc nhằm tăng cường sức mạnh quân sự trong bản báo cáo quân sự thường niên của mình.

“Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc đã tiếp tục triển khai nhiều loại vũ khí khác nhau ở khu vực Phúc Kiến và Quảng Châu”, hãng AFP trích dẫn báo cáo.

Báo cáo cũng nhấn mạnh việc Trung Quốc tăng cường “năng lực tác chiến tầm xa”, đây là sự đề cập rõ ràng đến việc Trung Quốc triển khai hơn 1.000 tên lửa đạn đạo dọc bờ biển nước này, theo AFP.

Mối quan hệ giữa Đài Bắc và Bắc Kinh vốn được cải thiện rõ rệt từ năm 2008, khi ông Mã Anh Cửu thuộc Quốc Dân Đảng được bầu làm người đứng đầu Đài Loan với cương lĩnh cải thiện quan hệ với lục địa, chủ yếu thông qua các biện pháp kinh tế.

Dù vậy, Bắc Kinh vẫn từ chối loại bỏ khả năng thu hồi Đài Loan bằng vũ lực.

Bản báo cáo của Đài Loan nói không quân Trung Quốc đã triển khai các máy bay chiến đấu thế hệ mới tại các căn cứ dọc bờ biển đông nam. Các căn cứ này được bảo vệ bởi các tên lửa phòng không tầm xa kiểu mới.

Quân đội Trung Quốc có khả năng phong tỏa Đài Loan và chiếm lấy các đảo do Đài Loan kiểm soát ở ngoài khơi, bản báo cáo cảnh báo.

Theo báo cáo, trong 20 năm tính đến năm 2009, chi tiêu quân sự của Trung Quốc đã giữ vững mức tăng trưởng hai con số gần như mỗi năm.
Tổng mức chi tiêu quân sự của Trung Quốc xếp hàng đầu châu Á.

Sơn Duân
TNO (http://www.thanhnien.com.vn/Pages/20110719/Dai-Loan-canh-bao-moi-de-doa-lon-hon-bao-gio-het-tu-Trung-Quoc.aspx)

HQ0909
20-07-2011, 04:08 PM
Philippines hôm qua tuyên bố đang lên kế hoạch nhờ Liên Hợp Quốc làm trọng tài phân xử tranh chấp về chủ quyền tại Biển Đông.

Ngoại trưởng Philippines, Alberto del Rosario cho hay Manila muốn Liên Hợp Quốc phân định rõ các vùng nước nào trên Biển Đông là có tranh chấp và những vùng nào không có tranh chấp, AFP đưa tin.

Ông Del Rosario khẳng định có một nhu cầu cấp thiết đối với việc làm rõ các khu vực tranh chấp, trước khi thảo luận về các hướng dẫn thực thi Tuyên bố về Quy tắc Ứng xử để kiểm soát các hoạt động tại Biển Đông. Manila cho rằng những khu vực không có tranh chấp có thể được coi là "vùng hòa bình, tự do, hữu nghị và hợp tác".

Ngoại trưởng của quốc đảo gần 100 triệu dân cho rằng Manila bị buộc phải lựa chọn phương án nhờ Liên Hợp Quốc phân xử theo Công ước về Luật Biển 1982 (UNCLOS 1982), vì làm cách này không cần phải thỏa hiệp với Trung Quốc.

http://vnexpress.net/Files/Subject/3b/a2/c7/3f/delrosario1.jpg
Ngoại trưởng Philippines, Alberto del Rosario. Ảnh: Businessweekmindanao
Tuyên bố của ông Del Rosario đánh dấu sự thay đổi so với quan điểm trước đây của Philippines, thể hiện sự quan ngại ngày một lớn của Manila đối với thái độ ngày một cứng rắn hơn của Trung Quốc trong vấn đề tranh chấp trên Biển Đông suốt thời gian qua.

Philippines trước đó đề nghị cùng Trung Quốc ra trước Tòa án Quốc tế về Luật Biển, một tòa án độc lập được thành lập bởi UNCLOS 1982. Tuy nhiên, Trung Quốc từ chối ý tưởng này và tái khẳng định muốn giải quyết tranh chấp với Philippines thông qua đàm phán song phương.

Trước lập trường của phía Trung Quốc, ngoại trưởng Philippines cho rằng đất nước của ông cần phải theo dõi các cơ chế giải quyết tranh chấp khác, để từ đó có thể rút ra cách làm cho riêng mình.

Công ước Liên Hợp Quốc cho phép một bên liên quan tới tranh chấp có thể đơn phương lựa nhờ Liên Hợp Quốc phân xử cũng như việc hòa giải bắt buộc, ông Del Rosario phát biểu trước báo giới sau cuộc họp các bộ trưởng ngoại giao ASEAN lần thứ 44 ở đảo Bali, Indonesia.

Biển Đông là nơi có tuyên bố chủ quyền chồng lấn giữa Việt Nam, Trung Quốc, Philippines, Brunei và Malaysia. Đây được coi là vùng biển có nhiều tài nguyên thiên nhiên phong phú, đồng thời nằm trên tuyến hàng hải huyết mạch giữa phương Đông và phương Tây.

Trong thời gian qua, các tàu của Trung Quốc liên tục có những hành động gây hấn nhằm vào các tàu của Việt Nam và Philippines, khiến tình hình Biển Đông trở nên căng thẳng.

Phan Lê
VNE (http://vnexpress.net/gl/the-gioi/2011/07/philippines-muon-lhq-phan-xu-tranh-chap-o-bien-dong/)

HQ0909
20-07-2011, 04:16 PM
Sáng 20/7, tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia Bali ở Inđônêxia đã diễn ra cuộc họp các quan chức cấp cao Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và Trung Quốc thảo luận các vấn đề liên quan đến Biển Đông.

http://tintucimg.vnanet.vn/2011/07/20/14/46/BandoHCVN (2).jpg


Bản đồ hành chính Việt Nam. Ảnh: biengioilanhtho.gov.vn
Trợ lý Bộ trưởng Ngoại giao, Trưởng SOM Việt Nam Phạm Quang Vinh là điều phối viên cuộc họp cùng với nước chủ nhà Inđônêxia. Trợ lý Bộ trưởng Ngoại giao, Trưởng SOM Trung Quốc Lưu Chấn Dân (Liu Zhenmin) dẫn đầu đoàn Trung Quốc.

Cuộc họp SOM ASEAN-Trung Quốc được tổ chức theo quyết định của Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN lần thứ 44 (AMM 44) vừa kết thúc thành công chiều 19/7, nhằm đảm bảo hòa bình, ổn định cho phát triển khu vực và thúc đấy tiến trình xây dựng Cộng đồng ASEAN vào năm 2015.

Tại cuộc họp, các quan chức cấp cao hai bên đã thảo luận việc thực hiện Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC); trao đổi các biện pháp nhằm thúc đẩy việc thực hiện đầy đủ và hiệu quả DOC, một văn bản quan trọng ký giữa ASEAN và Trung Quốc, thể hiện cam kết chung thúc đẩy hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn hàng hải, hợp tác xây dựng lòng tin và giải quyết hòa bình các tranh chấp trên cơ sở luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển (UNCLOS) năm 1982.

Cuộc họp SOM ASEAN-Trung Quốc đã thông qua trên nguyên tắc dự thảo Quy tắc hướng dẫn thực hiện DOC để đệ trình Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN-Trung Quốc. Các nước tham gia cuộc họp đánh giá đây là một kết quả và sự khởi đầu có ý nghĩa vì mục tiêu thúc đẩy thực hiện hiệu quả DOC.

Kết thúc cuộc họp, Trưởng SOM Phạm Quang Vinh và Trưởng SOM Lưu Chấn Dân cho biết hai bên nhất trí cuộc họp SOM ASEAN-Trung Quốc tiếp theo sẽ diễn ra tại Trung Quốc trong thời gian tới.

Việt Tú-Anh Ngọc (P/v TTXVN tại Inđônêxia)
Báo TTX (http://www.baotintuc.vn/130N20110720144742779T0/cuoc-hop-som-aseantrung-quoc-nhat-tri-quy-tac-huong-dan-thuc-hien-doc.htm)

Sat That
20-07-2011, 05:41 PM
Công hàm 1958 với chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam

Tác giả: Báo Đại Đoàn Kết
Bài đã được xuất bản.: 2 giờ trước

Nội dung Công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng được thể hiện rất thận trọng, đặc biệt là không hề có việc tuyên bố từ bỏ chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Gần đây Trung Quốc luôn rêu rao cái gọi là họ có chủ quyền không thể tranh cãi đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Việc Trung Quốc diễn giải nội dung Công hàm ngày 14/9/1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng như là một chứng cứ cho thấy Việt Nam đã công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là hết sức phiến diện và xuyên tạc nội dung, ý nghĩa của bản Công hàm đó, hoàn toàn xa lạ với nền tảng pháp lý của Việt Nam cũng như luật pháp quốc tế, bất chấp thực tế khách quan của bối cảnh lịch sử đương thời. Có thể nói, giải thích xuyên tạc Công hàm 1958 là một trong chuỗi những hành động có tính toán nhằm tạo cớ, từng bước hợp thức hóa yêu sách chủ quyền phi lý của họ đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.

Theo lý giải của Trung Quốc, ngày 4 tháng 9 năm 1958, Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai đã công khai tuyên bố với quốc tế quyết định của Chính phủ Trung Quốc về hải phận 12 hải lý kể từ đất liền của Trung Quốc và các đảo ngoài khơi, bao gồm cả quần đảo Tây Sa và Nam Sa (tức quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam). Sau đó, ngày 14/9/1958, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) Phạm Văn Đồng gửi Công hàm cho Thủ tướng Chu Ân Lai, nguyên văn như sau:
"Thưa Đồng chí Tổng lý,
Chúng tôi xin trân trọng báo tin để Đồng chí Tổng lý rõ: Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của Chính phủ nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc.
Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa trên mặt biển. Chúng tôi xin kính gửi Đồng chí Tổng lý lời chào rất trân trọng".
Cần phải thấy rằng, các tuyên bố nói trên của Trung Quốc cũng như của VNDCCH ra đời trong bối cảnh có nhiều chuyển biến phức tạp và cấp bách đối với Trung Quốc về tình hình lãnh thổ trên biển theo luật pháp quốc tế cũng như diễn biến căng thẳng của vấn đề quân sự xung quanh eo biển Đài Loan.
Năm 1956, Liên Hợp Quốc bắt đầu tiến hành các hội nghị quốc tế bàn về Luật Biển, sau đó một số hiệp định được ký kết vào năm 1958, tuy nhiên vẫn chưa làm thỏa mãn yêu sách về lãnh hải của một số quốc gia.
Từ đầu thế kỷ XX, nhiều quốc gia đã bắt đầu chú ý tới nguồn lợi to lớn từ khoáng sản và tài nguyên biển, bộc lộ ý đồ mở rộng chủ quyền trên biển. Trung Quốc, dù trong lịch sử ít quan tâm đến biển, cũng bắt đầu chú ý đến việc mở mang, kiếm tìm những đặc quyền trên biển. Mặc dù lúc đó chưa phải là thành viên của Liên Hợp Quốc, nhưng Trung Quốc cũng bắt đầu chú ý đến việc lên tiếng với cộng đồng quốc tế nhằm giải quyết các vấn đề trên biển theo hướng có lợi cho Trung Quốc. Trong chiến lược cho tương lai, thì việc cạnh tranh trên biển, cũng như tìm kiếm những nguồn tài nguyên trên biển là một vấn đề được Trung Quốc đặt ra.
Trên thực tế, cũng từ đầu thế kỷ XX, Trung Quốc đã hình thành ý định nhòm ngó các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Rõ ràng, việc nhòm ngó các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam từ thế kỷ XX đã nằm trong chiến lược "lấn sân" của Trung Quốc về tham vọng mở rộng biên giới quốc gia trên biển.


http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/assets/images/BuiLe_1311143852.jpgĐảo Núi Le ở quần đảo Trường Sa.



Ngày 26/5/1950, chiến tranh Triều Tiên bùng nổ, Tổng thống Hoa Kỳ Harry S. Truman đã ra lệnh cho Hạm đội 7 tiến vào eo biển Đài Loan, ngăn chặn cuộc tấn công của Trung Quốc nhắm vào các đảo trên eo biển Đài Loan. Với hành động này, Mỹ đã thực sự bảo hộ Đài Loan, mặc cho Trung Quốc kịch liệt lên án. Để tỏ rõ quyết tâm giải phóng Đài Loan, ngày 3/9/1954, Trung Quốc đã tấn công trừng phạt đối với các hòn đảo ven biển như Kim Môn, Mã Tổ. Các nhà chép sử gọi đây là cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan lần thứ nhất.
Ngày 11/8/1954, Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai tuyên bố sẽ "giải phóng" Đài Loan, và tăng cường pháo kích vào hai đảo Kim Môn và Mã Tổ.
Ngày 12/9/1954, Chủ tịch Hội đồng Liên quân Hoa Kỳ đưa ra dự tính tấn công Trung Quốc bằng vũ khí nguyên tử nhưng Tổng thống Eisenhower đã do dự sử dụng vũ khí nguyên tử cũng như sự liên can của quân đội Hoa Kỳ vào cuộc chiến này.
Năm 1958, tiếp tục xảy ra cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan lần thứ hai. Ngày 23/8/1958 Trung Quốc đột ngột tăng cường nã pháo vào đảo Kim Môn. Theo Hiệp định Phòng thủ tương hỗ giữa Đài Loan-Hoa Kỳ, Tổng thống Eisenhower đã ra lệnh cho tàu chiến Hoa Kỳ đến bảo vệ đường tiếp tế hậu cần từ đảo Đài Loan đến 2 đảo tiền tiêu Kim Môn và Mã Tổ.
Ngoài bối cảnh "phức tạp và cấp bách" đối với Trung Quốc như đã nêu trên, theo Thạc sĩ Hoàng Việt (Quỹ Nghiên cứu Biển Đông), Công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng ra đời trong bối cảnh quan hệ đặc thù VNDCCH -Trung Quốc lúc đó "vừa là đồng chí vừa là anh em". Năm 1949, bộ đội Việt Nam còn tấn công và chiếm vùng Trúc Sơn thuộc lãnh thổ Trung Quốc từ tay các lực lượng khác rồi trao trả lại cho Quân giải phóng Trung Quốc. Năm 1957, Trung Quốc chiếm giữ đảo Bạch Long Vĩ của Việt Nam từ tay một số lực lượng khác, rồi sau đó cũng trao trả cho Việt Nam. Điều này cho thấy quan hệ đặc thù của hai nước VNDCCH - Trung Quốc lúc bấy giờ. Do vậy, trong tình hình lãnh thổ Trung Quốc đang bị đe dọa chia cắt, cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan lần thứ hai khiến Hải quân Hoa Kỳ đưa tàu chiến vào can thiệp, việc Trung Quốc ra tuyên bố về lãnh hải bao gồm đảo Đài Loan trước hết nhằm khẳng định chủ quyền trên biển của Trung Quốc trong tình thế bị đe dọa tại eo biển Đài Loan. Tuy nhiên, Trung Quốc vẫn không quên mục đích "sâu xa" của họ trên Biển Đông nên đã "lồng ghép" thêm hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam vào bản tuyên bố.
Công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng xuất phát từ mối quan hệ rất đặc thù với Trung Quốc trong thời điểm VNDCCH đang rất cần tranh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ của các quốc gia trong khối xã hội chủ nghĩa bấy giờ và là một cử chỉ ngoại giao tốt đẹp thể hiện quan điểm ủng hộ của VNDCCH trong việc tôn trọng lãnh hải 12 hải lý của Trung Quốc trước các diễn biến quân sự phức tạp trên eo biển Đài Loan.
Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã phát biểu những lời ủng hộ Trung Quốc trong hoàn cảnh hết sức khẩn trương, chiến tranh chuẩn bị leo thang, Hạm đội 7 của Mỹ đang tiến vào eo biển Đài Loan và đe dọa Trung Quốc.
Nội dung Công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng được thể hiện rất thận trọng, đặc biệt là không hề có việc tuyên bố từ bỏ chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Bởi, hơn ai hết, chính Thủ tướng VNDCCH thấu hiểu quyền tuyên bố về lãnh thổ quốc gia thuộc thẩm quyền cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất là Quốc hội, và việc bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ quốc gia luôn luôn là mục tiêu hàng đầu đối với Nhà nước và nhân dân Việt Nam, nhất là trong hoàn cảnh ra đời của Công hàm như đã nêu trên.
Công hàm 1958 có hai nội dung rất rõ ràng: Một là, Chính phủ VNDCCH ghi nhận và tán thành việc Trung Quốc mở rộng lãnh hải ra 12 hải lý; Hai là, Chính phủ VNDCCH chỉ thị cho các cơ quan nhà nước tôn trọng giới hạn lãnh hải 12 hải lý mà Trung Quốc tuyên bố.
Trong Công hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng không có từ nào, câu nào đề cập đến vấn đề lãnh thổ và chủ quyền, càng không nêu tên bất kỳ quần đảo nào như Trung Quốc đã nêu. Do vậy, chỉ xét về câu chữ trong một văn bản có tính chất ngoại giao cũng dễ dàng nhận thấy mọi suy diễn cho rằng Công hàm 1958 đã tuyên bố từ bỏ chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và coi đó là bằng chứng khẳng định Việt Nam đã thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo này là xuyên tạc lịch sử và hoàn toàn không có cơ sở pháp lý.
Tại Hội nghị San Francisco 1951, các quốc gia tham dự đã bác bỏ yêu sách về chủ quyền của Trung Quốc trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Cũng tại hội nghị này, Việt Nam đã long trọng tuyên bố chủ quyền lâu đời và liên tục của mình trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong phiên họp toàn thể mà không có bất kỳ sự phản đối hay ý kiến gì khác của tất cả các quốc gia tham dự. Điều đó có nghĩa là kể từ năm 1951, cộng động quốc tế đã thừa nhận chủ quyền lịch sử và pháp lý của Việt Nam tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Những tuyên bố đơn phương về chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo này theo luật pháp quốc tế là vô hiệu.
Hiệp định Genève 1954, mà Trung Quốc là một nước tham gia chính thức, cũng thừa nhận chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về người Việt Nam. Các điều khoản trong Hiệp định cũng yêu cầu các quốc gia tham dự Hội nghị cam kết tôn trọng chủ quyền độc lập, nền thống nhất quốc gia và sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Do vậy, phần tuyên bố về chủ quyền của Trung Quốc liên quan tới hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam trong bản tuyên bố ngày 4/9/1958 về cơ sở pháp lý quốc tế đương nhiên được xem là không có hiệu lực.
Trong Công hàm 1958, Thủ tướng Phạm Văn Đồng không hề đề cập đến hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Vì điều đó là không cần thiết, bởi theo Hiệp định Genève 1954, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm phía Nam vĩ tuyến 17 tạm thời thuộc quyền quản lý của Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa (VNCH). Trong thời điểm đó, dưới góc độ tài phán quốc tế, thì Chính phủ VNDCCH không có nghĩa vụ và quyền hạn hành xử chủ quyền tại hai quần đảo này theo luật pháp quốc tế.
Công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng đương nhiên chỉ tán thành những tuyên bố của Trung Quốc có nội dung hợp pháp được cộng đồng quốc tế thừa nhận trên cơ sở luật pháp quốc tế cho đến giai đoạn đó. Một phần nội dung của bản tuyên bố ngày 4/9/1958 của Trung Quốc đã vi phạm nghiêm trọng chủ quyền quốc gia về lãnh thổ của Việt Nam, đồng thời cũng vi phạm nghiêm trọng các cơ sở pháp lý về chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà cộng đồng quốc tế đã thừa nhận cũng như đã nhiều lần tái thừa nhận một cách minh thị là thuộc chủ quyền của Việt Nam. Chính phủ VNDCCH trong bối cảnh quan hệ hữu nghị rất đặc thù với Trung Quốc đã khẳng định lập trường ghi nhận, tán thành tuyên bố giới hạn 12 hải lý về lãnh hải của Trung Quốc, còn những nội dung cụ thể diễn giải vượt quá phạm vi chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc theo các hiệp ước quốc tế đã không được đề cập tới như là một sự mặc nhiên thừa nhận sự vô hiệu của nó dưới ánh sáng của pháp luật quốc tế.
Trong khi đó, Chính quyền VNCH, theo Hiệp định Genève 1954, đã liên tục thực thi chủ quyền lâu đời của người Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa bằng các văn bản hành chính nhà nước cũng như bằng việc triển khai thực thi chủ quyền thực tế trên hai quần đảo này. Đỉnh cao của sự khẳng định chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong giai đoạn này là trận hải chiến quyết liệt của Hải quân VNCH chống lại sự xâm lược của tàu chiến và máy bay Trung Quốc tại quần đảo Hoàng Sa năm 1974.


http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/assets/images/conghamPVD_1311143859.jpgBức Công hàm ngày 14-9-1958 của Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa do Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký



Trong bối cảnh lịch sử đặc biệt nêu trên càng thấy rõ một sự thật hiển nhiên là Công hàm ngày 14/9/1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng đơn giản chỉ ghi nhận lãnh hải 12 hải lý của Trung Quốc, không hề nhắc lại các nội dung mập mờ liên quan đến các quần đảo thuộc chủ quyền của Việt Nam. Về thực chất, Công hàm 1958 thể hiện một thái độ chính trị, một cử chỉ hữu nghị với tuyên bố giới hạn lãnh hải 12 hải lý của Trung Quốc. Thực là phi lý, nếu cố tình suy diễn và xuyên tạc (như lập luận phía Trung Quốc), cho rằng Thủ tướng Phạm Văn Đồng, người con ưu tú của dân tộc, lại ký văn bản từ bỏ lãnh thổ và chủ quyền của đất nước trong khi chính ông và cả dân tộc Việt Nam đã chiến đấu hết mình để giành độc lập, tự do.
Có lẽ cần phải nhấn mạnh rằng tất cả những hành động ngoại giao của Thủ tướng Phạm Văn Đồng trong Công hàm 1958 có thể hiểu không phải là ông không nhìn thấy mọi ý đồ của Trung Quốc đối với cách mạng Việt Nam vì ông đã có kinh nghiệm trong bàn đàm phán Genève năm 1954, khi mà Trung Quốc đã có không ít động thái rất bất lợi cho VNDCCH. Nội dung Công hàm ngày 14/9/1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng phù hợp với hoàn cảnh và mối quan hệ đặc thù giữa VNDCCH và Trung Quốc bấy giờ, đồng thời cũng hàm chứa thái độ không bao giờ từ bỏ chủ quyền của người Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đó cũng là quan điểm nhất quán của Việt Nam, bởi từ năm 1945 đến nay, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Quốc hội Việt Nam Cộng hòa, Mặt trận DTGPMN Việt Nam và sau đó là Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và hiện nay là Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam chưa bao giờ lên tiếng hoặc ra nghị quyết từ bỏ chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Một cơ sở nữa trên phương diện pháp lý, nước VNDCCH lúc đó không trực tiếp quản lý đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trước năm 1975, các quốc gia và lãnh thổ tranh chấp gồm: Trung Quốc, Đài Loan, Việt Nam Cộng hòa và Philippines. Như vậy, những lời tuyên bố của VNDCCH xem như lời tuyên bố của một quốc gia thứ ba không có ảnh hưởng đến vụ tranh chấp. Tuy nhiên, có tác giả đã cố tình nêu thuyết "estoppel" để suy diễn những lời tuyên bố đó có hiệu lực bó buộc đối với Việt Nam.
Theo luật quốc tế, không có một văn bản pháp lý nào có thể gắn cho những lời tuyên bố đơn phương một tính chất bó buộc, ngoại trừ thuyết "estoppel". Mục đích chính của nó ngăn chặn trường hợp một quốc gia có thể hưởng lợi vì những thái độ bất nhất của mình, và do đó, gây thiệt hại cho quốc gia khác. Vì vậy, estoppel phải hội đủ các điều kiện chính: (1) Lời tuyên bố hoặc hành động phải do một người hoặc cơ quan đại diện cho quốc gia phát biểu và phải được phát biểu một cách minh bạch; (2) Quốc gia nại "estoppel" phải chứng minh rằng mình đã dựa trên những lời tuyên bố hoặc hoạt động của quốc gia kia, mà có những hoạt động nào đó, hoặc không hoạt động; (3) Quốc gia nại "estoppel" cũng phải chứng minh rằng, vì dựa vào lời tuyên bố của quốc gia kia, mình đã bị thiệt hại, hoặc quốc gia kia đã hưởng lợi khi phát biểu lời tuyên bố đó; (4) Nhiều bản án còn đòi hỏi lời tuyên bố hoặc hoạt động phải được phát biểu một cách liên tục và lâu dài. Thí dụ: bản án "Phân định biển trong vùng Vịnh Maine", bản án "Những hoạt động quân sự và bán quân sự tại Nicaragua", bản án "Ngôi đền Preah Vihear"...
Áp dụng những nguyên tắc trên của estoppel vào những lời tuyên bố của VNDCCH, chúng ta thấy thiếu điều kiện 2 và 3 đã nêu ở trên. Năm 1956, năm 1958 và năm 1965, Trung Quốc đã không có thái độ nào, hoặc thay đổi thái độ vì dựa vào lời tuyên bố của VNDCCH. Trung Quốc cũng không thể chứng minh được rằng mình bị thiệt hại gì do dựa vào những lời tuyên bố đó. VNDCCH cũng không được hưởng lợi gì khi có những lời tuyên bố đó.

Nguồn:

http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2011-07-20-cong-ham-1958-voi-chu-quyen-hoang-sa-va-truong-sa-cua-viet-nam

HQ0909
20-07-2011, 11:16 PM
SGTT.VN - Đó là kinh phí hỗ trợ tổ ngư dân đoàn kết sản xuất trên biển (3.000 tổ đoàn kết, 15.000 tàu, 150.000 thuyền viên), trong tờ trình của bộ trưởng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Cao Đức Phát gửi lên Thủ tướng Chính phủ ngày 20.7.

http://sgtt.vn/ImageHandler.ashx?ImageID=147627
Tàu từ 90CV trở lên, tham gia tổ đội ngư dân đoàn kết, sẽ được nhà nước hỗ trợ (ảnh minh hoạ).
Ảnh: TL SGTT

Theo tờ trình, đối tượng được nhận hỗ trợ là chủ tàu khai thác hải sản xa bờ (công suất tàu 90CV trở lên) tham gia vào tổ đội ngư dân đoàn kết, tổ trưởng của các tổ đoàn kết và thuyền viên hoạt động trong tổ. Theo bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, sở dĩ chỉ hỗ trợ cho tàu 90 CV trở lên, vì đây đội tàu thu hút nhiều lao động làm nghề biển, thời gian bám biển sản xuất nhiều hơn so với đội tàu công suất nhỏ hơn, là lực lượng nòng cốt tham gia bảo vệ chủ quyền khi có sự chỉ đạo của lực lượng chức năng.

Mặt khác, việc hỗ trợ này cũng phù hợp với Chiến lược phát triển thủy sản Việt Nam đến năm 2020 của Chính phủ, nhằm phát triển ngành sản xuất hàng hóa lớn, có uy tín, thương hiệu. Trong khi đó, loại tàu công suất nhỏ hơn chỉ hoạt động gần bờ, số lượng lớn (hơn 110.000 tàu, chiếm 85%), hoạt động trong vùng nguồn lợi đang bị khai thác quá mức, nhưng chỉ chiếm khoảng 40% tổng sản lượng khai thác.

Cụ thể, sẽ hỗ trợ sinh hoạt phí cho mỗi tổ là 500.000 đồng/lần, không quá 12 lần/năm. Đối với tổ trưởng, được hỗ trợ 100.000 đồng/người/tháng. Còn chủ tàu và thuyền viên, nhà nước hỗ trợ 50% kinh phí mua bảo hiểm thân tàu, 100% kinh phí mua bảo hiểm tai nạn thuyền viên; nhà nước cũng cấp miễn phí mỗi tàu tham gia tổ đội đoàn kết 1 máy thông tin liên lạc sóng HF tầm xa, có tích hợp thiết bị định vị vệ tinh (GPS).

Dự kiến, kinh phí hỗ trợ cho 3.000 tổ đoàn kết là 636,6 tỉ đồng. Trong năm 2011 (tính cho 3 tháng, từ tháng 9 - 12), kinh phí hỗ trợ dự kiến là 265 tỉ đồng, gồm kinh phí sinh hoạt tổ, phụ cấp tổ trưởng, bảo hiểm, máy thông tin liên lạc (khoảng 5.000 máy). Từ năm 2012, dự kiến kinh phí là 486 tỉ đồng (10 nghìn máy liên lạc); còn từ năm 2013 trở đi, kinh phí hỗ trợ dự kiến là 186 tỉ đồng.

Theo bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, việc phát triển các mô hình tổ đội hợp tác sản xuất trên biển là rất quan trọng và có ý nghĩa lớn về kinh tế, xã hội và an ninh quốc phòng, đặc biệt là trong tình hình phức tạp hiện nay ở biển Đông. Tổ đoàn kết sản xuất trên biển giúp nhau chia sẻ thông tin về ngư trường, thời tiết, kinh nghiệm sản xuất, hỗ trợ xử lý rủi ro trên biển, tổ chức dịch vụ hậu cần, tiêu thụ sản phẩm, tương trợ, giúp đỡ gia đình các tổ viên, phối hợp cơ quan chức năng tham gia bảo vệ chủ quyền trên biển.
Châu An
SGTT (http://sgtt.vn/Thoi-su/148084/Hon-636-ti-dong-ho-tro-doi-doan-ket-san-xuat-tren-bien.html)

HQ0909
20-07-2011, 11:21 PM
SGTT.VN - Vừa qua, ngày 14.7.2011, hai thượng nghị sĩ Mỹ là John Kerry (đảng Dân chủ) và John McCain (đảng Cộng hoà) đã gửi thư chung đến uỷ viên Quốc vụ viện Trung Quốc phụ trách đối ngoại, ông Đới Bỉnh Quốc, bày tỏ mối quan ngại về những va chạm trên Biển Đông gần đây sẽ làm ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia của Mỹ cũng như gây mất ổn định trong khu vực này.

Bức thư này của hai thượng nghị sĩ được thời báo Tài chính (Anh) đăng tải, trước khi diễn ra cuộc họp bộ trưởng ngoại giao ASEAN với các đối tác đối thoại diễn ra tại Bali, Indonesia trong tuần này.

http://sgtt.vn/ImageHandler.ashx?ImageID=147612
Hai thượng nghị sĩ Mỹ Kerry (trái) và McCain (phải) gửi thư kêu gọi Trung Quốc gánh vác vai trò chủ đạo trong việc giúp làm giảm căng thẳng trên Biển Đông. Ảnh: AP


SGTT.VN lược dịch nội dung bức thư này.

“Chúng tôi viết lá thư này tiếp theo cuộc hội đàm của chúng ta tháng 5 vừa rồi, bày tỏ mối quan ngại của chúng tôi liên quan đến những sự kiện gần đây ở Biển Đông. Như ngài biết, Mỹ không tham gia vào vị trí nào trong cuộc tranh chấp lãnh thổ chồng lấn tại khu vực này, nhưng chúng tôi quan tâm sâu sắc và không thay đổi trong việc bảo đảm tự do hàng hải, thương mại và kinh tế, duy trì sự cam kết của Mỹ với các đồng minh và đối tác, ủng hộ hoà bình và ổn định tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Vì lý do này, chúng tôi quan ngại đến một loạt sự cố trên biển những tháng gần đây đã làm gia tăng căng thẳng trong khu vực. Nếu không có những bước đi thích hợp để làm dịu tình hình, những sự cố trong tương lai sẽ leo thang, gây nguy hại cho những quyền lợi quốc gia sinh tử của Mỹ.

Chúng tôi đánh giá cao những tuyên bố công khai của Trung Quốc trong việc ủng hộ hoà bình, ổn định và tuân thủ luật pháp quốc tế, chúng tôi cũng cam kết sâu sắc thực hiện những mục tiêu, chính sách này. Tuy nhiên, những biện pháp quyết đoán của Trung Quốc thực hiện như chống lại các tàu bè nước ngoài trên Biển Đông, cùng với việc mở rộng tuyên bố “chủ quyền không tranh cãi” đối với toàn bộ vùng biển Đông, dường như đi ngược với ưu tiên mà Trung Quốc nhấn mạnh trong việc giải quyết một cách hoà bình và thương lượng các tranh chấp trên biển Đông.

Trong những tháng tới, chúng tôi hy vọng Trung Quốc sẽ tìm ra các cơ hội để gánh vác vai trò chủ đạo trong việc giúp làm giảm căng thẳng và gia tăng đối thoại và hợp tác đối với các vấn đề an ninh khu vực. Những bước đi thận trọng, như làm rõ đòi hỏi chủ quyền của Trung Quốc về biển Đông tại cuộc họp cấp cao khu vực sắp tới và những nỗ lực mạnh mẽ hơn trong khuôn khổ nhóm công tác chung Trung Quốc – ASEAN để thực hiện Tuyên bố ứng xử giữa các bên trên Biển Đông năm 2002 (DOC 2002), sẽ giúp trấn an các láng giềng của Trung Quốc và xây dựng lòng tin và sự tín nhiệm. Các nước ASEAN nên tham vấn lẫn nhau, cả với Trung Quốc và với quốc gia khác.

Về phần mình, chúng tôi sẽ tiếp tục khuyến khích tất cả các bên có quan tâm cùng thực hiện quyết định tốt, kềm chế và theo đuổi giải pháp hoà bình đối với các tuyên bố chủ quyền, thông qua các cuộc đàm phán đa phương”.

H.S (theo FT)
SGTT (http://sgtt.vn/Thoi-su/148071/Thu-cua-hai-nghi-si-My-gui-Trung-Quoc-ve-bien-Dong.html)

HQ0909
21-07-2011, 12:37 PM
Xem xét dự thảo hướng dẫn thực thi DOC

TT - Chiều nay (21-7) tại Bali (Indonesia), các ngoại trưởng ASEAN có cuộc gặp với Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Dương Khiết Trì trong khuôn khổ các hội nghị của ASEAN và các đối tác.
Dự kiến các ngoại trưởng xem xét khả năng thông qua dự thảo hướng dẫn thực thi Tuyên bố về cách ứng xử của các bên trên biển Đông (DOC) mà các quan chức cấp cao ASEAN và Trung Quốc (SOM) đã thông qua trên nguyên tắc vào sáng 20-7.



http://images1.tuoitre.vn/tianyon/ImageView.aspx?ThumbnailID=509120



Trợ lý bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Quang Vinh (bìa trái) và trợ lý bộ trưởng ngoại giao Trung Quốc Lưu Chấn Dân thông báo ngắn kết quả làm việc giữa ASEAN và Trung Quốc về dự thảo hướng dẫn thực thi DOC sáng 20-7 - Ảnh: Khổng Loan



Trả lời câu hỏi của Tuổi Trẻ, trợ lý bộ trưởng Bộ Ngoại giao, trưởng đoàn SOM Việt Nam Phạm Quang Vinh nói: “Nội dung thực thi DOC là nói về những biện pháp xây dựng lòng tin. Vì vậy tất cả những gì có thể góp phần được vào việc xây dựng lòng tin mà không để xảy ra những chuyện phức tạp đều được bàn đến”.
Ông Vinh khẳng định mục tiêu cao nhất của các hướng dẫn là làm thế nào để thực hiện đầy đủ và hiệu quả nhất DOC. Hai bên đều khẳng định cam kết thực hiện DOC, đảm bảo hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn hàng hải, hợp tác xây dựng lòng tin và giải quyết hòa bình các tranh chấp trên cơ sở luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước về luật biển của Liên Hiệp Quốc (UNCLOS) năm 1982.


“Cuộc gặp của chúng tôi rất thành công. Chúng tôi đã thảo luận về các vấn đề cả hai bên cùng quan tâm. Philippines có mối quan hệ mạnh với Việt Nam và ngày càng mạnh hơn. Chúng tôi đã thảo luận về vấn đề biển Tây Philippines (biển Đông). Việt Nam đang gặp cùng tình huống với chúng tôi, tức là các vụ xâm phạm lãnh hải mà chúng tôi đã khẳng định chủ quyền. Chúng tôi đã trao đổi các ý kiến, chiến lược và những vấn đề đã xảy ra (trên biển Đông)”.

Ngoại trưởng Philippines Albert del Rosario cho biết khi trả lời Tuổi Trẻ sau cuộc gặp song phương Việt Nam - Philippines ngày 19-7.


“Sau nhiều năm trao đổi với nhau, diễn biến này là một bước tiến nhưng cũng là bước khởi đầu. Nó tạo ra cơ sở để các nước có một khung cùng ngồi với nhau, cùng bàn các hướng hợp tác sắp tới. Dự thảo này sẽ được đệ trình Hội nghị các ngoại trưởng ASEAN - Trung Quốc thông qua vào ngày 21-7” - ông Vinh nói. Trợ lý bộ trưởng ngoại giao, trưởng SOM Trung Quốc Lưu Chấn Dân khẳng định: “Đây là thỏa thuận có tầm quan trọng liên quan tới sự hợp tác giữa hai bên. Chúng tôi chờ đợi sẽ có tương lai tốt đẹp cho cả hai bên”.

DOC là một văn kiện quan trọng được ký kết giữa ASEAN và Trung Quốc, thể hiện cam kết chung thúc đẩy hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn hàng hải, hợp tác xây dựng lòng tin và giải quyết hòa bình các tranh chấp trên cơ sở luật pháp quốc tế, nhất là UNCLOS. Tuy nhiên, kể từ khi DOC ra đời năm 2002, các hướng dẫn để thực thi DOC vẫn chưa được thống nhất, đang là mối quan tâm lớn của khu vực và thế giới, đặc biệt sau những diễn biến căng thẳng gần đây trên biển Đông.

Bởi vậy một DOC có các hướng dẫn cụ thể, có tác dụng “thật” đang là điều ASEAN mong muốn, một bước để tiến đến Bộ quy tắc về ứng xử của các bên trên biển Đông (COC). Hiện Việt Nam và Trung Quốc là đồng chủ trì các cuộc họp liên quan tới các hướng dẫn về thực thi DOC.

Với vai trò đại diện của quốc gia là điều phối viên luân phiên, ông Vinh nói: “Dự thảo cuối cùng liên quan tới những hướng dẫn thực thi DOC đã được ASEAN và Trung Quốc bàn bạc theo những quan tâm chung nhằm thúc đẩy hòa bình, ổn định, tin cậy lẫn nhau và hợp tác trong khu vực. Thông qua cuộc đối thoại mang tính xây dựng và thành công như vậy, chúng tôi đã có thể đạt tới được thỏa thuận ở tầm cấp cao về dự thảo hướng dẫn thực thi DOC. Đây là cột mốc quan trọng để chúng tôi tiếp tục làm việc cùng nhau, tiếp tục đối thoại và hợp tác với quan điểm tiếp tục thúc đẩy sự ổn định và niềm tin ở khu vực”.

Ông Vinh cũng thông báo chương trình tham vấn giữa các nhóm công tác ASEAN và Trung Quốc lần thứ 7 sẽ được tổ chức tại Trung Quốc vào cuối năm nay. Sau đó, các nhóm công tác sẽ báo cáo kết quả làm việc cũng như các đề xuất về thực thi DOC tiếp theo lên SOM. “Chúng tôi đã thảo luận theo cách hướng tới tương lai và các hoạt động tiếp nối, bao gồm các hoạt động hợp tác trong khu vực”.
KHỔNG LOAN (từ Bali, Indonesia)




Mỹ, Nhật cùng lên tiếng về biển Đông
Ngoại trưởng Nhật Bản Takeaki Matsumoto cho biết ông sẽ kêu gọi Trung Quốc hạn chế bành trướng sự hiện diện của họ ở biển Đông tại Diễn đàn an ninh khu vực (ARF) ở Bali (Indonesia). Nhật báo Nikkei ngày 20-7 cho biết Ngoại trưởng Takeaki Matsumoto sẽ nhấn mạnh tầm quan trọng và an ninh ở những vùng biển mà Nhật Bản xem là con đường huyết mạch liên quan đến Nhật Bản, đồng thời sẽ yêu cầu Trung Quốc tuân thủ nguyên tắc ứng xử hàng hải quốc tế.
Trước đó thượng nghị sĩ John Kerry - chủ tịch Ủy ban Quan hệ đối ngoại Thượng viện Mỹ và thượng nghị sĩ John McCain - cựu ứng cử viên tổng thống Đảng Cộng hòa - đã cùng lên tiếng cảnh báo những cuộc đụng độ gần đây giữa Trung Quốc với các nước láng giềng trên biển Đông đang gây nguy hại đến lợi ích quốc gia của Mỹ trong khu vực.

Báo The Financial Times ngày 19-7 cho biết thư của hai thượng nghị sĩ Mỹ gửi ông Đới Bỉnh Quốc, ủy viên Quốc vụ viện Trung Quốc, đã nhấn mạnh: “Chúng tôi quan ngại rằng hàng loạt vụ đụng độ hải quân trong những tháng gần đây đã làm căng thẳng leo thang trong khu vực. Nếu không thực hiện những bước thích hợp để làm dịu tình hình, các xung đột trong tương lai có thể sẽ tiếp tục leo thang và gây nguy hại đến lợi ích quốc gia của Mỹ”.
MỸ LOAN



TTO (http://tuoitre.vn/The-gioi/447597/Xem-xet-du-thao-huong-dan-thuc-thi-DOC.html)

HQ0909
21-07-2011, 07:20 PM
http://images.vietinfo.eu/2011/07/21/159496/194_thumb.jpg (http://images.vietinfo.eu/2011/07/21/159496/_thumb.jpg)



Phó thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng.



Tình hình căng thẳng ở biển Đông đang tăng lên được Chính phủ nhìn nhận là một trong những khó khăn thách thức mới của tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2011, tại báo cáo được phó thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng trình bày tại phiên khai mạc kỳ họp đầu tiên của Quốc hội khóa 13, sáng nay (21/7).

"Trong tình hình thế giới và khu vực diễn biến hết sức phức tạp, Đảng và nhà nước đã đặc biệt quan tâm chỉ đạo củng cố quốc phòng, an ninh, giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm trật tự an toàn xã hội", phó thủ tướng nhấn mạnh.

Chính phủ cũng cho biết, đã thực hiện nhất quán chủ trương đàm phán hoà bình trên cơ sở luật pháp quốc tế để giải quyết tình hình phức tạp trên biển Đông. Kiên quyết, chủ động, tích cực đấu tranh ngoại giao và tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của các nước trong khu vực và thế giới, các diễn đàn quốc phòng - an ninh khu vực như Bali, Shangri-La… và tiếp xúc song phương, đa phương. Đồng thời, triển khai tích cực và đồng bộ các biện pháp để bảo vệ chủ quyền biển đảo, bảo vệ ngư dân đánh bắt hải sản, các hoạt động kinh tế - thương mại, khai thác, thăm dò dầu khí, tài nguyên khoáng sản trên biển thuộc chủ quyền quốc gia.

Về những giải pháp chủ yếu cần tập trung chỉ đạo điều hành trong 6 tháng cuối năm, với lĩnh vực quốc phòng, an ninh, Phó thủ tướng nói: “Trước tình hình và diễn biến phức tạp, chúng ta cần hành động kiên quyết, kịp thời, phù hợp với luật pháp quốc tế, đúng chủ trương của Đảng và Nhà nước, huy động sức mạnh của toàn dân để bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia”.

Báo cáo của Chính phủ cũng nhấn mạnh giải pháp thực hiện phát triển kinh tế kết hợp với quốc phòng vùng biên giới, hải đảo, tăng cường sự chủ động của các địa phương trong việc xây dựng tiềm lực kinh tế kết hợp với quốc phòng.Liên quan đến vấn đề đang được dư luận rất quan tâm, trong một bản báo cáo khác được gửi đến đại biểu Quốc hội sát ngày khai mạc, Chính phủ cũng nhấn mạnh giải pháp “Bảo đảm nguồn lực để tăng cường tiềm lực quốc phòng, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, đặc biệt là trên các vùng biển, đảo của Việt Nam”.

Công tác bảo vệ chủ quyền, an ninh, trật tự vùng biển đảo, nhất là những vấn đề liên quan đến tình hình biển Đông là nội dung được một số vị đại biểu Quốc hội đề nghị Chính phủ báo cáo thêm tại kỳ họp này. Theo dự kiến, bản báo cáo về nội dung này sẽ được gửi đại biểu Quốc hội tự nghiên cứu.
Tại cuộc họp báo ngay trước thềm kỳ họp, chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Trần Đình Đàn đã cho biết, sẽ bố trí thời gian từ 1 giờ đến 90 phút để các vị đại biểu Quốc hội nghe báo cáo trực tiếp về tình hình biển Đông tại hội trường. Tuy nhiên, chương trình chính thức của kỳ họp đã được Quốc hội thông qua tại phiên trù bị chiều 20/7 đã thiếu vắng nội dung này.
Nguồn: VNEconomy
vietinfo (http://www1.vietinfo.eu/tin-viet-nam/chinh-phu-nhất-quan-trong-giai-quyet-tinh-hinh-bien-dong.html)

longtt88
22-07-2011, 08:09 AM
Ngày 21-7, Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch (VH, TT&DL) tỉnh Ninh Thuận Phan Quốc Anh cho biết, một trong những mục tiêu của Liên hoan làng biển Việt Nam (diễn ra từ 1 đến 4-8) là tuyên truyền, nâng cao nhận thức, tình yêu biển đảo cho người dân. Trong khuôn khổ liên hoan, tỉnh Quảng Ngãi sẽ trưng bày các thư tịch cổ, hình ảnh, tư liệu, bài viết về Hoàng Sa – Trường Sa.

Ông Phan Quốc Anh nói thêm: “Từ việc tiếp cận các bức ảnh, hiện vật được chú giải kỹ lưỡng, chính xác, những bộ phim được xây dựng theo hướng “ghi chép hiện trạng”, người xem có thể tự bổ sung những tri thức cơ bản về các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, đồng thời tuyên truyền nâng cao nhận thức của người dân về an ninh-quốc phòng, bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc.”

http://image.qdnd.vn/Upload//hoangha/2011/7/21/210711hha42214541734.jpg


Khu du lịch biển Ninh Chữ, nơi sẽ diễn ra một số hoạt động tại liên hoan



Trong buổi làm việc với Bộ VH, TT&DL ngày 21-7, ông Phan Quốc Anh cho biết, đến thời điểm này, các địa phương Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Bình Thuận, Bà Rịa – Vũng Tàu, TP Hồ Chí Minh… đã đăng ký tham gia liên hoan. Ban tổ chức mời thêm Bộ chỉ huy Bộ đội biên phòng, Hải quân vùng 4 và đoàn đặc công biển tham gia.Trong khuôn khổ liên hoan, các tỉnh, thành phố tham gia sẽ giới thiệu một lễ hội hoặc nghi thức dân gian của làng biển thuộc địa phương mình như: lễ nghinh ông, thờ cúng cá voi, tục thờ thành hoàng, cúng đình làng biển…

Nhiều hoạt động văn hóa văn nghệ dân gian của cư dân biển đảo cũng diễn ra như: hò biển, hát múa bả trạo, múa náp, múa siêu…và thi đấu các môn thể thao biển như: chèo thúng, bơi, lắc thúng, vận động trên cát, đua thuyền rồng, lướt ván dù…Ngoài ra còn có các hoạt động khác như giao lưu văn hóa ẩm thực dân gian làng biển; triển lãm ảnh với chủ đề “Nét đẹp văn hóa biển Việt Nam”; triển lãm điêu khắc đá, hội chợ thủy, hải sản Việt Nam; giới thiệu các dự án du lịch ven biển...

Các hoạt động sẽ diễn ra tại Quảng trường 16-4, khu du lịch biển Ninh Chữ và tại các điểm du lịch nổi tiếng của Ninh Thuận.

Đêm khai mạc liên hoan sẽ diễn ra vào lúc 20 giờ ngày 2-8 và được truyền hình trực tiếp trên VTV.

Nguồn: QĐND Online (http://www.qdnd.vn/QDNDSite/vi-VN/61/43/6/36/36/155065/Default.aspx)

longtt88
22-07-2011, 08:13 AM
Sáng 21-7, Đoàn đại biểu Ban Thường vụ Thành đoàn Hà Nội do đồng chí Ngọ Duy Hiểu, Bí thư Thành đoàn đã đến thăm và tặng quà gia đình thiếu úy Đinh Việt Tiến (hiện đang công tác tại đảo Trường Sa Lớn) trú tại phường Đại Kim, quận Hoàng Mai, Hà Nội.


Đây là hoạt động đầu tiên nhằm triển khai thực hiện Kế hoạch số 48 của Thành đoàn Hà Nội về tổ chức kết nghĩa giữa các cơ sở Đoàn của Thủ đô với gia đình cán bộ, chiến sĩ đang làm nhiệm vụ tại Quần đảo Trường Sa.

Theo đó, từ nay đến tháng 9, Thành đoàn Hà Nội phối hợp với Cục Chính trị Quân chủng Hải quân tổ chức rà soát số lượng gia đình cán bộ, chiến sĩ trên địa bàn 26 tỉnh, thành phố khu vực phía Bắc và tổ chức kết nghĩa.

Các cơ sở đoàn, các đoàn viên, thanh niên sẽ giúp đỡ gia đình các cán bộ, chiến sĩ nhất là trong những lúc khó khăn: như đau ốm, bão lụt, hoạn nạn…Đảm nhận giúp đỡ, chăm sóc, phụng dưỡng cha mẹ già; chăm sóc, dạy học cho con, em của cán bộ, chiến sĩ. Tổ chức tư vấn, định hướng học nghề, giới thiệu việc làm cho cán bộ, chiến sĩ sau khi hoàn thành nhiệm vụ trở về địa phương….

Nguồn: NDĐT (http://www.nhandan.org.vn/cmlink/nhandandientu/thoisu/chinh-tri/tin-chung/tu-i-tr-th-o-k-t-ngh-a-v-i-gia-inh-b-i-tr-ng-sa-1.304813#JhxTLS3y3XI7)

phuongbase
22-07-2011, 09:35 AM
Học giả Hồng Kông chỉ trích đường chữ U và lập trường Biển Đông của Trung Quốc (http://nghiencuubiendong.vn/tin-ncbd/1842-1842-)Thứ năm, 21 Tháng 7 2011 16:52 dinh tuan anh
http://nghiencuubiendong.vn/templates/eastsea2/images/emailButton.png (http://nghiencuubiendong.vn/component/mailto/?tmpl=component&link=aHR0cDovL25naGllbmN1dWJpZW5kb25nLnZuL3Rpbi1uY 2JkLzE4NDItMTg0Mi0%3D)http://nghiencuubiendong.vn/images/M_images/printButton.png (http://nghiencuubiendong.vn/tin-ncbd/1842-1842-?tmpl=component&print=1&layout=default&page=)http://nghiencuubiendong.vn/templates/eastsea2/images/pdf_button.png (http://nghiencuubiendong.vn/tin-ncbd/1842-1842-?format=pdf)

Tạp chí "Khai Phóng" số tháng 7/2011 của Hồng Kông đăng bài của nhà bình luận chính trị Trần Phá Không cho rằng gần đây vấn đề tranh chấp chủ quyền Biển Đông thể hiện rõ xu hướng xấu đi. Theo tác giả, trên thực tế, trong vấn đề Biển Đông, bản thân Trung Quốc không có lập trường rõ ràng, tiền hậu bất nhất, gây tổn hại nghiêm trọng tới uy tín quốc tế của Trung Quốc.

http://nghiencuubiendong.vn/tin-ncbd/images/stories/CDocuments-and-SettingsLE-THAI-DUNGMy-DocumentsMy-Picturesbabui-032009-5.jpg

Thời Đặng Tiểu Bình, lập trường của Trung Quốc về Biển Đông là “gác tranh chấp, cùng khai thác”. Khi làm Thủ tướng, tới thăm Đông Nam Á, Chu Dung Cơ cũng đưa ra lập trường tương tự. Năm 2002, Trung Quốc và các nước ASEAN ký “Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông” (DOC), cam kết “giải quyết tranh chấp Biển Đông thông qua đàm phán hữu nghị bằng phương thức hòa bình”.
Tuy nhiên, lập trường của Trung Quốc không ngừng thay đổi. Mấy năm gần đây, Trung Quốc bắt đầu từ chối đàm phán đa phương, chuyển sang theo đuổi đàm phán song phương. Các nước bỗng chốc trở nên cảnh giác với Trung Quốc. Tháng 3/2010, Trung Quốc đột nhiên cao giọng tuyên bố chủ quyền Biển Đông lên quan tới “lợi ích cốt lõi” của mình. Dư luận các nước bùng lên. Sở dĩ Trung Quốc lớn tiếng là vì nước này tự kiêu với việc quốc lực được tăng cường, quân lực được mở rộng, muốn cho thế giới thấy “cơ bắp” của mình.
Ngay sau đó, trong Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN tổ chức vào tháng 7/2010, các nước ASEAN đã rầm rầm chất vấn, phê bình và chỉ trích chính sách Biển Đông của Trung Quốc. Các nước dự hội nghị như Ấn Độ, Liên minh châu Âu (EU) và Ấn Độ đều ủng hộ lập trường của ASEAN, Trung Quốc rơi vào tình trạng bị cô lập chưa từng có, tự ví là “đã bị vây đánh”. Xem ra nỗ lực 10 năm ngoại giao châu Á của Trung Quốc đã bị hủy trong một ngày. Trung Quốc lập tức thay đổi giọng điệu, vứt bỏ cách nói “lợi ích cốt lõi” (liên quan tới chủ quyền Biển Đông), trở lại với cách biểu đạt lập trường mơ hồ.
Tạm thời chưa nói tới sự đúng sai của các bên trong tranh chấp Biển Đông, câu hỏi đặt ra là liệu việc Trung Quốc vẽ đường phạm vi chủ quyền Biển Đông (đường chữ U) tới “cửa nhà” của các nước như Việt Nam, Philíppin, Malaixia và Brunây có hợp tới tình hình khách quan hay không? Đối chiếu với các quy định bằng văn bản rõ ràng liên quan tới việc “các nước có vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý” trong Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển mà Trung Quốc ký từ năm 1982, Trung Quốc càng khó có thể bào chữa cho kiểu hoạch định này của mình. Trên thực tế, từ việc tự vạch (đường chữ U) cho tới cách nói về “lợi ích cốt lõi” đều là chuyện “mua dây buộc mình” của Trung Quốc.
Chẳng trách tại hội thảo Vấn đề An ninh ở Biển Đông tổ chức ở Oasinhtơn gần đây, trong khi học giả Việt Nam giành được sự đồng tình của những người dự hội nghị vì đã làm sáng tỏ lập trường chủ quyền của Việt Nam một cách lôgíc và hùng biện trên cơ sở lập luận chứng cứ đầy đủ, học giả Trung Quốc khiến những người dự hội nghị cảm thấy “quá khiên cưỡng”, gây ấn tượng “không trung thực” bởi phát biểu vá víu, mơ hồ. Đuối lý, học giả Trung Quốc sau đó chỉ còn cách đánh bài đổ thừa cho là “chuẩn bị chưa đầy đủ”.

phuongbase
22-07-2011, 09:38 AM
Đằng sau việc Trung Quốc đồng ý ký vào bản hướng dẫn thực thi DOC với ASEAN (http://nghiencuubiendong.vn/tin-ncbd/1843-1843)Thứ năm, 21 Tháng 7 2011 17:06 dinh tuan anh
http://nghiencuubiendong.vn/templates/eastsea2/images/emailButton.png (http://nghiencuubiendong.vn/component/mailto/?tmpl=component&link=aHR0cDovL25naGllbmN1dWJpZW5kb25nLnZuL3Rpbi1uY 2JkLzE4NDMtMTg0Mw%3D%3D)http://nghiencuubiendong.vn/images/M_images/printButton.png (http://nghiencuubiendong.vn/tin-ncbd/1843-1843?tmpl=component&print=1&layout=default&page=)http://nghiencuubiendong.vn/templates/eastsea2/images/pdf_button.png (http://nghiencuubiendong.vn/tin-ncbd/1843-1843?format=pdf)

Giới quan chức ngoại giao của các nước thuộc Hiệp hội Các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và Trung Quốc vừa đạt được sự thống nhất về văn bản hướng dẫn thực thi Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) tại cuộc họp đang diễn ra ở Bali (In-đô-nê-xi-a). DOC được ASEAN và Trung Quốc ký năm 2002, nhưng đến tận bây giờ hai bên mới thỏa thuận được về văn bản hướng dẫn thực thi DOC.

http://nghiencuubiendong.vn/tin-ncbd/images/stories/ARF ASEAN 2011.jpg

Điều này cho thấy khả năng ASEAN và Trung Quốc đạt được Bộ quy tắc Ứng xử ở Biển Đông (COC) có tính ràng buộc pháp lý còn rất xa vời. Tuy nhiên, quan chức các nước vẫn lên tiếng ca ngợi bản hướng dẫn vừa đạt được là “bước tiến quan trọng” trong tiến trình hướng tới COC.
Trả lời báo giới sau cuộc họp, đại diện đoàn Việt Nam - Trợ lý Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Quang Vinh - nói: “Đây là bước khởi đầu quan trọng và tích cực cho tất cả chúng ta trong nỗ lực chung để tiếp tục đối thoại và hợp tác, nhằm thúc đẩy hơn nữa sự ổn định và tin tưởng lẫn nhau trong khu vực”. Đại diện đoàn Trung Quốc, ông Lâm Chấn Minh, khẳng định: "Đây là dấu mốc quan trọng trong quan hệ hợp tác Trung Quốc-ASEAN. Tương lai của chúng ta thật rạng rỡ và chúng tôi hy vọng quan hệ hợp tác này sẽ tiếp tục trong tương lai”.
Trong khi đó, một số quan chức ngoại giao tham gia cuộc họp cho hay văn bản hướng dẫn này, trong quá trình thảo luận, đã bị sửa đổi khá nhiều và nội dung mang tính chung chung chứ không có gì cụ thể. Hãng thông tấn AFP dẫn lời một số quan chức cho rằng vẫn còn tồn tại những khác biệt về định nghĩa khu vực nào tại Biển Đông vẫn được coi là đang bị tranh chấp, vì các nước như Trung Quốc hay Philíppin không có cử chỉ gì gọi là nhượng bộ trong tuyên bố chủ quyền của mình. Họ than phiền rằng không có khung sườn nào để trực tiếp giải quyết tranh chấp ở khu vực này, vốn được cho là có nhiều dầu lửa và khí đốt.
Ngoại trưởng Philíppin Albert del Rosario cho biết đòi hỏi chủ quyền của Trung Quốc ở Biển Đông nhiều đến mức nếu đáp ứng đòi hỏi của họ, việc xây dựng một bộ quy tắc ứng xử với Trung Quốc trở thành vô ích. Ông Rosario nói: “Về cơ bản, họ tuyên bố chủ quyền đối với toàn bộ Biển Đông. Vì vậy, nếu chúng ta (ASEAN) ký bộ quy tắc ứng xử với Trung Quốc, điều đó chẳng có nghĩa lý gì”.
Ông Rosario cho biết ông muốn ASEAN có lập trường cứng rắn hơn, bằng cách công bố những nguyên tắc hướng dẫn, đề ra những tiêu chuẩn rõ ràng nhằm giải quyết các vụ tranh chấp dựa trên luật pháp quốc tế. Ông cho biết Philíppin chắc chắn sẽ hành động, đưa vụ này ra trước Tòa án Quốc tế về Luật Biển, ngay cả trong trường hợp Trung Quốc không muốn tham gia. Ông Rosario nói tiếp: “Chúng tôi sẽ ra trước tòa án nếu Trung Quốc muốn đi cùng chúng tôi. Tuy nhiên, nếu họ không muốn, chúng tôi sẽ tìm một phiên tòa trọng tài, dựa theo tòa án này để có được một sự phân xử vĩnh viễn hoặc là một sự phân xử tạm thời".
Đúng vào ngày Trung Quốc-ASEAN đạt được đồng thuận về văn bản hướng dẫn thực thi DOC sau gần 10 năm đàm phán, Bắc Kinh đã lên tiếng nhắc lại lập trường là không chấp nhận cho Mỹ can thiệp vào hồ sơ này. "Nhân dân nhật báo" - cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Trung Quốc - ngày 20/7 cho rằng Mỹ nên đứng ngoài những căng thẳng do tranh chấp ở Biển Đông gây ra. Theo tờ báo, “bóng ma của mối đe dọa tiềm ẩn đối với Biển Đông là hình ảnh một cường quốc lớn khác, đó là Mỹ”. Bắc Kinh khẳng định lại quan điểm không ủng hộ việc giải quyết đa phương những tranh chấp song phương và phản đối sự can thiệp của các cường quốc ngoài khu vực vào vấn đề này, “vì Trung Quốc và các nước láng giềng có đủ khả năng, kinh nghiệm và hiểu biết để tự giải quyết”.
Câu hỏi được đặt ra là phải chăng muốn ngăn chặn sự can thiệp của Mỹ, thuyết phục các nước Đông Nam Á coi đây là công việc nội bộ trong khu vực mà Trung Quốc đã chấp nhận ký văn bản hướng dẫn thực thi DOC?
Theo giới quan sát, một khi đã cho rằng Biển Đông liên quan đến lợi ích quốc gia thì Mỹ khó có thể đứng ngoài cuộc và sẽ tìm cách can dự, dù bằng cách này hay cách khác, ở các cấp độ khác nhau, tùy theo từng đối tác trong khu vực. Trước mắt, việc đạt được thỏa thuận về bản hướng dẫn thực thi DOC, cho dù chỉ ở mức tối thiểu, cũng là một bước tiến và như nhận định của một nhà ngoại giao ASEAN được Kyodo trích dẫn, chính sự năng động của Mỹ đã buộc Trung Quốc phải đối thoại với ASEAN về vấn đề Biển Đông.

longtt88
22-07-2011, 09:39 AM
“Làm nhiệm vụ trên đảo sẽ gian khổ, vất vả hơn nhiều lần trên bờ, nhưng con không được nhụt chí, càng gian nan, càng phải văn ôn, võ luyện thì mới thành tài” - đó là lời dặn của cha với Binh nhất Đỗ Hồng Quân khi anh gọi điện báo tin được đơn vị cử ra làm nhiệm vụ ở đảo Sơn Ca (Trường Sa, Khánh Hòa).



http://image.qdnd.vn/Upload//hoangha/2011/7/21/210711hha2520435015.jpg


Binh nhất Đỗ Hồng Quân




Quân quê ở Đô Lương (Nghệ An), từ nhỏ đã có mơ ước được trở thành sĩ quan quân đội. Vì vậy, tốt nghiệp THPT, anh tình nguyện nhập ngũ vào Lữ đoàn 146, Vùng 4, Quân chủng Hải quân. Ngày về đơn vị, Quân mang theo một tập sách, toàn là những tài liệu ôn thi khối A. Trước hôm ra đảo, một vài đồng đội đi trước khuyên anh không nên mang theo sách vở vì ngoài đó nhiệm vụ nặng nề, chẳng còn nhiều thời gian tự ôn. Nhưng Quân vẫn lẳng lặng bỏ bớt các đồ vật không cần thiết, nhét đầy một ba lô các sách toán, lý, hóa... Đặt chân lên đảo, lúc điểm nghiệm quân tư trang, Thượng úy Lương Mạnh Dũng, Trợ lý chính trị thấy thế rất lấy làm thích thú. Anh Dũng vốn nguyên là học sinh chuyên toán, nên rất thích những người yêu toán học. Từ đó, trong những ngày nghỉ, giờ nghỉ, Quân có một người thầy dạy kèm là Thượng úy Lương Mạnh Dũng. Chỉ huy đơn vị thấy thầy tâm huyết, trò say sưa nên cũng tạo điều kiện thời gian để Quân học thêm. Nhiều bài toán, bài lý mà trong thời kỳ học phổ thông, Quân chưa có điều kiện nghiên cứu, nay được thầy Dũng giảng giải, hướng dẫn cách làm rất độc đáo. Đảng ủy, chỉ huy đảo Sơn Ca cũng đã đăng ký chỉ tiêu dự thi vào Học viện Hải quân cho Binh nhất Đỗ Hồng Quân vào mùa thi năm sau.

Say sưa tự học nhưng điều đáng quý là Đỗ Hồng Quân không “quên” nhiệm vụ. Chỉ trong năm đầu ra đảo, Quân đã được bầu là “Chiến sĩ tiên tiến” của đơn vị. Trung tá, Đảo trưởng Lê Đình Hải cho biết: Quân là thiện xạ súng máy phòng không 12,7mm của đảo, tất cả các bài bắn kiểm tra, Quân đều đạt loại giỏi. Vừa qua, khi đảo kiểm tra việc bắn bia số 18, mục tiêu máy bay địch, Quân đã được bắn mẫu để các chiến sĩ khác quan sát từ thao tác của xạ thủ cho đến cách lấy thước ngắm, nạp đạn, tháo đạn... Khi mọi người đến chúc mừng kết quả bắn giỏi, Quân khiến mọi người cảm phục khi phát biểu: “Để có được kết quả bắn giỏi, công lớn nhất thuộc về những người bảo quản súng. Trong điều kiện khí hậu của đảo, bảo quản súng mới là khó nhất”.

Quân “bật mí”: “Tôi sẽ gọi điện cho cha để chia sẻ niềm vui kết quả bắn đạn thật, tôi đã thực hiện được lời hứa với cha: Ra đảo vẫn tiếp tục “văn ôn, võ luyện”.

Nguồn: QĐND Online (http://www.qdnd.vn/QDNDSite/vi-VN/61/43/4/39/39/155049/Default.aspx)

longtt88
22-07-2011, 10:50 AM
Quỹ thời gian kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa XIII chỉ có 14 ngày rưỡi mà đã chi dùng 11 ngày để làm công tác nhân sự cấp cao, nhưng vấn đề bảo vệ chủ quyền, an ninh biển đảo - nhất là những vấn đề liên quan biển Đông vẫn được dành thời lượng.



http://www.tienphong.vn/ImageHandler.ashx?ThumbnailID=105326&Width=400


Tổng Bí thư, Chủ tịch QH Nguyễn Phú Trọng chúc mừng các đại biểu Quốc hội khóa XIII tại phiên khai mạc. Ảnh: Hồng Vĩnh.



Ông Chủ nhiệm Văn phòng QH Trần Đình Đàn cho biết, ngoài việc gửi báo cáo riêng để đại biểu tự nghiên cứu, có thể đại biểu QH sẽ được nghe một cách cụ thể hơn về nội dung này tại phiên họp toàn thể.

Ngay phiên khai mạc, sau phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, diễn đàn QH kỳ họp đầu tiên khóa XIII, Hội trường đã vang lên tiếng nói của Chủ tịch UB T.Ư MTTQ Việt Nam Huỳnh Đảm: Cử tri và nhân dân rất bất bình với việc gần đây một số tàu của Trung Quốc xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa thuộc chủ quyền của nước ta gây ảnh hưởng không tốt đến mối quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa hai nước.

Sóng lan nhưng có dậy?

Dậy là cách nói của việc cần thiết phải có một Nghị quyết về biển Đông như nguyện vọng đông đảo con dân nước Việt! Cũng theo ông Trần Đình Đàn “Vì nhân dân cả nước đều hết sức quan tâm nên UB thường vụ QH đã thống nhất yêu cầu ngay từ trong phiên họp đầu tiên, Chính phủ sẽ báo cáo toàn bộ tình hình đất nước để ĐB tiếp cận”.

Dư luận hoan nghênh phát biểu của ông Chủ nhiệm VPQH trong buổi họp báo về kỳ họp đầu tiên của QH khóa XIII. Phát biểu ấy không những đã nói trúng, khơi đúng sự quan tâm của công luận về chủ quyền biển đảo mà còn thể hiện thái độ trân trọng cũng như đánh giá cao năng lực vai trò trách nhiệm của mỗi ĐBQH.

Đó là khi ông trả lời nhiều ký giả trong buổi họp báo liệu có một Nghị quyết về biển Đông trong kỳ họp, rằng: Tùy thuộc sự tham gia phát biểu của đại biểu, lúc đó Đoàn Chủ tịch mới xin ý kiến Quốc hội việc ra nghị quyết về biển Đông. Điều này phụ thuộc vào ý chí và đề nghị của các ĐBQH. Chắc chắn ĐBQH sẽ tham gia.

Ý chí và đề nghị tức là nhấn mạnh đến một tiềm năng, năng lực tầm nhìn của các ĐBQH về vấn đề biển Đông đang được đông đảo cử tri quan tâm!

Sảnh lớn Hội trường Bộ Quốc phòng, dường như sinh sắc hơn bởi tấp nập những gương mặt mới. Chia sẻ cảm nghĩ rằng, Quốc hội khóa XIII có tới 333/500 đại biểu là người mới, chưa có nhiều kinh nghiệm... Liệu có đủ tâm và tầm khi quyết định những chuyện quốc gia đại sự, những vấn đề nhân sự bộ máy của QH, của Chính phủ hoặc như vấn đề biển Đông chẳng hạn?

Ông Uông Chu Lưu, Phó Chủ tịch QH cười, các ký giả cứ yên tâm đi. Hầu hết các ĐBQH tham gia khóa này đã trải nghiệm công tác trên nhiều vị trí khác nhau nên đã có kinh nghiệm để xứ lý vấn đề. Tất nhiên một số ĐBQH mới trúng cử lần đầu không khỏi cảm thấy mới lạ trong môi trường hoạt động đặc thù như Quốc hội.

Chính vì thế nên mặc dầu thời gian eo hẹp, Trung tâm bồi dưỡng đại biểu dân cử của QH đã tổ chức các lớp tập huấn ở Hà Nội và các tỉnh phía Nam cho gần 300 ĐBQH mới trúng cử, mỗi lớp tập huấn là 3 ngày. Họ được cung cấp những kiến thức cơ bản, tổng quan về QH, Luật tổ chức QH, Luật tổ chức của HĐND và UBND, giúp các đại biểu kỹ năng xây dựng luật để tham gia vào vai trò quyết định của QH.

Chợt nhớ, gần đây tôi có dịp ngồi với GS.TS, cựu nghị sĩ Nguyễn Minh Thuyết. Có cảm giác lúc đương là nghị sĩ hay nguyên nghị sĩ, vị GS này lúc nào cũng tất tả bấn bíu. Ông vừa hoàn thành chuyến công tác quan trọng là được Quốc hội mời đi giảng cho các lớp tập huấn những ĐBQH mới trúng cử do Trung tâm Bồi dưỡng đại biểu dân cử của QH tổ chức. Nội dung lên lớp là hai bài giảng, Kỹ năng thu thập thông tin và xử lý thông tin và Kỹ năng thuyết trình tại Quốc hội.

Ông rất phấn khởi dường như vừa được chia sẻ vừa được đồng cảm với những đồng nghiệp hơn là việc trực tiếp truyền thụ những kinh nghiệm của bản thân qua hai khóa ĐBQH. Không biết quá trình lên lớp, ông có làm cái việc truyền lửa trong việc xử lý thuyết trình cho họ không nhưng có cảm giác như ông hài lòng vì thấy các tân nghị sĩ trình độ cũng như phẩm chất và cả dũng khí nữa qua gặp gỡ tiếp xúc nhất định sẽ có những đóng góp và hoàn thành tốt nhiệm vụ mà cử tri giao phó.

Đề cập những vấn đề cấp bách về kinh tế xã hội mà kỳ họp đầu tiên QH khóa XIII sắp khai mạc, ông toàn nói chữ nếu! (Nếu bởi ông không tham gia khóa này). Nếu vấn đề Biển Đông và chủ quyền quốc gia biển đảo được đưa ra thảo luận và QH có hẳn một Nghị quyết về biển Đông thì quá hợp lòng dân!



http://www.tienphong.vn/ImageHandler.ashx?ThumbnailID=105327&Width=400


Nhà báo Xuân Ba (bên trái) và nhà Sử học Dương Trung Quốc (giữa) trao đổi với Phó Chủ tịch Quốc hội Uông Chu Lưu.



Cái cười của ông Quốc, chữ “nhưng” của ông Lộc

Nhớ câu văn vần, gần như dân gian về ĐBQH gây nhiều ấn tượng được cử tri mến mộ trong các khóa gần đây nhất Ngoạn (ĐB Đỗ Trọng Ngoạn, đoàn Bắc Giang) nhì Trân (ĐB Nguyễn Ngọc Trân, đoàn An Giang) tam Lân (ĐB Nguyễn Lân Dũng, đoàn Đăk Nông) tứ Quốc (ĐB Dương Trung Quốc, đoàn Đồng Nai) vv...

Liên tưởng đến nhận xét trên đây của một lãnh đạo QH và ông cựu nghị sĩ Nguyễn Minh Thuyết, chắc chắn hoạt động của các ĐBQH trong khóa mới này chất lượng sẽ khá sẽ có sự đột biến nào đó? Ấn tượng cũng như sự cảm mến ấy như một sự kế thừa, tiếp nối?

Với cảm giác ấy, tôi đã gặp 3 ĐBQH trẻ mới trúng cử. Một phía Bắc, một phía Nam và miền Trung - Tây Nguyên. Khi được hỏi về vấn đề biển Đông, họ bộc bạch khá lưu loát về quan điểm cũng như tình cảm về chủ quyền biển đảo quốc gia... Nhưng khi được hỏi rằng anh (chị) có truyền quan điểm tình cảm ấy của mình trên diễn đàn QH không thì họ cười cho biết, trong chương trình không quy định!

Lại nhớ ngay đến phát biểu của ông Chủ nhiệm VPQH tại cuộc họp báo "Tùy thuộc sự tham gia phát biểu, phụ thuộc vào ý chí và đề nghị của đại biểu...". Nhưng ĐBQH thảo luận về vấn đề này ở đâu? Trên Hội trường hay ở đoàn ở tổ? Coi kỹ Chương trình kỳ họp thứ nhất QH khóa XIII không thấy vấn đề biển Đông được ấn định được ghi vào một buổi nào trong chương trình nghị sự của QH?

Một giờ hoặc một giờ rưỡi như ông Chủ nhiệm VPQH nói trong cuộc họp báo là thời lượng để cho Chính phủ trình bày vấn đề này trước QH hay gồm cả thời gian thảo luận? Mà thảo luận riêng một chuyên đề về vấn đề bảo vệ chủ quyền an ninh trật tự vùng biển đảo hay kết hợp với việc các ĐBQH thảo luận về tình hình kinh tế xã hội nói chung? Tiếc rằng giờ giải lao gấp gáp những băn khoăn ấy vẫn chưa được giải đáp!

May quá có ĐB Dương Trung Quốc đây rồi. Ban nãy trước giờ giải lao, ngó suốt lượt hội trường, các ký giả được phân công theo dõi QH cười vui rỉ tai nhau, chắc chắn mai kia sẽ xuất hiện nhiều ĐBQH nổi trội hăng hái trong giám sát trong chất vấn nhưng hiện giờ về mặt hình thức chỉ nhận ra được ngay mái tóc bạc của nghị sĩ Dương Trung Quốc!

Ông Quốc thẳng thắn, theo tôi, chủ quyền về quốc gia là vấn đề quan trọng của đất nước mà QH có quyền trước tiên xem xét bàn bạc và quyết định. Có một nghị quyết của QH về biển Đông chỉ là tăng thêm sự đồng thuận gắn bó của cử tri của nhân dân với nhà nước. Để không tạo ra những kẽ hở cho những thế lực xấu lợi dụng xuyên tạc.

Một nhà báo mau mắn: nếu được phép phát biểu trên hội trường về vấn đề này ông có ý kiến chứ ạ? ĐB Dương Trung Quốc cười gật đầu... Ông sẽ nói những gì? ĐB Dương Trung Quốc đáp ngay: Đến lúc ấy hẵng hay... Ông nói thêm, nếu chưa có điều kiện và thời gian ra một nghị quyết về biển Đông thì chí ít trong Nghị quyết của kỳ họp đầu tiên nên có ít dòng thể hiện quan điểm của QH về vấn đề quan trọng này!

Trên lối đi gặp lại nguyên Chủ nhiệm VPQH Vũ Mão là khách mời của QH. Mừng thấy ông cựu Chủ nhiệm về hưu lâu rồi vẫn khỏe mạnh sung sức. Vị Chủ nhiệm này từng kinh qua những vị trí quan trọng như Chủ nhiệm UB đối ngoại của QH, tôi tranh thủ trao đổi lại với ông mong muốn cùng là đề nghị nguyện vọng của một số ĐBQH vừa gặp...

Ông Mão thẳng thắn rằng, đưa vấn đề biển Đông ra trước Quốc hội là cần thiết, đúng đắn. Đây là thời điểm và là cơ hội để thể hiện quan điểm trước quốc dân đồng bào và bạn bè quốc tế, nhân dân ta có được những thông tin khách quan, toàn diện về chủ quyền biển Đông và điều quan trọng là tạo nên sự đồng tâm nhất trí trong toàn xã hội, từ lãnh đạo cho đến người dân. Đã đưa ra Quốc hội thì cần phải có sản phẩm, đó là một nghị quyết!

Ban nãy đứng với ông Nguyễn Đình Lộc, cựu Bộ trưởng Tư pháp. Ông cũng nói QH kỳ này cần thiết phải có một nghị quyết về biển Đông. Lại nghĩ thêm chữ nhưng của ông mà tôi tạm hiểu thế này: Việc có nghị quyết của QH về bất kỳ vấn đề nào đó còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố.


Xuân Ba


Nguồn: TPO (http://www.tienphong.vn/Phong-Su/545846/Song-bien-Dong-lan-den-Quoc-hoi-tpp.html)

HQ0909
22-07-2011, 11:48 AM
Giới chức Philippines cho biết nước này sẽ mua 8 trực thăng đa năng mới để tăng cường tuần tra ở những nơi mà Manila tuyên bố chủ quyền trên quần đảo Trường Sa.

Manila Standard Today hôm qua đưa tin 8 chiếc trực thăng thuộc loại W-3A Sokol, được Philippines mua từ Ba Lan với giá 3,2 tỷ peso. Trực thăng sẽ được sử dụng để chở binh lính đi đến bất cứ địa điểm nào, trong đó có các khu vực mà Philippines tuyên bố chủ quyền ở quần đảo Trường Sa và vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của nước này.
http://vnexpress.net/Files/Subject/3b/a2/c8/b1/1.jpg (http://vnexpress.net/Files/Subject/3b/a2/c8/b1/1.jpg)
Trực thăng đa chức năng W-3A Sokol. Ảnh: Manila Standard Today

W-3A Sokol được sản xuất bởi công ty PZL-Swidnik của Ba Lan, có thể chở được 14 người, bao gồm 2 phi công, tốc độ tối đa là 235 km/h. Bốn trong 8 chiếc trực thăng sẽ được chuyển đến Manila vào tháng 11 này. Bốn chiếc còn lại sẽ được bàn giao trong năm tới.
Trong vòng ba tuần tới, Manila cũng sẽ nhận được tàu chiến Hamilton mua của Mỹ với tên gọi là Gregorio del Pilar. Tàu này có lượng choán nước 3,4 nghìn tấn, tốc độ 26 hải lý/giờ và có khả năng mang thủy thủ đoàn gồm 180 binh lính, sĩ quan.

Anh Ngọc
http://vnexpress.net/gl/the-gioi/2011/07/philippines-mua-truc-thang-de-tuan-tra-truong-sa/

HQ0909
22-07-2011, 11:56 AM
Theo phóng viên TTXVN tại Inđônêxia, ngày 21/7, tại Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN - Trung Quốc diễn ra ở Bali (Inđônêxia), các Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN và Trung Quốc đã nhất trí thông qua Quy tắc hướng dẫn thực hiện Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), do ASEAN đề xuất.

Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Phạm Gia Khiêm và Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Dương Khiết Trì đã chủ trì hội nghị. Các Bộ trưởng khẳng định cam kết đối với DOC và việc thực hiện đầy đủ, hiệu quả tuyên bố này, vì hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn hàng hải trong khu vực. Hội nghị hoan nghênh việc nối lại cuộc họp các quan chức cao cấp ASEAN-Trung Quốc và hoàn tất Quy tắc hướng dẫn thực hiện DOC, coi đây là kết quả và sự khởi đầu có ý nghĩa, vì mục tiêu xây dựng lòng tin, góp phần thúc đẩy việc thực hiện DOC.




http://tintucimg.vnanet.vn/2011/07/22/08/52/T4-asean.JPG

Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Phạm Gia Khiêm (trái)
và Ngoại trưởng Trung Quốc Dương Khiết Trì (phải) tại hội nghị.
Ảnh: AFP/TTXVN




Các Bộ trưởng đề nghị hai bên tích cực triển khai Chương trình hành động thực hiện Tuyên bố chung về Quan hệ Đối tác chiến lược ASEAN-Trung Quốc vì Hòa bình và Thịnh vượng giai đoạn 2011-2015, đặc biệt trong 11 lĩnh vực ưu tiên hợp tác, gồm nông nghiệp, công nghệ thông tin và truyền thông, phát triển nguồn nhân lực, phát triển lưu vực sông Mê Công, đầu tư, năng lượng, giao thông, văn hóa, y tế, du lịch và môi trường; tăng cường hỗ trợ lẫn nhau thực hiện hiệu quả Khu vực Mậu dịch tự do ASEAN-Trung Quốc (ACFTA) cũng như triển khai Kế hoạch tổng thể về kết nối ASEAN; xem xét việc tiếp tục thực hiện Kế hoạch hành động (PoA) giai đoạn 2011-2015 đã được các nhà lãnh đạo thông qua tại Hội nghị cấp cao ASEAN-Trung Quốc lần thứ 13 tại Hà Nội năm 2010.

Các Bộ trưởng đánh giá cao và nhất trí tiếp tục triển khai tốt các hoạt động kỷ niệm 20 năm thiết lập quan hệ đối tác chiến lược ASEAN-Trung Quốc, trong đó có việc sớm đưa Trung tâm ASEAN-Trung Quốc vào hoạt động, thực hiện tuyên bố chung được thông qua tại Diễn đàn Doanh nghiệp trẻ ASEAN-Trung Quốc lần thứ 3 tại Giacácta (Inđônêxia) diễn ra ngày 19-23/4 vừa qua và Diễn đàn các nhà lãnh đạo thanh niên ASEAN-Trung Quốc diễn ra ngày 25-27/6 tại Campuchia.

Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN +3 và ASEAN +1

Ngày 21/7, Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) và các đối tác Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc (ASEAN+3) và các Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN với Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản và Ôxtrâylia theo cơ chế ASEAN+1 đã diễn ra tại Bali (Inđônêxia) với sự tham dự của Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Gia Khiêm.

Tại Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN+3, các Bộ trưởng đánh giá tiến trình ASEAN+3 là một trong những cơ chế hợp tác năng động và hiệu quả trong khu vực, góp phần quan trọng vào việc thúc đẩy xây dựng một cấu trúc khu vực vì hòa bình, an ninh, ổn định và phát triển trong khu vực cũng như hỗ trợ tích cực cho tiến trình xây dựng Cộng đồng và kết nối ASEAN; nhất trí tiếp tục triển khai hiệu quả Tuyên bố chung lần hai về Hợp tác Đông Á và Kế hoạch công tác ASEAN+3 giai đoạn 2007-2017; tăng cường hợp tác sâu rộng ở cả cấp độ song phương và khu vực về các vấn đề tài chính - tiền tệ, thương mại, đầu tư, du lịch, giao thông vận tải, phát triển cơ sở hạ tầng, giao lưu nhân dân…; cam kết thực hiện hiệu quả “Thỏa thuận Đa phương hóa Sáng kiến Chiềng Mai” (CMIM), ủng hộ sớm ký kết Hiệp định Quỹ dự trữ gạo khẩn cấp ASEAN+3 (APTERR), nghiên cứu tính khả thi của việc thành lập Khu vực Mậu dịch Tự do Đông Á (EAFTA) cũng như ứng phó hiệu quả với các thách thức toàn cầu...

Tại Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN - Trung Quốc, các Bộ trưởng đánh giá cao và nhất trí tiếp tục triển khai tốt các hoạt động kỷ niệm 20 năm thiết lập quan hệ đối tác chiến lược ASEAN – Trung Quốc, hướng tới hội nghị cấp cao kỷ niệm ASEAN - Trung Quốc vào tháng 11 tới. Các Bộ trưởng đề nghị hai bên tích cực triển khai Chương trình hành động thực hiện Tuyên bố chung về Quan hệ Đối tác chiến lược ASEAN - Trung Quốc vì Hòa bình và Thịnh vượng giai đoạn 2011 - 2015, nhất là trong 11 lĩnh vực ưu tiên như thương mại, đầu tư, du lịch, cơ sở hạ tầng, giao thông, nông nghiệp…; tăng cường hỗ trợ lẫn nhau thực hiện hiệu quả Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN - Trung Quốc (ACFTA) cũng như triển khai Kế hoạch tổng thể về kết nối ASEAN. Bên cạnh đó, hai bên nhất trí sớm đưa Trung tâm ASEAN - Trung Quốc vào hoạt động, tăng cường hợp tác ứng phó với các thách thức đang nổi lên như biến đổi khí hậu, thiên tai, quản lý nguồn nước bền vững tại khu vực Mê Công…

Các Bộ trưởng khẳng định cam kết đối với Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và việc thực hiện đầy đủ, hiệu quả Tuyên bố này, vì hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn hàng hải ở khu vực; hoan nghênh việc nối lại cuộc họp các quan chức cấp cao ASEAN - Trung Quốc và hoàn tất Quy tắc hướng dẫn thực hiện DOC, coi đây là kết quả và sự khởi đầu có ý nghĩa vì mục tiêu xây dựng lòng tin, góp phần vào việc thúc đẩy thực hiện Tuyên bố này. Các Bộ trưởng đã nhất trí thông qua Quy tắc hướng dẫn thực hiện DOC.

Tại Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN - Nhật Bản, ASEAN-Hàn Quốc, ASEAN-Ôxtrâylia, các bộ trưởng đã khẳng định tiếp tục triển khai hiệu quả những cam kết hợp tác về nhiều mặt.

Phát biểu tại các hội nghị, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Gia Khiêm đánh giá cao những tiến triển thực chất trong quan hệ giữa ASEAN và các đối tác; đề nghị ASEAN và các đối tác tiếp tục triển khai hiệu quả và đúng hạn các chương trình, dự án hợp tác đã có cũng như thúc đẩy hợp tác trong các lĩnh vực khác cùng có lợi như phát triển nguồn nhân lực, công nghệ thông tin, khoa học kỹ thuật, các vấn đề an ninh phi truyền thống… Phó Thủ tướng cũng đề nghị các đối tác tiếp tục ủng hộ và có những đóng góp cụ thể cho nỗ lực xây dựng Cộng đồng và kết nối ASEAN, thu hẹp khoảng cách phát triển cũng như ủng hộ vai trò trung tâm của ASEAN tại các khuôn khổ, diễn đàn khu vực như ASEAN+1, ASEAN+3, EAS, ARF, ADMM+…

Đồng chủ trì Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN - Trung Quốc, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Phạm Gia Khiêm đánh giá cao các tiến bộ đạt được trong Quan hệ đối tác chiến lược ASEAN - Trung Quốc thời gian gian qua; nhấn mạnh cần tiếp tục thúc đẩy hợp tác nhiều mặt và làm sâu sắc hơn nữa mối quan hệ đối thoại ASEAN - Trung Quốc, thúc đẩy thực hiện đầy đủ và hiệu quả DOC, vì hòa bình, ổn định và phát triển thịnh vượng trong khu vực; tiếp tục tích cực chuẩn bị cho Hội nghị Cấp cao kỷ niệm 20 năm quan hệ ASEAN - Trung Quốc vào tháng 11 tới.

Cùng ngày, Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao Mêcông - Nhật Bản lần thứ 4 đã diễn ra tập trung thảo luận các kế hoạch tăng cường hợp tác giữa hai bên và một số vấn đề quốc tế, khu vực cùng quan tâm. Tham dự hội nghị có bộ trưởng ngoại giao các nước Việt Nam, Nhật Bản, Campuchia, Lào, Mianma, Thái Lan. Bộ trưởng Ngoại giao Nhật Bản Takeaki Matsumoto chủ trì hội nghị.

Việt Nam tích cực tiếp xúc song phương với nhiều nước bên lề Hội nghị AMM 44

Bên cạnh việc tham gia chủ động và có hiệu quả Hội nghị AMM-44 và các diễn đàn đa phương của ASEAN đang diễn ra tại Bali (Inđônêxia), Đoàn Việt Nam do Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Gia Khiêm dẫn đầu, đã có nhiều cuộc tiếp xúc song phương với nhiều nước.

Tại cuộc tiếp xúc giữa Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Gia Khiêm và Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Dương Khiết Trì sáng 21/7, hai bên đã trao đổi ý kiến chân thành và thẳng thắn trong bầu không khí hữu nghị về quan hệ hai nước và những vấn đề cùng quan tâm. Hai bên khẳng định hết sức coi trọng phát triển quan hệ láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện giữa hai Đảng, hai nhà nước, góp phần duy trì hòa bình, ổn định, hợp tác tại khu vực; trao đổi các biện pháp tăng cường quan hệ hợp tác song phương trong thời gian tới, nhất là việc chuẩn bị cho các chuyến thăm và tiếp xúc giữa lãnh đạo cấp cao hai nước trong năm nay, đồng thời tăng cường hợp tác giữa các bộ, ngành, địa phương và giao lưu hữu nghị giữa nhân dân hai nước. Hai bên cũng đánh giá cao việc Hội nghị các quan chức cấp cao (SOM) ASEAN-Trung Quốc vừa thông qua Quy tắc hướng dẫn thực hiện Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), coi đây là khởi đầu quan trọng trong việc duy trì hòa bình, ổn định tại Biển Đông và tăng cường sự tin cậy giữa ASEAN và Trung Quốc.

Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Phạm Gia Khiêm nhấn mạnh, hai bên cần tuân thủ những nhận thức chung của lãnh đạo cấp cao hai nước về vấn đề Biển Đông, thông qua đàm phán hữu nghị, giải quyết hòa bình các tranh chấp trên biển trên cơ sở Luật pháp quốc tế, nhất là Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982, nghiêm chỉnh tuân thủ DOC và tiến tới Bộ Quy tắc về ứng xử của các bên ở Biển Đông (COC).

Chiều cùng ngày, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Gia Khiêm đã có cuộc gặp với Bộ trưởng Ngoại giao Ôxtrâylia Kevin Rudd. Hai bên nhất trí cần tiếp tục triển khai các lĩnh vực hợp tác cụ thể trong khuôn khổ Chương trình Hành động Việt Nam - Ôxtrâylia giai đoạn 2010 - 2013; duy trì các chuyến thăm và tiếp xúc cấp cao, cũng như tăng cường sự phối hợp chặt chẽ và hiệu quả tại các diễn đàn khu vực và quốc tế. Bộ trưởng K.Rudd đánh giá cao việc ASEAN và Trung Quốc đã thông qua Quy tắc hướng dẫn thực hiện DOC. Trước đó, tại cuộc tiếp xúc giữa Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Gia Khiêm với Bộ trưởng Ngoại giao Philíppin Albert del Rosario sáng 19/7, hai bên đã đánh giá cao những thành quả đạt được trong quan hệ hai nước thời gian gần đây, nhất là trong lĩnh vực thương mại, đầu tư, quốc phòng, hợp tác biển và đại dương. Về vấn đề Biển Đông, hai bên nhất trí tiếp tục phối hợp chặt chẽ trong khuôn khổ ASEAN; nhấn mạnh cần tôn trọng và thực hiện nghiêm túc và đầy đủ DOC; hoan nghênh việc nhóm họp lại hội nghị SOM ASEAN - Trung Quốc về DOC nhằm thúc đẩy thực hiện DOC và tiến tới COC.

Theo kế hoạch, hôm nay (22/7), Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Gia Khiêm sẽ lần lượt tiếp xúc song phương với Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ, Nga, Canađa và Nhật Bản.

TTXVN

Báo tin tức (http://www.baotintuc.vn/472N20110722085318631T0/asean-va-trung-quoc-thong-qua-quy-tac-huong-dan-thuc-hien-doc.htm)

HQ0909
22-07-2011, 12:32 PM
http://giaoduc.net.vn/images/stories/2011/07/22/avatar_aspx(1).jpg


(GDVN) - Tân Hoa Xã dẫn lời Ngoại trưởng Trung Quốc Dương Khiết Trì phát biểu tại Hội nghị AMM 44 ở Bali ngày 21/7 cho hay, Trung Quốc muốn làm một hàng xóm thân thiện của ASEAN thông quan nỗ lực phấn đấu cho sự phát triển chung và hợp tác thực tế với các nước ASEAN để thúc đẩy hòa bình, ổn định và thịnh vượng ở Đông Á.

Theo đó, Ông Dương nói rằng, Trung Quốc và ASEAN đã có quan hệ đối tác chiến lược suốt 20 năm qua và đã thiết lập khu mậu dịch lớn nhất trong số các nước đang phát triển.

Để tăng cường hợp tác với ASEAN, Ngoại trưởng Trung Quốc đã đề xuất nên duy trì trao đổi cấp cao, thúc đẩy quan hệ đối tác chiến lược Trung Quốc-ASEAN, giải quyết các vấn đề và sự khác biệt thông qua tham vấn thân thiện, duy trì sự phát triển lành mạnh của hợp tác Trung Quốc-ASEAN và bảo vệ hòa bình và ổn định khu vực.

Ông Dương còn nói rằng, Trung Quốc sẽ thực hiện kế hoạch Hành động ASEAN-Trung Quốc 5 năm lần thứ hai và cố gắng tăng khối lượng các giao dịch thương mại song phương lên 500 tỷ USD trong thời gian tới; thúc đẩy trao đổi song phương trong các lĩnh vực như du lịch, văn hóa, giáo dục thông qua việc thành lập trung tâm Trung Quốc-ASEAN.

Trung Quốc sẵn sàng tăng cường hợp tác với ASEAN trong các tổ chức quốc tế như Liên Hợp Quốc và G-20 để cùng giải quyết các thách thức khu vực và toàn cầu về biến đổi khí hậu, tội phạm xuyên quốc gia và an ninh lương thực.

Ông Dương cũng nói thêm rằng, Trung Quốc cũng sẽ hỗ trợ vai trò chủ đạo của ASEAN trong hợp tác Đông Á. Các thỏa thuận mới được thông qua trong Quy tắc hướng dẫn thực thi Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) đặt một nền tảng vững chắc cho hợp tác thực tế tại Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông) và có lợi cho hòa bình, ổn định ở khu vực.

Trung Quốc sẵn sàng đàm phán với các nước ASEAN để Biển Đông trở thành một vùng biển hòa bình, hữu nghị và hợp tác.

Nguyễn Hường (Theo Tân Hoa Xã)
giaoduc (http://giaoduc.net.vn/quoc-te/42-the-gioi-trong-ngay/8295-trung-quc-mun-la-mt-hang-xom-qthan-thinq-vi-asean.html)

longtt88
22-07-2011, 02:41 PM
Bên hành lang Quốc hội, nguyên Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm đã trao đổi với báo chí xung quanh vấn đề biển Đông.



http://www.tienphong.vn/ImageHandler.ashx?ThumbnailID=105296&Width=374


Nguyên Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm.



Ông Nguyễn Mạnh Cầm nói: Quan điểm của chúng ta luôn giải quyết vấn đề một cách hòa bình nhưng rõ ràng, dựa trên 2 cơ sở: Luật pháp quốc tế và Công ước quốc tế về luật biển 1982 của LHQ. Phải làm rõ cho thế giới biết chủ quyền của chúng ta đã xác định từ lâu. Tôi tin lập trường của VN sẽ được ủng hộ.

Thông tin về việc Trung Quốc mang dàn khoan lớn nhất của họ ra đặt ở vùng biển Trường Sa có phải là hành vi xâm phạm chủ quyền Việt Nam? Cách xử lý của chúng ta như thế nào?

Thông tin này trước tháng 7 họ đã đưa ra, bây giờ chững lại nhưng không biết tới đây thế nào. Tất nhiên chúng ta phải kiên quyết bảo vệ, đấu tranh với Trung Quốc nhưng không gây căng thẳng, phức tạp. Vì vấn đề này còn liên quan một số nước khác nữa. Gần đây, chúng ta đã trao đổi để bạn bè thấy rõ vấn đề, ủng hộ ta.

Trung Quốc muốn thỏa thuận song phương để giải quyết vấn đề biển Đông. Chúng ta nên xử lý thế nào?

Lập trường của ta rất rõ, về Hoàng Sa, chỉ có Trung Quốc và ta, các nước khác không liên quan. Đó là chủ quyền của ta bị Trung Quốc xâm phạm. Hoàng Sa có thể giải quyết 2 bên được. Còn Trường Sa thì liên quan đến nhiều bên, ít nhất là 6 bên đồng thời liên quan. Vấn đề đường chữ U, đường 9 đoạn, chiếm gần 80% biển Đông thì liên quan đến nhiều nước khác vì liên quan hàng hải, không thể giải quyết song phương.

Việc Trung Quốc cắt cáp tàu Bình Minh, dư luận quốc tế thời gian qua đa phần ủng hộ Việt Nam và phê phán Trung Quốc. Theo ông, các bước đi tiếp theo của chúng ta là gì?

Phải làm cho thế giới thấy rõ hơn, vì không phải nước nào cũng quan tâm và biết rõ vấn đề này.

Để bảo vệ chủ quyền biển đảo, cơ bản nhất là làm sao ngư dân phải bám được biển và mình tổ chức khai thác tài nguyên biển hợp lý. Nhưng hiện có nhiều khó khăn đối với ngư dân bám biển, phần vì Trung Quốc gây khó khăn, phần vì giá dầu tăng. Nhà nước cần có biện pháp như có tàu bảo vệ ngư dân, giúp họ chống lại việc bị bắt bớ, làm nhục khi đang khai thác trên chính vùng biển của mình.


Nguyễn Tuấn


Nguồn: TPO (http://www.tienphong.vn/thoi-su/545798/nha-nuoc-can-co-tau-bao-ve-ngu-dan-tpp.html)

Sat That
22-07-2011, 05:16 PM
Mỹ ca ngợi thỏa thuận mới về Biển Đông

Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ Hillary Clinton đề cao thỏa thuận mới đạt được giữa hiệp hội các nước Đông Nam Á với Trung Quốc về hướng dẫn thực hiện Tuyên bố ứng xử trên Biển Đông.



Thỏa thuận này được ngoại trưởng các nước ASEAN và đồng cấp Trung Quốc công nhận hôm qua, chỉ dẫn các cách thức hiện thực hóa một tuyên bố ra đời từ năm 2002 (DOC) giữa các bên có tranh chấp chủ quyền.
"Tôi muốn ca ngợi Trung Quốc và ASEAN đã làm việc chặt chẽ cùng nhau để lập ra các hướng dẫn thực thi cho tuyên bố chung về ứng xử trên Biển Đông", Clinton nói trước cuộc gặp người đồng nhiệm Trung Quốc Dương Khiết Trì.
Bà Clinton hôm nay cũng sẽ gặp những người đồng nhiệm châu Á tại Bali, Indonesia, sau chuyến công du Ấn Độ. Tại New Delhi, Clinton đã có một tuyên bố đáng chú ý, đó là kêu gọi Ấn Độ mở rộng hơn nữa ảnh hưởng và lãnh đạo khu vực. Ý kiến này chắc hẳn phải khiến Trung Quốc nghi ngại, hãng tin AFP bình luận.
Tại Bali hôm nay, sau khi họp với các ngoại trưởng ASEAN, bà Clinton sẽ tham dự hội nghị cấp cao Đông Á, và ngày mai tham gia Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF).


http://vnexpress.net/Files/Subject/3b/a2/c8/fb/pham-clinton.jpg



Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Phạm Gia Khiêm bắt tay Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton trước một cuộc họp sáng nay ở Bali. Ảnh: AP.




ARF là diễn đàn đối thoại an ninh quan trọng bậc nhất ở châu Á Thái Bình dương, nơi các bộ trưởng và quan chức cấp cao của Đông Nam Á tụ họp với đối tác Trung Quốc, Nhật, Hàn Quốc, Nga, Australia, Mỹ.
Các vấn đề an ninh như tranh chấp chủ quyền Biển Đông, chương trình hạt nhân Triều Tiên, xung đột biên giới Thái Lan - Campuchia và nhiều chủ đề khác dự kiến sẽ đượ đưa ra thảo luận.
Bà Clinton cũng sẽ chuẩn bị cho chuyến thăm vào tháng 11 tới đây của Tổng thống Barack Obama tới Indonesia và sự hội nghị thượng đỉnh Đông Á. Đây là lần đầu tiên một tổng thống Mỹ tham gia hội nghị này.
"Bà Clinton đã quyết định rằng Đông Nam Á, đặc biệt là ASEAN, sẽ là điểm tựa cho chiến lược châu Á dài hơi của Mỹ", chuyên gia phân tích Ernest Bower thuộc Viện Nghiên cứu Chiến lược quốc tế ở Washington DC nhận định.
Ông nói rằng ASEAN không có tầm quan trọng chiến lược như Ấn Độ, Trung Quốc hay Nhật Bản, nhưng "nó nằm ở vị trí địa lý chiến lược nơi các ván cờ địa chính trị lớn của thế kỷ 21 sẽ diễn ra".
Tại ARF năm ngoái, bà Clinton đã khiến sự chú ý của thế giới đổ dồn về Biển Đông, khi tuyên bố rằng Mỹ có lợi ích quốc gia đối với an toàn và tự do hàng hải ở vùng biển này, và Mỹ sẵn sàng giúp đỡ để các bên đi đến một giải pháp hòa bình.


Thanh Mai
Nguồn www.vnexpress.net (http://www.vnexpress.net)

SmartVN
22-07-2011, 05:52 PM
(Cảnh giác) Làm ơn cho em hỏi ngu một tí: Từ trước đến nay chúng ta chỉ nghe thấy nói các thuật ngữ về tranh chấp tại biển Đông như tranh chấp về lãnh hải, lãnh thổ, thềm lục địa, đảo, quần đảo và vùng đặc quyền kinh tế....

Hom nay em đọc trên http://www.vietnamnet.vn/vn/chinh-tr...bien-dong.html (http://www.vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/31707/hoi-dam-song-phuong-voi-tq--my-ve-bien-dong.html) thì lại thấy cả Trung Quốc và Việt Nam đều dùng "thuật ngữ mới" là "tranh chấp hàng hải" là sao? Theo ngu ý của em thì tranh chấp hàng hải chỉ là chuyện vớ vẩn kiểu như tranh chấp đi lại giao thông đơn thuần ấy mà, làm sao mà so sách được với mức độ là tranh chấp về lãnh thổ. Em nghĩ bọn Tầu lại chơi chữ đây, bác Phạm Gia Khiêm sau lần họp cuối cùng này là về hưu không biết bác ấy có còn tập trung tư tưởng để mà nhận biết sự khác biệt giữa tranh chấp hàng hải và tranh chấp lãnh hải không? Theo ý em thì chỉ có Mỹ mới có thể nói thế vì Mỹ không tranh chấp lãnh hải, chủ quyền mà chỉ đòi được đi lại, có nghĩa là tranh chấp về hàng hải còn mình đòi Trung Quốc không xâm phạm lãnh hải cơ mà, đúng là tù mù quá.

''....Theo Tân Hoa xã, Ngoại trưởng Dương Khiết Trì đã nói hai bên nên lấy quan hệ song phương và sự ổn định trong khu vực làm trọng, giải quyết các tranh chấp hàng hải thông qua đối thoại và tránh làm nóng lại vấn đề.

Ông Phạm Gia Khiêm cho biết Việt Nam coi trọng quan hệ quyền thống với Trung Quốc và hy vọng đạt được sự đồng thuận với Bắc Kinh về các tranh chấp hàng hải trong tương lai gần thông qua đàm phán hòa bình."

HQ0909
23-07-2011, 07:31 PM
Ngày 22-7, Lực lượng không quân Philippines đã được lệnh thiết lập 12 tuyến tuần tra ở đảo Kalayaan và nhóm tám đảo khác của nước này quanh quần đảo Trường Sa của Việt Nam, và ngư dân Philippines được yêu cầu cung cấp mọi thông tin trên biển Đông cho cơ quan chức năng đóng trên khu đảo này.
Nhật báo Inquirer dẫn lời tư lệnh các đảo này, ông Conrado Arcellana, cho biết quân đội Philippines tuyên bố sẽ sẵn sàng chiến đấu nếu bị tấn công.

MỸ LOAN
http://tuoitre.vn/The-gioi/447903/My-hoan-nghenh-huong-dan-thuc-thi-DOC.html

HQ0909
24-07-2011, 12:03 AM
http://images.vietinfo.eu/2011/07/23/159561/194_thumb.jpg (http://images.vietinfo.eu/2011/07/23/159561/_thumb.jpg)



Ngoại trưởng USA tại Bali, Indonesia



Ngày 23.7.2011, bà Ngoại trưởng USA Hilary Clinton kêu gọi các quốc gia đang tranh chấp chủ quyền ở vùng biển Đông, hãy đưa ra những bằng chứng pháp lí cho yêu sách của mình.

Theo nhận xét của thông tấn xã Reuters, thì lời kêu gọi này như là cử chỉ gián tiếp của USA, hoài nghi tuyên bố chủ quyền trên phần lớn lãnh hải còn đang tranh chấp này do nhà cầm quyền Bắc Kinh từng đưa ra.

Theo Ngoại trưởng USA, thì khi hoạch định biên giới biển thì cần căn cứ vào bờ biển của quốc gia đưa ra yêu sách.Tranh chấp trên biển Đông là chủ đề chính của cuộc họp thượng đỉnh ASEAN tổ chức tại đảo Bali của Indonesia, nơi mà USA, Trung Quốc và các nước Đông Nam Á tranh luận về tương lai khu vực có dự đoán là rất giầu tài nguyên thiên nhiên này.

Như đã biết, Trung Quốc liên tục khẳng định chủ quyền của mình tại phần lớn khu vực còn tranh chấp này và trong thời gian gần đây vì vậy đã xảy ra xung đột với Việt Nam và Filippin. Cả Đài Loan, Malajsia và Brunej cũng tuyên bố chủ quyền tại một phần biển Đông.Hôm thứ năm vừa qua, Bắc Kinh tuyên bố đồng ý cũng các nước láng giềng thực hiện các biện pháp chuẩn bị để hình thành “nguyên tắc ứng xử“ trong khu vực, mà theo bà Hilary Clinton, là có thể góp phần làm dịu căng thẳng. Nhưng ngày 23.7.2011, bà Ngoại trưởng Mỹ tỏ thái độ cho rằng, USA sẽ yêu cầu làm sáng tỏ tỉ mỉ các yêu sách dựa trên cơ sở luật quốc tế về biển từ năm 1982.Cả Filippin cũng liên tục khẳng định, rằng yêu sách của Trung Quốc không hề có cơ sở pháp lí quốc tế nào.
Đại diện phía Mỹ tuyên bố, rằng một số yêu sách đưa ra là thái quá và nhiều quốc gia đã đưa ra đòi hỏi chủ quyền không hề dựa trên cơ sở lịch sử hợp lí.

David Nguyen- Vietinfo.eu
http://www1.vietinfo.eu/chuyen-muc-bien-dong/hoa-ky-hoai-nghi-yeu-sach-qua-quat-cua-trung-quoc-tai-bien-dong.html

Sat That
24-07-2011, 12:05 AM
Tư liệu mới vạch trần mưu 'biến biển Đông thành ao nhà' của Trung Quốc


Cập nhật lúc :9:57 PM, 23/07/2011


Bài viết về Công hàm năm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng được nhà nghiên cứu Trung Quốc Dương Danh Dy rất quan tâm. Ông cho biết, vừa qua ông đã sưu tâm được thêm một tư liệu rất thú vị về Trung Quốc.


“Đó là một bài báo đăng trên Nhân dân Nhật báo, cơ quan chính thức của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc năm 1953. Bài báo năm đó viết rõ ràng là Quần đảo Senkaku (theo cách gọi của Nhật Bản) hay quần đảo Điếu Ngư (theo cách gọi của Trung Quốc) là thuộc lãnh thổ Nhật Bản. Có thể hiểu, vì muốn lôi kéo Nhật Bản chống Mỹ nên Trung Quốc đã viết như vậy. Nhưng bây giờ, vì lợi ích của mình, Trung Quốc đã tuyên bố đảo Senkaku (hay đảo Điều Ngư) thuộc lãnh thổ của họ. Tôi sẽ công bố toàn văn bài báo vào một thời điểm thích hợp”.

Nhà nghiên cứu nghiêm tục nói: “Theo một nguồn tư liệu mà tôi biết, đã có một lần cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng giải thích như sau: ‘Ngay từ lúc đó, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã thấy trước, nhiều khả năng Mỹ sẽ mang quân ra miền Bắc. Nói như vậy để ngăn chặn Mỹ không dùng đường biển tấn công miền Bắc Việt Nam".

Như thế là, Việt Nam đã làm như cách trước đó Trung Quốc đã làm với quần đảo Điếu Ngư (hay đảo Senkaku). Nhưng khác với Trung Quốc, hành động của Việt Nam dựa trên cơ sở tin tưởng, đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau giữa các nước XHCN anh em. Thời đó, Việt Nam đã nhờ Trung Quốc tiếp quản đảo Bạch Long Vĩ năm 1954 và Trung Quốc đã trao trả đúng hạn năm 1956. Ngoài ra, nên nhớ rằng, trong những năm tháng đẹp đẽ ấy, Trung Quốc còn rất nhiệt tình giúp miền Bắc khôi phục và phát triển kinh tế sau năm 1954, đón nhận nhiều học sinh Việt Nam sang Trung Quốc học tập… Không phải tự nhiên mà câu thơ: “Bên ni biên giới là mình, bên kia biên giới cũng tình anh em” đã ra đời vào thời điểm này.

“Hôm nay, tôi chỉ muốn nói thêm về bối cảnh lịch sử như thế để người dân trong nước, ngoài nước và thế giới hiểu hơn” – ông Dương Danh Dy nói.


http://media.baodatviet.vn/Uploaded_CDCA/maihuong/20110723/CDV-23.7-Duong%20Danh%20Hy.jpg


Ông Dương Danh Dy


Tri thức Việt kiều chưa khai thác hết? Tại truyền thông Việt Nam chưa đưa đủ thông tin!


- Ông và chúng tôi đều nhắc đến nhiều ý kiến góp ý, tranh luận gần đây của trí thức trong và ngoài nước về câu chuyện biển Đông...Nhiều ý kiến cho rằng, Việt Nam chưa tận dụng hết tri thức Việt kiều. Quan điểm của ông như thế nào?

Sự ít nói của truyền thông cũng là một trong những lý do khiến chúng ta chưa tận dụng hết mỏ vàng tri thức Việt kiều và chưa làm cho bà con thấy hết vấn đề.

Thứ nhất, những người Việt ở nước ngoài gồm những người định cư từ lâu đời, những người sang sống ở nước ngoài từ sau năm 1975. Họ thiếu thông tin, không thấy được sự thay đổi của đất nước, đặc biệt từ sau đổi mới năm 1986. Nhiều người ở nước ngoài vẫn nhìn chính thể bằng cái nhìn chưa thỏa đáng. Tôi có họ hàng và quen biết một số nhân sĩ trí thức người Mỹ gốc Việt nên đã cảm thấy điều đó.

Thứ hai, cũng do thiếu thông tin nên một số bà con nhìn cách Việt Nam ứng xử với Trung Quốc chưa cập nhật. Họ không thấy hết những khó khăn khi sống cạnh một anh hàng xóm vừa mạnh, vừa giàu, vừa ác ý, xấu tính mà không thể chuyển nhà đi đâu được”.

- Theo ông, làm thế nào để cải thiện điều này?

Tuyệt đại đa số người Việt Nam yêu nước. Đây là thời điểm chúng ta có thể gặp nhau.

Trước năm 1975, có hai chính quyền, hai chính thể. 36 năm là thời gian đủ để xòa nhòa nhiều chuyện. Giờ nước Việt Nam thống nhất là của chung, của mọi người Việt Nam. Thế hệ Việt kiều trẻ đang thay thế dần thế hệ cũ, họ hiểu biết rộng mở hơn, có tình cảm và hướng về quê hương. Chúng ta càng cần phải thông tin cho họ hiểu.

Cần phải tìm hiểu lẫn nhau, người ngoài nước tìm hiểu trong nước, truyền thông trong nước phải để người bên ngoài thấy sự tiến bộ, những thành tựu to lớn ở trong nước. Hai bên gặp nhau ở tình yêu nước, mong muốn đất nước giàu mạnh lên, chống được áp lực ngoại bang.

Nhìn chung, chủ trương của Đảng, Nhà nước với người Việt Nam ở nước ngoài là tốt. Chỉ cần có sự vận dụng bằng phương pháp thuyết phục, sẽ tập hợp được lực lượng, tận dụng được sức mạnh, đặc biệt là tri thức khoa học, kỹ thuật và vốn đầu tư của kiều bào.

Nhiều phương tiện truyền thông Trung Quốc nói sai về Việt Nam

- Mới đây, cựu Bộ trưởng Ngoại Giao Nguyễn Mạnh Cầm có nhắc tới chuyện truyền thông Trung Quốc thông tin không đúng cho nhân dân Trung Quốc về đường 9 đoạn, coi đó là chủ quyền của Trung Quốc. Ông nghĩ thế nào về điều này?

Mới đây, một cán bộ ngoại giao đã về hưu đến bảo: “Tôi chịu anh. Anh đọc những bài báo, bài viết trên các trang báo, trạng mạng Trung Quốc thấy họ nói không đúng về ta như vậy mà anh chịu được. Thần kinh vững đấy!”.

Tôi đã trả lời, cái nghiệp này phải tỉnh táo. Phải phân tích tại sao họ viết sai về mình như vậy? Khách quan mà nói, mấy tờ Nhân dân Nhật Báo, Quân Giải Phóng, Thanh Niên Trung Quốc, những tờ báo chính thống của Trung Quốc gần đây hầu như không có bài viết nào nói không đúng về Việt Nam. Nhưng tờ Hoàn Cầu Thời báo, các mạng chính thức khác của Trung Quốc mấy chục năm nay đã nói sai, nói xấu Việt Nam rất nhiều. Một số sách lịch sử, bách khoa thư, sáng tác văn học… cũng như vậy. Ví dụ, họ đổ hết lỗi cho Việt Nam về năm 1979, cho là Việt Nam đang chiếm đóng đóng quần đảo Trường Sa của họ.

Khá đông người Trung Quốc đang bị truyền thông nước họ "đánh lừa" trong khi truyền thông Việt Nam một thời gian dài hầu như im lặng.

- Lại một lần nữa phải hỏi, chúng ta nên làm thế nào, thưa ông?

Phải nói rõ sự thật với những người Trung Quốc đang hiểu sai Việt Nam, đặc biệt, phải giúp các bạn thanh niên, học sinh Trung Quốc tỉnh ngộ. Việt Nam nên có những trang mạng bằng tiếng Trung Quốc, tăng thêm giờ phát thanh tiếng Trung, nói cho người Trung Quốc biết về Hoàng Sa, Trường Sa và những bằng chứng không thể chối cãi về chủ quyền Việt Nam tại hai quần đảo này, làm cho họ hiểu đâu là chủ quyền của họ, đâu là chủ quyền của ta và Trung Quốc phải tôn trọng lợi ích chính đáng của dân tộc Việt Nam.

Quan trọng là, cần phải công khai rõ thông tin cho người dân trong nước, ngoài nước, người Trung Quốc và thế giới hiểu Việt Nam.

Nguồn www.baodatviet.vn

Sat That
24-07-2011, 12:09 AM
Hãy trừng mắt với con cá mập'

Cập nhật lúc :9:35 AM, 23/07/2011



André Menras viết: “Chúng tôi rời Bình Châu, trong lòng nặng trĩu…”. Ông thẳng tiến Lý Sơn, tiếp tục gặp gỡ những ngư dân suốt đời mang nặng nghĩa tình với biển.


Những cảnh quay đầu tiên ở Lý Sơn, đập vào mắt người xem là một tượng đài bên dưới đề dòng chữ “Đội Hoàng Sa kiêm quản Bắc Hải - 1815” và một cột đá dựng bề thế với dòng chữ khẳng định chủ quyền của Việt Nam: “Bản quốc hải cương Hoàng Sa xứ tối thị hiểm yếu”.

Lão ngư Võ Hiển Đạt, năm nay đã 80 tuổi, là người xuất hiện trong cuộc phỏng vấn ở những thước phim đầu tiên ở Lý Sơn. Lão ngư nói rất rành mạch về quần đảo Hoàng Sa và những cứ liệu pháp lý về chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa: “Chủ quyền của quần đảo Hoàng Sa đã được khẳng định trước cả thời Gia Long, tức là thời các Chúa Nguyễn.

Sau khi người Pháp sang đô hộ cách đây hơn một trăm năm, họ đã lập căn cứ quân sự và đặt hải đăng ở Hoàng Sa. Vì vậy, việc đánh bắt xa bờ của ngư dân Lý Sơn đến vùng biển Hoàng Sa là điều tất yếu từ xưa đến nay”. Lão ngư Võ Hiển Đạt cũng nói về khó khăn của ngư dân Lý Sơn từ sau khi Trung Quốc chiếm Hoàng Sa năm 1974, nhưng ông cũng khẳng định rằng: “Bị bắt thì bị bắt nhưng vẫn cứ đi bởi vì Hoàng Sa là của Việt Nam…”.



http://quocphong.baodatviet.vn/Uploaded_CDCA/thuctap_qpcn/20110722/qp_nam_hoangsa_01.jpg



Bộ đội Việt Nam tuần tra ở Lý Sơn (Ảnh: André Menras).


André Menras đã đến thăm gia đình ông Phạm Thoại Tuyền, hậu duệ của họ Phạm, một trong 7 gia đình đầu tiên đến Lý Sơn lập nên làng An Vĩnh. “Là truyền nhân của vị quan quân đầu tiên của đội hùng binh Hoàng Sa, ông đã biến nhà mình thành một bảo tàng viện thật sự bằng việc gìn giữ như thánh tích hơn một ngàn cổ vật: đồ sành sứ, bình lọ bằng sứ, vật phẩm văn hóa, chén đĩa cổ, tiền xu, tượng Chăm, ấn triện chính thức, một số lượng đáng nể những chiếu chỉ bằng chữ nho và chữ nôm...

Trong số những tài liệu độc nhất vô nhị này, có một sắc chỉ của vua Gia Long ca ngợi những người đi Hoàng Sa. Ông Tuyền giới thiệu với chúng tôi bàn thờ của tổ tiên họ Phạm của ông, trong đó có những người đã có tên đặt cho 2 đảo trên quần đảo Hoàng Sa. Đó là đảo Hữu Nhật và đảo Quang Ảnh” - André Menras viết trong lời bình, kèm theo những thước phim về nhân chứng sống và những tư liệu rất đặc biệt, trong đó có ngôi mộ của cụ Phạm Hữu Nhật nằm trên mảnh đất mà tổ tiên dòng họ Phạm để lại từ bao đời nay.

Một cảnh quay khác vô cùng xúc động là trong căn nhà của bà Ngô Thị Bích. Quần áo của con trai bà Bích (mất tích ở Hoàng Sa) vẫn còn treo đó, như chờ ngày đứa con yêu quý trở về. André Menras hỏi: “Con bà lúc đó bao nhiêu tuổi?”. “Lúc nó đi là 19 tuổi, năm nay là 20 tuổi”. “Đi biển vì lý do gì?”. “Ba không đi thì con lên đăng ký con đi.

Ở nhà bây giờ cũng cực, đói quá. Tháng này ba với má còn đi làm mướn được thì còn nuôi bọn con được, còn hết tháng 9, tháng 10 thì biểu bọn con đi mượn gạo miết, không có gạo ăn, thôi thì để bọn con đi ra ngoài”.



http://quocphong.baodatviet.vn/Uploaded_CDCA/thuctap_qpcn/20110722/qp_nam_hoangsa_02.jpg



André Menras phỏng vấn vợ góa một ngư dân ở xã An Vĩnh, Lý Sơn.


Cháu Lê Thị Thanh Thanh ở xã An Vĩnh (Lý Sơn), con gái của thuyền trưởng Lê Minh Tân (mất tích ở Hoàng Sa cuối năm 2010 cùng 5 người khác) khóc rưng rức khi nói về cha mình: “Ngày con biết ba mất cũng là ngày con đau và rất xót xa. Con không tin được là mình mất ba. Con rất nhớ ba con và con rất muốn ba con trở về nhưng con biết đó chỉ là giấc mơ mà thôi vì sự thật là ba con đã mất tại Hoàng Sa…”.

Cùng trong chuyến đi biển định mệnh với thuyền trưởng Tân, là ngư dân Trương Văn Tiến (36 tuổi), đã ra đi để lại người vợ đau ốm Nguyễn Thị Lời và 2 đứa con. Một người vợ góa khác, cho đến nay vẫn ôm kín nỗi đau và nuôi hy vọng chồng sẽ trở về nên chưa chịu lập mộ gió cho chồng là chị Lê Thị Xanh. Vả lại, dù có muốn vẫn không có tiền xây mộ. Chị nói: “Chồng em mất tháng 3, chưa xây mộ. Nhà em cực khổ lắm, ba nó chết rồi giờ còn một mình làm nuôi 3 đứa con, bệnh lên bệnh xuống hoài… Mà có muốn xây mộ cũng không đủ tiền. Nhà ở mà còn sập lên sập xuống, nhà phải sửa mà không có tiền sửa…”. Cứ thế, những chi tiết chân thực và sinh động từ Lý Sơn đã làm cho những thước phim khắc họa nỗi đau mất mát, trải dài theo những năm tháng của kiếp ngư dân và gia cảnh của họ.

André Menras cũng không quên phỏng vấn một nhân vật đặc biệt của Lý Sơn: đó là “ông vua lặn” Bùi Thượng, người đã từng nhận được cúp vàng trong giải vô địch quốc gia lặn sâu năm 1963. Ông Thượng từng đi lặn từ năm 16 tuổi, nay đã già (73 tuổi) nhưng vẫn trả lời rất hào hứng về nghề lặn bắt cá và hải sâm ở Hoàng Sa. Trả lời câu hỏi “nguy hiểm nhất trong nghề lặn là gì?”, ông Thượng trả lời chắc nịch: “Nguy hiểm nhất là khi gặp cá mập. Khi nhìn thấy nó, mình đừng bỏ chạy mà phải trừng mắt nhìn nó thì nó sẽ bơi đi và không tấn công lại mình”. André Menras nhớ mãi câu nói này và nó khiến ông liên tưởng đến hoàn cảnh Việt Nam vào những lúc gặp kẻ mạnh uy hiếp, gây hấn: Hãy “nhìn trừng mắt vào con cá mập” để tồn tại!

Chi tiết về “quy trình” làm hình nhân để đặt vào ngôi mộ gió của ngư dân trên đảo được André Menras đưa vào đoạn kết của phim. Người xem không thể nào quên được hình ảnh ông thầy pháp làm lễ trước khi nặn hình nhân bằng đất sét, với đầy đủ các chi tiết về một thi hài như đầu, mình, tứ chi, kể cả các đốt xương, động mạch, lục phủ ngũ tạng, thất khiếu... André Menras viết lời bình cho đoạn kết đầy ấn tượng này như sau: “Hồn của người chết được gọi về nhập vào cái thi thể bằng đất sét đã được phù phép bằng những câu niệm chú dài. Quan tài sẽ được đặt vào ngôi mộ gió mới, không thể tách rời khỏi Hoàng Sa. Vị nữ thần dưỡng mẫu được tôn sùng biết bao nhưng cũng khát khao mạng sống con người”.

Trong e-mail gửi người viết ngày 14/7 vừa qua, André Menras cho biết: “Cái nghi lễ về “hình nhân” và văn hóa “mộ gió” đã gây ấn tượng đặc biệt đến nhiều khán giả người Pháp. Từ đó, họ đã đặt nhiều câu hỏi về văn hóa, về quá khứ, về truyền thống của cộng đồng ngư dân miền Trung Việt Nam.

Một số người thấy ở đây là biểu hiện của mê tín và đau khổ, nhưng một số khác đã thấy cái văn hóa ấy thể hiện một cách tinh tế ý chí bất khuất của cộng đồng này để lấy lại những gì quý nhất của mình đã bị cướp đoạt. Tôi hoàn toàn đồng ý với họ. Vì vậy, tôi quyết định kết thúc bộ phim tài liệu này bằng các hình ảnh đó, như một thông điệp rất rõ ràng và lạc quan: Cộng đồng ấy, dân tộc ấy sẽ không nhượng bộ cho ai một tấc đất, một tấc biển của mình. Họ sẽ không bao giờ bỏ cuộc!”.



André Menras và tỏi Lý Sơn

Làm phim về ngư dân và nỗi khốn khó của những người phụ nữ, André Menras vẫn không quên lồng vào một vài đoạn phim về đặc sản tỏi Lý Sơn. Ông viết lời bình: “Nếu đánh cá là công việc của đàn ông, thì phụ nữ lại đóng góp phần lớn vào kinh tế phụ là làm nông. Đảo Lý Sơn là một khu vườn lớn, được chăm sóc rất kỹ lưỡng... Những bờ tường nhỏ đá ong màu nâu tương phản với màu trắng của cát được chở tới đây để trồng tỏi, sản vật bán khắp trong nước. Lý Sơn tự hào là vương quốc của tỏi nhưng những thửa ruộng bậc thang trên sườn đồi cũng được trồng hành, đậu xanh, đậu đen, bắp... Mỗi mảnh đất dù nhỏ, thậm chí cát trên bờ biển, cũng đều được sử dụng”.

Qua e-mail ngày 13/7 gửi tác giả, André Menras viết thêm: “Tỏi Lý Sơn nổi tiếng tại Việt Nam. Một số người rất thích loại tỏi ấy, một số khác cho rằng nó hơi ngọt. Tùy cái gu của mỗi người. Nhưng đôi khi một sản phẩm nào đó lại có cái gu của trái tim, của tâm trạng mình. Đó là điều xảy ra giữa tôi với loại tỏi Lý Sơn. Lần thứ tư, trước khi tôi về, một số bà vợ góa đã tặng tôi mấy kg tỏi vừa hái xong. Dù lúc đó có nhiều hành lý, dù cái mùi rất nặng của tỏi, tôi đã đem về Sài Gòn như một vật rất quý. Và chưa bao giờ tôi thấy một loại tỏi ngon như thế!”.



Theo Thanh Niên

Nguồn www.baodatviet.vn

Sat That
24-07-2011, 12:45 AM
ĐƯỜNG LƯỠI BÒ PHI LÝ

kỲ 1


Vài nét địa lý tự nhiên thuộc vùng biển Việt Nam (21/06/2011)


Việt Nam là một quốc gia ven biển nằm bên bờ Tây của Biển Đông, giữ vị trí chiến lược về địa - chính trị và địa - kinh tế mà không phải quốc gia nào cũng có. Với bờ biển dài hơn 3.260 km trải dài từ Bắc tới Nam, đứng thứ 27 trong số 157 quốc gia ven biển, đảo quốc trên thế giới. Từ lâu hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã là của người Việt. Lịch sử các triều đại cùng hoạt động liên tục của người Việt hàng trăm năm trước đến nay trên hai quần đảo này cũng như theo tập quán và luật pháp quốc tế là những cơ sở để khẳng định điều đó.




http://daidoanket.vn/Pictures/bao%20tuan/_2011/147/2011_147_3_Anh2.jpg


Cột mốc chủ quyền trên đảo Trường Sa giữa Biển Đông Việt Nam

Theo Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982, Việt Nam có diện tích biển khoảng trên 1 triệu km2, gấp 3 lần diện tích đất liền, chiếm gần 30% diện tích Biển Đông. Vùng biển nước ta có khoảng 3.000 đảo lớn nhỏ và hai quần đảo xa bờ là Hoàng Sa và Trường Sa được phân bố khá đều theo chiều dài bờ biển của đất nước. Một số đảo ven bờ còn có vị trí quan trọng được sử dụng làm các điểm mốc quốc gia trên biển để thiết lập đường cơ sở ven bờ lục địa Việt Nam, từ đó xác định vùng nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, làm cơ sở pháp lý để bảo vệ chủ quyền quốc gia trên các vùng biển.
Biển Đông là vùng biển nhộn nhịp thứ hai trên thế giới (sau Địa Trung Hải), chiếm khoảng ¼ lưu lượng tàu hoạt động trên các vùng biển toàn cầu. Là tuyến hàng hải huyết mạch mang tính chiến lược của nhiều nước trên thế giới và khu vực, nối liền Thái Bình Dương với Ấn Độ Dương, châu Âu, Trung Đông với châu Á và giữa các nước châu Á với nhau. Cùng với đất liền, vùng biển nước ta là một khu vực giàu tài nguyên thiên nhiên, là ngư trường giàu có nuôi sống hàng triệu ngư dân và gia đình từ bao đời qua, là một vùng kinh tế nhiều thập kỷ phát triển năng động, là nơi hấp dẫn của các nhà đầu tư và thị trường thế giới.
Bên cạnh nhiều đảo lớn nhỏ khác, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ lâu đã thuộc về lãnh thổ Việt Nam. Quần đảo Hoàng Sa gồm trên 30 đảo, đá, cồn san hô và bãi cạn, nằm ở khu vực biển giữa vĩ độ 15o45'00''Bắc - 17ođộ15'00''Bắc và kinh độ 111o00'00''Đông - 113o00'00''Đông trên vùng biển có diện tích khoảng 30.000km2, cách đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi - Việt Nam) khoảng 120 hải lý. Đoạn biển từ Quảng Trị chạy tới Quảng Ngãi đối mặt với quần đảo Hoàng Sa luôn hứng gió mùa Tây Nam hay Đông Bắc nên thường có nhiều thuyền bị hư hại khi ngang qua đây vào mùa này. Các vua chúa Việt Nam thời xưa hay chu cấp cho các tàu thuyền bị nạn về nước, nên họ thường bảo nhau tìm cách tạt vào bờ biển Việt Nam để nhờ cứu giúp khi gặp nạn. Chính vì thế, Hoàng Sa từ rất sớm đã được người Việt biết tới và xác lập chủ quyền của mình. Quần đảo Hoàng Sa chia làm hai nhóm An Vĩnh và Trăng Khuyết (hay còn gọi là Lưỡi Liềm). An Vĩnh nguyên là tên một xã thuộc Quảng Ngãi, theo Đại Nam Thực lục Tiền biên quyển 10: "Ngoài biển xã An Vĩnh, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi có hơn 100 cồn cát... chiều dài kéo dài không biết tới mấy ngàn dặm, tục gọi là Vạn lý Hoàng Sa châu. Hồi quốc sơ đầu triều Nguyễn đặt đội Hoàng Sa gồm 70 người lấy dân xã An Vĩnh sung vào, hàng năm cứ đến tháng ba cưỡi thuyền ra đảo, ba đêm thì tới nơi...”.
Quần đảo Trường Sa nằm giữa Biển Đông về phía Đông Nam nước ta, phía Nam quần đảo Hoàng Sa, cách Cam Ranh (Khánh Hoà - Việt Nam) 243 hải lý, cách đảo Hải Nam (Trung Quốc) 585 hải lý và đến đảo Đài Loan khoảng 810 hải lý. Quần đảo Trường Sa gồm trên 100 đảo lớn nhỏ và bãi san hô với diện tích vùng biển rộng khoảng 410.000 km2, từ vĩ độ 6o00'00'' Bắc - 12o00'00'' Bắc và kinh độ 111o00'00'' Đông - 117o00'00'' Đông. Diện tích phần nổi của đảo khoảng 3km2, chia làm 8 cụm (Song Tử, Loại Ta, Thị Tứ, Nam Yết, Sinh Tồn, Trường Sa, Thám Hiểm, Bình Nguyên). Với vị trí giữa Biền Đông, quần đảo Trường Sa có lợi thế về dịch vụ hàng hải, hậu cần nghề cá trong khu vực, đồng thời cũng là một địa chỉ du lịch hấp dẫn.


http://daidoanket.vn/Pictures/bao%20tuan/_2011/147/2011_147_3_Anh1.jpg

Bản đồ Biển Đông Việt Nam có
hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa


Điều kiện thiên nhiên trên thực tế đã gắn liền với những hoạt động xác lập chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Theo các nhà nghiên cứu, nếu mực nước biển hạ xuống chừng 600m-700m thì Hoàng Sa sẽ dính vào Việt Nam như một khối thịt liền và cách Trung Quốc bằng một vùng biển sâu (Krempf, Giám đốc Hải học Viện Đông Dương, khảo sát năm 1925). Các sinh vật trên các đảo và dưới biển thuộc hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa như rùa, đời mồi, vít, đồn đột, ốc tai voi, ốc hương đều tương tự như các đảo ven biển Việt Nam như cù lao Ré. Các khảo sát từ thập niên 40 của thế kỷ XX cũng cho thấy các thú vật sống trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đều là các loài đã gặp ở Việt Nam, không có nhiều liên hệ với sinh vật ở Trung Quốc. Các khảo sát về thảo mộc cũng có kết quả tương tự, hầu hết thảo mộc ở hai quần đảo này đều du nhập từ đất liền của Việt Nam như cây mù u, cây bàng có nhiều ở cù lao Ré. Các sách sử của thời Nguyễn cũng chép rõ, theo lệnh vua Minh Mạng binh lính Việt Nam đã trồng nhiều cây cối trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, để ngày sau cây cối cao to giúp người đi biển nhận biết mà tránh mắc cạn. Biển Đông cũng như Việt Nam nằm trong khu vực mà các nhà sinh vật học gọi là Wallacca, là vùng đất sinh sống của các loài động vật Á Đông mà Trung Hoa nằm ngoài vùng này. Tại Biển Đông không giống như Thái Bình Dương, có dòng hải lưu chảy thay đổi theo chiều gió mùa. Thiên nhiên đã tạo điều kiện thuận lợi cho mối quan hệ giữa đất liền của Việt Nam với các đảo ở Hoàng Sa và Trường Sa. Chính nhu cầu tránh bão hoặc bị nạn rồi theo dòng hải lưu, theo chiều gió tấp vào đất liền Việt Nam của các thương thuyền nước ngoài như đã trình bày ở trên nên người Việt Nam từ lâu đã biết tới Hoàng Sa và Trường Sa và sẵn lòng cứu giúp những người bị nạn. Điều đó chứng tỏ hoạt động xác lập chủ quyền và thực thi chủ quyền trên thực tế của người Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa là hết sức tự nhiên từ bao đời qua.

Nhóm PV Biển Đông
Nguồn http://daidoanket.vn

Sat That
24-07-2011, 12:48 AM
ĐƯỜNG LƯỠI BÒ PHI LÝ

KỲ 2

Chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa và Trường Sa từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII (22/06/2011)



Từ rất lâu người Việt Nam đã phát hiện ra hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Các triều đại phong kiến Việt Nam từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII đã rất có ý thức xác lập chủ quyền và thực tế đã tổ chức nhiều hoạt động khai thác tài nguyên, thực thi chủ quyền trên các quần đảo này một cách hiệu quả, lâu dài.




http://daidoanket.vn/Pictures/bao tuan/_2011/148/2011_148_12_A2.jpg


Một trang trong cuốn Phủ Biên Tạp Lục
của Lê Quý Đôn có đoạn nói về đảo Hoàng Sa

Năm 1075, vua Lý Nhân Tông có sai Lý Thường Kiệt vẽ hình thế núi sông của 3 châu Ma Linh, Địa Lý và Bố Chính. Những năm 1172-1173, nhân một cuộc đi tuần để quan sát núi sông và đời sống nhân dân, vua Lý Anh Tông có ra lệnh cho các quan soạn ra bản địa đồ nước ta. Đời Trần, ngoài cuốn An Nam Chí Lược của Lê Tắc trong đó có phần dành cho địa chí, theo các nhà nghiên cứu có khả năng còn có cuốn sử Việt ghi chép về địa lý nước ta như Việt sử Cương mục, Đại Việt Sử ký... Ngoài ra còn nhiều cuốn sử ký và địa lý nước ta cũng như nhiều cuốn sách quý khác từ đầu thế kỷ XV trở về trước bị quân Minh tiêu hủy hoặc mang về Kim Lăng.
Đời nhà Lê có quyển sách địa lý đầu tiên của người Việt Nam là cuốn Dư Địa Chí của Nguyễn Trãi. Kế đến, theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, vua Lê Thánh Tông có ra lệnh cho các quan thân trấn thủ xem xét địa hình núi sông hiểm trở thuộc địa phương mình vẽ thành bản đồ giao cho Bộ Hộ để lập thành bản đồ của lãnh thổ Đại Việt. Cuốn Thiên Nam Từ Chí Lộ Đồ Thư (hay Toàn Tập An Nam Lộ) của Đỗ Bá tự Công Đạo được soạn vẽ theo lệnh Chúa Trịnh những năm niên hiệu Chính Hoà (1680-1705), căn cứ vào những chi tiết thu thập được từ thế kỷ XV. Có thể xem đây là một trong những tài liệu xưa nhất của Nhà nước phong kiến Việt Nam còn tồn tại đã ghi phần chú thích bản đồ vùng phủ Quảng Ngãi, xứ Quảng Nam với nội dung: "Giữa biển có một dải cát dài, gọi là Bãi Cát Vàng (Hoàng Sa), dài tới 400 dặm, rộng 20 dặm. Từ cửa Đại Chiêm đến cửa Sa Kỳ mỗi lần có gió Tây Nam thì thương thuyền các nước đi ở phía trong trôi dạt ở đấy; gió Đông Bắc thì thương thuyền chạy ở ngoài cũng trôi dạt ở đấy, đều cùng chết đói hết cả. Hàng hoá thì đều để nơi đó. Họ Nguyễn (Chúa Nguyễn) mỗi năm vào cuối mùa Đông đưa 18 chiếc thuyền đến đây thu hồi hàng hoá, được phần nhiều là vàng bạc, tiền tệ, súng đạn”. Tháng cuối mùa đông Âm lịch thường rơi vào tháng 2, tháng 3 Dương lịch, khí hậu vùng Hoàng Sa đang vào mùa khô và quan trọng là không còn bão nữa. Đây là thời gian thuận lợi nhất để các Chúa Nguyễn sai người ra thu hồi hàng hoá của những chiếc tàu bị chìm trong khu vực Hoàng Sa. Chi tiết lịch sử này đã chứng tỏ một cách hùng hồn các hoạt động xác lập chủ quyền của người Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa. Vì nếu quần đảo Hoàng Sa thuộc về nước khác thì không thể có chuyện hàng năm, theo từng thời kỳ nhất định, hàng đoàn thuyền của người Việt cứ đều đặn ra Bãi Cát Vàng (Hoàng Sa) để chở hàng hoá quý giá về một cách ngang nhiên không bị ai phản ứng. Trong Giáp Ngọ Bình Nam Đồ, bản đồ xứ Đàng Trong do Đoan Quận Công Bùi Thế Đạt vẽ năm 1774, Bãi Cát Vàng cũng được ghi nhận là một phần của lãnh thổ Việt Nam. Như vậy, những tư liệu lịch sử còn sót lại cho thấy muộn nhất là vào thế kỷ XV đến thế kỷ XVII người Việt Nam đã từng ra vào Bãi Cát Vàng. Trong cuốn sách "Univers, histoire et decription de tous les peuples, de leurs religions moeurs et coutumes” viết năm 1833, Đức Giám mục Taberd cũng cho biết: "Chúng tôi cũng xin lưu ý rằng từ hơn 34 năm nay, quần đảo Paracels mà người Việt gọi là Cát Vàng (Hoàng Sa) gồm rất nhiều hòn đảo chằng chịt với nhau, lỏm chỏm những đá nhô lên giữa những bãi cát đã được người Việt xứ Đàng Trong chiếm cứ”. Đáng lưu ý là trong nguyên văn của vị giám mục này tên Cát Vàng được viết theo âm tiếng Việt (Paracels nommé par les Annamites Cát Vàng ou Hoang Sa).



http://daidoanket.vn/Pictures/bao tuan/_2011/148/2011_148_12_A1.jpg

Bản đồ bờ biển Việt Nam với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
do người Hà Lan vẽ năm 1754

Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quý Đôn (1726-1784) viết năm 1776 là tài liệu cổ mô tả chi tiết nhất về Hoàng Sa. Phủ Biên Tạp Lục gồm 6 quyển, trong đó quyển 2 có 2 đoạn văn nói về Hoàng Sa. Đoạn thứ nhất viết: "Ở ngoài cửa biển lớn thuộc về địa phận xã An Vĩnh, huyện Bình Sơn, phủ Quảng Nghĩa có một hòn núi mang tên là Cù Lao Ré (tục danh của đảo Lý Sơn, Quảng Ngãi). Chiều rộng núi này có thể hơn 30 dặm... Người ta ra biển rồi chèo thuyền đi bốn trống canh nữa có thể đến Cù Lao Ré. Ở ngoài núi Cù Lao Ré có đảo Đại Trường Sa ngày trước, nơi đây thường sản xuất nhiều hải vật được chở đi bán các nơi, nên Nhà nước có thiết lập một đội Hoàng Sa để thu nhận các hải vật. Người ta phải đi ba ngày đêm mới đến được đảo Đại Trường Sa ấy”. Đoạn thứ hai viết: "...Phủ Quảng Ngãi, huyện Bình Sơn có xã An Vĩnh, ở gần biển, ngoài biển về phía Đông Bắc có nhiều cù lao, các núi linh tinh hơn 130 ngọn, cách nhau bằng biển, từ hòn này sang hòn kia hoặc đi một ngày hoặc vài canh thì đến. Trên núi có chỗ có suối nước ngọt. Trong đảo có bãi cát vàng, dài ước hơn 30 dặm, bằng phẳng rộng lớn, nước trong suốt đáy. Trên đảo có vô số yến sào; các thứ chim có hàng nghìn, hàng vạn, thấy người thì đậu vòng quanh không tránh. Trên bãi vật lạ rất nhiều. Ốc vân thì có ốc tai voi to như chiếc chiếu, bụng có hạt to bằng đầu ngón tay, sắc đục, không như ngọc trai, cái vỏ có thể đẽo làm tấm bài được, lại có thể nung vôi xây nhà; có ốc xà cừ, để khảm đồ dung; lại có ốc hương. Các thứ ốc đều có thể muối và nấu ăn được. Đồi mồi thì rất lớn. Có con hải ba, tục gọi là trắng bông, giống đồi mồi nhưng nhỏ hơn, vỏ mỏng có thể khảm đồ dùng, trứng bằng đầu ngón tay cái, muối ăn được. Có hải sâm tục gọi là con đột đột, bơi lội ở bến bãi, lấy về dùng vôi sát qua, bỏ ruột phơi khô, lúc ăn thì ngâm nước cua đồng, cạo sạch đi, nấu với tôm và thịt lợn càng tốt. Các thuyền ngoại phiên bị bão làm hư hại thường ở đảo này. Trước, họ Nguyễn đặt đội Hoàng Sa 70 suất, lấy người xã An Vĩnh sung vào, cắt phiên mỗi năm cứ tháng ba nhận giấy sai đi, mang lương đủ ăn sáu tháng, đi bằng năm chiếc thuyền câu nhỏ, ra biển ba ngày ba đêm thì đến đảo ấy. Ở đấy tha hồ bắt chim bắt cá mà ăn. Thu hồi được hóa vật của tàu như là gươm ngựa, hoa bạc, tiền bạc, vòng sứ, đồ chiên, cùng là kiếm lượm vỏ đồi mồi, vỏ hải ba, hải sâm, hột ốc vân rất nhiều. Đến kỳ tháng tám thì về, vào cửa Eo, đến thành Phú Xuân để nộp, cân và định hạng xong mới cho đem bán riêng các thứ ốc vân, hải ba, hải sâm, rồi lĩnh bằng trở về. Lượm được nhiều ít không nhất định, cũng có khi về người không. Tôi (Lê Quý Đôn) đã xem sổ của cai đội cũ là Thuyên Đức Hầu biên rằng: năm Nhâm Ngọ lượm được 30 hốt bạc; năm Giáp Thân thu hồi được 5100 cân thiếc; năm Ất Dậu được 126 hốt bạc, từ năm Kỷ Sửu đến năm Quý Tỵ năm năm ấy mỗi năm chỉ được mấy tấm đồi mồi, hải ba. Cũng có năm được thiếc khối, bát sứ và hai khẩu súng đồng mà thôi. Họ Nguyễn lại đặt đội Bắc Hải, không định bao nhiêu suất, hoặc người thôn Thứ Chính ở Bình Thuận, hoặc người xã Cảnh Dương, ai tình nguyện đi thì cấp giấy sai đi, miễn cho tiền sưu và các tiền tuần đò, cho đi thuyền câu nhỏ ra các xứ Bắc Hải, cù lao Côn Lôn và các đảo ở Hà Tiên, tìm lượm vật của tàu và các thứ đồi mồi, hải ba, bào ngư, hải sâm, cũng sai cai đội Hoàng Sa kiêm quản. Chẳng qua là thu hồi các thứ hải vật, còn vàng bạc của quý ít khi thu hồi được”.
Phủ Biên Tạp Lục cũng chép rất rõ những hoạt động của đội Hoàng Sa ở phía Bắc, năm thứ 18 (1753) niên hiệu Càn Long có 10 lính Hoàng Sa bị bão trôi dạt vào cảng Thanh Lan của Trung Quốc. Viên quan địa phương tra xét rõ nguyên nhân xong liền cho thuyền áp chở những người lính Hoàng Sa trở về nguyên quán. Điều này chứng tỏ từ xưa chính quyền Trung Quốc vẫn luôn tôn trọng quyền hành xử chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa. Chính quyền phong kiến Trung Quốc đã không hề có phản ứng nào về những hoạt động của đội Hoàng Sa mà còn giúp đỡ những người lính Hoàng Sa khi họ gặp bão trôi dạt vào đất Trung Quốc.
Hiện còn khá nhiều tài liệu về các hoạt động của đội Hoàng Sa còn lưu trữ trong dân gian ở phường An Vĩnh, đảo Lý Sơn (tức Cù Lao Ré), tỉnh Quảng Ngãi. Chẳng hạn như đơn của ông Hà Liễu, cai hợp phường Cù Lao Ré, xin chính quyền Tây Sơn cho phép đội Hoàng Sa tiếp tục hoạt động và tờ Chỉ thị ngày 14 tháng 2 Thái Đức năm thứ 9 (1786) của quan Thái Phó Tổng Lý Quân Binh Dân Chư Vụ Thượng Tướng Công đốc suất công việc của đội Hoàng Sa. Năm 1773, sau 2 năm khởi nghĩa, quân Tây Sơn đã làm chủ miền đất từ Quảng Nam đến Bình Thuận, trong đó có Quảng Ngãi. Những hoạt động của đội Hoàng Sa ở xã An Vĩnh được đặt dưới quyền kiểm soát của Tây Sơn. Với truyền thống hoạt động hàng trăm năm, dân xã An Vĩnh vốn tự lập về phương tiện tàu thuyền lại quen việc nên luôn là nòng cốt của đội Hoàng Sa dù ở dưới bất kỳ triều đại nào, họ luôn chủ động kiểm soát vùng biển truyền thống lâu đời của cha ông một cách tích cực nhất.
Nhóm PV Biển Đông

Nguồn http://daidoanket.vn (http://daidoanket.vn/)

HQ0909
24-07-2011, 12:51 AM
Giới quan chức ngoại giao của các nước thuộc Hiệp hội Các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và Trung Quốc vừa đạt được sự thống nhất về văn bản hướng dẫn thực thi Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) tại cuộc họp đang diễn ra ở Bali (In-đô-nê-xi-a). DOC được ASEAN và Trung Quốc ký năm 2002, nhưng đến tận bây giờ hai bên mới thỏa thuận được về văn bản hướng dẫn thực thi DOC.

Điều này cho thấy khả năng ASEAN và Trung Quốc đạt được Bộ quy tắc Ứng xử ở Biển Đông (COC) có tính ràng buộc pháp lý còn rất xa vời. Tuy nhiên, quan chức các nước vẫn lên tiếng ca ngợi bản hướng dẫn vừa đạt được là “bước tiến quan trọng” trong tiến trình hướng tới COC.

Trả lời báo giới sau cuộc họp, đại diện đoàn Việt Nam - Trợ lý Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Quang Vinh - nói: “Đây là bước khởi đầu quan trọng và tích cực cho tất cả chúng ta trong nỗ lực chung để tiếp tục đối thoại và hợp tác, nhằm thúc đẩy hơn nữa sự ổn định và tin tưởng lẫn nhau trong khu vực”. Đại diện đoàn Trung Quốc, ông Lâm Chấn Minh, khẳng định: "Đây là dấu mốc quan trọng trong quan hệ hợp tác Trung Quốc-ASEAN. Tương lai của chúng ta thật rạng rỡ và chúng tôi hy vọng quan hệ hợp tác này sẽ tiếp tục trong tương lai”.

Trong khi đó, một số quan chức ngoại giao tham gia cuộc họp cho hay văn bản hướng dẫn này, trong quá trình thảo luận, đã bị sửa đổi khá nhiều và nội dung mang tính chung chung chứ không có gì cụ thể. Hãng thông tấn AFP dẫn lời một số quan chức cho rằng vẫn còn tồn tại những khác biệt về định nghĩa khu vực nào tại Biển Đông vẫn được coi là đang bị tranh chấp, vì các nước như Trung Quốc hay Philíppin không có cử chỉ gì gọi là nhượng bộ trong tuyên bố chủ quyền của mình. Họ than phiền rằng không có khung sườn nào để trực tiếp giải quyết tranh chấp ở khu vực này, vốn được cho là có nhiều dầu lửa và khí đốt.

Ngoại trưởng Philíppin Albert del Rosario cho biết đòi hỏi chủ quyền của Trung Quốc ở Biển Đông nhiều đến mức nếu đáp ứng đòi hỏi của họ, việc xây dựng một bộ quy tắc ứng xử với Trung Quốc trở thành vô ích. Ông Rosario nói: “Về cơ bản, họ tuyên bố chủ quyền đối với toàn bộ Biển Đông. Vì vậy, nếu chúng ta (ASEAN) ký bộ quy tắc ứng xử với Trung Quốc, điều đó chẳng có nghĩa lý gì”.

Ông Rosario cho biết ông muốn ASEAN có lập trường cứng rắn hơn, bằng cách công bố những nguyên tắc hướng dẫn, đề ra những tiêu chuẩn rõ ràng nhằm giải quyết các vụ tranh chấp dựa trên luật pháp quốc tế. Ông cho biết Philíppin chắc chắn sẽ hành động, đưa vụ này ra trước Tòa án Quốc tế về Luật Biển, ngay cả trong trường hợp Trung Quốc không muốn tham gia. Ông Rosario nói tiếp: “Chúng tôi sẽ ra trước tòa án nếu Trung Quốc muốn đi cùng chúng tôi. Tuy nhiên, nếu họ không muốn, chúng tôi sẽ tìm một phiên tòa trọng tài, dựa theo tòa án này để có được một sự phân xử vĩnh viễn hoặc là một sự phân xử tạm thời".

Đúng vào ngày Trung Quốc-ASEAN đạt được đồng thuận về văn bản hướng dẫn thực thi DOC sau gần 10 năm đàm phán, Bắc Kinh đã lên tiếng nhắc lại lập trường là không chấp nhận cho Mỹ can thiệp vào hồ sơ này. "Nhân dân nhật báo" - cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Trung Quốc - ngày 20/7 cho rằng Mỹ nên đứng ngoài những căng thẳng do tranh chấp ở Biển Đông gây ra. Theo tờ báo, “bóng ma của mối đe dọa tiềm ẩn đối với Biển Đông là hình ảnh một cường quốc lớn khác, đó là Mỹ”. Bắc Kinh khẳng định lại quan điểm không ủng hộ việc giải quyết đa phương những tranh chấp song phương và phản đối sự can thiệp của các cường quốc ngoài khu vực vào vấn đề này, “vì Trung Quốc và các nước láng giềng có đủ khả năng, kinh nghiệm và hiểu biết để tự giải quyết”.

Câu hỏi được đặt ra là phải chăng muốn ngăn chặn sự can thiệp của Mỹ, thuyết phục các nước Đông Nam Á coi đây là công việc nội bộ trong khu vực mà Trung Quốc đã chấp nhận ký văn bản hướng dẫn thực thi DOC?

Theo giới quan sát, một khi đã cho rằng Biển Đông liên quan đến lợi ích quốc gia thì Mỹ khó có thể đứng ngoài cuộc và sẽ tìm cách can dự, dù bằng cách này hay cách khác, ở các cấp độ khác nhau, tùy theo từng đối tác trong khu vực. Trước mắt, việc đạt được thỏa thuận về bản hướng dẫn thực thi DOC, cho dù chỉ ở mức tối thiểu, cũng là một bước tiến và như nhận định của một nhà ngoại giao ASEAN được Kyodo trích dẫn, chính sự năng động của Mỹ đã buộc Trung Quốc phải đối thoại với ASEAN về vấn đề Biển Đông.

Lê Quang (tổng hợp)nghiencuubiendong (http://southchinaseastudies.org/tin-ncbd/1843-1843)

Sat That
24-07-2011, 12:52 AM
ĐƯỜNG LƯỠI BÒ PHI LÝ

KỶ 3


Chủ quyền biển đảo của Việt Nam từ các bản đồ trong lịch sử (23/06/2011)


"Trung Quốc muốn các nước ASEAN và cộng đồng quốc tế tin rằng yêu sách của họ về "đường lưỡi bò” là đúng thì họ phải chứng minh được bằng chứng cứ khoa học cụ thể; hoặc là do Trung Quốc đã tự mâu thuẫn khi tuyên bố những điều hoàn toàn vô lý nên cố tình lờ đi sự thật ấy” - nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu đã nhấn mạnh như vậy khi cung cấp một số lượng lớn bản đồ tự tay sưu tập cho báo Đại Đoàn Kết.




http://daidoanket.vn/Pictures/bao tuan/_2011/149/2011_149_12_ANH1.jpg


Nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu giới thiệu về
kho tư liệu hơn 1000 bản đồ các loại
khẳng định chủ quyền biển đảo của Việt Nam


Tiếp cận từ khía cạnh các tư liệu bản đồ, được tiến hành đo đạc, xác lập từ thế kỷ thứ XV (có thể lâu hơn nữa) đã cho thấy một lát cắt hoàn chỉnh về chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa. Những chứng cứ này đã biến yêu sách "đường lưỡi bò” của Trung Quốc trở nên vô lý đối với các nước ven biển ASEAN và cộng đồng quốc tế yêu hòa bình, công lý.
Với khoảng hơn 1000 bản đồ lớn nhỏ, dài rộng khác nhau của các học giả trên khắp thế giới, kể cả các học giả người Trung Quốc, nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu khẳng định, đây là những tài liệu rất quan trọng để Chính phủ sử dụng trong trường hợp một Tòa án quốc tế có thẩm quyền được lập để giải quyết vấn đề phức tạp tại Biển Đông hiện nay.
Chủ quyền biển đảo Việt Nam được xác lập từ thế kỷ XV
Trong kho tư liệu bản đồ mà nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu cung cấp, có một bản đồ cổ hiếm hoi được ghi nhận ra đời từ thế kỷ thứ XV. "Thực ra có thể có nhiều tấm bản đồ cổ hơn nữa nhưng trải qua thời gian, chiến tranh và biến cố của thời cuộc nên hầu hết đã bị thất lạc” - ông Nguyễn Đình Đầu cho biết.
Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu, từ khi Việt Nam giành được quyền tự chủ vào năm 939, bản thân chính quyền và các học giả Trung Hoa khi đó đã bắt đầu vẽ bản đồ nước ta, song chủ yếu là phần đất liền. Phải đến các thế kỷ sau đó, Biển Đông và các hải đảo của Việt Nam mới bắt đầu được mô tả trên bản đồ. Theo các tài liệu thu thập được, hiện còn 3 tập bản đồ thể hiện khá rõ chủ quyền lãnh hải và đất liền của Việt Nam, gồm: Bản đồ Giao Chỉ Quốc – Giao Chỉ Dương (trích từ bản đồ Võ Bị Chí được vẽ từ khoảng thế kỷ XV); Bản đồ diên cách Việt Nam Đông Đô – Việt Nam Tây Đô với Đông Dương Đại Hải của Ngụy Nguyên (khoảng năm 1842) và Bản đồ An Nam Quốc với Đông Nam Hải.
Trong số các bản đồ này thì tập bản đồ Võ Bị Chí có thể hiện một bán đảo lớn, đề rõ Giao Chỉ Quốc, trong đó phía Đông là biển cả được ghi rõ Giao Chỉ Dương. Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu, vào giai đoạn này nước ta tự xưng tên gọi là Đại Việt, Trung Quốc gọi là An Nam Quốc. Tuy Võ Bị Chí vẫn gọi nước ta theo tên Giao Chỉ cổ đại nhưng cũng đã tỏ ra tôn trọng chủ quyền của nước ta ở trên lục địa lẫn Biển Đông.
Sau này, Ngụy Nguyên ghi vẽ lại bản đồ diên cách Việt Nam khá chính xác gồm: Việt Nam Đông Đô (tức Đàng Ngoài) và Việt Nam Tây Đô (tức Đàng Trong). Ở ngoài khơi Việt Nam Đông Đô là quần đảo Vạn Lý Trường Sa tức quần đảo Hoàng Sa ngày nay. Ngoài khơi thuộc Việt Nam Tây Đô là quần đảo Thiên Lý Thạch Đường, tức Trường Sa. Ngoài khơi biển cả được ghi rõ là Đông Dương Đại Hải.
Ngoài ra, trên bản đồ An Nam Quốc, Ngụy Nguyên cũng đã ghi lại nhiều địa danh các vương quốc phụ thuộc làm cho ranh giới chiếm phần lớn bên hữu ngạn sông Mê Kông, nay thuộc Thái Lan. Ngoài Biển Đông, Ngụy Nguyên ghi rõ là Đông Nam Hải, chứng tỏ chủ quyền của Việt Nam trên lục địa và biển cả là rộng lớn và được tôn trọng hiển nhiên.
Trong các văn bản chính thống, Lê Quý Đôn và Phan Huy Chú đã chứng minh chủ quyền và quá trình khai thác và làm chủ các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Trong sách Phủ Biên Tạp Lục (1777), Lê Quý Đôn viết: "Xã An Vĩnh thuộc huyện Bình Sơn, phủ Quảng Ngãi ở gần bãi biển. Về hướng đông bắc có nhiều đảo và nhiều núi linh tinh hơn 130 đỉnh... ở trong các hòn đảo có bến Cát Vàng, chiều dài ước chừng hơn 30 dặm... những thuyền lớn đi biển thường khi gặp gió bão đều đến nương đậu ở đảo này. Họ Nguyễn còn thiết lập đội Hoàng Sa gồm 70 suất, lấy người ở xã An Vĩnh bổ sung... một đội Bắc Hải chèo thuyền ra cù lao Côn Lôn... hoặc đi đến các xứ Cồn Tự vùng Hà Tiên để tìm kiếm”.
Nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu cũng lưu giữ được hai bản đồ quý từ thế kỷ XV - XVII, gồm An Nam Quốc (Hồng Đức 1490) và Vương quốc An Nam (Alexandre de Rhodes, 1650) cũng biểu hiện khá rõ thềm lục địa, Biển Đông và hải đảo Việt Nam đương thời. Sau này vào thời Gia Long, là thời kỳ đầu tiên thống nhất nước ta từ ngoại giao đến nội trị, từ quốc phòng đến hành chính, từ khai thác hầm mỏ đến bảo vệ hải đảo. Đây là giai đoạn mà các tài liệu được ghi chép hết sức tỉ mỉ về các quần đảo thuộc chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông. Riêng về ghi chép bản đồ, thời kỳ này có hai bản đồ An Nam Đại Quốc Họa Đồ (Taberd 1838) và Đại Nam Nhất Thống Toàn Đồ (1840) thể hiện khá đầy đủ tình hình thềm lục địa, Biển Đông và hải đảo Việt Nam.


http://daidoanket.vn/Pictures/bao tuan/_2011/149/2011_149_12_ANH2.jpg


Một bản đồ được ghi chép bằng tiếng Hán
thể hiện chủ quyền biển đảo của Việt Nam

Phương Tây xác định chủ quyền các quần đảo là của Việt Nam
Từ thế kỷ thứ XIX, song song với quá trình xâm chiếm các thuộc địa, nhiều nước Phương Tây tiến hành đo vẽ bản đồ thế giới gồm cả 5 châu lục, trong đó có thể hiện tên nước Giao Chỉ, với các cách phiên âm rất khác nhau, như: Cochi, Cauchi, Cauci, Quachym, Cochin... Do có kỹ thuật hiện đại về đo đạc nên có thể coi các tài liệu của Phương Tây về chủ quyền các đảo, quần đảo tại Biển Đông thời kỳ này là tương đối chính xác.
Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu, từ thế kỷ thứ XVI, nước Đại Việt cùng các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã được Phương Tây trích dẫn trên hầu hết các bản đồ thế giới hoặc khu vực Đông Á. Riêng Alexandre de Rhodes 1650; Công ty Đông Ấn La Haye năm 1658 và Taberd năm 1838 đã vẽ riêng bản đồ Việt Nam.
Theo ông Nguyễn Đình Đầu, trong số hàng trăm bản đồ do Phương Tây thực hiện, hầu hết đều ghi rõ đất nước Việt Nam với các hải đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà họ gọi tên chung là Paracel hay Pracel. Bờ biển Prasel là ở Trung Bộ Việt Nam. "Không một bản đồ nào ghi bờ biển Prasel ở Nam Trung Hoa hay Phi Luật Tân, Indonesia hoặc Mã Lai. Thật hiển nhiên, khắp thế giới đều công nhận Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam” - nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu nhấn mạnh.
Với 50 bản đồ mô tả nước Việt Nam với thềm lục địa và Biển Đông ấn hành suốt từ 1525 đến 1886, chúng ta thấy dần dần sự hiểu biết của thế giới về đất nước Việt Nam ngày một chính xác, cả về hình thể, lẫn địa danh (trong đó, gồm cả Hoàng Sa và Trường Sa).
Việt Nam có thềm lục địa trải rộng 28 tỉnh, thành ven biển
Ngoài các chứng cứ đo vẽ về chủ quyền trên các đảo và quần đảo của Việt Nam, nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu khẳng định thêm, các bản đồ cổ thực hiện từ hàng trăm năm nay đều ghi nhận 28 tỉnh, thành nước ta có thềm lục địa giáp với Biển Đông, trong đó quần đảo Trường Sa thuộc quản lý hành chính của tỉnh Khánh Hòa và quần đảo Hoàng Sa thuộc quyền quản lý của thành phố Đà Nẵng (huyện đảo Hoàng Sa). Tổng cộng, nước ta có phần lãnh hải rộng trên 1 triệu km2, gấp 3 lần diện tích đất liền.
Công lao lớn thuộc về người Pháp khi họ trao nhiệm vụ cho hải quân đo đạc và thực hiện vẽ bản đồ một cách chính xác từ bờ biển cho đến các hải đảo nổi trên mặt nước; đo chính xác độ sâu trung bình gần như khắp biển Đông. "Đó thực sự là một kỳ công của người Pháp” - ông Nguyễn Đình Đầu đánh giá.
Các bản đồ do người Pháp đo vẽ có rất nhiều kích cỡ, khu vực cụ thể, tuy nhiên có thể tạm chia làm 3 loại: Trường Sa, Hoàng Sa; Thềm lục địa và hải đảo; Thềm lục địa, hải đảo và Biển Đông. Trong số này, bản đồ quần đảo Hoàng Sa (52x66cm) do Nha Thủy bộ Hải quân Pháp đo vẽ năm 1885; bản đồ chi tiết các đảo Pattle (Hoàng Sa); Boisée (Phú Lâm); Robert (Hữu Nhật) thuộc quần đảo Hoàng Sa; các đảo Caye du S.W. (Song Tử Tây); Caye de I'Alerte (Song Tử Đông), Thi Tu (Thị Tứ), đảo Loai Ta (Loại Ta), Itu Aba (Ba Đình), Namvit (Nam Yết),...


Nhóm PV Biển Đông

Nguồn http://daidoanket.vn (http://daidoanket.vn/)

Sat That
24-07-2011, 12:55 AM
ĐƯỜNG LƯỠI BÒ PHI LÝ

KỲ 4

Chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam trong thư tịch triều Nguyễn (24/06/2011)



Thời nhà Nguyễn có rất nhiều tài liệu chính sử, nhiều sách ghi chép của các học giả nổi tiếng đương thời minh chứng chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Các tài liệu cho thấy hoạt động thực thi chủ quyền của Nhà nước phong kiến Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã phát triển với một trình độ cao hơn so với các triều đại trước đó và mọi chi tiết đều được minh định, lưu trữ bằng những văn bản, mộc bản chính thức của Nhà nước trong văn khố quốc gia.




http://daidoanket.vn/Pictures/bao tuan/_2011/150/2011_150_12_anh4.jpg


Châu bản triều Nguyễn nói về việc

vua Gia Long sai Phạm Quang Ảnh ra Hoàng Sa
Trước hết là cuốn Dư Địa Chí trong bộ Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí của Phan Huy Chú (1821) và sách Hoàng Việt Địa Dư Chí (1833). Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí là một công trình biên khảo quy mô lớn gồm 49 quyển ghi chép hầu hết các tư liệu lịch sử của các triều đại phong kiến Việt Nam. Trong đó Địa Dư Chí quyển 5, phần Quảng Nam có nói đến phủ Tư Nghĩa mà phần lớn nội dung nói về Hoàng Sa. Điều này chứng tỏ Hoàng Sa là một bộ phận quan yếu đối với phủ Tư Nghĩa bấy giờ. Hoàng Việt Dư Địa Chí, được Quốc Sử Quán khắc in vào năm Minh Mạng thứ 14 (1833), nội dung có nhiều điểm giống Dư Địa Chí, có đoạn nói về hoạt động của đội Hoàng Sa.
Đại Nam Thực Lục Tiền Biên là loại tài liệu chính thức đầu tiên viết về Hoàng Sa trong thời kỳ Chúa Nguyễn mà triều đình nhà Nguyễn cho chép lại. Tài liệu này chép rằng, ngoài biển Quảng Ngãi có một loại hình quần đảo tục gọi là bãi Hoàng Sa có hơn 130 cồn cát không biết dài tới mấy ngàn dặm. Tài liệu xác định danh xưng "Vạn Lý Hoàng Sa Châu”, các sản vật, việc lập đội Hoàng Sa và đội Bắc Hải thuộc đội Hoàng Sa để kiểm soát các đảo phía Nam, tức vùng Côn Đảo, Trường Sa ngày nay.


http://daidoanket.vn/Pictures/bao tuan/_2011/150/2011_150_12_anh1.jpg


Đây là một trong những bản đồ của sách "Phủ Biên Tạp Lục”
mô tả tỉ mỉ tình hình địa lý, tài nguyên ở
Hoàng Sa và Trường Sa cũng như công việc khai thác
của Chúa Nguyễn đối với hai quần đảo này


Đại Nam Thực Lục Chính Biên (Quốc Sử Quán khắc in năm 1848) có 11 đoạn trong nhiều quyền chép về Hoàng Sa và Trường Sa với nhiều nội dung mới, phong phú, rất cụ thể về việc thực thi chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo này. Quyển 50 kể chuyện, tháng Giêng năm Ất Hợi (1815) vua Gia Long sai Phạm Quang Ảnh thuộc đội Hoàng Sa ra đảo Hoàng Sa xem xét, đo đạc thủy trình (Phạm Quang Ảnh là người xã An Vĩnh, Cù lao Ré, nay thuộc thôn Đông, xã Lý Vĩnh, đảo Lý Sơn). Quyển 52 chép, năm Bính Tý (1816), vua Gia Long lại sai thủy quân và đội Hoàng Sa ra đảo Hoàng Sa xem xét, đo đạc thủy trình. Như vậy, theo chính sử trong 2 năm liên tiếp vị vua đầu tiên của nhà Nguyễn (Gia Long) đã ít nhất 2 lần sai người ra Hoàng Sa thực thi chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo này. Quyển 104 cho thấy lần đầu tiên trong chính sử của triều đình Việt Nam ghi rõ lời của một hoàng đế Việt Nam (vua Minh Mạng) đã khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa, khẳng định Hoàng Sa nằm trong vùng biển Việt Nam và sai người dựng miếu, lập bia, trồng cây để ngày sau cây cối to lớn xanh tốt, tàu thuyền dễ nhận ra tránh mắc cạn,.Quyển 122 chép: "Năm Giáp Ngọ, Minh Mạng thứ 15 (1834) sai giám thành đội trưởng Trương Phúc Sĩ cùng thủy quân hơn 20 người đi thuyền đến đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Ngãi vẽ bản đồ”. Quyển 165 chép lại rất rõ quan điểm của Bộ Công và hoạt động của Bộ này tại Hoàng Sa: "Năm Bính Thân, Minh Mạng thứ 17 (1836), Bộ Công tâu: "Xứ Hoàng Sa thuộc cương vực mặt biển nước ta, rất là hiểm yếu, từng sai vẽ bản đồ riêng về hình thể xa rộng, ta mới chỉ vẽ được một, rồi lại cũng chưa biết nên vẽ làm thế nào. Hàng năm, thường phái người đi xem xét cho khắp để thông thuộc đường biển. Xem từ năm nay về sau, mỗi khi đến hạ tuần tháng giêng, chọn phái thủy quân biền binh và giám thành đáp một chiếc thuyền ô nhằm thượng tuần tháng hai thì đến Quảng Ngãi, giao cho hai tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định thuê 4 chiếc thuyền của dân hướng dẫn ra xứ Hoàng Sa. Không cứ là đảo nào, bãi cát nào, phàm khi thuyền đến nơi, tức thì cứ chiếu chiều dài, chiều ngang, chiều cao, chiều rộng và nước biển, bãi biển xung quanh nông hay sâu, có bãi ngầm, đá ngầm hay không, hình thế hiểm trở bình dị thế nào, phải xem xét đo đạc rõ ràng, vẽ thành bản đồ...”. Quyển này còn chép: "Vua đã y theo lời tâu của Bộ Công sai suất đội thủy quân Phạm Hữu Nhật điều binh thuyền đi đem theo 10 cái bài gỗ dựng bàn dấu mốc, chủ quyền”, mỗi bài gỗ dài 5 thước, rộng 5 tấc, mặt khắc những chữ: "Minh Mạng thập thất niên, Bính Thân, thủy quân chinh đội trưởng suất đội Phạm Hữu Nhật phụng mệnh vãng Hoàng Sa đường độ chí thủ lưu chí đẳng tự” (Năm Bính Thân, Minh Mạng thứ 17, cai đội thủy quân Phạm Hữu Nhật phụng mệnh đi đo đạc, cắm mốc ở Hoàng Sa để lưu dấu). Khâm Định Đại Nam Hội Điển Sự Lệ là bộ sách do triều thần nhà Nguyễn vâng mệnh vua ghi chép những việc làm của 6 bộ được hoàn thành trong khoảng thời gian từ năm 1843 đến 1851 cũng có chép về việc lập miếu, dựng bia, trồng cây ở Hoàng Sa và khảo sát, đo vẽ bản đồ toàn bộ khu vực.


http://daidoanket.vn/Pictures/bao tuan/_2011/150/2011_150_12_anh3.jpg


Đại Nam Nhất Thống Chí là

bộ sách địa chí chính thức của nhà Nguyễn

biên soạn từ 1865-1910

Bộ sách Đại Nam Nhất Thống Chí ấn hành năm Duy Tân thứ 3 (1910) chép, có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc tỉnh Quảng Ngãi, tiếp tục khẳng định hoạt động của đội Hoàng Sa và đội Bắc Hải do đội Hoàng Sa kiêm quản, cho biết thêm chi tiết về hành động thực thi chủ quyền của Việt Nam thời vua Minh Mạng như sai binh lính xây chùa, dựng bia... Việt Sử Cương Giám Sử Lược của Nguyễn Thông có đoạn tả sơ lược về Hoàng Sa, có miếu cổ lợp ngói, bảng khắc mấy chữ "Vạn Lý Ba Bình”, binh lính thường đem những hạt quả phương Nam mà vãi để mọc cây làm dấu. Trong Quốc Triều Chính Biên Toát Yếu của Quốc Sử Quán nhà Nguyễn đời vua Minh Mạng có chép về chuyện xây chùa, xây miếu, dựng bia, cắm mốc gỗ, vẽ bản đồ...ở Hoàng Sa như các sách nói trên. Ngoài ra, sách này còn ghi chép việc có 90 người trên tàu buôn của Anh qua bãi Hoàng Sa bị nạn đã ghé vào bãi biển Bình Định vào tháng 12 năm Bính Thân (1836) cầu cứu. Vua sai người tìm nơi cho ở và hậu cấp tiền gạo. Thuyền trưởng, đầu mục (thuyền buôn Anh) tỏ ra rất cảm kích. Vua sắc cho phái viên đi Tây, Nguyễn Tri Phương đem những người ấy xuống bến ở Hạ Châu đưa về nước”.


http://daidoanket.vn/Pictures/bao tuan/_2011/150/2011_150_12_anh2.jpg



Một trang trong bộ Đại Nam Thực Lục Chính Biên,
cuốn sử ký của Quốc Sử Quán triều Nguyễn biên soạn

Một nguồn tài liệu khác có giá trị cao để khẳng định quá trình Nhà nước phong kiến Việt Nam thời Nguyễn có nhiều hành động thực thi chủ quyền tại Hoàng Sa và Trường Sa là các châu bản triều Nguyễn. Châu bản triều Nguyễn ghi chép cụ thể, rõ ràng các chỉ dụ của nhà vua về các đoàn đi công vụ ở Hoàng Sa; các bản tấu của quan lại địa phương về việc thuyền buôn nước ngoài mắc cạn ở Hoàng Sa; các bản tấu của Bộ Công về những công việc mà các đoàn công vụ ra Hoàng Sa đã làm, hoặc chưa làm xong... Đặc biệt có tờ tấu của Bộ Công (1838) cho biết đoàn khảo sát Hoàng Sa trở về báo cáo đã lên được 25 đảo, còn một số đảo hơi xa gặp gió bão lớn chưa lên được... Ngoài ra cũng còn rất nhiều tài liệu khác là các trước tác, ghi chép của các học giả, quan lại đương thời có liên quan tới việc thực thi chủ quyền của Nhà nước phong kiến Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa như bài Vọng Kiến Vạn Lý Trường Sa của Lý Văn Phức chẳng hạn. Theo tài liệu này thì ngay từ đầu thế kỷ XIX, nhà Nguyễn đã từng thuê các thủy thủ dày dạn kinh nghiệm và các phương tiện kỹ thuật hiện đại của phương Tây trực tiếp dẫn dắt một số con thuyền vượt Biển Đông để khảo sát, đo đạc vẽ bản đồ. Điều này cũng góp phần lý giải bản đồ khu vực biển đảo của Việt Nam thời nhà Nguyễn tuy vẫn giữ cách vẽ truyền thống nhưng cũng đã bắt đầu cập nhật thông tin mới và độ chính xác cao như bản đồ hàng hải của các nước phương Tây bấy giờ.

Nhóm PV Biển Đông
Nguồn http://daidoanket.vn

longtt88
24-07-2011, 08:44 AM
NHÀ NGHIÊN CỨU NGUYỄN ĐÌNH ĐẦU:
“Hoàng Sa - Trường Sa là của Việt Nam, điều đó là chắc chắn!”

“Lịch sử trong ngàn bản đồ cổ xuyên suốt trong hàng trăm năm qua, do người đương thời khi ấy vẽ đã khẳng định rằng: Hoàng Sa - Trường Sa là của Việt Nam! Điều đó là chắc chắn!”.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu đã thông tin như thế tại buổi nói chuyện về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa qua các bản đồ cổ ở Cà phê thứ Bảy, sáng 23-7.

Trên rất nhiều bản đồ cổ có được, ông cho biết tất cả đều ghi rất rõ ràng: Vùng biển Hoàng Sa - Trường Sa (hay Paracel) là của Việt Nam, không có bản đồ nào ghi đó là vùng biển của Trung Quốc. Ông cũng phân tích sự hiểu nhầm danh xưng về biển Nam Trung Hoa (biển Hoa Nam) mà Trung Quốc đã lợi dụng để thâu tóm biển Đông thông qua “đường đứt đoạn chín khúc” là vô lý và vi phạm luật pháp quốc tế. Cụ thể, trước khi có tên gọi biển Nam Trung Hoa thì biển Đông đã được ghi trong rất nhiều bản đồ cổ (có cả những bản đồ do người Trung Quốc vẽ) là Giao Chỉ dương, Đông Dương đại hải, Đông Nam hải rồi biển Giao Chỉ gần Trung Hoa(Cochinchine)…. Về sau, do các nhà vẽ bản đồ phương Tây hiểu nhầm chỉ ghi là biển Trung Hoa (Mer de Chine hoặc China sea). (Xem các bài: Từ biển Giao Chỉ đến “đường lưỡi bò” và Vì sao biển Đông lại thành biển Trung Hoa? (Pháp Luật TP.HCM, 27-6 và 3-7-2011).



http://phapluattp.vcmedia.vn/Images/Uploaded/Share/2011/07/24/4-chot.jpg
Nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu nói về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa qua các bản đồ cổ tại Cà phê thứ Bảy, sáng 23-7. Ảnh: MINH CƯỜNG

Tại buổi nói chuyện, nhiều người lần đầu tiên được biết những kiến thức trên, được trực tiếp nhìn thấy những bản đồ cổ, những nét vẽ khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa. Nhiều người mong muốn những kiến thức quý báu này đến được nhiều hơn nữa với toàn thể người dân Việt Nam trong và ngoài nước.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu trăn trở: “Tôi mong muốn những tấm bản đồ này được treo ở các trường học, viện nghiên cứu và rộng hơn nữa là trong nhà người dân hay chí ít là trong những quán cà phê như thế này... Làm sao để nói được thật nhiều cho dân mình, cho thế giới, cho người Trung Quốc biết những chứng cứ lịch sử có thật, không thể đi ngược lại về chủ quyền biển đảo của Việt Nam ta. Và chính từ sự hiểu biết thật cặn kẽ, vững chắc mới mong tạo được sự thống nhất, sự nhận thức sâu xa trong lòng dân tộc về chủ quyền của mình. Điều ấy sẽ tạo nên sức mạnh to lớn để bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc”.

Nguồn: PL TPHCM (http://phapluattp.vn/20110724121837605p0c1013/hoang-sa-truong-sa-la-cua-viet-nam-dieu-do-la-chac-chan.htm)

Sat That
24-07-2011, 10:36 AM
ĐƯỜNG LƯỠI BÒ PHI LÝ

KỲ 5

Thực thi chủ quyền ở Hoàng Sa và Trường Sa của các triều đại Việt Nam (25/06/2011)




Các thư tịch cổ Việt Nam còn lại đến nay cho thấy các triều đại phong kiến Việt Nam đã đặc biệt chú trọng tới vùng biển. Các hoạt động của triều đình Việt Nam không chỉ đơn giản là nhằm khai thác hải sản, các nguồn lợi kinh tế khác từ biển mà còn từng bước xác lập chủ quyền quốc gia một cách hòa bình và liên tục trên các đảo và vùng biển liên quan. Việc khai thác, xác lập chủ quyền và quản lý lãnh thổ trên Biển Đông trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã được cha ông ta tiến hành từ rất lâu đời.



http://daidoanket.vn/Pictures/bao tuan/_2011/151/2011_151_4_Hongducbando.jpg


Hồng Đức Bản Đồ vẽ rõ địa thế xứ Đàng Trong cuối thế kỷ 18.
Bãi Cát Vàng được vẽ ở ngoài khơi phủ Quảng Ngãi


Nhiều bộ sách lịch sử của nước ta còn lại đến nay đã ghi nhận việc phân định hải giới giữa nước ta với láng giềng phương Bắc một cách trực tiếp vào năm Canh Dần (990). Đại Việt Sử Ký Toàn Thư (1675) chép, vào năm đó sứ Tống sang, vua Lê Đại Hành "sai nha nội cho Chỉ huy sứ là Đinh Thừa Chính đem 9 thuyền dẫn 300 người đến Thái Bình Quân (nay là Quảng Đông, Trung Quốc) để đón”. Trong cuốn Hành Lục Tập, sứ giả Trung Quốc bấy giờ là Tống Cảo thừa nhận điều này: "Cuối thu năm ngoái, bọn Cảo chúng tôi tới hải giới Giao Chỉ, Nha nội đô chỉ huy sứ của Hoàn là Đinh Thừa Chính đem 9 chiến thuyền và 300 quân đến Thái Bình Trường để đón”. Việc vua Lê Thánh Tông cho lập bản đồ toàn quốc "Hồng Đức Bản Đồ” vào năm Canh Tuất (1490), trong đó có Hoàng Sa và Trường Sa cho thấy trước đó hai quần đảo này đã thuộc chủ quyền của Đại Việt và nhà Hậu Lê sau khi chiến thắng quân Minh đã hết sức quan tâm tới việc xác lập biên giới quốc gia, khẳng định chủ quyền lãnh thổ trong đó có vùng biển, đảo. Căn cứ vào Hồng Đức Bản Đồ, Đỗ Bá tự Công Đạo đã soạn ra bộ sách Toàn Tập Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư (1630 – 1653), ở quyển 1 có thể hiện địa mạo phủ Quảng Ngãi, phần chú thích trên bản đồ có nói tới Bãi Cát Vàng tức quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ngày nay. Toàn Tập Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư theo lệnh của Chúa Trịnh những năm Chính Hòa (1689-1705) là văn kiện chính thức của Nhà nước phong kiến bấy giờ. "Bãi Cát Vàng” được ghi chú trong bản đồ phản ánh việc thực thi chủ quyền của Nhà nước phong kiến Việt Nam trên Biển Đông trong đó có Hoàng Sa và Trường Sa muộn nhất là vào thế kỷ thứ XV. Các Chúa Nguyễn cai quản xứ Đàng Trong cũng rất quan tâm quản lý, khai thác, xác lập và bảo vệ chủ quyền tại Hoàng Sa. Theo sử sách, việc thành lập đội Hoàng Sa phải có trước hoặc muộn nhất kể từ thời Chúa Nguyễn Phúc Tần (1648-1687). Khi Tây Sơn khởi nghĩa, Chúa Nguyễn chạy vào Gia Định thì đội Hoàng Sa tiếp tục đặt dưới quyền kiểm soát của Tây Sơn. Ngay sau khi lên ngôi, chỉ một năm sau, vua Gia Long (1803) đã ra chỉ dụ củng cố đội Hoàng Sa. Năm 1815, vua Gia Long tiếp tục sai đội Hoàng Sa đi đo đạc thủy trình và vẽ bản đồ Hoàng Sa. Năm1816, vua Gia Long cho cắm cờ quốc gia trên quần đảo Hoàng Sa và sai thủy quân ra đồn trú tại đây để thu thuế và bảo trợ ngư dân đánh cá trong vùng. Từ đó cho đến suốt thời kỳ nhà Nguyễn, thủy quân Việt Nam đều đặn đi vãng thám, đo đạc thủy trình, vẽ bản đồ, cắm mốc, dựng bia chủ quyền và rất nhiều hoạt động khác để thực thi chủ quyền trên hai quần đảo này.
Trong suốt thời Chúa Nguyễn hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa luôn được đặt trong khu vực quản lý hành chính của Thừa Tuyên Quảng Nam dưới danh nghĩa nhà Lê, thuộc Quảng Ngãi lúc là phủ khi là trấn trong thực tế tự trị của xứ Đàng Trong. Bởi từ khi Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Quảng (1600) cho tới khi chúa Nguyễn Phúc Khoát (1738-1765) xưng vương năm 1744, trên danh nghĩa chúa Nguyễn vẫn là quan trấn thủ Thừa Tuyên Quảng Nam của Đại Việt, do vua Lê trị vì. Do vậy, việc thực thi chủ quyền tại Hoàng Sa, Trường Sa của các Chúa Nguyễn vẫn dưới danh nghĩa triều đình Đại Việt. Phủ Quảng Ngãi có huyện Bình Sơn quản lý xã An Vĩnh. Sang đời Tây Sơn, phủ Quảng Ngãi được đổi tên thành phủ Hòa Nghĩa. Năm 1801, Hòa Nghĩa được đổi lại như cũ là Quảng Ngãi (hay Nghĩa do cách đọc), có bộ máy quan lại cai trị từ phủ đến xã. Đến đầu triều Nguyễn, khi dân hai phường Cù lao Ré phát triển, xin tách khỏi hai làng cũ ở đất liền trở thành nơi cung cấp dân binh chủ yếu cho đội Hoàng Sa. Đội trưởng Phạm Quang Ảnh năm 1815 là người xã An Vĩnh, đảo Cù lao Ré nay thuộc thôn Đông, xã Lý Vĩnh, tỉnh Quảng Ngãi.
Mặc dù bị mất mát rất nhiều song các tài liệu cổ sử còn sót lại vẫn ghi nhận rõ ràng việc các vua chúa Việt Nam nhiều thời kỳ đã đặc biệt quan tâm xác lập chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Nếu không có sự quan tâm và các chỉ dụ cụ thể như thế thì ngày nay sẽ không có những bản đồ như Hồng Đức Bản Đồ (1490), Toàn tập Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư (1630-1705), hoặc Thuận Hoá Quảng Nam Địa Đồ Nhật Trình có vẽ bãi Trường Sa ở phía ngoài xã Du Trường (tức Cù lao Ré) chú thích đi mất 2 ngày mới tới. Đại Nam Thực Lục Tiền Biên, quyển 8 có chép: "Năm Tân Mão, Hiến Minh Hoàng Đế năm thứ 20 (1711), mùa hạ, tháng 4 (âm lịch) sai đo bãi cát Trường Sa dài ngắn, rộng hẹp bao nhiêu”. Trước khi lên ngôi hoàng đế (1802), Nguyễn Ánh cũng từng nhờ người Pháp đo đạc giúp hải trình ở Biển Đông trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Sau khi lên ngôi, vua Gia Long tiếp tục chỉ dụ đo đạc, vẽ bản đồ ở Hoàng Sa và Trường Sa như đã trình bày ở trên. Sang đời vua Minh Mạng, việc đo đạc chủ yếu giao cho thủy quân và thuê dân địa phương hướng dẫn hải trình. Nhiệm vụ đo đạc ở Hoàng Sa và Trường Sa được quy định rất rõ. Đại Nam Thực Lục Chính Biên quyển 165 và Khâm Định Đại Nam Hội Điển Sự Lệ quyển 221 chép: "Không cứ đảo nào, cửa bể nào thuyền chạy đến, sẽ đo nơi ấy chiều dài, chiều ngang, bề cao, bề rộng, chu vi bao nhiêu, rà bên bờ nước bể nông hay sâu. Có cát ngầm đá mỏm hay không, ở tình thế hiểm trở hay bình thường, xem đo tỏ tường vẽ thành đồ bản, chiếu khi khởi hành, do cửa nào ra bể, trông phương hướng nào mà lái đến nơi ấy, cứ theo đường thủy đã đi khấu tính ước được bao nhiêu dặm đường, lại ở chốn ấy trông vào bờ bể đối thẳng là tỉnh hạt nào và phương hướng nào. Ước lượng cách bờ bao nhiêu dặm đường. Ghi nói minh bạch trong họa đồ để về trình lên. Lại từ năm nay trở về sau, mỗi khi đến hạ tuần tháng giêng chiếu theo lệ ấy mà làm”. Việc đo vẽ bản đồ Hoàng Sa và Trường Sa được nhà Nguyễn hết sức quan tâm, sử liệu cũng ghi nhận nhiều quan lại, quân lính bị phạt nặng do không hoàn tất công việc theo chỉ dụ của nhà vua, Bộ Công buộc họ phải làm lại. Nhờ các hoạt động đo đạc chi tiết, cẩn thận như vậy hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trước thời Minh Mạng vốn được xem là một "Bãi Cát Vàng”, có khi gọi là "Vạn Lý Trường Sa”, nay đã được vẽ lại (Đại Nam Nhất Thống Toàn Đồ) ghi rõ ràng hai tên khác nhau cho hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Bên cạnh việc đo vẽ bản đồ, nhà Nguyễn cũng đã nhiều lần khẳng định chủ quyền ở Hoàng Sa và Trường Sa bằng việc cho cắm cờ, cắm mốc, dựng bia chủ quyền trên hai quần đảo này. Năm 1816 vua Gia Long đã sai người ra cắm cờ trên đảo Hoàng Sa.
Những người Pháp cộng tác với vua Gia Long như Đức Giám mục Taberd viết rất rõ về việc này: "Vào năm 1816 Ngài (Gia Long) đã long trọng treo tại đó (Hoàng Sa) lá cờ của xứ Đàng Trong”. Hành động này là dấu mốc quan trọng trong việc xác lập chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa, nên nhiều người phương Tây chứng kiến đều khẳng định vua Gia Long đã chính thức xác lập chủ quyền của mình trên quần đảo này trong sách của họ. Từ thời vua Minh Mạng, lực lượng thủy quân làm nhiện vụ thực thi chủ quyền được phiên chế như một "lực lượng đặc nhiệm” gồm kinh phái, tỉnh phái và dân binh địa phương mà chủ yếu là dân binh đội Hoàng Sa. Nhiệm vụ của "lực lượng đặc nhiệm” này luôn được đích thân hoàng đế chỉ dụ cụ thể. Cũng chính nhà vua theo dõi diễn tiến để thưởng phạt công minh. Đại Nam Thực Lục Chính Biên chép, mỗi thuyền vãng thám Hoàng Sa phải đem theo 10 tấm gỗ dài 4,5 thước rộng 5 tấc để làm cột mốc chủ quyền, trên cột mốc có khắc rõ niên hiệu, năm, chức vụ, họ tên viên chỉ huy thủy quân, được phụng mệnh ra Hoàng Sa và lưu dấu để ghi nhớ.
Các triều đại phong kiến Việt Nam trong lịch sử từ lâu đã chú ý đến cương vực lãnh thổ trên biển mà đặc biệt là khu vực hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Bằng các hoạt động cụ thể, được sử liệu ghi chép đầy đủ, các triều đại phong kiến Việt Nam đã xác lập, thực thi chủ quyền một cách hoà bình và liên tục trong suốt nhiều thế kỷ.

NHÓM PV BIỂN ĐÔNG
Nguồn http://baodaidoanket.vn

Sat That
24-07-2011, 10:40 AM
ĐƯỜNG LƯỠI BÒ PHI LÝ

KỲ 6


Hải đội Hoàng Sa thực thi chủ quyền (27/06/2011)



Hàng năm cứ vào khoảng cuối tháng 2 âm lịch, khi các đợt gió mùa Đông Bắc thưa dần trên Biển Đông, người dân đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi) lại cùng nhau cử hành các nghi lễ được gọi là "Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa”. Đây chính là hoạt động tri ân và tưởng nhớ những người lính trong đội hùng binh Hoàng Sa kiêm quản Trường Sa năm xưa đã hy sinh thân mình để bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc trên Biển Đông.




http://daidoanket.vn/Pictures/bao tuan/_2011/26_6/tuongdaito.jpg

Tượng đài đội Hoàng Sa kiêm quản Bắc Hải.

Ảnh: Trí Nguyễn - vnexpress




Nhiệm vụ nặng nề, công việc nguy hiểm, biển khơi khó lường, trong khi phương tiện của thời đó còn rất thô sơ nên các dân binh trong đội Hoàng Sa hầu như luôn phải đối mặt với cái chết. Thế nhưng trong suốt nhiều thế kỷ qua, các đội hùng binh của vùng biển Hoàng Sa và Trường Sa đã hầu như liên tục ra khơi xác lập và thực thi chủ quyền của người Việt Nam trên hai quần đảo này. Hầu hết các tài liệu cổ có ghi chép về đội Hoàng Sa đều cho thấy đội này bắt đầu xuất hiện từ thời những chúa Nguyễn đầu tiên đặt chân đến xứ Đàng Trong. Theo TS Nguyễn Nhã, chúng ta có cơ sở để kết luận đội Hoàng Sa ra đời sớm nhất từ thời chúa Nguyễn Phúc Lan (1635-1648), hay chắc chắn là từ thời chúa Nguyễn Phúc Tần (1648-1687), bởi chính vào thời này, các thuyền của đội Hoàng Sa mới đi vào cửa Eo (Thuận An) và nộp sản vật tại chính dinh Phú Xuân. Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, đội Hoàng Sa vẫn tồn tại và hoạt động dưới nhiều triều đại khác nhau. Một năm sau khi lên ngôi hoàng đế, năm Gia Long thứ 2 (1803) vua ra chỉ dụ cho đội Hoàng Sa tiếp tục công việc như cũ. Đại Nam Thực Lục Chính Biên có chép rõ: "Cai cơ Võ Văn Phú làm thủ ngự cửa biển Sa Kỳ, sai mộ dân ngoại tịch lập làm đội Hoàng Sa”. Từ năm 1816, vua Gia Long bắt đầu cử thủy quân đi cùng với đội Hoàng Sa. Đến năm Minh Mạng thứ 17 (1836), những hoạt động của đội Hoàng Sa và thủy quân trên vùng biển Hoàng Sa và Trường Sa đã trở thành lệ thường hàng năm theo sách Khâm Định Đại Nam Hội Điển Sự Lệ ghi lại.


http://daidoanket.vn/Pictures/bao tuan/_2011/152/2011_152_12_anh2.jpg

Toàn cảnh đảo Lý Sơn tức Cù lao Ré (Quảng Ngãi)



Theo chính sử triều Nguyễn ghi lại, hàng năm đội Hoàng Sa bắt đầu đi biển từ tháng 3 âm lịch đến tháng 8 âm lịch thì về. Đây rõ ràng là thời gian rất thuận lợi cho việc đi biển trong khu vực Hoàng Sa và Trường Sa. Hầu hết các tài liệu cũng cho biết đi từ Cù lao Ré (đảo Lý Sơn) đến nơi bắt đầu hoạt động ở Hoàng Sa mất 3 ngày 3 đêm. Trong suốt 6 tháng đội Hoàng Sa tiếp tục đi khắp nơi trên biển để thực hiện nhiệm vụ được triều đình giao phó. Đó là các công việc thu lượm các sản vật từ các tàu đắm, các hải sản quý từ vùng biển phía bắc quần đảo Hoàng Sa, kiêm quản trông coi các đội khác cùng làm nhiệm vụ nhưng ở khu vực khác như đội Bắc Hải ở phía nam (tức quần đảo Trường Sa). Về sau, đội còn đảm trách thêm việc đi xem xét, đo đạc thủy trình, vẽ bản đồ vùng quần đảo Hoàng Sa. Nhiệm vụ này bắt đầu từ thời Gia Long mới được ghi trong chính sử. Riêng về nhiệm vụ do thám, canh giữ ngoài biển, trình báo về các bọn cướp biển thì bắt đầu có ghi từ năm Gia Long thứ 3 (1804). Nhiệm vụ của đội Hoàng Sa không chỉ thuần túy về kinh tế, khai thác tài nguyên mà còn làm các công việc phục vụ cho chức năng quản lý nhà nước. Như vậy, quá trình hoạt động của đội Hoàng Sa và các đội kiêm quản khác chính là quá trình xác lập và thực thi chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa liên tục, kéo dài trong nhiều thế kỷ (từ đầu thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX) và tuân theo luật lệ rõ ràng của Nhà nước phong kiến Việt Nam.


http://daidoanket.vn/Pictures/bao tuan/_2011/26_6/HoangSa_Tuoi_tre1.jpg

Tượng đài hải đội Hoàng Sa ở Lý Sơn sừng sững
nhìn ra quần đảo Hoàng Sa. Ảnh: Tuổi trẻ


Đội Hoàng Sa là một tổ chức khá đặc biệt trong thời kỳ các chúa Nguyễn ở Đàng Trong. Đó là một tổ chức vừa mang tính dân sự vừa mang tính quân sự, vừa tư nhân vừa Nhà nước; vừa có chức năng kinh tế vừa có chức năng quản lý nhà nước trên một vùng rộng lớn của Biển Đông thời ấy. Theo Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quý Đôn, thời Chúa Nguyễn đã đặt lệ mỗi năm lấy 70 suất đinh để sung vào đội Hoàng Sa, chủ yếu lấy người của xã An Vĩnh, Cù lao Ré (Quảng Ngãi). Ngay từ khi trấn nhậm phương Nam, các chúa Nguyễn đã nhận thấy vùng Biển Đông không chỉ là nơi có nhiều báu vật mà còn là cửa ngõ có tính chiến lược để trấn giữ phần đất liền nên đã rất có ý thức xác lập và thực thi chủ quyền trên vùng biển này. Do điều kiện thời tiết khắc nghiệt nên mỗi năm chỉ có thể đưa người ra vùng biển Hoàng Sa và Trường Sa một thời gian khoảng 6 tháng. Vì vậy, hàng năm lựa chọn các trai tráng khoẻ mạnh, thạo đi biển, thông hiểu luồng lạch của Cù lao Ré để sung vào đội Hoàng Sa. Nhiệm vụ của đội rất nặng nề và công việc nguy hiểm, nên các dân binh của đội Hoàng Sa đều biết rằng họ luôn đối diện với cái chết. Chính vì thế mà ngoài lương thực, nước uống các dân binh còn mang theo một đôi chiếu, 7 sợi dây mây và 7 cái đòn tre. Nếu chẳng may có mệnh hệ nào ở giữa biển khơi thì dùng chiếu ấy quấn xác, đòn tre để nẹp và lấy dây mây bó lại rồi thả xuống biển. Chiếc thẻ tre nhỏ ghi rõ tên tuổi, quê quán, phiên hiệu đơn vị của người mất được cài kỹ trong bó chiếu để những ai vớt được còn nhận biết.


http://daidoanket.vn/Pictures/bao tuan/_2011/152/2011_152_12_anh3.jpg


Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa


Tại Cù lao Ré hiện vẫn còn Âm Linh Tự tức miếu Hoàng Sa, ở thôn Tây, xã Lý Vĩnh, tức phường An Vĩnh xưa và Âm Linh Tự ngoài trời ở xã Lý Hải, tức phường An Hải xưa. Hiện vẫn còn tục tế đình và lễ khao quân tế sống để tiễn dân binh hải đội Hoàng Sa lên đường làm nhiệm vụ hàng năm vào ngày 20 tháng 2 âm lịch. Trên đảo Lý Sơn ngày này có nhiều gia đình còn gia phả và bàn thờ những người là lính Hoàng Sa như nhà ông Phạm Quang Tỉnh ở thôn Đông, xã An Vĩnh có nhà thờ và gia phả ông tổ Pham Quang Ảnh - người được vua Gia Long cử làm đội trưởng đội Hoàng Sa năm 1815. Trong ký ức của người dân Lý Sơn vẫn còn khắc ghi những câu chuyện hùng tráng lưu truyền từ tổ tiên. Như câu chuyện về Chánh đội trưởng suất đội Phạm Hữu Nhật vâng mệnh vua Minh Mạng (1836) dẫn đoàn thuyền của đội Hoàng Sa ra Biển Đông cắm mốc, dựng bia chủ quyền, đo đạc vẽ bản đồ, trồng cây cối, thu lượm hải vật trong suốt 6 tháng ròng rã, kể từ đó công việc này thành lệ hàng năm. Không ai rõ Phạm Hữu Nhật đã đi bao nhiêu chuyến, nhưng có một điều chắc chắn là lần cuối cùng ông đã đi mãi không về. Người thân đã phải ngậm ngùi an táng ông bằng nấm mộ chiêu hồn không hài cốt. Tổ quốc khắc ghi công ơn của ông bằng việc đặt tên Hữu Nhật cho một hòn đảo lớn ở phía nam quần đảo Hoàng Sa.


http://daidoanket.vn/Pictures/bao tuan/_2011/152/2011_152_12_anh4.jpg



Thả thuyền tưởng nhớ các hùng binh bảo vệ đảo Hoàng Sa



Theo sử sách ghi lại, địa bàn hoạt động của đội Hoàng Sa rất rộng. Khởi đầu là những đảo gần bờ nhất, song trong vòng 6 tháng hàng năm từ năm này qua năm khác đội Hoàng Sa đã mở rộng phạm vi hoạt động khắp các đảo san hô trên Biển Đông gồm quần đảo Hoàng Sa và kiêm quản đội Bắc Hải hoạt động trên địa bàn quần đảo Trường Sa. Theo TS Nguyễn Nhã, hoạt động của đội Hoàng Sa tới các đảo phía bắc gần phủ Liêm Châu, Hải Nam (Trung Quốc), phía nam tiếp tới Côn Lôn, Hà Tiên. Dù chính đội Hoàng Sa không đủ lực lượng tự mình đi khắp nơi song lại kiêm quản các đội khác nên phạm vi hoạt động của các đội rất rộng, khắp các đảo trên Biển Đông chạy dài ngoài khơi dọc các tỉnh miền Trung, từ phía tây nam đảo Hải Nam xuống tới vùng Trường Sa hiện nay. Đội Hoàng Sa sử dụng một loại thuyền buồm nhẹ và nhanh nên dễ dàng né tránh các đá san hô cũng như dễ dàng cập được vào bờ các đảo san hô như ở Hoàng Sa và cũng thích hợp với hoàn cảnh của dân chài vùng biển Sa Kỳ, Cù lao Ré.


http://daidoanket.vn/Pictures/bao tuan/_2011/152/2011_152_12_anh1.jpg



Ông Phạm Thoại Tuyền, hậu duệ đời thứ 5 thắp nhang
bên mộ gió của Chánh suất đội trưởng Phạm Hữu Nhật

Việc lập thêm nhiều hải đội có nhiệm vụ như đội Hoàng Sa hoạt động trên các địa bàn khác cho thấy triều đình nhà Nguyễn ngày càng phát hiện ra thêm nhiều đảo san hô trên một khu vực hết sức rộng lớn của Biển Đông. Nhu cầu tìm hiểu, khai thác, đo đạc và quản lý các vùng biển đảo này khiến cho công tác của đội Hoàng Sa và các đội khác thêm nặng nề. Nhà Nguyễn vẫn để cho đội Hoàng Sa kiêm quản là có ý tập trung vào một đầu mối hầu có thể nắm rõ và kiểm soát được tình hình trên Biển Đông. Trước yêu cầu đó, người chỉ huy đội Hoàng Sa phải là vị quan lớn hơn, được phong tước Hầu như cai đội Thuyên Đức Hầu, Phú Nhuận Hầu để đủ uy thế, quyền hành thực thi chức trách lớn hơn. Rõ ràng, quy mô kiểm soát và quản lý các vùng biển, đảo trên Biển Đông của nhà Nguyễn ngày càng mở rộng cùng với việc gia tăng ý thức xác lập và thực thi chủ quyền của triều đại phong kiến này trong suốt thời gian từ thế kỷ thứ XVII đến đầu thế kỷ XX tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.


Nhóm PV Biển Đông
Nguồn http://daidoanket.vn

Sat That
24-07-2011, 10:45 AM
ĐƯỜNG LƯỠI BÒ PHI LÝ

KỲ 7


Hoàng Sa-Trường Sa: Tư liệu cổ phươngTây (28/06/2011)




Chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam đã có trong tài liệu phương Tây từ thế kỷ XV đến XIX.




http://daidoanket.vn/Pictures/bao tuan/_2011/153/2011_153_12_anh1.jpg


Bản đồ do nhà xuất bản Covens and Mortier

tại Amsterdam vào năm 1760có ghi chú
quần đảo Paracel bên cạnh bờ biển xứ Đàng Trong

Tư liệu cổ phương Tây còn lưu lại đến nay cho thấy các nhà hàng hải Bồ Đào Nha là những người đầu tiên của châu Âu có những mô tả về quần đảo Hoàng Sa từ thế kỷ thứ XIV. Nhiều nhật ký hải trình của các nhà thám hiểm Bồ Đào Nha thời đó đã nói về một dải đá ngầm Pulo Pracela (các bãi ngầm san hô) rất nguy hiểm, bao quát cả vùng Hoàng Sa và Trường Sa ngày nay, tương tự với những hiểu biết của các nhà địa lý Việt Nam cùng thời. Các cuộc khảo sát Biển Đông của các nhà hàng hải phương Tây sau đó, nhất là của người Hà Lan và Pháp, ngày càng xác định rõ Pracela hay Paracels (Hoàng Sa) là một quần đảo thuộc về nước An Nam (tên gọi Việt Nam thời Pháp thuộc).


http://daidoanket.vn/Pictures/bao tuan/_2011/29_6/_Amsterdam.jpg

Đông Nam Á trên bản đồ của Hondius
xuất bản năm 1606 tại Amsterdam



Bản đồ bán đảo Đông Dương của anh em nhà hàng hải Hà Lan Van-Langren (1595) ghi nhận ngoài khơi Việt Nam có một vùng quần đảo với nhiều bãi cát nông chạy dài xuống hướng tây nam gọi tên là Paracels cùng với rất nhiều chi tiết địa hình của miền Trung Việt Nam ngày nay. Chẳng hạn như đối diện với quần đảo Paracels trên đất liền có bờ biển ghi là Costa da Pracels (bờ Pracels) ở ngoài biển còn có Pulo Canton (Cù Lao Ré) thuộc địa phận Quảng Ngãi. Thư tịch cổ Việt Nam cũng ghi nhận người Bồ Đào Nha và Hà Lan đã từng nhiều lần tiếp xúc với các chúa Nguyễn xứ Đàng Trong để buôn bán. Nhiều thuyền buôn của phương Tây gặp nạn ở Hoàng Sa đều cập vào bờ biển Việt Nam để xin giúp đỡ và cũng nhiều lần họ được các chúa Nguyễn cử người ra cứu hộ, cấp cho tiền bạc, lương thực và thuyền để trở về nguyên quán. Chẳng hạn vụ đắm tàu Grootenbroeck của Hà Lan năm 1634 trong vùng đảo Hoàng Sa. Viên thuyền trưởng đã tìm đến Hội An và Thuận Hoá để cầu cứu các chúa Nguyễn. Như vậy, từ rất lâu đời (muộn nhất vào thế kỷ XV) các nhà hàng hải phương Tây đã mặc nhiên xác định vùng quần đảo Hoàng Sa trên Biển Đông thuộc quyền quản lý của các chúa Nguyễn xứ Đàng Trong.


http://daidoanket.vn/Pictures/bao tuan/_2011/29_6/tky15-16.jpg

Bản đồ hàng hải Châu Âu thế kỷ 15-16



Bước sang thế kỷ XVII-XVIII, tàu thuyền của người phương Tây đi qua Biển Đông ngày càng tấp nập, do đó nhận thức cũng như tư liệu của họ viết về quần đảo Hoàng Sa ngày càng phong phú và chính xác hơn. Đặc biệt là người Pháp thông qua sự cộng tác với Nguyễn Ánh về quân sự đã bắt đầu quan tâm tới Biển Đông nhiều hơn và kế thừa những hiểu biết của các nhà hàng hải Bồ Đào Nha, Hà Lan... Từ đó, người phương Tây nhận thức rất rõ chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam. Năm 1701, nhật ký hải trình tàu Amphitrite xác nhận một thực tế hiển nhiên rằng "Paracels là một quần đảo thuộc về Vương quốc An Nam. Đó là một bãi đá ngầm thật khủng khiếp có đến hàng trăm dặm, rất nhiều lần đã xảy ra các nạn đắm tàu ở đó”. Pierre Poivre (1719-1786), một giáo sĩ kiêm thương nhân người Pháp, nhiều lần qua lại vùng Hoàng Sa đã kể lại trong tác phẩm Mô tả Xứ Đàng Trong (1749): "Tôi nghe nói hàng năm nhà vua (chúa Nguyễn) thường cho vài chiếc thuyền ra Hoàng Sa để tìm kiếm những báu vật tự nhiên cho bộ sưu tập của mình”. Khi được chúa Nguyễn Phúc Khoát (1714-1765) tiếp ở Phú Xuân, P.Poivre mô tả kinh đô mới xây dựng của Đàng Trong và xác nhận những khẩu súng đại bác của Công ty Đông Ấn Hà Lan được trưng bày rất nhiều tại đây là do quân binh xứ này thu nhặt được từ những chiếc tàu chìm tại quần đảo Hoàng Sa mang về. Năm 1759, bá tước D' Estaing, Phó Thủy sư Đô đốc Hải quân Pháp, do thám vùng Biển Đông đã gửi một bản tường trình lên Chính phủ Pháp cho biết ở Phú Xuân xứ Đàng Trong có đến hơn 400 khẩu đại bác mà phần lớn được đem về từ các con tàu đắm tại quần đảo Hoàng Sa.


http://daidoanket.vn/Pictures/bao tuan/_2011/153/2011_153_12_anh2.jpg


An Nam Đại Quốc Hoạ Đồ của Giám mục Taberd

xuất bản năm 1838 khẳng định Paracels (Cát Vàng, Hoàng Sa)

nằm trong vùng biển Việt Nam

Jean Baptiste Chaigneau (1769-1825) từng theo giúp Nguyễn Ánh chống Tây Sơn, trông coi việc tiếp tế cho quân đội ở Phú Xuân (Sắc ngày 16-3-1802), viết trong hồi ký Le Mémoire sur la Cochinchine có đoạn: "Nước Cochinchine mà vua bấy giờ xưng đế hiệu (hoàng đế) gồm xứ Đàng Trong, xứ Tonkin, một phần xứ Cao Miên, một vài đảo có dân cư không xa bờ và quần đảo Paracels hợp thành bởi những đá nhỏ, đá ngầm và mỏm đá không dân cư”. Xin lưu ý, từ thế kỷ XIII, các nước phương Tây theo Marco Polo mà gọi tên nước ta là Caugigu (phiên âm từ Giao Chỉ Quốc), sau đọc trại thành Kiaoche rồi Cochi. Để khỏi lầm với đất Koci của Ấn Độ, người ta thêm chữ Chine, nên gọi thành Cochinchine là tên chung của Đại Việt. Đến thời Trịnh - Nguyễn phân tranh, người phương Tây gọi Đàng Ngoài là Tonkin, còn Đàng Trong vẫn gọi là Cochinchine. Giám mục Jean Louis Taberd trong một cuốn sách xuất bản năm 1833 cũng viết về Paracels như sau: "Xin lưu ý rằng từ hơn 34 năm nay, quần đảo Paracels, mà người Việt gọi là Cát Vàng hay Hoàng Sa gồm rất nhiều hòn đảo chằng chịt với nhau, lởm chởm những đá nhô lên giữa những bãi cát, làm cho những kẻ đi biển rất e ngại, đã được chiếm cứ bởi người Việt xứ Đàng Trong”. An Nam Đại Quốc Họa Đồ của Giám mục Taberd xuất bản năm 1838 cũng khẳng định Cát Vàng (Hoàng Sa) là Paracels và nằm trong vùng biển Việt Nam. Có thể nói, An Nam Đại Quốc Họa Đồ là một tài liệu phản ảnh những hiểu biết sâu sắc và chính xác của người phương Tây từ thế kỷ XV đến đầu thế kỷ XIX về mối quan hệ giữa quần đảo Hoàng Sa và nước Đại Việt mà tác giả gọi là An Nam Đại Quốc. Trong bản đồ này có ghi chú (nguyên văn): "Paracels Deu Cát Vàng” (từ Latin "Deu” = "có nghĩa là”), Paracels có nghĩa là Cát Vàng có nghĩa là Hoàng Sa, là một khẳng định rõ ràng nhất quán chứ không hề suy diễn. Địa danh Paracels ghi bên cạnh những chấm đánh dấu các đảo khoảng vĩ độ 16 Bắc (ngang vĩ độ cửa Tư Dung, Thừa Thiên) lên vĩ độ 17 Bắc (khoảng Cửa Tùng, Quảng Trị) và kinh độ 111 Đông. Điều này phản ánh sự hiểu biết của người phương Tây về Hoàng Sa rất chính xác và không còn nhầm lẫn với quần đảo Trường Sa nữa.


Địa Lý Vương Quốc Đàng Trong (Geopraphy of the Cochinchinese Empire) là cuốn sách do tiến sĩ Gutzlaff (1801-1851) Hội viên Hội Địa lý Hoàng gia Anh quốc, viết năm 1849 cho biết từ lâu Chính phủ An Nam đã thiết lập trại binh và một điểm thu thuế trên quần đảo Paracels (tức Cát Vàng) để thu thuế các tàu thuyền đến đây và bảo trợ những người đánh cá bản quốc. Cuốn Bách Khoa Địa Lý Hiện Đại (Geografia moderna universale) của G.R. Pagnozzi xuất bản năm 1823 dành nhiều trang nói về Vương quốc An Nam có đề cập đến Paracels (Hoàng Sa). Trong cuốn Storia delle Indie Orientali của Felice Ripamonti xuất bản tại Milano năm 1825 có phần viết về Đàng Trong: "Thuyền trưởng các tàu buôn qua lại vùng này thích cập cảng Hội An hơn, cảng này không xa thủ đô Huế. Những người đi biển ở 3 cảng này (tức cảng Huế, Hội An và Đà Nẵng) là những người lão luyện nhất của quốc gia này và hàng năm có chuyến đi biển đến chuỗi đảo và bãi đá nhỏ có tên là Hoàng Sa (Paracels) nằm cách bờ biển Đàng Trong khoảng 20-30 dặm...”. Sách Địa Lý Tóm Tắt (Compendio di Geografia) do Adriano Balbi – nhà địa lý lừng danh người Ý- soạn năm 1850 cho biết Vương quốc An Nam có quần đảo Paracels, nhóm đảo Pirati và nhóm đảo Poulo Condor (tức Hoàng Sa, Hải Tặc và Côn Đảo). Cũng trong tác phẩm này tác giả có viết về địa lý Trung Hoa nhưng không hề nói gì về Hoàng Sa và Trường Sa. Nhiều tài liệu lưu trữ của Anh và Pháp còn ghi nhận về vụ tai nạn tàu Bellona của Đức tại Đá Bắc và tàu Imegi Maru của Nhật tại cụm An Vĩnh, quần đảo Hoàng Sa. Hai tàu này chuyên chở đồng do các công ty Anh bảo hiểm, gặp thời tiết xấu tại các khu vực biển nói trên nên bị chìm. Ngư dân đảo Hải Nam (Trung Quốc) đã cướp các tàu đắm và chuyên chở đồng về đảo Hải Nam chào mời các nhà buôn của họ để bán lại số đồng cướp được. Chính phủ Anh đã phản kháng hành động này và được chính quyền Trung Quốc bấy giờ tuyên bố không chịu trách nhiệm vì quần đảo Paracels nơi hai tàu bị đắm không thuộc chủ quyền của Trung Quốc. Sự kiện này càng khẳng định sự dửng dưng của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa cho đến những năm cuối cùng của thế kỷ XIX.

Nhóm PV Biển Đông
Nguồn http://daidoanket.vn

Sat That
24-07-2011, 10:51 AM
ĐƯỜNG LƯỠI BÒ PHI LÝ

KỲ 8

Hoàng Sa và Trường Sa trong thư tịch cổ Trung Hoa (30/06/2011)




Theo chính sử Trung Hoa, trong suốt 22 thế kỷ, từ các đời Tần, Hán đến sau Thế chiến thứ II, không thấy tài liệu nào, hay nói rõ hơn, không có câu chữ nào ghi rằng Biển Đông (Trung Quốc gọi là Biển Nam Trung Hoa) với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (Trung Quốc gọi là Tây Sa và Nam Sa) thuộc chủ quyền của Trung Quốc. Trong khi đó, không ít thư tịch cổ Trung Hoa, do chính người Trung Hoa ghi lại trong lịch sử đã thừa nhận Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam.




http://daidoanket.vn/Pictures/bao tuan/_2011/154/2011_154_12_hoangtrieu1.jpg


Hoàng triều dư địa toàn đồ (1728, 1729) cho thấy

cương giới phía Nam Trung Quốc

chỉ đến phủ Quỳnh Châu (Hải Nam)
Một tài liệu đáng tin cậy về chính sử Trung Hoa là cuốn "Lịch sử Trung Quốc thời trung cổ” do Hàn Lâm Viện Trung Quốc xuất bản tại Đài Bắc năm 1978, học giả Hsieh Chiao-Min trong bài "Nghiên cứu về lịch sử và địa lý” nhận định về cuộc thám hiểm của Trung Hoa tại đại dương như sau: "Suốt chiều dài lịch sử, về sự phát triển văn hóa và khoa học, dân tộc Trung Hoa không tha thiết với đại dương”. Theo các tài liệu lịch sử chính thống "thảng hoặc triều đình Trung Hoa cũng gửi những đoàn thám hiểm đến Nhật Bản trong các thế kỷ thứ III và thứ II (TCN) và tại Đông Nam Á, Ấn Độ, Ba Tư và Phi Châu trong thế kỷ XV. Điểm rõ nét nhất là tại Thái Bình Dương có rất ít, nếu không nói là không có, những vụ xâm nhập quy mô của Trung Hoa” suốt chiều dài lịch sử (từ đời nhà Tần thế kỷ thứ III TCN đến nhà Thanh từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XX).

http://daidoanket.vn/Pictures/bao tuan/_2011/29_6/haiNam1.jpg
Bản đồ Trung Quốc thế kỷ 17 của
Peter de Goyer và Jacob de Keyzer
biên giới phía Nam chỉ tới đảo Hải Nam
Dưới đời nhà Minh, Minh Thành Tổ cử Đô đốc Thái Giám Trịnh Hòa chỉ huy những đoàn thám hiểm đến Ấn Độ Dương và Biển Ả Rập nhằm thiết lập bang giao với trên 30 quốc gia duyên hải, triển khai Con đường Tơ Lụa tại Ấn Độ, Phi Châu và Trung Đông. Những chuyến hải hành của phái bộ Trịnh Hòa không phải để chinh phục Biển Đông nơi có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trên thực tế đoàn thuyền chỉ đi ngang qua Biển Đông nhằm khai phá Ấn Độ Dương. Trạm trú chân duy nhất của đoàn trong khu vực này là Đồ Bàn (Chaban) thủ phủ Chiêm Thành bấy giờ. Sau khi Minh Thành Tổ mất, triều đình nhà Minh đã phê phán những cuộc hải trình nặng phần trình diễn của Trịnh Hòa đã góp phần làm suy yếu nền kinh tế quốc gia.


http://daidoanket.vn/Pictures/bao tuan/_2011/29_6/haiNam.jpg

Hoàng Triều nhất thống dư địa tổng đồ,
bản đồ tổng quát đất đai thống nhất của nhà Thanh
trong tập Hoàng Triều nhất thống dư địa toàn đồ
được thực hiện năm 1894.
Phần cực Nam lãnh thổ Trung Quốc là đảo Hải Nam



Sử gia Triệu Nhữ Quát đời nhà Tống trong cuốn Chư Phiên Chí đã xác nhận nhiều sự kiện lịch sử quan trọng từ thời nhà Hán. Theo đó, năm 111 TCN, sau khi thôn tính Nam Việt "Hán Vũ Đế sai quân vượt biển sang chiếm đất của địch quân (Nam Việt) và đặt ra 2 quận Châu Nhai và Đạm Nhĩ (đảo Hải Nam). Trong thế kỷ thứ I TCN, Hán Nguyên Đế đã rút quân khỏi đảo Hải Nam. Mãi tới đời nhà Lương và nhà Tùy (cuối thế kỷ thứ VI đầu thế kỷ thứ VII) mới đặt lại quyền cai trị”. Triệu Nhữ Quát cũng cho biết vùng quần đảo Hoàng Sa (Vạn Lý Trường Sa) là nơi nguy hiểm, tàu thuyền Trung Hoa không nên đến gần vì chỉ đi sai một tí là có thể chìm đắm. Nhan đề sách là Chư Phiên Chí, có nghĩa là chép chuyện các phiên quốc, nước ngoài. Vạn Lý Trường Sa nằm ở phiên quốc, có nghĩa là không thuộc về Trung Hoa mà thuộc về phiên quốc Nam Việt. Như vậy, biên giới trên Biển Đông của Trung Hoa vào đời nhà Hán chỉ tới đảo Hải Nam.


http://daidoanket.vn/Pictures/bao tuan/_2011/154/2011_154_12_hoangtrieu2.jpg


Một trang trong cuốn Hải Ngoại Kỷ Sự (1695) của Thích Đại Sán,

một nhà sư Trung Quốc đời Khang Hy, thuật lại chuyến du hành

tới xứ Đàng Trong, thừa nhận chủ quyền hai quần đảo

Hoàng Sa và Trường Sa của Đại Việt

Đời nhà Đường có sách Đường Thư Nghệ Văn Chí đề cập tới cuốn Giao Châu Dị Vật Chí của Dương Phu chép những chuyện kỳ dị và những nơi kỳ dị tại Giao Châu (Việt Nam). Sách này chép, tại Thất Châu Dương (nhóm An Vĩnh, quần đảo Hoàng Sa) là nơi có nhiều đá nam châm khiến các thuyền ngoại dương có đóng chốt sắt đi qua không được. Điều này đã khẳng định quần đảo Hoàng Sa thuộc về Giao Châu xưa (nay là Việt Nam). Trong đời Nam Tống, cuốn Lĩnh Ngoại Đại Đáp của Châu Khứ Phi cũng xác nhận: "Vạn Lý Trường Sa (Hoàng Sa) tọa lạc tại Giao Chỉ Dương”. Chư Phiên Đồ đời Tống cũng xác định giới hạn lãnh thổ của Trung Quốc với các nước khác ở Giao Dương (tức Giao Chỉ Dương). Giao Chỉ Dương hay Biển Giao Chỉ là Vịnh Bắc Bộ ngày nay, trong khi Hoàng Sa và Trường Sa lại cách xa Vịnh Bắc Bộ hàng trăm dặm về phía nam. Như vậy, các thư tịch cổ Trung Hoa từ đời nhà Tống đã cho thấy Hoàng Sa và Trường Sa không thuộc về Trung Quốc mà thuộc về nước khác mà Trung Quốc gọi là phiên quốc hay Giao Châu, Giao Chỉ.

Vào đời nhà Nguyên, quân và dân Đại Việt đã 3 lần đánh tan quân Nguyên – Mông xâm lược và góp phần phá tan kế hoạch Đông Tiến (đánh Nhật Bản) của đoàn quân Mông Cổ nổi danh là bách chiến bách thắng từ đời Thành Cát Tư Hãn. Sau 3 phen thất bại, nhà Nguyên không còn dòm ngó Đại Việt cả trên lục địa đến các hải đảo. Trong suốt các thế kỷ XIII và XIV, theo chính sử Trung Hoa, quân Mông Cổ không hề có ý định xâm chiếm hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trong Dư Địa Đồ đời Nguyên của Chu Tư Bản được vẽ thu nhỏ lại trong sách Quảng Dư Đồ của La Hồng Tiên thực hiện năm 1561 phần cực nam lãnh thổ Trung Hoa là đảo Hải Nam.

Đời nhà Minh, Thiên Hạ Thống Nhất Chi Đồ trong Đại Minh Nhất Thống Chí (1461), Hoàng Minh Đại Thống Nhất Tổng Đồ trong Hoàng Minh Chức Phương Địa Đồ (1635) đã vẽ phần cực nam Trung Hoa là đảo Hải Nam. Trong khi cuốn Vũ Bị Chí của Mao Nguyên Nghi gọi Biển Đông là Giao Chỉ Dương. Trên các bản đồ Trịnh Hoà Hạ Tây Dương, Trịnh Hòa Hàng Hải Đồ cũng không thấy ghi chép các danh xưng Hoàng Sa, Trường Sa (hay theo cách gọi của Trung Hoa là Tây Sa, Nam Sa, Tuyên Đức, Vĩnh Lạc) trong các lộ trình và hải đạo của Trịnh Hòa sau 7 lần đi qua Biển Đông để khai phá Ấn Độ Dương (Tây Dương). Nhiều tài liệu chính sử nhà Minh cho biết, từ thế kỷ XV, các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nguyên là địa bàn ngư nghiệp của Chiêm Thành đã trở thành lãnh thổ của Đại Việt. Lưu ý rằng từ năm 1427 Lê Lợi đã đánh thắng quân Minh để giành lại chủ quyền cho Đại Việt bị Minh Thành Tổ chiếm đoạt từ 20 năm trước (1407).


http://daidoanket.vn/Pictures/bao tuan/_2011/154/2011_154_12_hoangtrieu3.jpg


Đại Thanh Nhất Thống Toàn Đồ, đảo nhỏ ở phía dưới là Hải Nam,

gần đó bên trái là Giao Chỉ, đảo lớn hơn bên phải là Đài Loan

Đời nhà Thanh, từ thế kỷ thứ XVII đến XX, theo bản đồ Hoàng Thanh Nhất Thống Dư Địa Bản Đồ do triều đình nhà Thanh ấn hành năm 1894 thì đến cuối thế kỷ XIX "lãnh thổ của Trung Quốc chỉ chạy đến đảo Hải Nam là hết”. Qua thế kỷ XX, sự kiện này còn được xác nhận trong cuốn Trung Quốc Địa Lý Học Giáo Khoa Thư xuất bản năm 1906 với đoạn như sau: "Điểm cực nam của Trung Quốc là bờ biển Châu Nhai thuộc quận Quỳnh Châu (Hải Nam) tại vĩ tuyến 18”. Các quận Châu Nhai và Đạm Nhĩ thuộc đảo Hải Nam kéo dài từ vĩ tuyến 20 (ngang Thanh Hoá) đến vĩ tuyến 18 (ngang Nghệ An – Hà Tĩnh). Trong khi quần đảo Hoàng Sa tọa lạc về phía nam, từ vĩ tuyến 17 đến vĩ tuyến 15 (Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngãi) và quần đảo Trường Sa tọa lạc tại các vĩ tuyến 12 đến vĩ tuyến 8 (Cam Ranh – Cà Mau). Bản đồ Đại Thanh Đế Quốc do triều đình nhà Thanh ấn hành cũng không thấy vẽ các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (cũng không thấy ghi theo cách gọi của Trung Quốc là Tây Sa, Nam Sa, Vịnh Lạc, Tuyên Đức...). Hơn nữa, trong bộ Hải Quốc Đồ Ký, cuốn Hải Lục của Vương Bỉnh Nam (1820-1842) chép: "Vạn Lý Trường Sa (Hoàng Sa) là dải cát dài ngoài biển được dùng làm phên dậu che chắn mặt ngoài bờ cõi nước An Nam”. Như vậy, tư liệu này của Trung Quốc đã thừa nhận quần đảo Hoàng Sa là lãnh thổ trên biển của Việt Nam. Trong bộ sách địa lý Đại Thanh Nhất Thống Chí do Quốc Sử Quán nhà Thanh biên soạn năm 1842 với lời tựa của hoàng đế Thanh Tuyên Tông, không có chỗ nào ghi Thiên Lý Trường Sa hay Vạn Lý Trường Sa (quần đảo Hoàng Sa). Trong cuốn Hải Quốc Văn Kiến Lục của Trần Luân Quýnh (1744), vùng biển của Việt Nam tại Biển Đông được ghi bằng các danh xưng Việt Hải và Việt Dương. Trong vụ ngư dân đảo Hải Nam cướp tàu chở đồng bị đắm tại quần đảo Hoàng Sa những năm 1895-1896, để trả lời văn thư phản kháng của Chính phủ Anh, Tổng đốc Lưỡng Quảng Trung Hoa đã phủ nhận trách nhiệm với lý do: "Hoàng Sa không liên hệ gì tới Trung Quốc”. Ngoài ra cuốn Hải Ngoại Kỷ Sự (1695) của Thích Đại Sán một nhà sư thời Khang Hy đã đến đất Thuận Hóa của chúa Nguyễn ngày 29 tháng giêng năm Ất Hợi (13-3-1695) thuật lại chuyến hải hành này và ghi nhận chủ quyền của Đại Việt trong việc chiếm hữu, kiểm soát và khai thác vùng Biển Đông nơi tọa lạc hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ít nhất là từ thế kỷ thứ XVII.
Các tài liệu cổ của Trung Hoa rõ ràng cho thấy hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (mà Trung Quốc gọi là Tây Sa và Nam Sa) đã được người Việt Nam phát hiện, sử dụng trong nhiều thế kỷ một cách hoà bình và liên tục không có sự phản đối của bất cứ quốc gia nào kể cả của Trung Quốc. Điều đó được minh chứng từ tư liệu chính sử của nhiều triều đại Trung Quốc trong đó đã mặc nhiên thừa nhận chủ quyền của người Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong suốt hơn 22 thế kỷ từ thời Tần, Hán cho đến đầu thế kỷ XX.

Nhóm PV Biển Đông
Nguồn http://daidoanket.vn

Sat That
24-07-2011, 02:34 PM
ĐƯỜNG LƯỠI BÒ PHI LÝ

KỲ9

Chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam thời Pháp thuộc (30/06/2011)



Từ khi triều đình nhà Nguyễn ký Hòa ước Giáp Thân (1884) với Chính phủ Pháp nước ta bước vào thời kỳ mà các sử gia gọi là Thời kỳ Pháp thuộc. Trong thời kỳ này, chính quyền thuộc địa Pháp thay mặt Nam Triều trong những quan hệ ngoại giao, đồng thời đảm bảo chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Trong khuôn khổ của những cam kết chung, Pháp tiếp tục thực thi chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trên thực tế, chính quyền thuộc địa Pháp đã có nhiều hành động cụ thể liên tục củng cố, khẳng định và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam tại hai quần đảo này.




http://daidoanket.vn/Pictures/bao%20tuan/_2011/30_6/hs_ts_phapthuoc2.jpg
Hải đăng Việt Nam trên đảo Hoàng Sa thời Pháp thuộc
Theo báo La Nature số 2916 ngày 1-11-1933, năm 1899 Tòan quyền Đông Dương Paul Doumer đã ra lệnh xây dựng một hải đăng trên đảo Hoàng Sa. Tuy nhiên, dự án này đã không thực hiện được vì thiếu kinh phí. Về sự kiện này, tờ La Nature nhận xét: "Chính phủ Pháp đã thiết lập sự đô hộ của họ đối với An Nam mà những hòn đảo này (quần đảo Hoàng Sa) thuộc lãnh thổ của An Nam, nên Pháp có quyền sở hữu và trách nhiệm coi sóc đối với lãnh thổ mới này. Phải nhận thấy rằng họ đã hoàn toàn phớt lờ trách nhiệm cho đến hôm nay. Lý do vì lợi tức ít ỏi hoàn toàn không biện bạch được cho sự thờ ơ này”. Tuy vậy, hải quân Pháp vẫn thường xuyên tuần tiễu vùng biển này để giữ an ninh và cứu giúp các tàu thuyền bị đắm.
Các động thái ít ỏi của chính quyền thuộc địa Pháp tại Đông Dương trong giai đoạn đầu cho thấy sự quan tâm chưa đầy đủ của người Pháp tới hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Chính thái độ này của Pháp đã tạo điều kiện cho một vài nước gia tăng các hoạt động của họ trên vùng Biển Đông dẫn tới nguy cơ đe dọa chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam mà nước Pháp đã cam kết bảo hộ. Từ năm 1909, Trung Quốc bắt đầu đòi hỏi chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa ở một mức độ nhất định. Một lần trong năm 1909, chính quyền tỉnh Quảng Đông cho tàu chiến ra thám sát trái phép quần đảo Hoàng Sa. Ngày 20-3-1921, Tỉnh trưởng Quảng Đông ký một sắc lệnh kỳ lạ sáp nhập quần đảo Hoàng Sa vào Hải Nam. Tuy hành động xâm phạm chủ quyền của Trung Quốc chỉ diễn ra trên giấy tờ, nhưng Pháp cho rằng đây là hành vi nghiêm trọng. Khâm sứ Trung Kỳ LeFol viết trong thư ngày 22-1-1926 gửi Toàn quyền Đông Dương: "Sau khi Trung Quốc có yêu sách vào năm 1909, vì nước Pháp thay mặt nước An Nam về quan hệ đối ngoại theo Hiệp ước bảo hộ, đáng lẽ phải khẳng định quyền của nước được bảo hộ đối với các đảo hữu quan, thì trái lại hình như hoàn toàn không quan tâm đến”. Cũng trong bức thư trên, ông LeFol cho biết, Thượng thư Bộ Binh Thân Trọng Huề của Nam Triều đã có văn thư ngày 3-3-1925 khẳng định: "Các đảo nhỏ đó (quần đảo Hoàng Sa) bao giờ cũng là sở hữu của nước An Nam, không có sự tranh cãi trong vấn đề này”.

http://daidoanket.vn/Pictures/bao%20tuan/_2011/30_6/hs_ts_phapthuoc.jpg
Dụ số 10 của hoàng đế Bảo Đại ký ngày 29-3-1938
khẳng định chủ quyền lâu đời của Việt Nam trên hai quần đảo
Hoàng Sa và Trường Sa. Trước các chỉ trích của dư luận cũng như thực tế diễn biến phức tạp trên Biển Đông, từ đầu thế kỷ XX, Pháp đã bắt đầu có những động thái tích cực hơn trong việc khẳng định chủ quyền tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Bên cạnh việc gìn giữ an ninh trên Biển Đông, các năm 1917- 1918 trong báo cáo của chính quyền Pháp tại Đông Dương có đề cập đến việc lắp đặt đài radio TSF, trạm quan sát khí tượng, hải đăng trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Năm 1925, Viện Hải Dương Học và Nghề Cá Đông Dương cử tàu De Lanessan ra khảo sát quần đảo Hoàng Sa. Ngòai tiến sĩ Krempf, Giám đốc Viện Hải Dương Học, còn có nhiều nhà khoa học khác tham gia nghiên cứu về địa chất, về sinh vật... Các nhà khảo sát đã phát hiện một tầng đá vôi phosphat dày khoảng 1 mét với hàm lượng phosphoric từ 23% đến 25% trong tầng mặt và 42% ở tầng sâu. Sự khám phá này mở ra cơ hội cho công việc khai thác phân bón phosphat về sau. Năm 1927, Sở Địa chất và Sinh học Đại Dương cho người ra khảo sát ở quần đảo Trường Sa. Các cuộc khảo sát khoa học đã đưa tới kết luận Hoàng Sa và Trường Sa là sự nhô lên của một thềm lục địa liên tục nhờ các địa tầng dưới biển kéo dài dãy Trường Sơn từ đèo Hải Vân ra Biển Đông. Nếu nước biển rút xuống khoảng 600-700m, Hoàng Sa và Trường Sa sẽ gắn với bờ biển Việt Nam thành một dải đất liền thống nhất.


http://daidoanket.vn/Pictures/bao%20tuan/_2011/30_6/hs_ts_phapthuoc3.jpg
Trụ sở hành chính của Việt Nam trên đảo Hoàng Sa trước năm 1945.


Ngày 8-3-1925, Toàn quyền Đông Dương ra tuyên bố khẳng định quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là lãnh thổ Pháp. Tháng 11-1928, Thống đốc Nam Kỳ cấp giấy phép nghiên cứu mỏ ở quần đảo Trường Sa cho Công ty Phosphat Bắc Kỳ Mới. Trong thư ngày 20-3-1930, Toàn quyền Đông Dương gởi cho Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Pháp xác nhận: "Cần thừa nhận lợi ích nước Pháp có thể có trong việc nhân danh An Nam, đòi chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa”. Ngày 13-4-1930, thông báo hạm La Malicieuse ra quần đảo Trường Sa và treo quốc kỳ Pháp. Thông cáo ngày 23-9-1930 của Chính phủ Pháp cho biết về hành động chiếm đóng thực thi chủ quyền của Pháp trên quần đảo Trường Sa. Ngày 4-12-1931 và ngày 24-4-1932, Pháp phản kháng Trung Quốc về việc chính quyền Quảng Đông lúc đó có ý định cho đấu thầu khai thác phosphat trên quần đảo Hoàng Sa. Ngày 15-6-1932, chính quyền thuộc địa Pháp ra Nghị định số 156-SC ấn định việc thiết lập một đơn vị hành chính gọi là quận Hoàng Sa tại quần đảo Hoàng Sa. Ngày 13-4-1933, một hạm đội của hải quân Pháp ở Viễn Đông dưới sự chỉ huy của trung tá hải quân De Lattre rời Sài Gòn ra quần đảo Trường Sa thực hiện đầy đủ các nghi thức truyền thống theo đúng tập quán quốc tế về việc chiếm hữu lãnh thổ tại đây. Ngày 26-7-1933, Bộ Ngoại giao Pháp ra thông báo đăng trên tờ Công báo Pháp về việc hải quân Pháp chiếm hữu một số đảo thuộc quần đảo Trường Sa. Thông báo ghi rõ những hải đảo và tiểu đảo ghi trong văn bản này kể từ nay đã thuộc chủ quyền nước Pháp. Ngày 21-12-1933, Thống đốc Nam Kỳ Krautheimer ký Nghị định số 4762, sáp nhập các đảo thuộc quần đảo Trường Sa (Spratley) nằm trên Biển Đông vào tỉnh Bà Rịa. Trong năm 1937, chính quyền Pháp cử kỹ sư công chính Gauthier ra quần đảo Hoàng Sa nghiên cứu vị trí xây dựng hải đăng, căn cứ cho thủy phi cơ; tuần dương hạm Lamotte Piquet do Phó Đô đốc Istava chỉ huy ra thăm quần đảo Hoàng Sa.


http://daidoanket.vn/Pictures/bao%20tuan/_2011/30_6/hs_ts_phapthuoc1.jpg
Bia chủ quyền của Việt Nam trên đảo Hoàng Sa năm 1930

Nam Triều trong thời kỳ này tuy chỉ tồn tại trên danh nghĩa, song vẫn chưa bao giờ từ bỏ chủ quyền của Việt Nam tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Ngày 29 tháng 2 năm Bảo Đại thứ 13 (30-3-1938), Hoàng đế Bảo Đại ký Dụ số 10 có nội dung: "Chiếu theo các cù lao Hoàng Sa thuộc về chủ quyền nước Nam đã từ lâu và dưới các tiên triều, các cù lao ấy thuộc về địa hạt tỉnh Nam Ngãi. Đền đời Đức Thế Tổ Cao Hoàng Đế vẫn để y như cũ là vì nguyên trước sự giao thông với các cù lao ấy đều do các cửa bể tỉnh Nam Ngãi. Nhờ sự tiến bộ trong việc hàng hải nên việc giao thông ngày nay có thay đổi, vả lại viên đại diện Chính phủ Nam Triều cũng phải ra kinh lý các cù lao ấy cùng qua các đại diện Chính phủ bảo hộ có tâu rằng nên tháp các cù lao Hoàng Sa vào địa hạt tỉnh Thừa Thiên thời được thuận tiện hơn... Trước chuẩn tháp nhập các cù lao Hoàng Sa vào địa hạt tỉnh Thừa Thiên; về phương diện hành Chính, các cù lao ấy thuộc dưới quyền quán hiến tỉnh ấy”. Ngày 15-6-1938, Toàn quyền Đông Dương Jules Brévie ký Nghị định thành lập một đơn vị hành chánh tại quần đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Thừa Thiên. Cũng trong năm 1938, một bia chủ quyền được chính quyền Pháp dựng lên mang dòng chữ: "Cộng hoà Pháp, Vương quốc An Nam, quần đảo Hoàng Sa, 1816 - đảo Pattle 1938”, một hải đăng, một trạm khí tượng ở đảo Hoàng Sa (Pattle), một trạm khí tượng khác ở đảo Phú Lâm (lle Boisée), một trạm radio TSF trên đảo Hoàng Sa (Pattle); cùng một bia chủ quyền, một hải dăng, một trạm khí tượng và một trạm radio TSF tương tự trên đảo Ba Bình (ltu Aba). Tháng 6-1938, một đơn vị lính bảo an Việt Nam tới đồn trú ở Hoàng Sa.

http://daidoanket.vn/Pictures/bao%20tuan/_2011/30_6/LaNature.jpg

Báo La Nature số 2916 ngày 1-11-1933

Ngày 31-3-1939, Nhật Bản tuyên bố kiểm soát quần đảo Trường Sa và chuyển thông báo tới Đại sứ Pháp tại Nhật. Ngày 4-4-1939, Bộ Ngoại giao Pháp gửi công hàm phản đối quyết định của Nhật và khẳng định chủ quyền của Pháp tại quần đảo Trường Sa. Pháp được Anh ủng hộ trong cuộc tranh luận ngày 5-4-1939 tại Hạ Nghị viện, đại diện Bộ Ngoại giao Anh đã khẳng định chủ quyền quần đảo Trường Sa trọn vẹn thuộc nước Pháp. Ngày 5-5-1939, Toàn quyền Đông Dương J. Brévie ký Nghị định số 3282, sửa đổi Nghị định trước và thành lập 2 sở địa lý tại quần đảo Hoàng Sa. Do nhu cầu lập đầu cầu xâm chiếm Đông Nam Á, Nhật đã nhanh chóng chiếm đảo Phú Lâm (1838) và đảo Ba Bình (1939) thuộc quần đảo Trường Sa. Mãi đến ngày 9-3-1945 Nhật đảo chính Pháp ở Đông Dương, Nhật mới bắt lính Pháp đồn trú ở quần đảo Hoàng Sa làm tù binh. Sau Chiến tranh Thế giới thứ II, Nhật rút khỏi hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và một phân đội lính Pháp đã đổ bộ từ tàu Savorgnan de Brazza lên thay thế quân Nhật từ tháng 5-1945, nhưng đơn vị này chỉ ở đây vài tháng. Trong thời gian từ 20 đến 27-5-1945, Đô đốc D'Argenlieu, Cao ủy Đông Dương cũng đã phái tốc hạm L'Escamouche ra nắm tình hình đảo Hoàng Sa (Pattle) thuộc quần đảo Hoàng Sa.
Suốt thời kỳ Pháp thuộc, người Pháp chưa bao giờ tuyên bố phủ nhận chủ quyền của Vương quốc An Nam ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà nước Pháp có trách nhiệm bảo hộ. Mặc dù trong giai đoạn này bắt đầu có một số nước lên tiếng đòi hỏi chủ quyền vô lý ở một số đảo, nhưng tất cả đều bị chính quyền Pháp kiên quyết phản đối. Những tư liệu lịch sử nói trên cho thấy, người Pháp cũng như người Việt trong thời điểm này chưa bao giờ từ bỏ chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Cho đến khi thua trận rút khỏi Đông Dương, Chính phủ Pháp cũng đã bàn giao quyền quản lý vùng biển này lại cho một chính phủ tuy do Pháp dựng lên nhưng cũng là của người Việt Nam.

Nhóm PV Biển Đông
Nguồn http://daidoanket.vn

Sat That
24-07-2011, 02:38 PM
ĐƯỜNG LƯỠI BÒ PHI LÝ

KỲ 10

Chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam giai đoạn 1945 -1954 (01/07/2011)



Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công đưa đến sự ra đời của Nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ngày 2-9-1945 do Chính phủ Hồ Chí Minh lãnh đạo đã chấm dứt thời kỳ Pháp thuộc và sự tồn tại của triều đình phong kiến nhà Nguyễn. Điều đó khiến cho các cơ sở pháp lý của những hiệp ước do nhà Nguyễn ký kết với Pháp trước đây không còn hiệu lực nữa. Chủ quyền toàn bộ lãnh thổ trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa lẽ ra phải ngay lập tức thuộc về nhân dân Việt Nam. Song với nhiều "khúc quanh” của lịch sử, con đường tái lập và tái khẳng định chủ quyền thực sự của người Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa còn phải vượt qua nhiều thách thức. Mặc dù vậy, trong bất cứ tình huống nào, người Việt Nam vẫn luôn khẳng định chủ quyền của mình trên hai quần đảo này và luôn được sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế.





http://daidoanket.vn/Pictures/bao tuan/_2011/156/2011_156_12_5.jpg


Quân Pháp chào cờ tại đảo Hoàng Sa (Pattle)

thuộc quần đảo Hoàng Sa, Việt Nam trong thời kỳ Pháp thuộc.

Trong lúc Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo đang bận rộn đối phó với những hành động gây hấn ngày càng leo thang của quân đội viễn chinh Pháp, ngày 26-10-1946 một hạm đội của Trung Hoa Dân Quốc gồm 4 chiến hạm, mỗi chiếc chở một số đại diện của các cơ quan và 59 binh sĩ thuộc trung đội cảnh vệ độc lập của hải quân xuất phát từ cảng Ngô Tùng; ngày 29-11-1946, các chiến hạm Vĩnh Hưng và Trung Kiên tới quần đảo Hoàng Sa và đổ bộ lên đảo Phú Lâm (Woody) ; chiến hạm Thái Bình và Trung Nghiệp đến Trường Sa (mà lúc này Trung Quốc gọi là Đoàn Sa, chưa phải là Nam Sa). Chính phủ Pháp chính thức phản đối sự chiếm đóng bất hợp pháp này của Trung Hoa Dân Quốc và ngày 17-10-1947 thông báo hạm Tonkinois của Pháp được điều tới Hoàng Sa để yêu cầu quân lính của Tưởng Giới Thạch phải rút khỏi các đảo, nhưng quân Tưởng đã không thực hiện theo yêu cầu. Pháp tiếp tục gửi thêm một phân đội lính trong đó có cả quân lính của Chính phủ Quốc gia Việt Nam đến trú đóng trên đảo Hoàng Sa (Pattle). Chính quyền Trung Hoa Dân Quốc phản kháng và các cuộc thương lượng được tiến hành từ ngày 25-2 đến ngày 4-7-1947 tại Paris. Cuộc đàm phán thất bại vì Trung Hoa Dân Quốc đã từ chối việc nhờ trọng tài quốc tế giải quyết vấn đề do phía Pháp đề xuất. Điều này cho thấy phía Trung Quốc ngay từ thời Tưởng Giới Thạch đã rất không muốn quốc tế hoá vấn đề Biển Đông, vì chứng cứ lịch sử và cơ sở pháp lý của họ sẽ không thể thuyết phục được ai nếu buộc phải chứng minh trước trọng tài hay tòa án quốc tế. Ngày 1-12-1947, Bộ Nội vụ chính quyền Tưởng Giới Thạch đơn phương công bố tên Trung Quốc cho hai quần đảo và tự đặt hai quần đảo này thuộc về lãnh thổ Trung Quốc.


http://daidoanket.vn/Pictures/bao tuan/_2011/156/2011_156_12_4.jpg


Bức tượng Vệ sĩ dân chài trên đảo Hoàng Sa

đứng ở phía tây nam đảo Hoàng Sa,

có thể xưa kia được đặt trong ngôi miếu cổ

khi nhà Nguyễn dựng miếu năm 1835

đã tìm thấy và ghi chép lại trong chính sử


Theo TS Nguyễn Nhã, trong hoàn cảnh lịch sử cuối năm 1946 đầu năm 1947, Việt Nam đã giành được độc lập từ năm 1945, không còn ràng buộc vào Hòa ước Giáp Thân (1884) song Pháp cho rằng theo Hiệp định sơ bộ ngày 6-3-1946, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vẫn còn nằm trong khối Liên hiệp Pháp, nên về ngoại giao Pháp vẫn thực thi quyền đại diện cho Việt Nam trong việc chống lại sự xâm phạm chủ quyền Việt Nam trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Bằng Hiệp định ngày 8-3-1949, Pháp dựng lên Chính quyền Quốc gia Việt Nam thân Pháp do Cựu hoàng Bảo Đại đứng đầu để củng cố các cơ sở hình thức về pháp lý cho một bộ máy hành chính quốc gia của người Việt Nam tạo thuận lợi cho Pháp trong các quan hệ đối nội, đối ngoại nhân danh quốc gia Việt Nam. Trên thực tế, trong suốt thời kỳ kháng chiến chống Pháp, quân Pháp làm chủ tình hình trên Biển Đông trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Tháng 4-1949, Đổng lý Văn phòng của Quốc trưởng Bảo Đại là Hoàng thân Bửu Lộc, trong một cuộc họp báo tại Sài Gòn đã công khai khẳng định lại chủ quyền của Việt Nam đã có từ lâu đời trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Ngày 1-10-1949, nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa được thành lập, Tưởng Giới Thạch thua chạy ra đảo Đài Loan. Tháng 4-1950, tất cả quân lính của Tưởng Giới Thạch chiếm đóng bất hợp pháp trên đảo Phú Lâm (Woody), thuộc quần đảo Hoàng Sa phải rút lui. Còn lính Pháp và lính quốc gia Việt Nam ở đảo Hoàng Sa (Pattle) vẫn tiếp tục đồn trú. Ngày 14-10-1950, Chính phủ Pháp chính thức chuyển giao cho Chính phủ Bảo Đại quyền quản lý các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Thủ hiến Trung Phần là Phan Văn Giáo đã chủ trì việc chuyển giao quyền hành ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.


http://daidoanket.vn/Pictures/bao tuan/_2011/156/2011_156_12_2.jpg



Hội nghị San Francisco năm 1951


Tuyên bố công khai đầu tiên của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa về yêu sách đối với các đảo ở Biển Đông nằm trong Tuyên bố của Bộ trưởng Ngoại giao lúc bấy giờ là Chu Ân Lai ngày 15-8-1951, ba tuần trước khi diễn ra Hội nghị San Francisco. Trung Quốc và Đài Loan đã bị loại khỏi Hội nghị theo thỏa hiệp giữa một bên là Mỹ và Anh còn một bên là Liên Xô khi các nước này không thể thoả thuận được với nhau rằng Trung Quốc hay Đài Loan được chấp nhận tham gia hội nghị. Tuyên bố của Ngoại trưởng Chu Ân Lai cho rằng Trung Quốc "có chủ quyền không thể xâm phạm” đối với các đảo và quần đảo trên Biển Đông, nhưng không đưa ra được bất kỳ bằng chứng lịch sử hay cơ sở pháp lý đáng kể nào.

Từ ngày 5 đến ngày 8-9-1951, các nước Đồng minh trong Thế chiến thứ II tổ chức hội nghị ở San Francisco (Hoa Kỳ) để thảo luận vấn đề chấm dứt chiến tranh tại châu Á-Thái Bình Dương và mở ra quan hệ với Nhật Bản thời kỳ hậu chiến. Hòa ước San Francisco ghi rõ Nhật Bản phải từ bỏ mọi quyền lợi và tham vọng với hai quần đảo Paracels (Hoàng Sa) và Spratly (Trường Sa). Hòa ước cũng phủ nhận việc Nhật Bản nhìn nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa và những đảo xa hơn nữa ở phía nam. Ngày 7-9-1951, tại Hội nghị San Francisco, Thủ tướng kiêm Ngoại trưởng Trần Văn Hữu của Chính phủ Quốc gia Việt Nam long trọng tuyên bố trước sự chứng kiến của 51 nước tham dự rằng hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là lãnh thổ lâu đời của Việt Nam. Ông Hữu nói: "Việt Nam rất hứng khởi ký nhận trước nhất cho công cuộc tạo dựng hòa bình này. Và cũng vì vậy cần phải thành thật tranh thủ tất cả mọi cơ hội để dập tắt tất cả những mầm móng tranh chấp sau này, chúng tôi xác nhận chủ quyền đã có từ lâu đời của chúng tôi trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”. Lời xác nhận chủ quyền đó của phái đoàn Việt Nam được ghi vào văn kiện của Hội nghị San Francisco (1951) với đa số tán thành và không hề có bất kỳ một phản ứng chống đối hay một yêu sách nào của tất cả các quốc gia tham dự. Việc Chính phủ Quốc gia Việt Nam trong giai đoạn này tham dự Hội nghị San Francisco dưới sự bảo trợ của Chính phủ Pháp và tuyên bố chủ quyền lâu đời với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là sự kiện có ý nghĩa quốc tế quan trọng trong chuỗi các sự kiện minh chứng cho sự xác lập chủ quyền từ rất sớm về pháp lý cũng như về sự chiếm hữu thực tế một cách hòa bình, lâu dài và liên tục đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của người Việt Nam.


http://daidoanket.vn/Pictures/bao tuan/_2011/156/2011_156_12_3.jpg

Thủ tướng Nhật bản Yoshida Shigeru kí hòa ước San Francisco


Dựa trên những tư liệu đã được công bố, có thể khẳng định rằng muộn nhất từ thế kỷ XV đến đầu thế kỷ XIX, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã thuộc chủ quyền của người Việt Nam. Đến cuối thế kỷ XIX, những hòa ước ký kết giữa Việt Nam với Pháp đã quy định rằng chính quyền thuộc địa Pháp ở Đông Dương thay mặt triều đình nhà Nguyễn gìn giữ chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo đó. Đồng thời, chính quyền thuộc địa ở Đông Dương cũng đã thi hành mọi biện pháp để khẳng định sự chiếm hữu theo đúng tập quán quốc tế cũng như các biện pháp quản lý hành chính đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đến giữa thế kỷ XX, tuy một số đảo của Hoàng Sa và Trường Sa bị quân đội Nhật Bản tạm thời chiếm đóng từ năm 1939 đến năm 1946 nhưng với Hòa ước San Francisco (1951), Chính phủ Nhật Bản đã chính thức tuyên bố từ bỏ mọi quyền, danh nghĩa và đòi hỏi đối với hai quần đảo này. Do đó, Việt Nam tất nhiên đã khôi phục lại được chủ quyền vốn có của mình đối với hai quần đảo đó trên cơ sở luật pháp quốc tế. Giá trị pháp lý về tuyên bố chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong Hội nghị San Francisco không những được khẳng định đối với các quốc gia tham dự Hội nghị mà còn đối với những quốc gia cũng như các chính quyền không tham dự bởi những ràng buộc của Tuyên cáo Cairo và Tuyên bố Potsdam. Việc khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong Hội nghị San Francisco rõ ràng là sự tái lập, tái khẳng định một sự thật lịch sử đã có từ lâu đời và nay vẫn đang tiếp diễn. Hơn nữa, Hội nghị Geneve năm 1954 bàn về việc chấm dứt chiến tranh Đông Dương với sự tham gia của những quốc gia không có mặt tại Hội nghị San Francisco cũng đã tiếp tục tuyên bố cam kết tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.



Nhóm PV Biển Đông
Nguồn http://daidoanket.vn

Sat That
24-07-2011, 02:44 PM
ĐƯỜNG LƯỠI BÒ PHI LÝ

KỲ 11

Chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam giai đoạn 1954-1975 (03/07/2011)



Năm 1954, Hiệp định Genève công nhận độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Hai quần đảo này nằm phía nam vĩ tuyến 17 nên tạm thời thuộc sự quản lý của chính quyền miền Nam trong khi chờ đợi thống nhất đất nước bằng tổng tuyển cử. Tháng 4-1956, khi quân Pháp rút khỏi miền Nam Việt Nam, quân đội của chính quyền miền Nam Việt Nam sau là Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) ra tiếp quản các đảo và quần đảo trên Biển Đông. Kể từ 1956, về pháp lý và trên thực tế chính quyền VNCH tiếp tục có nhiều hành động khẳng định chủ quyền của người Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.





http://daidoanket.vn/Pictures/bao tuan/_2011/157/2011_157_6_ANH1.jpg



Tàu đánh cá vũ trang Trung Quốc chặn đường tàu Việt Nam

ra quần đảo Hoàng Sa tháng 1-1974


Tháng 4-1956, khi Hải quân VNCH ra tiếp quản quần đảo Hoàng Sa thì phát hiện một số đảo phía đông trong đó lớn nhất là đảo Phú Lâm (Woody) đã bị quân lính Trung Quốc bí mật chiếm đóng trái phép. Chính quyền VNCH trên thực tế chỉ kiểm soát được các đảo phía tây. Tuy nhiên, về mặt pháp lý, VNCH vẫn tiếp tục khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên các đảo mà Trung Quốc đã bí mật chiếm đóng trái phép phía đông quần đảo Hoàng Sa. Lúc này, trên đảo Pattle (Hoàng Sa) có nhà cửa, căn cứ quân sự, đài khí tượng, hải đăng trong hệ thống quốc tế, miếu Bà, cầu tàu và bia chủ quyền của Việt Nam. Cùng thời gian này, quân lính Đài Loan cũng đã chiếm đóng trái phép đảo Ba Bình (Itu Aba), đảo lớn nhất trong quần đảo Trường Sa.

Ngày 1-6-1956, Ngoại trưởng VNCH Vũ Văn Mẫu ra tuyên bố tái khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Sau khi trấn giữ các đảo chính ở phía Tây quần đảo Hoàng Sa, ngày 22-8-1956, quân đội VHCH đổ bộ lên các đảo chính của quần đảo Trường Sa, dựng cột đá chủ quyền và treo cờ trên các đảo. Ngày 22-10-1956, Sắc lệnh số 143/NV của Tổng thống VNCH thay đổi địa giới các tỉnh và tỉnh lỵ tại miền Nam (Nam Việt). Trong danh sách các đơn vị hành chính Nam Việt đính kèm theo Sắc lệnh đó có Bà Rịa-Vũng Tàu được đổi thành tỉnh Phước Tuy và đảo Hoàng Sa (Sắc lệnh chú thích là Spratly) trong quần đảo Trường Sa thuộc về tỉnh Phước Tuy cùng tên với quần đảo Hoàng Sa (Paracels) ở phía bắc. Ngày 13-7-1961, Sắc lệnh số 174/NV của Tổng thống VNCH đặt quần đảo Hoàng Sa trước kia thuộc tỉnh Thừa Thiên, nay đặt thuộc tỉnh Quảng Nam. Thành lập một đơn vị hành chính cấp xã và lấy tên là xã Định Hải, trực thuộc quận Hòa Vang. Xã Định Hải đặt dưới quyền một phái viên hành chánh.

Ngày 4-9-1958, Trung Quốc ra Tuyên bố về chủ quyền lãnh hải Trung Quốc rộng 12 hải lý, trong đó có các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam (Trung Quốc gọi là Tây Sa và Nam Sa). Ngày 14-9-1958, Thủ tướng Chính phủ Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) Phạm Văn Đồng ký Công hàm: "Ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4-9-1958 của Chính phủ Nước CHND Trung Hoa”. Thực chất Công hàm này cũng chỉ cho biết Chính phủ VNDCCH tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc, không hề đề cập tới hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Theo ông Lưu Văn Lợi, cựu Trưởng Ban Biên giới Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam, Công hàm này là một cử chỉ tốt đẹp về tình hữu nghị, ủng hộ Trung Quốc lúc Mỹ đưa Hạm đội 7 tới eo biển Đài Loan. Sử dụng Công hàm này với mục đích tranh chủ quyền các quần đảo là một sự xuyên tạc; việc biến một cử chỉ hữu nghị thành tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc đối với Hoàng Sa và Trường Sa là vô lý. Trên thực tế, theo Hiệp định Genève, các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm phía nam vĩ tuyến 17, thời gian này thuộc quyền quản lý của chính quyền VNCH. [Trung Quốc cố tình sử dụng Công hàm ngày 14-9-1958 của Chính phủ VNDCCH như một tài liệu có tính pháp lý và lịch sử để đòi hỏi chủ quyền trên các quần đảo của Việt Nam là một đề tài cần được phân tích đầy đủ để nhận thấy ý đồ cùng thủ đoạn tinh vi của họ trong chuỗi chiến lược lâu dài thôn tính Biển Đông. Chúng tôi sẽ có dịp trình bày vấn đề này trong một bài mang tính chuyên đề khác].


http://daidoanket.vn/Pictures/bao tuan/_2011/157/2011_157_6_ANH2.jpg


Bia chủ quyền của Việt Nam ở quần đảo Hoàng Sa trước năm 1974


Rạng sáng ngày 21-2-1959, nhiều ngư dân Trung Quốc lên một số đảo phía tây quần đảo Hoàng Sa nhưng đã bị Hải quân VNCH phát hiện bắt giữ sau đó hoàn trả lại cho Trung Quốc. Theo các tài liệu của VNCH, đây không phải là lần đầu ngư dân Trung Quốc tìm cách lên các đảo của Việt Nam. Ngày 13-7-1971, Bộ truởng Ngoại giao VNCH Trần Văn Lắm có mặt tại Hội nghị lần thứ VI của Hiệp hội các Quốc gia châu Á-Thái Bình Dương ở Manila (Philippines) tái khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Trường Sa. Ông Lắm cũng nhắc lại lời tuyên bố chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của cựu Thủ tướng kiêm Ngoại trưởng Chính phủ Quốc gia Việt Nam Trần Văn Hữu tại Hội nghị San Francisco (Hoa Kỳ) năm 1951.

Ngày 27-1-1973, Hiệp định Paris chấm dứt mọi sự can thiệp quân sự của Hoa Kỳ tại Việt Nam. Hạm đội 7 – Thái Bình Dương của Hoa Kỳ cũng rút quân và các thiết bị ra khỏi vùng quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam.

Ngày 6-9-1973, Bộ trưởng Nội vụ của chính quyền VNCH ký Nghị định sửa đổi việc quản lý hành chính đối với quần đảo Trường Sa vào xã Phước Hải, quận Đất Đỏ, tỉnh Phước Tuy. Tới 4 tháng sau, ngày 11-1-1974, Trung Quốc tuyên bố việc sáp nhập quần đảo Trường Sa vào tỉnh Phước Tuy của VNCH là sự lấn chiếm lãnh thổ của Trung Quốc và nhắc lại các yêu sách vô lý của họ đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Ngày 12-1-1974, Chính phủ VNCH ngay lập tức ra Tuyên bố bác bỏ các yêu sách vô lý của Trung Quốc về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Ngày 15-1-1974, Trung Quốc bắt đầu triển khai một lực lượng hải quân mạnh mẽ trong đó có nhiều tàu được ngụy trang thành tàu đánh cá có máy bay yểm trợ. Mặt khác, Bộ Tư lệnh Hải quân VNCH cũng điều động tuần dương hạm Lý Thường Kiệt (HQ-16) đến Hoàng Sa để tăng cường sự canh phòng khu vực. Ngày 16-1-1974, HQ-16 phát hiện sự có mặt của Hải quân Trung Quốc đang dựng cờ trên các đảo Quang Ảnh, Hữu Nhật... HQ-16 dùng quang hiệu yêu cầu các tàu Trung Quốc rời khỏi lãnh hải Việt Nam. Phía Trung Quốc đáp trả bằng yêu cầu VNCH rời khỏi "lãnh hải” Trung Quốc. Trước sự gia tăng gây hấn của tàu chiến Trung Quốc, Hải quân VNCH tăng cường khu trục hạm Trần Khánh Dư (HQ-4), tuần dương hạm Trần Bình Trọng (HQ-5), hộ tống hạm Nhật Tảo (HQ-10). Lực lượng tăng cường của VNCH có các toán biệt hải được lệnh đổ bộ đến các đảo hạ cờ Trung Quốc. Vài vụ xô xát đã xảy ra, súng đã nổ trên đảo Quang Hòa và một vài đảo khác.

Ngày 16-1-1974, Chính phủ VNCH ra tuyên bố bác bỏ các luận cứ của Trung Quốc và đưa ra những bằng chứng rõ ràng về pháp lý, địa lý, lịch sử để xác nhận chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Lúc này, hai bên bắt đầu bố trí lực lượng trong tư thế sẵn sàng chiến đấu, các chiến hạm của hai bên chỉ còn cách nhau khoảng 200m.

Ngày 19-1-1974 lúc 10 giờ 25 phút, cuộc hải chiến bắt đầu. Một chiến hạm của Trung Quốc bị bốc cháy trước hỏa lực của hộ tống hạm Nhật Tảo (HQ-10). Các chiến hạm Trung Quốc dồn sức đánh trả khiến HQ-10 bị trúng đạn trên đài chỉ huy và hầm máy chính, bốc cháy, hạm trưởng Ngụy Văn Thà tử nạn. Hai bên đấu súng khoảng 45 phút, cùng thời điểm đó Bộ Tư lệnh Hải quân VNCH nhận được thông tin cho biết một số phóng lôi hạm và chiến đấu cơ MIG của Trung Quốc từ Hải Nam đang tiến về phía Hoàng Sa. Nhận thấy tương quan lực lượng không cân xứng, các chiến hạm VNCH được lệnh rút khỏi quần đảo Hoàng Sa. Trung Quốc chiếm đoạt hoàn toàn quần đảo Hoàng Sa từ tay quân đội VNCH bằng vũ lực kể từ thời điểm này.


http://daidoanket.vn/Pictures/bao tuan/_2011/157/2011_157_6_ANH3.jpg


Trạm Khí tượng Thủy văn trên đảo Hoàng Sa thời Việt Nam Cộng Hòa

Sau trận hải chiến, VNCH đã ra nhiều tuyên bố cũng như cung cấp các chứng cứ lịch sử về chủ quyền của Việt Nam tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Ngày 20-1-1974, quan sát viên của VNCH tại Liên Hợp Quốc yêu cầu Hội đồng Bảo an xem xét việc Trung Quốc dùng vũ lực đánh chiếm Hoàng Sa. Qua thông điệp ngoại giao được gửi đến các nước ký kết Hiệp định Paris 1973, VNCH nhắc lại sự đảm bảo toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, yêu cầu Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc họp một phiên đặc biệt về vấn đề Trung Quốc dùng vũ lực đánh chiếm Hoàng Sa của Việt Nam.

Ngày 26-1-1974, Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ra Tuyên bố phản đối hành động xâm chiếm Hoàng Sa của Trung Quốc và tuyên bố lập trường về "chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam”.

Ngày 1-2-1974, chính quyền VNCH quyết định tăng cường phòng thủ ở quần đảo Trường Sa, đưa thêm lực lượng ra đóng ở 5 đảo thuộc quần đảo Trường Sa. Qua đại sứ ở Manila (Philippines), VNCH khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Cũng trong ngày 1-2-1974, Đoàn đại biểu của VNCH ra Tuyên bố tại Hội nghị của Liên Hợp Quốc về Luật Biển Caracas khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, tố cáo Trung Quốc dùng vũ lực đánh chiếm Hoàng Sa. Ngày 30-3-1974, VNCH tiếp tục khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa tại Hội đồng Kinh tế - Tài chính Viễn Đông họp tại Columbia. Ngày 14-2-1974, Bộ Ngoại giao VNCH công bố Sách Trắng về Hoàng Sa và Trường Sa.

Sau chiến thắng Buôn Ma Thuột, nhận thấy thời cơ chiến lược đã tới, Bộ Chính trị quyết định giải phóng hoàn toàn miền Nam Việt Nam ngay trong mùa khô 1975 bao gồm các đảo và quần đảo Trường Sa, Côn Lôn, Phú Quốc... trên Biển Đông. Trung ương đặc biệt quan tâm tới việc nhanh chóng hoàn thành việc giải phóng, tiếp thu các đảo và quần đảo nói trên về tay Hải quân Quân đội Nhân dân Việt Nam (QĐNDVN). Ngày 9-4-1975, có tin Hải quân VNCH rút khỏi các đảo và quần đảo trên Biển Đông, Bộ Tư lệnh Hải quân QĐNDVN đã ngay lập tức cho lực lượng ra tiếp thu các đảo và quần đảo. Từ ngày 14 đến ngày 28-4-1975, Hải quân QĐNDVN đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ tiếp quản các đảo trên Biển Đông trong đó có quần đảo Trường Sa.

Chính quyền Việt Nam thống nhất sau đó vẫn tiếp tục khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.



Nhóm PV Biển Đông
Nguồn http://daidoanket.vn

Sat That
24-07-2011, 02:49 PM
ĐƯỜNG LƯỠI BÒ PHI LÝ

KỲ 12

Trận hải chiến bảo vệ chủ quyền Hoàng Sa của Việt Nam năm 1974 (04/07/2011)



Sau khi quân Pháp rút khỏi Đông Dương, theo Hiệp định Genève 1954, chính quyền Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) đảm nhiệm chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa cho đến khi Trung Quốc xâm chiếm bằng vũ lực ngày 19-1-1974. Trận hải chiến bảo vệ quần đảo Hoàng Sa năm 1974 của Hải quân VNCH là một bằng chứng lịch sử rõ ràng cho thấy Trung Quốc đã vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế khi sử dụng vũ lực để cưỡng chiếm Hoàng Sa từ tay VNCH đang thực thi chủ quyền lâu đời của Việt Nam theo luật pháp quốc tế và việc liên tục thực thi chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo này là một hiển nhiên trong lịch sử.





http://daidoanket.vn/Pictures/bao%20tuan/_2011/158/2011_158_12_ANH1.jpg


Sơ đồ trận hải chiến bảo vệ Hoàng Sa của Việt Nam năm 1974


Trên thực tế khi ra tiếp quản quần đảo Hoàng Sa tháng 4-1956 từ quân đội Pháp, Hải quân VNCH phát hiện Trung Quốc đã bí mật chiếm đóng trái phép các đảo phía đông của quần đảo này. Kể từ đó cho đến khi diễn ra trận hải chiến 1974, vùng biển Hoàng Sa của Việt Nam không còn bình yên truớc những diễn biến làm phức tạp tình hình từ phía Trung Quốc. Từ năm 1956, Hải quân VNCH đã phát hiện ngư dân Trung Quốc nhiều lần xâm nhập trái phép các đảo phía đông quần đảo Hoàng Sa do chính quyền VNCH quản lý. Hiệp định Paris được ký kết ngày 27-1-1973, chấm dứt mọi sự can thiệp quân sự của Hoa Kỳ tại Việt Nam. Hạm đội 7- Thái Bình Dương của Hoa Kỳ cũng rút quân và các thiết bị ra khỏi vùng quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Kể từ đó, các hoạt động xâm nhập trái phép của Trung Quốc lên các đảo trong quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam ngày càng gia tăng.

Để mở đầu cho kế hoạch gây chiến và đánh chiếm, ngày 11-1-1974 Trung Quốc đột ngột ra Tuyên bố phản đối việc chính quyền VNCH 4 tháng trước điều chỉnh sáp nhập quần đảo Trường Sa vào xã Phước Hải, quận Đất Đỏ, tỉnh Phước Tuy của Việt Nam và nhắc lại yêu sách vô lý của họ về chủ quyền trên toàn bộ các đảo và quần đảo ở Biển Đông, trong đó có Hoàng Sa và Trường Sa (Trung Quốc gọi là Tây Sa và Nam Sa). Ngay lập tức, ngày 12-1-1974, Ngoại trưởng Vương Văn Bắc của chính quyền VNCH ra Tuyên bố bác bỏ yêu sách vô lý của Trung Quốc về chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Ngày 16-1-1974, chính quyền VNCH tiếp tục ra Tuyên bố với những bằng chứng rõ ràng về pháp lý, địa lý, lịch sử minh chứng chủ quyền lâu dài và liên tục của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Cũng trong ngày 16-1-1974, tuần dương hạm Lý Thường Kiệt (HQ-16) khi đưa một phái đoàn ra quần đảo Hoàng Sa để khảo sát xây dựng sân bay thì phát hiện hai chiến hạm của Trung Quốc gần đảo Cam Tuyền và quân Trung Quốc đã chiếm đóng trái phép, cắm cờ Trung Quốc tại các đảo Quang Hòa, Duy Mộng, Vĩnh Lạc... Nhận được tin báo khẩn cấp, Bộ Tư lệnh Hải quân VNCH điều thêm chiến hạm ra quần đảo Hoàng Sa để ngăn chặn các hoạt động xâm phạm chủ quyền Việt Nam trên vùng biển này của tàu chiến Trung Quốc với thái độ ôn hòa, kiềm chế. Cùng lúc đó, Trung Quốc cũng đã điều động một lực lượng tàu chiến hùng hậu tiến về phía quần đảo Hoàng Sa, trong đó có nhiều tàu đánh cá vũ trang và đổ bộ lên một số đảo trên quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam để cắm cờ. Một số tàu cá vũ trang của Trung Quốc còn bám theo các chiến hạm của Hải quân VNCH đang trên đường ra Hoàng Sa, cản trở hành trình của các tàu Việt Nam bằng những hành động khiêu khích.


http://daidoanket.vn/Pictures/bao%20tuan/_2011/158/2011_158_12_ANH2.jpg


Bốn chiến hạm của Hải quân VNCH đã tham dự

trận hải chiến Hoàng Sa bảo vệ chủ quyền của Việt Nam năm 1974

(HQ-4, HQ-5, HQ-10, HQ-16)


Ngày 17-1-1974, khu trục hạm Trần Khánh Dư (HQ-4) đổ bộ một toán biệt hải lên đảo Vĩnh Lạc để nhổ cờ Trung Quốc. Toán đổ bộ còn phát hiện một số ngôi mộ giả mới đắp không hề có xương cốt với những tấm bia gỗ ghi chữ Trung Quốc với ngày sinh và ngày chết hàng mấy chục năm về trước. Theo các nhân chứng, đêm 17 rạng sáng ngày 18-1-1974 là một đêm cực kỳ căng thẳng. Trung Quốc tăng cường lực lượng và cố tình gia tăng sự khiêu khích, các chiến hạm của họ bắt đầu tiến sâu vào vùng biển quần đảo Hoàng Sa. Các tàu chiến của Hải quân VNCH liên tục ra tín hiệu cảnh báo: "Đây là lãnh hải Việt Nam, yêu cầu các ông hãy rời khỏi đây ngay”. Phía Trung Quốc cũng ra sức đáp trả và cho rằng quần đảo Hoàng Sa là "lãnh hải” của Trung Quốc, họ lì lợm không rút lui theo yêu cầu và cảnh báo ôn hòa từ phía Việt Nam. Ngày 18-1-1974, chiến hạm HQ-4 tiến về phía đảo Cam Tuyền, đổ bộ một toán biệt hải lên đảo lúc 8 giờ sáng. Sau khi hạ cờ Trung Quốc, toán đổ bộ phát hiện những ngôi mộ giả do phía Trung Quốc mới đắp giống như trên đảo Vĩnh Lạc hôm trước. Đến 11giờ cùng ngày, nhận được tin báo có hai tàu đánh cá vũ trang của Trung Quốc đang xâm nhập trái phép và tiến về quần đảo Hoàng Sa, các tàu HQ-4 và HQ-16 của Hải quân VNCH ra ngăn chặn, dùng tín hiệu cảnh cáo và yêu cầu các tàu xâm nhập trái phép ngay lập tức phải rút ra khỏi vùng biển Việt Nam. Nhưng hai tàu cá vũ trang của Trung Quốc không chấp hành hiệu lệnh và cố tình khiêu khích, gây hấn. Tàu HQ-4 tiến thẳng đến gần một tàu cá Trung Quốc, nhìn thấy rõ thủy thủ đoàn trên tàu mặc đồng phục xanh dương đậm, có trang bị 2 súng đại liên và rất nhiều súng tiểu liên cá nhân. Tàu HQ-4 quyết định áp sát mạn tàu đánh cá vũ trang của Trung Quốc để xua đuổi và dùng loa phóng thanh hết cỡ yêu cầu họ ngay lập tức rút khỏi vùng biển Việt Nam. Phía Trung Quốc cũng ra sức đáp trả bằng những lời lẽ khiêu khích và gây hấn. Thấy không tác dụng, tàu HQ-4 dùng mũi ủi vào tàu Trung Quốc. Trước thái độ cương quyết của Hải quân VNCH họ vội vàng tháo lui. Chiến hạm HQ-16 cũng quyết liệt tham gia xua đuổi tiếp các tàu cá vũ trang còn lại của Trung Quốc trong khu vực này. Buổi chiều cùng ngày, 3 chiến hạm của VNCH bao gồm tuần dương hạm Lý Thường Kiệt (HQ-16), khu trục hạm Trần Khánh Dư (HQ-4), tuần dương hạm Trần Bình Trọng (HQ-5) được lệnh sắp đội hình hàng dọc tiến về đảo Duy Mộng. Khoảng 16giờ cùng ngày, có hai tàu chiến của Trung Quốc tiến ra khiêu khích, cắt đường ngang mũi các tàu HQ-4 và HQ-16. Do đội hình bị chia cắt, tàu của VNCH không thể tiến lên được, khoảng cách của hai bên rất gần nhau, các khẩu đại bác trong tư thế sẵn sàng chiến đấu nhưng các tàu của VNCH được lệnh phải hết sức kiềm chế và phải cố gắng hết sức để thuyết phục phía Trung Quốc lui quân.

Đêm 18 rạng sáng 19-1-1974, tàu chiến và tàu đánh cá Trung Quốc vẫn tiếp tục gia tăng khiêu khích và ngày càng tiến đến gần quần đảo Hoàng Sa. Tàu HQ-4 phải dùng còi hơi thật to và đèn hồ quang thật sáng trên nóc đài chỉ huy rọi thẳng vào đội hình tàu Trung Quốc. Đến nửa đêm, hộ tống hạm Nhật Tảo (HQ-10) trong khi đang bị hỏng một máy chính chưa kịp sửa chữa, đã nhận lệnh ra Hoàng Sa tham gia đội hình chiến đấu. Khoảng 6 giờ sáng ngày 19-1-1974, Tàu HQ-4 đã tiến sát đảo Quang Hòa và trung đội biệt hải được lệnh đổ bộ khẩn cấp lên đảo. Theo ông Lữ Công Bảy, nguyên là thượng sỹ giám lộ có mặt trên chiến hạm HQ-4 trong trận hải chiến 1974, từ đài chỉ huy bằng ống nhòm, tàu HQ-4 đã phát hiện doanh trại mới toanh, có cột cờ Trung Quốc (trước đó hơn một tháng tàu HQ-4 có dịp khảo sát đảo này không hề thấy), như vậy Trung Quốc đã bí mật chiếm đảo mới đây. Đài chỉ huy đồng thời phát hiện một tàu Trung Quốc đang đổ bộ một đội quân rất đông lên phía bắc đảo, những chiếc tàu đánh cá vũ trang của Trung Quốc liên tục đổ người ào ạt lên các đảo của Việt Nam. Và họ đã nổ súng trước. Vào lúc 8 giờ 30 phút, một loạt đại liên và cối 82 của Trung Quốc đã bắn vào đội hình người nhái Việt Nam làm hai binh sỹ tử vong và hai bị thương. Nhưng chỉ huy phía Việt Nam vẫn không thể ra lệnh cho các tàu nổ súng vì đội hình người nhái Việt Nam đang ở vị trí cực kỳ nguy hiểm. Cùng lúc đó, xuất hiện hai chiếc tàu Kronstadt của Trung Quốc mang số hiệu 274 và 271 sơn màu xám đen, trang bị đại bác 100 ly và nhiều đại bác 37 ly ngay bên cạnh tàu HQ-4. Các họng súng đại bác của tàu Trung Quốc đều đang chĩa thẳng vào tàu HQ-4. Các tín hiệu bằng đèn cực kỳ khiêu khích của tàu Trung Quốc liên tục được chuyển tới tàu HQ-4. Khoảng 10 giờ, hai trục lôi hạm Trung Quốc mang số 389 và 396 bắt đầu tách khỏi hai chiếc 274 và 271, chạy song song gần nhau và bất chợt cùng quay mũi trực chỉ HQ-10. Vẫn chưa có lệnh khai hỏa từ phía VNCH. Các tàu chiến của Trung Quốc từ từ tiến gần đội hình của VNCH, còn cách tàu HQ-10 chỉ khoảng 200 mét, tình hình hết sức căng thẳng. Khoảng 10 giờ 25 phút, bốn chiến hạm của Hải quân VNCH được lệnh nổ súng để tự vệ trước sự gia tăng gây hấn, khiêu khích và xâm chiếm trái phép ngày càng quyết liệt hơn của Trung Quốc. Những phát đạn đầu tiên của HQ-10 trúng ngay vào chiếc 389 của Trung Quốc làm nó bốc cháy, cùng lúc tàu HQ-16 cũng bắn thẳng vào chiếc 386 làm cho đài chỉ huy bị trúng đạn, hỏng hệ thống điều khiển bánh lái khiến nó cứ xoay vòng. Đang chiếm ưu thế, bất chợt khẩu 76,2 ly trên tàu HQ-10 bị trục trặc, thêm vào đó HQ-10 chỉ còn một máy chính nên xoay trở rất chậm trở thành mục tiêu dễ dàng của đối phương. Lợi dụng sự bất lợi đó, chiếc 389 đã tấn công tới tấp và HQ-10 trúng đạn. Không bỏ lỡ cơ hội, chiếc 389 của Trung Quốc tiến đến gần phía sau lái của HQ-10, nhưng bị các binh sỹ trên tàu HQ-10 chống trả dữ dội và điều khiển tàu đâm vào phần sau lái của chiếc 389, khiến chiếc này hư hỏng nặng và bị loại khỏi vòng chiến. Đây cũng là lý do khiến chiếc 396 phải ngưng chiến đấu với tàu HQ-16 để cấp tốc ứng cứu chiếc 389 và đưa chiếc này ủi lên bãi san hô để tránh bị chìm xuống biển. Tình trạng của tàu HQ-10 lúc này rất bi đát, hơn 70% chiến sỹ đã tử trận kể cả hạm trưởng. Các tàu Trung Quốc phản kích dữ đội. Cùng lúc đó Trung Quốc tung xuống một lực lượng rất mạnh từ đảo Phú Lâm ở gần đó và từ căn cứ ở đảo Hải Nam. Các chiến sỹ còn trụ lại trên tàu HQ-10 đang bốc cháy vẫn tiếp tục nổ súng vào các tàu Trung Quốc, thu hút hỏa lực cho các đồng đội khác rút lui cho đến khi chìm hẳn xuống lòng Biển Đông của Tổ quốc. Sau khoảng hơn 45 phút giao chiến, theo tài liệu của Trung Quốc có các tàu của Trung Quốc mang số hiệu 274, 271, 389, 391 trúng đạn hư hỏng nặng; 281, 282 và 402, 407 hư hại trung bình. Theo tài liệu của VNCH, hộ tống hạm Nhật Tảo (HQ-10) trúng đạn bị chìm, HQ-16 bị hư hại nặng, HQ-4 và HQ-5 bị hư hại nhẹ. VNCH có hơn 50 binh sỹ tử trận. Trung Quốc bắt giữ 48 binh sỹ VNCH và một người Mỹ, sau đó trao trả cho Việt Nam và Hoa Kỳ tại Hồng Kông.


http://daidoanket.vn/Pictures/bao%20tuan/_2011/158/2011_158_12_ANH4.jpg


Hình ảnh chiếc trục lôi hạm 389 của Trung Quốc

bị loại khỏi vòng chiến phải ủi vào bãi san hô để không bị chìm


Ngay sau khi Trung Quốc dùng vũ lực chiếm đoạt quần đảo Hoàng Sa, chính quyền VNCH liên tục phát ra nhiều Tuyên bố phản đối hành động "xâm lăng trắng trợn bằng quân sự” này của Trung Quốc và tái khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo này. Trong khi đó, ngày 26-1-1974, Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam (CMLTCHMNVN) cũng ra Tuyên bố phản đối hành động xâm chiếm Hoàng Sa của Trung Quốc và công bố lập trường "về chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam”. Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, Chính phủ CMLTCHMNVN cũng đã nhiều lần tuyên bố khẳng định Hoàng Sa là của Việt Nam. Ngày 5-6-1976, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Chính phủ CMLTCHMNVN đã lên tiếng bác bỏ các thông tin xuyên tạc về Hoàng Sa và Trường Sa và khẳng định hai quần đảo này là thuộc chủ quyền Việt Nam, từ trước đến nay luôn do người Việt Nam quản lý.

Nhóm PV Biển Đông
Nguồn http://daidoanket.vn

Sat That
24-07-2011, 02:53 PM
ĐƯỜNG LƯỠI BÒ PHI LÝ

KỲ 13


Ký ức Hoàng Sa trong nhiều thế hệ người Việt Nam (05/07/2011)



Trong tâm thức của người Việt Nam, quần đảo Hoàng Sa gần gũi tựa như cái sân liền với ngôi nhà là dải đất hình chữ S, chỉ bước chân ra là tới. Hoàng Sa ghi dấu trong ký ức bao thế hệ người Việt, là nơi thấm đẫm máu xương, mồ hôi và nước mắt của người dân Việt kiên cường vượt lên đầu sóng ngọn gió để mưu sinh, và khi cần thiết người Việt cũng đã quyết tử để bảo vệ quần đảo - chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc.





http://daidoanket.vn/Pictures/bao tuan/_2011/159/2011_159_12_1.jpg














Khai thác phốt phát trên đảo Hoàng Sa năm 1940




Hoàng Sa trong ký ức của người Việt thời xưa

Ký ức của người Việt Nam thời xưa còn được ghi lại rõ ràng trong sử sách có lẽ chính là nhà bác học Lê Quý Đôn (1726-1784). Trong sách Phủ Biên Tạp Lục soạn năm 1776, Lê Quý Đôn cho biết: "Phủ Quảng Ngãi, huyện Bình Sơn có xã An Vĩnh ở gần biển. Ngoài biển, về phía đông bắc có nhiều cù lao, các núi linh tinh hơn 130 ngọn, cách nhau bằng biển, từ hòn này sang hòn kia đi hoặc một ngày, hoặc vài canh giờ thì đến. Trên núi có chỗ có nước ngọt. Trong đảo có bãi cát vàng dài ước hơn 30 dặm, bằng phẳng, rộng lớn, nước trong suốt đáy. Bên cạnh đảo có vô số yến sào. Các thứ chim có hàng nghìn, hàng vạn, thấy người thì đậu vòng quanh không tránh. Bên bãi vật lạ rất nhiều. Ốc vân thì có ốc tai voi, to như chiếc chiếu, bụng có hạt to bằng đầu ngón tay, sắc đục không như ngọc trai, vỏ ốc có thể đẽo thành tấm bài được, lại có thể nung vôi xây nhà. Có ốc xà cừ để khảm đồ dùng. Lại có ốc hương. Các thứ ốc đều có thể muối và nấu ăn được. Đồi mồi thì rất lớn. Có con hải ba, tục gọi là trắng bộng giống đồi mồi mà nhỏ, vỏ mỏng có thể khảm đồ dùng, trứng bằng đầu ngón tay cái, có thể muối ăn được. Có hải sâm, tục gọi là con đồn đột, bơi lội ở bên bãi. Lấy về, dùng vôi xát qua, bỏ ruột, phơi khô. Lúc ăn thì ngâm nước cua đồng, cạo sạch đi; nấu với tôm và thịt lợn càng tốt. Các thuyền ngoại phiên bị bão thường vào đậu ở đảo này. Trước, họ Nguyễn sai đặt đội Hoàng Sa lấy 70 suất, lấy người xã An Vĩnh sung vào. Cắt phiên, cứ mỗi năm tháng 2, nhận giấy sai đi, mang lương đủ ăn 6 tháng. Đi bằng 5 chiếc thuyền câu nhỏ, ra biển 3 ngày 3 đêm thì đến đảo ấy. Ở đấy tha hồ bắt chim, bắt cá mà ăn. Lấy được hoá vật của tàu (đắm), như gươm ngựa, hoa bạc, tiền bạc, hòn bạc, đồ đồng, khối thiếc, khối chì, súng, ngà voi, sáp ong, đồ sứ, đồ chiên, cùng là kiếm lượm vỏ. Đồi mồi, vỏ hải ba, hải sâm, hạt ốc vân rất nhiều. Đến kỳ tháng 8 thì về, vào Cửa Eo đến thành Phú Xuân nộp”.

Lý Văn Phức, một văn nhân nổi tiếng đời vua Minh Mạng, năm 1832 đi thuyền sang Philippines suýt nữa bị mắc cạn ở Hoàng Sa. Ông đã ghi cảm tưởng của mình khi tận mắt nhìn thấy bãi cát vàng mênh mông trên biển cả ấy trong bài tựa và bài thơ nhan đề "Vọng Kiến Vạn Lý Trường Sa Tác”. Bài tựa nói rằng: "Vạn Lý Trường Sa là một dãi cát từ bể nổi lên, phía tây tiếp dương phận trấn Quảng Ngãi, phía đông giáp dương phận nước Lữ Tống, phía bắc tiếp dương phận các tỉnh Quảng Đông và Phúc Kiến. Dằng dặc kéo ngang, không thể lượng đo được. Ấy là chỗ rất hiểm đệ nhất có tiếng từ xưa đến nay. Tàu thuyền qua đó, thường thường kiêng dè sự không thấy nó. Ấy vì chân bãi cát ra rất xa. Một khi lầm thì không thể trở lại. Ngày 14 tháng 5 năm Nhâm Thìn (1832), thuyền rời Quảng Ngãi, đã vào hải phận trấn Bình Định. Trù tính là không lầm, một đường thẳng vo, lấy hướng kim Mão-Ất (đông, hơi xế nam) mà tiến. Không dè gió trái, nước xiết, con thuyền không tiến. Thình lình trưa hôm sau, ngóng trông thấy nó. Sắc cát lờ mờ, khắp chân trời đều trắng. Tất cả người trên thuyền, trong lòng bừng bừng, nước mắt rưng rưng. Trên thuyền, ngoảnh hỏi người cầm lái là một tay lão luyện tây dương, nói rằng: lấy thước Đạc Thiên (lục phân) mà đo thì may thuyền chưa phạm vào chân bãi cát, còn chuyển buồm kịp. Bèn lấy hướng Kim Dậu (tây), nhằm Quảng Ngãi mà lùi. May nhờ phúc lớn của triều đình, về đến cửa bể Thái Cần mà tạm đỗ. Cuối cùng không việc gì”.

Trong lịch sử các gia tộc ở Cù Lao Ré (đảo Lý Sơn, Quảng Ngãi) còn chép khá đầy đủ hoạt động của tổ tiên dòng họ vâng lệnh triều đình hàng năm dẫn đội hùng binh ra các đảo Hoàng Sa. Từ thời các chúa Nguyễn đã cho thành lập đội Hoàng Sa. Đến đời vua Gia Long, chính sử còn ghi lại rất rõ năm 1815 vua sai Phạm Quang Ảnh làm Cai đội Hoàng Sa và tuyển các binh phu cùng đi ra Hoàng Sa và cả Trường Sa thám sát và đo đạc thủy trình. Các tài liệu phổ hệ, sắc phong, linh vị...viết bằng chữ Hán Nôm trong nhà thờ hậu duệ của họ Phạm nói đến nhiều người trong họ tộc đi lính Hoàng Sa không trở về. Trong đó có Chánh suất thủy quân cai đội Phạm Hữu Nhật, người đã cùng với Phạm Quang Ảnh được Tổ quốc đặt tên cho hai hòn đảo trong quần đảo Hoàng Sa (đảo Hữu Nhật và đảo Quang Ảnh). Mới đây, dòng họ Đặng ở đảo Lý Sơn đã hiến tặng cho Nhà nước bản gốc duy nhất Sắc chỉ của vua Minh Mạng phái một đoàn thuyền với 24 lính thủy ra canh giữ quần đảo Hoàng Sa vào năm Minh Mạng thứ 15, tức năm Giáp Ngọ (1834). Trong một tờ lệnh có đóng triện của hai vị quan bố chánh và án sát tỉnh Quảng Ngãi cùng năm Giáp Ngọ (1834) ghi rất rõ những tên tuổi tham gia hải đội Hoàng Sa đợt này như Đặng Văn Siểm, Dương Văn Định, Võ Văn Hùng, Phạm Quang Tình, Võ Văn Công, Võ Văn Hùng, Ao Văn Trâm, Trần Văn Kham...Lừng lẫy nhất là Phú Nhuận Hầu Võ Văn Phú kiêm thủ ngự cửa biển Sa Kỳ và cai đội Hoàng Sa. Ông Võ Văn Phước hậu duệ đời thứ 16 hiện đang ở Lý Sơn còn ghi nhớ nhiều câu chuyện kể về cha ông mình can trường cưỡi lên đầu sóng ngọn gió ở Hoàng Sa bảo vệ vùng biển thiêng liêng của Tổ quốc. Trên đảo Lý Sơn quê hương của đội hùng binh Hoàng Sa ngày nay vẫn còn nhiều mộ gió do dân làng lập nên cho những đứa con của làng hy sinh ở Hoàng Sa từ hàng trăm năm trước. Mỗi lần ra biển, họ đều đến thắp hương khấn vái và cầu mong linh hồn bất tử của những thủy binh hải đội Hoàng Sa tung hoành một thuở chở che cho họ vượt qua phong ba bão táp, gặp may mắn hanh thông trong những chuyến biển dài trên vùng biển mà máu xương của biết bao thế hệ người Việt Nam đã hòa vào biển cả hàng trăm năm qua.




http://daidoanket.vn/Pictures/bao tuan/_2011/159/2011_159_12_2.jpg


Đặc điểm nổi bật của quần đảo Hoàng Sa

là những đảo san hô vào loại lớn. Toàn bộ quần đảo

trải trên một diện tích khoảng 15.000 km vuông trên mặt biển



Hoàng Sa trong ký ức của người Việt thời nay

Tập san Sử Địa số 29 xuất bản tại Sài Gòn đầu năm 1975 sau khi quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam bị Trung Quốc xâm chiếm bằng vũ lực là một chuyên đề đặc biệt về Hoàng Sa của Việt Nam. Trong đó có bài của tác giả Trần Thế Đức, ghi chép lại một vài sự kiện liên quan tới quần đảo Hoàng Sa qua lời tường thuật của những người trong cuộc. Kể về hoạt động của Trạm Khí tượng Thủy văn Hoàng Sa, tác giả cho biết các nhân viên khí tượng ở đảo Hoàng Sa mỗi ngày có 8 lần quan trắc gọi về Sài Gòn qua hệ thống vô tuyến điện siêu tần số. Khi có bão, quan trắc phải làm và báo cáo hàng giờ. Nhờ đó, sức mạnh và hướng đi của trận bão được biết rõ và thông báo cho dân chúng, tàu bè, máy bay qua lại trong vùng. Từ Sài Gòn qua hệ thống viễn thông vùng Đông Nam Á, thế giới biết đến Hoàng Sa qua ám số 48860 (48 là vùng Đông Nam Á, 860 là Ty Khí tượng Hoàng Sa). Ty Khí tượng còn kiêm luôn cả Ty Bưu điện, đóng dấu gửi thư từ đảo về đất liền và ngược lại.

Phân phosphate trên quần đảo Hoàng Sa (Paracels) là một nguồn lợi mà nhiều nhà kinh doanh chú ý. Năm 1956, ông Lê Văn Cang được chính quyền VNCH cho phép khai thác phosphate trên quần đảo Hoàng Sa. Năm 1961, Công ty Lê Văn Cang bắt đầu khai thác, Công ty Hữu Phước được hợp đồng chở phân bón về Sài Gòn. Từ năm 1960, có thêm Công ty Phân bón Việt Nam của ông Bùi Kiến Thành tham gia. Sau năm 1970, thị trường phân bón mở rộng nên nhiều công ty khác cũng chú ý đến nguồn phosphate ở Hoàng Sa. Công ty Kỹ nghệ Phân bón Đại Nam (KYPHADACO) do ông Đào Nhật Tiến làm chủ, cho biết thành phần phosphate lấy từ các đảo Hoàng Sa có phẩm chất rất tốt. Ông Tiến còn khám phá ra một tài nguyên khác ở Hoàng Sa là cát và vỏ sò, vỏ ốc. Cát và vỏ sò, vỏ ốc Hoàng Sa xay thành bột nung ở nhiệt độ cao được sản phẩm gọi là "cát Hoàng Sa” có thể trị phèn trong ruộng và trộn với thức ăn gia súc.

Vùng biển quanh quần đảo Hoàng Sa là nơi lui tới của nhiều tàu lạ. Người Việt vốn quý khách. Khách tới, đi ca nô hay xuồng nhỏ vào đảo là được tiếp niềm nở. Nhất là những lúc khách gặp cơn hoạn nạn cần được cứu giúp. Chủ và khách đều vui vẻ. Khách chân thật không có gì đáng e ngại, vì khách thường tới từ các tàu cá, không có vũ khí, chủ nhà còn được xuống tàu khách tham quan. Khách có thể lên đảo nghỉ ngơi, tắm nước ngọt, phơi cá, phơi lưới trên đảo, trao đổi hàng hoá, nước ngọt, rau tươi... Nghỉ ngơi xong, khách lại xuống tàu nhổ neo ra đi. Tuy nhiên, có một lần khoảng năm 1970, một bọn người không rõ quốc tịch lên đảo xin nghỉ ngơi, nói tàu đánh cá của họ bị bão. Chủ nhiệt tình giúp đỡ, cho họ vào tạm trú chân. Các anh lính bỗng chú ý vì họ mang theo một tấm giấy lớn, mở ra thì nhận ra ngay là bản đồ quần đảo Hoàng Sa (Paracels). Một anh lính thấy họ cầm bản đồ ngược, liền kêu lên. Người nọ giật mình, quay bản đồ lại. Thì ra họ biết tiếng Việt. Thế rồi sau này xảy ra chuyện ngày 19-1-1974.


http://daidoanket.vn/Pictures/bao tuan/_2011/159/2011_159_12_4.jpg


Một nhân viên của Trạm Khí tượng Thủy văn Hoàng Sa

trước năm 1974

Trong khi thực hiện loạt bài này, chúng tôi nhận được rất nhiều ý kiến động viên, khích lệ của độc giả, trong đó có những ý kiến rất tâm huyết, trăn trở về việc thực hiện sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc. Có độc giả đề nghị nên bắt đầu bằng việc vinh danh xứng đáng những người con đất Việt đã quên thân mình để bảo vệ chủ quyền của Tổ quốc. Mới đây, ông Nguyễn Thiện, tác giả chương trình "Dân ta biết sử ta”, đã gửi tới báo Đại Đoàn Kết bức thư tâm huyết đề nghị "cần vinh danh những người con đất Việt đã hy sinh trong trận hải chiến bảo vệ chủ quyền Hoàng Sa của Việt Nam năm 1974”. Vinh danh những người con đất Việt đã ngã xuống để bảo vệ chủ quyền Hoàng Sa cũng là một cách để khắc ghi ký ức Hoàng Sa vào tâm thức dân tộc mãi mãi không phai mờ. Nhìn nhận sự hy sinh của ông Ngụy Văn Thà – Hạm trưởng tàu Nhật Tảo (HQ10) cùng gần 60 đồng đội khác của ông trong trận quyết tử để bảo vệ Hoàng Sa ngày 19-1-1974, ông Nguyễn Thiện bày tỏ: "Vinh danh những người con đất Việt hy sinh trong cuộc hải chiến Hoàng Sa 1974 là minh chứng sâu sắc rằng Tổ quốc là của mọi con dân nước Việt, là thể hiện sâu sắc sự công bằng với lịch sử, có tác dụng khuyến khích mạnh mẽ lòng yêu nước và tinh thần sẵn sàng bảo vệ, xây dựng Tổ quốc, là bước đột phá quan trọng trong sự nghiệp đoàn kết dân tộc.”.

Ký ức Hoàng Sa có lẽ sẽ chẳng bao giờ phai nhạt với những con người gắn cả cuộc đời mình với vùng biển thân thuộc tiếp nối từ nhiều đời trong gia tộc như "sói biển” Mai Phụng Lưu, ngư dân đảo Lý Sơn, người 4 lần bị Trung Quốc bắt khi đang đánh cá trên vùng biển Hoàng Sa của Việt Nam. Sau một thời gian khánh kiệt không còn khả năng để sắm thuyền và ngư cụ ra khơi, nay ông vừa được một quỹ hỗ trợ ngư dân cho vay ưu đãi để giúp "sói biển” trở về ngư trường quen thuộc của cha ông như xưa. Ông Lưu chia sẻ: "Không biết sao chứ cứ ra tới biển là trong đầu tui cứ nhớ đường tới Hoàng Sa. Có lần tui chạy về hướng Trường Sa được 180 hải lý rồi tự nhiên tay lái cứ bẻ lên Hoàng Sa”. Ông Võ Hiển Đạt, người trông coi Âm Linh Tự thờ cúng hương hồn các dân binh Hoàng Sa nói: "Đối với bà con Lý Sơn, Hoàng Sa y như cái đảo Bé ở đây. Chỉ bước chân ra là tới. Đó là nhà của dân Lý Sơn từ bao đời nay”. Có lẽ trong tâm thức của mọi người Việt Nam, quần đảo Hoàng Sa cũng giống như sân nhà mình, chỉ bước chân ra là tới.

Nhóm PV Biển Đông
Nguồn http://daidoanket.vn

Sat That
24-07-2011, 06:58 PM
ĐƯỜNG LƯỠI BÒ PHI LÝ

KỲ 14

Chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam giai đoạn 1975 - 1991 (06/07/2011)



Kể từ tháng 4-1975, Hải quân Quân đội Nhân dân Việt Nam đã tiếp quản toàn bộ quần đảo Trường Sa và các đảo khác trên Biển Đông. Sau đó, nước Việt Nam thống nhất với tên gọi Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (CHXHCNVN), với tư cách kế thừa quyền sở hữu các đảo và quần đảo từ các chính quyền trước theo luật pháp quốc tế và sự liên tục của lịch sử, có trách nhiệm tiếp tục khẳng định và duy trì việc bảo vệ chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.





http://daidoanket.vn/Pictures/bao tuan/_2011/160/2011_160_12_TruongSa3.jpg


Nụ cười lính đảo ở Trường Sa năm 1988


Cùng với các bản Hiến pháp các năm 1980, 1992, Luật Biên giới quốc gia năm 2003, Tuyên bố của Chính phủ CHXHCN Việt Nam ngày 12-11-1977 về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam, Tuyên bố của Chính phủ CHXHCN Việt Nam ngày 12-11-1982 về đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam trước sau như một đều khẳng định hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là một bộ phận của lãnh thổ Việt Nam, có các vùng biển riêng sẽ được quy định cụ thể trong các văn bản tiếp theo. Trong các năm 1979, 1981 và 1988, Bộ Ngoại giao nước CNXHCN Việt Nam công bố các Sách Trắng về chủ quyền của Việt Nam trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Các tài liệu này đã chứng minh hết sức rõ ràng chủ quyền của Việt Nam trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa về tất cả các khía cạnh lịch sử, pháp lý và thực tiễn.

Xuất phát từ nhu cầu quản lý hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, ngày 09-12-1982 Hội đồng Bộ trưởng nước CHXHCN Việt Nam ra Nghị định tổ chức quần đảo Hoàng Sa thành huyện đảo Hoàng Sa trực thuộc tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng và tổ chức quần đảo Trường Sa thành huyện đảo Trường Sa trực thuộc tỉnh Đồng Nai. Ngày 28-12-1982, trong kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa VII nước CHXHCN Việt Nam đã ra Nghị quyết tách huyện đảo Trường Sa ra khỏi tỉnh Đồng Nai để sáp nhập vào tỉnh Phú Khánh (nay là tỉnh Khánh Hòa). Nghị quyết ngày 06-11-1996 kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa IX nước CHXHCN Việt Nam tách huyện đảo Hoàng Sa ra khỏi tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng cũ, để sáp nhập vào thành phố Đà Nẵng trực thuộc trung ương. Các chính quyền tại hai huyện đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ đó đến nay vẫn liên tục thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ của mình.

Trong suốt thời gian thực thi chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ khi thống nhất đất nước đến nay, bên cạnh việc ban hành các văn bản hành chính để quản lý nhà nước về lãnh thổ trên hai quần đảo này, Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam đã có nhiều hành động cụ thể, kịp thời nhằm khẳng định chủ quyền và kiến quyết đấu tranh với các thông tin xuyên tạc, xâm phạm chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Ngày 30-12-1978, người phát ngôn Bộ Ngoại giao nước CHXHCN Việt Nam đã ra Tuyên bố bác bỏ luận điệu nêu trong Tuyên bố trước đó của người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc về vấn đề quần đảo Trường Sa, tiếp tục khẳng định chủ quyền lâu đời của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, nhắc lại lập trường của Việt Nam chủ trương giải quyết mọi tranh chấp hoặc bất đồng bằng giải pháp thương lượng hòa bình. Ngày 17-2-1979, Trung Quốc đem quân tấn công Việt Nam trên toàn tuyến biên giới phía bắc, càng khiến cho quan hệ giữa hai nước thêm căng thẳng và tình hình trên Biển Đông càng gia tăng sự phức tạp. Mặc dù ngay sau đó, quân Trung Quốc đã gặp phải sự kháng cự quyết liệt của quân và dân Việt Nam buộc họ phải lui quân và chịu nhiều tổn thất, thế nhưng hậu quả lâu dài do cuộc chiến tranh và sự cắt đứt quan hệ ngoại giao giữa hai nước khiến cho các cuộc trao đổi thương lượng hòa bình về vấn đề biên giới và hải đảo bị gián đoạn trong một thời gian khá dài.


http://daidoanket.vn/Pictures/bao tuan/_2011/160/2011_160_12_TruongSa1.jpg


Vận chuyển vật liệu xây dựng trên
quần đảo Trường Sa trước năm 1988

Trong thời gian đó, Trung Quốc liên tục đưa ra các tuyên bố và tài liệu xuyên tạc về chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (mà Trung Quốc gọi là Tây Sa và Nam Sa). Ngày 30-7-1979, Trung Quốc cho công bố tài liệu mà phía Trung Quốc cho là để chứng minh Việt Nam đã "thừa nhận” chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Ngay sau đó, Bộ Ngoại giao nước CHXHCN Việt Nam đã ra Tuyên bố ngày 7-8-1979 bác bỏ sự xuyên tạc trắng trợn của Trung Quốc đối với văn bản ngày 14-9-1958 của Thủ tướng nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tinh thần và ý nghĩa của văn bản này chỉ trong khuôn khổ công nhận giới hạn lãnh hải 12 hải lý của Trung Quốc chứ không hề nói tới hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trên thực tế đang thuộc quyền quản lý tạm thời của chính quyền Việt Nam Cộng hòa phía Nam vĩ tuyến 17 theo Hiệp dịnh Genève năm 1954. Chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam một cách bất hợp pháp bằng vũ lực, Trung Quốc đã xâm phạm vào sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam và trái với tinh thần của Hiến chương Liên Hợp Quốc kêu gọi giải quyết tất cả các tranh chấp bằng thương lượng hoà bình. Sau khi phát động một cuộc chiến xâm lược Việt Nam trên quy mô lớn, phía Trung Quốc lại nêu ra vấn đề quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, tạo ra tình trạng càng ngày càng căng thẳng dọc theo biên giới phía bắc Việt Nam và từ chối việc thảo luận những giải pháp cấp thiết để bảo đảm hoà bình và ổn định trong khu vực biên giới giữa hai nước.

Ngày 28-9-1979, Bộ Ngoại giao nước CHXHCN Việt Nam công bố Sách Trắng đưa ra thêm nhiều tài liệu tiếp tục khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Ngày 30-1-1980, Bộ Ngoại giao Trung Quốc công bố văn kiện đòi hỏi chủ quyền ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (Tây Sa và Nam Sa) Ngày 5 tháng 2 năm 1980, Bộ Ngoại giao Việt Nam ra tuyên bố vạch trần thủ đoạn xuyên tạc của Trung Quốc trong văn kiện ngày 30 tháng 1 năm 1980 của họ về chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Tháng 6 năm 1980, tại Hội nghị Khí tượng Khu vực Châu Á II họp tại Genève, đại biểu Việt Nam tuyên bố trạm khí tượng của Trung Quốc tại Sanhudao (đảo Hoàng Sa của Việt Nam) là bất hợp pháp. Kết quả là trạm Hoàng Sa của Việt Nam được giữ nguyên trạng trong danh sách các trạm thuộc hệ thống quốc tế như cũ. Ngày 13 tháng 6 năm 1980, Việt Nam yêu cầu OMM (Tổ chức Khí tượng Thế giới) đăng ký trạm khí tượng Trường Sa vào mạng lưới OMM. Tháng 12 năm 1981, Tổng cục Bưu điện Việt Nam điện cho Chủ tịch Ủy ban đăng ký tần số tại Genève phản đối việc Trung Quốc được phát một số tần số trên vùng trời Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Tháng 12 năm 1981, Bộ Ngoại giao Việt Nam công bố Sách Trắng: "Quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, lãnh thổ Việt Nam”. Tháng 6 năm 1982, Tân Hoa Xã loan tin một hải cảng lớn được xây dựng tại đảo Hoàng Sa. Tháng 10, tại Hội nghị Toàn quyền của UIT (Hiệp hội Quốc tế Vô tuyến Viễn thông), Việt Nam tuyên bố không chấp nhận việc thay đổi phát sóng đã được phân chia năm 1978 tại Genève. Ngày 12 tháng 11 năm 1982 Việt Nam công bố đường cơ sở để tính chiều rộng lãnh hải? Tháng 1-1983 Hội nghị Hành chính Thế giới về thông tin vô tuyến đồng ý sẽ xem xét đề nghị của Việt Nam về việc phát sóng trên vùng trời Hoàng Sa và Trường Sa tại hội nghị sắp tới. Cũng tháng 01 năm 1983 tại Hội nghị Hàng không Khu vực Châu Á-Thái Bình Dương họp ở Singapore. Trung Quốc muốn mở rộng vùng thông báo bay (FIR) Quảng Châu lấn vào FIR Hà Nội và TP Hồ Chí Minh, nhưng Hội nghị quyết định duy trì nguyên trạng. Tại Hội nghị Tổ chức Thông tin Vũ trụ Quốc Tế (INTU SAT) lần thứ 13 họp tại Bangkok, đại biểu Việt Nam đã phản đối việc Trung Quốc sử dụng những bản đồ ghi Hoàng Sa, Trường Sa (mà Trung Quốc gọi là Tây Sa, Nam Sa) là của Trung Quốc. Việt Nam phản đối việc ngày 1 tháng 6 năm 1984 Quốc hội Trung Quốc tuyên bố việc thiết lập khu hành chính Hải Nam bao gồm cả hai quần đảo Tây Sa, Nam Sa. Đầu năm 1985, Đại tướng Văn Tiến Dũng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam ra thăm quần đảo Trường Sa. Tháng 5 năm 1987, Đô đốc Giáp Văn Cương, Tư lệnh Hải quân Quân đội Nhân dân Việt Nam ra thăm quần đảo Trường Sa.


http://daidoanket.vn/Pictures/bao tuan/_2011/160/2011_160_12_TruongSa2.jpg


Một trong những căn cứ của Hải quân Việt Nam trên

quần đảo Trường Sa trước năm 1988

Từ 16 tháng 5 đến tháng 10 năm 1987, Hải quân Trung Quốc liên tục diễn tập quân sự tại vùng nam Biển Đông và tây Thái Bình Dương. Ngày 10 tháng 11 năm 1987, Hải quân Trung Quốc đổ bộ lên bãi đá Louisa. Tháng 1 năm 1988, một lực lượng lớn tàu chiến, có nhiều tàu khu trục và tàu tên lửa của Trung Quốc, đi từ đảo Hải Nam xuống quần đảo Trường Sa, khiêu khích và cản trở hoạt động của các tàu vận tải Việt Nam trong khu vực bãi đá Chữ Thập và bãi đá Châu Viên. Quân lính Trung Quốc cắm cờ trên hai bãi đá trên, đồng thời cho tàu chiến thường xuyên ngăn cản, khiêu khích các tàu vận tải Việt Nam đang tiến hành những hoạt động tiếp tế bình thường giữa các đảo do Hải quân Việt Nam bảo vệ. Ngày 14 tháng 3 năm 1988, Trung Quốc sử dụng một biên đội tàu chiến đấu gồm sáu chiếc, trong đó có ba tàu hộ vệ số 502, 509 và 531 trang bị tên lửa và pháo cỡ 100mm, vô cớ tấn công bắn chìm ba tàu vận tải Việt Nam đang làm nhiệm vụ tiếp tế ở các bãi đá Len Đao, Cô Lin, Gạc Ma thuộc cụm đảo Sinh Tồn, quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Cuộc tấn công vào các tàu vận tải của Việt Nam từ các tàu chiến trang bị vũ khí hạng nặng của Trung Quốc đã làm cho 64 cán bộ, chiến sỹ Hải quân Việt Nam cùng 3 tàu vận tải đã vĩnh viễn nằm lại trong lòng biển của Tổ quốc. Các chiến sỹ Hải quân Quân đội Nhân dân Việt Nam đã anh dũng xiết chặt hàng ngũ, giữ vững lá cờ Tổ quốc biểu tượng chủ quyền của Việt Nam trên đảo cho đến giây phút cuối cùng. Từ đó đến ngày 6-4-1988, Trung Quốc đã chiếm đóng trái phép bằng vũ lực các đảo: Đá Chữ Thập, Đá Châu Viên, Đá Ga Ven, Đá Tư Nghĩa, Đá Gạc Ma, Đá Subi thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam.

Trong năm 1988, Chính phủ CHXHCN Việt Nam đã thông báo cho Liên Hợp Quốc, gửi nhiều công hàm phản đối Trung Quốc và đặc biệt là các công hàm ngày 16, 17, 23 tháng 3 năm 1988 đề nghị hai bên thương lượng giải quyết vấn đề tranh chấp. Trung Quốc tiếp tục chiếm giữ trái phép các bãi đá đã chiếm được và khước từ thương lượng. Ngày 14 tháng 4 năm 1988, Bộ Ngoại giao nước CHXHCN Việt Nam phản đối việc Quốc hội Trung Quốc sáp nhập hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vào tỉnh Hải Nam (ngày 13 tháng 4 năm 1988). Tháng 4-1988, Bộ Ngoại giao nước CHXHCN Việt Nam công bố Sách Trắng khẳng định chủ quyền trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam theo luật pháp quốc tế. Ngày 14-8-1989, Chính phủ Việt Nam quyết định thành lập Cụm Kinh tế Khoa học Dịch vụ trên vùng bãi ngầm Tư Chính, Huyền Trân, Quế Đường, Phúc Tần, Phúc Nguyên thuộc thềm lục địa Việt Nam. Ngày 2-10-1989, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam tuyên bố bác bỏ luận điệu trong bản tuyên bố của Trung Quốc ngày 28-4-1989. Ngày 18-3-1990, nhiều tàu Trung Quốc đến đánh cá ở Trường Sa. Ngày 16-4-1990, Bộ Ngoại giao Việt Nam gửi bản ghi nhớ cho Đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội, phản đối việc Trung Quốc cho nhiều tàu quân sự, tàu khảo sát, tàu đánh cá đến hoạt động trong vùng biển Việt Nam tại quần đảo Trường Sa. Ngày 28-4-1990, Bộ Ngoại giao Việt Nam gửi công hàm cho Đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội, phản đối việc Trung Quốc đã cho quân lính xâm chiếm bãi Én Đất trên quần đảo Trường Sa của Việt Nam.


http://daidoanket.vn/Pictures/bao tuan/_2011/160/2011_160_12_TruongSa4.jpg


Tổ quốc nhìn từ Trường Sa

Ngày 10-11-1991, các nhà lãnh đạo Việt Nam và Trung Quốc ký Thông báo chung về bình thường hoá quan hệ giữa hai nước. Thông báo chung của hai nước khẳng định việc bình thường hoá quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc phù hợp với lợi ích cơ bản và lâu dài của nhân dân hai nước và cùng có lợi cho hoà bình, ổn định và sự phát triển của khu vực. Hai bên tuyên bố Việt Nam và Trung Quốc sẽ phát triển quan hệ hữu nghị và láng giềng thân thiện, trên cơ sở 5 nguyên tắc: tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không xâm phạm lẫn nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng cùng có lợi và cùng tồn tại hoà bình. Hai bên đồng ý thông qua thương lượng giải quyết hoà bình vấn đề lãnh thổ, biên giới vv... tồn tại giữa hai nước.

Nhóm PV Biển Đông
Nguồn http://daidoanket.vn

Sat That
24-07-2011, 07:02 PM
ĐƯỜNG LƯỠI BÒ PHI LÝ

KỲ 15

Chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam giai đoạn sau 1991 (07/07/2011)




Sau khi bình thường hoá quan hệ giữa hai nước tháng 11-1991, trong khi Việt Nam luôn kiên trì các giải pháp thương lượng hòa bình thì phía Trung Quốc vẫn đơn phương tiếp tục ra tuyên bố và trên thực tế có nhiều hành vi xâm phạm chủ quyền Việt Nam trên Biển Đông. Những tuyên bố và hành động của Trung Quốc trong giai đoạn này không chỉ xâm phạm chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà còn góp phần gia tăng căng thẳng trong khu vực, ảnh hưởng tiêu cực đến an ninh hàng hải trên Biển Đông khiến nhiều quốc gia có lợi ích trong khu vực quan ngại.




http://daidoanket.vn/Pictures/bao%20tuan/_2011/161/2011_161_12_5.jpg


Các vùng biển quốc gia của Việt Nam

theo Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982



Việt Nam tiếp tục khẳng định chủ quyền tại Hoàng Sa và Trường Sa

Ngày 25-2-1992, Trung Quốc công bố "Luật Lãnh hải và vùng tiếp giáp”, quy định lãnh hải Trung Quốc rộng 12 hải lý áp dụng cho cả 4 quần đảo ở Biển Đông trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam (Trung Quốc gọi là Tây Sa và Nam Sa). Sau đó, Trung Quốc ký hợp đồng khai thác dầu khí với Công ty năng lượng Crestone của Mỹ, cho phép Công ty này thăm dò khai thác dầu khí một lô trong khu vực mà Trung Quốc gọi là Vạn An Bắc 21 cách đảo Hải Nam hơn 600 dặm về phía nam, nằm trên thềm lục địa phía tây nam quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam. Bộ Ngoại giao Việt Nam đã gửi công hàm phản đối Trung Quốc về sự việc trên đồng thời khẳng định khu vực này nằm trong trong thềm lục địa Việt Nam (bãi Tư Chính) và yêu cầu phải ngừng ngay lập tức các hoạt động thăm dò khai thác dầu khí của Trung Quốc tại đây. Ngày 22-7-1992, ASEAN thông qua Tuyên bố về Biển Đông kêu gọi các bên liên quan giải quyết tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình, kiềm chế không làm căng thẳng tình hình, khuyến nghị các bên liên quan áp dụng các nguyên tắc của Hiệp ước thân thiện và hợp tác tại Đông Nam Á (TAC) để làm cơ sở xây dựng Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC). Cũng trong tháng 7-1992, Việt Nam tham gia TAC.

Để củng cố các cơ sở pháp lý quốc tế về lãnh hải, quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam và yêu cầu các nước khác tộn trọng các quyền nói trên của Việt Nam, ngày 23-6-1994, Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (CHXHCN Việt Nam) đã phê chuẩn Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982. Bằng sự phê chuẩn này của Quốc hội, Việt Nam đã chính thức hoá cơ sở pháp lý quốc tế về phạm vi các vùng biển và thềm lục địa, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền vùng biển và thềm lục địa, bảo vệ lợi ích quốc gia trên các vùng biển, đảo trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Theo Công ước 1982, phạm vi vùng biển của nước ta được mở rộng ra một cách đáng kể lên đến gần một triệu ki lô mét vuông với 5 vùng biển có phạm vi và chế độ pháp lý khác nhau.

Ngày 28-7-1995, Việt Nam chính thức gia nhập ASEAN, mở ra một kỷ nguyên mới trong đó tất cả các nước trong khu vực đoàn kết với nhau dưới một mái nhà chung, hợp tác để mỗi nước phát triển và cả khu vực cùng phát triển. Tuy nhiên, diễn biến sau đó ở Biển Đông tiếp tục xấu đi. Năm 1996 xảy ra cuộc đụng độ giữa tàu chiến Trung Quốc và tàu chiến Philippines ở gần khu vực quần đảo Trường Sa. Hải quân Philippines đã bắt giữ tàu cá và tàu nghiên cứu hải dương Trung Quốc, bắn súng cảnh cáo và hạ cột mốc lãnh thổ do Trung Quốc dựng lên. Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN lần thứ 29 (Jakarta, 20, 21-7-1996) ra Tuyên bố chung bày tỏ quan ngại trước những diễn biến trên Biển Đông và nhấn mạnh những diễn biến đó đòi hỏi có một Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông để duy trì ổn định trong khu vực và thúc đẩy sự hiểu biết giữa các quốc gia. Tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 6 (Hà Nội, 15, 16-12-1998), lãnh đạo các thành viên ASEAN nhất trí xây dựng Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông.


http://daidoanket.vn/Pictures/bao%20tuan/_2011/161/2011_161_12_1.jpg


Canh giữ sự bình yên cho vùng biển quần đảo Trường Sa Việt Nam

Trong khi đó, kể từ tháng 6-1999, Trung Quốc đơn phương ra lệnh cấm đánh bắt cá hàng năm trong phạm vi từ vĩ tuyến 12 độ Bắc trở lên trong thời gian 3 tháng. Bộ Ngoại giao Việt Nam đã giao thiệp với Đại sứ quán Trung Quốc, đề nghị Trung Quốc không có các hoạt động cản trở công việc làm ăn bình thường của ngư dân Việt Nam trên vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam. Thế nhưng, các lực lượng ngư chính, hải giám của Trung Quốc bắt đầu gia tăng việc bắt bớ, tịch thu phương tiện, tàu thuyền và đối xử vô nhân đạo với hàng loạt ngư dân Việt Nam hành nghề trong khu vực hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam trong vùng biển này. Phía Việt Nam đã nhiều lần phản đối và yêu cầu Trung Quốc chấm dứt việc bắt bớ, đối xử vô nhân đạo với ngư dân Việt Nam hành nghề trong khu vực vùng biển thuộc chủ quyền Việt Nam.

Ngày 4-11-2002, ASEAN và Trung Quốc đi tới thỏa thuận sau nhiều năm đàm phán và chính thức cùng nhau ký Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) trong khuôn khổ cuộc họp cấp cao ASEAN tại Campuchia. Các bên khẳng định cam kết đối với mục tiêu và các nguyên tắc của Hiến chương Liên Hợp Quốc, Công ước Luật Biển năm 1982 của Liên Hợp Quốc, Hiệp ước thân thiện và hợp tác ở Đông Nam Á, năm nguyên tắc tồn tại hòa bình và các nguyên tắc phổ cập khác của pháp luật quốc tế; cam kết giải quyết mọi tranh chấp lãnh thổ và tranh chấp về quyền tài phán bằng các biện pháp hòa bình, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, thông qua trao đổi ý kiến và thương lượng hữu nghị giữa các quốc gia có chủ quyền liên quan phù hợp với các nguyên tắc phổ cập của pháp luật quốc tế, trong đó có Công ước Luật Biển năm 1982. Các bên khẳng định tôn trọng tự do hàng hải và tự do bay ở Biển Đông như đã được quy định bởi các nguyên tắc phổ cập của pháp luật quốc tế, trong đó có Công ước Luật Biển năm 1982; các bên cam kết kiềm chế không tiến hành các hoạt động có thể làm phức tạp thêm hoặc gia tăng tranh chấp và ảnh hưởng đến hòa bình và ổn định.


http://daidoanket.vn/Pictures/bao%20tuan/_2011/161/2011_161_12_2.jpg


Nhà giàn DK1 những cột mốc chủ quyền trên Biển Đông

thuộc thềm lục địa phía Nam của Việt Nam

Ngày 6-5-2009, Việt Nam và Malaysia nộp bản báo cáo chung đăng ký thềm lục địa mở rộng khu vực phía nam Biển Đông lên Ủy ban Ranh giới Thềm lục địa Liên Hợp Quốc (CLCS). Ngày 7-5-2009, Việt Nam nộp báo cáo đăng ký thềm lục địa mở rộng khu vực phía bắc lên CLCS. Trung Quốc gửi công hàm lên Tổng Thư ký LHQ phản đối trong đó có đính kèm "đường lưỡi bò” bao chiếm 80% diện tích Biển Đông gồm cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Việt Nam đã phản đối công hàm có "đường lưỡi bò” phi lý này của Trung Quốc và tuyên bố khẳng định chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Ngày 26-6-2009, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam cho biết, ngày 21-6-2009, Trung Quốc đã bắt 3 tàu cá của ngư dân tỉnh Quảng Ngãi, Việt Nam khi đang hành nghề đánh cá bình thường trong khu vực vùng biển thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Hành động này của Trung Quốc đã vi phạm chủ quyền và quyền chủ quyền của Việt Nam ở Biển Đông. Ngay sau khi nhận được thông tin, ngày 22-6-2009, Bộ Ngoại giao Việt Nam đã gửi công hàm cho Đại sứ quán Trung Quốc yêu cầu phía Trung Quốc thả ngay các ngư dân và các tàu cá nói trên. Tuy nhiên, các hành động bắt bớ tàu cá Việt Nam đang hành nghề trên vùng biển chủ quyền của Việt Nam vẫn tiếp diễn, Trung Quốc ngày càng thực hiện với cường độ gia tăng hơn trong thời gian tiếp sau đó.


http://daidoanket.vn/Pictures/bao%20tuan/_2011/161/2011_161_12_3.jpg


Hải đăng đảo An Bang thuộc quần đảo Trường Sa Việt Nam

Trung Quốc gia tăng gây hấn xâm phạm thềm lục địa của Việt Nam

Cao điểm của sự gia tăng gây hấn trong vùng biển Việt Nam của phía Trung Quốc là sự kiện xảy ra vào ngày 26-5-2011, ba tàu hải giám của Trung Quốc đã cắt đứt cáp thăm dò dầu khí của tàu Bình Minh 02 trong vùng biển chủ quyền của Việt Nam, cách bờ biển Việt Nam chỉ 116 hải lý. Ngày 27-5-2011, Bộ Ngoại giao Việt Nam đã trao công hàm cho Trung Quốc yêu cầu chấm dứt ngay, không để tái diễn những hành động vi phạm chủ quyền của Việt Nam đồng thời bồi thường thiệt hại cho Việt Nam. Tối 28-5-2011, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Khương Du ngang nhiên cho rằng vùng biển chủ quyền Việt Nam mà tàu Bình Minh 02 đang thả cáp thăm dò dầu khí là vùng biển thuộc "chủ quyền Trung Quốc”. Ngày 31-5-2011, tàu Viking 2 đang thăm dò dầu khí trong vùng biển chủ quyền của Việt Nam lại bị tàu Trung Quốc phá rối. Chiều cùng ngày, một ngư dân Việt Nam bị Trung Quốc bắt giữ và tịch thu tài sản trên vùng biển Việt Nam ở quần đảo Hoàng Sa. Ngày 2-6-2011, Tổng thống Philippines Benigno Aquino III tuyên bố sẽ đệ trình thư lên Liên Hợp Quốc phản đối việc hàng loạt tàu Trung Quốc xâm nhập vùng biển nước này. Chiều 3-6-2011, khi gặp gỡ Đại tướng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam Phùng Quang Thanh bên lề Đối thoại Shangri-La, Thượng tướng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Trung Quốc Lương Quang Liệt cam kết "duy trì hòa bình và ổn định ở Biển Đông, thực thi đầy đủ Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC)”. Ngày 4-6-2011, Bộ Ngoại giao Philippines ra Thông báo khẳng định: "Hành vi của tàu Trung Quốc xâm phạm hòa bình và ổn định khu vực, vi phạm nghiêm trọng DOC”. Ngày 9-6-2011, tàu cá Trung Quốc có sự hỗ trợ của tàu ngư chính đã phá cáp của tàu Viking 2. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam nhận định các hành động có tính hệ thống này của phía Trung Quốc là nhằm biến khu vực không có tranh chấp thành khu vực có tranh chấp, hiện thực hóa yêu sách 9 đoạn "đường lưỡi bò”, điều này đối với Việt Nam là không thể chấp nhận được. Ngay chiều 9-6-2011, đại diện Bộ Ngoại giao Việt Nam đã gặp đại diện Đại sứ quán Trung Quốc để phản đối hành động này của phía Trung Quốc và nêu rõ lập trường của phía Việt Nam. Đáng nói là dồn dập các sự việc gây hấn, phá rối của Trung Quốc diễn ra chỉ trong một thời gian ngắn. Bình luận về việc cắt cáp tàu Bình Minh 2 và Viking 2 người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc lại ngang ngược nói rằng đó là việc làm "bình thường và hợp lý ở khu vực biển thuộc thẩm quyền và quyền tài phán của Trung Quốc”. Thậm chí, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc còn yêu cầu Việt Nam "tránh tạo ra những sự cố mới”.


http://daidoanket.vn/Pictures/bao%20tuan/_2011/161/2011_161_12_4.jpg


Tàu Bình Minh 2 của Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam

bị tàu Trung Quốc cắt cáp trong

vùng biển chủ quyền Việt Nam ngày 26-5-2011

Đến thăm quân dân huyện đảo Cô Tô (Quảng Ninh) ngày 7-6-2011, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết khẳng định: "Chúng ta mong muốn các vùng biển và hải đảo của Tổ quốc luôn hòa bình, hữu nghị, ổn định nhưng chúng ta cũng quyết tâm làm hết sức mình để bảo vệ vùng biển đảo của đất nước. Biết bao thế hệ đã hy sinh xương máu để có được Tổ quốc như ngày nay. Vì vậy, chúng ta cũng sẵn sàng hiến dâng tất cả để bảo vệ quê hương, bảo vệ chủ quyền biển đảo”. Tiếp đó, trong bài phát biểu quan trọng tối 8-6-2011 tại Nha Trang (Khánh Hoà), Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng tuyên bố: "Tiếp tục khẳng định chủ quyền không thể tranh cãi của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”. Đồng thời, ông khẳng định: "Nhân dân Việt Nam có đủ ý chí quyết tâm và sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc để giữ gìn, bảo vệ các vùng biển và hải đảo của mình”.


Nhóm PV Biển Đông
Nguồn http://daidoanket.vn

Sat That
24-07-2011, 07:05 PM
ĐƯỜNG LƯỠI BÒ PHI LÝ

KỲ 16

Trận chiến bảo vệ chủ quyền Trường Sa năm1988 (08/07/2011)



Trận chiến bảo vệ chủ quyền quần đảo Trường Sa của các chiến sỹ Hải quân Quân đội Nhân dân Việt Nam năm 1988 là một sự kiện quan trọng trong chuỗi mắt xích các sự kiện liên tục khẳng định chủ quyền lâu đời của người Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Mặc dù hiện tại, quần đảo Hoàng Sa và một phần quần đảo Trường Sa đang bị nước ngoài chiếm đóng trái phép, song các cuộc chiến đấu anh dũng của người Việt Nam bảo vệ các đảo và các quần đảo này trước sự tấn công xâm chiếm của quân đội nước ngoài đã khẳng định rõ ràng chủ quyền của Việt Nam trên các quần đảo đó là một sự thật hiển nhiên trong lịch sử và luật pháp quốc tế.





http://daidoanket.vn/Pictures/bao tuan/_2011/162/2011_162_12_anh3.jpg



Bức tranh miêu tả cuộc chiến đấu bảo vệ đảo Gạc Ma

của chiến sỹ Hải quân Việt Nam ngày 14-3-1988

(đang được treo trang trọng

tại Phòng Truyền thống của Vùng 4 Hải quân)

Từ cuối năm 1986, một số tàu dưới dạng đánh cá, không số của nước ngoài đã gia tăng hoạt động ở phía nam Biển Đông, thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Đặc biệt, những ngày cuối tháng 12-1986, nhiều máy bay và tàu chiến của nước ngoài đã thực hiện các hoạt động trinh sát từ đảo Song Tử Tây đến khu vực đảo Thuyền Chài thuộc quần đảo Trường Sa, vi phạm chủ quyền của Việt Nam. Trong năm 1987, các hoạt động trinh sát, xâm nhập, khai thác trái phép tài nguyên của nước ngoài càng gia tăng và càng vào sâu hơn trong vùng biển thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam khiến cho tình hình trong khu vực hết sức căng thẳng. Tình hình này không nằm ngoài dự đoán của các nhà lãnh đạo đất nước cũng như của Bộ Tư lệnh Hải quân Việt Nam. Từ lâu Việt Nam đã có chủ trương tổ chức, triển khai lực lượng, nhanh chóng đóng giữ các đảo, các bãi đá ngầm trên quần đảo Trường Sa để khẳng định và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam. Đề phòng khả năng từ những xung đột quân sự nhỏ có thể bùng nổ thành những cuộc xung đột lớn trên biển, Tư lệnh Hải Quân Việt Nam Đô đốc Giáp Văn Cương đã ra lệnh: "Hết sức bình tĩnh, kiềm chế, tự vệ là chính, không nổ súng trước, nhưng kiên quyết, táo bạo, với phương châm "có người, có đảo, còn người, còn đảo”. Chấp hành tuyệt đối mệnh lệnh của vị Tư lệnh, các cán bộ, chiến sỹ trên đảo đã không sợ hy sinh, quyết chiến đẩy lùi các hành động xâm chiếm của quân đội nước ngoài.


http://daidoanket.vn/Pictures/bao tuan/_2011/162/2011_162_12_anh1.jpg


Tàu vận tải HQ-505 của Hải quân Việt Nam

trong trận chiến bảo vệ Trường Sa năm 1988



Trong những tháng đầu năm 1988, Hải quân Trung Quốc cho quân chiếm đóng trái phép một số bãi đá thuộc khu vực quần đảo Trường Sa của Việt Nam như Chữ Thập, Châu Viên, Ga Ven, Huy Gơ và Xu Bi. Hải quân Việt Nam xây dựng thế trận phòng thủ ở các đảo Tiên Nữ, Đá Lát, Đá Lớn, Đá Đông, Tốc Tan và Núi Le bước đầu ngăn chặn hành động mở rộng phạm vi chiếm đóng trái phép của binh lính Trung Quốc ra các đảo lân cận. Căn cứ tình hình thực tế trên khu vực quần đảo Trường Sa, Bộ Tư lệnh Hải quân Việt Nam xác định các đảo Gạc Ma, Cô Lin và Len Đao giữ vị trí rất quan trọng, nếu để nước ngoài chiếm đóng sẽ gây khó khăn cho việc tiếp tế, bảo vệ chủ quyền quần đảo Trường Sa của ta. Do vậy, Việt Nam cần phải quyết tâm bám trụ, bảo vệ các đảo này. Đây là một nhiệm vụ nặng nề bởi Hải quân Việt Nam trong tình thế cùng một lúc phải triển khai bảo vệ nhiều đảo trong khi phương tiện, trang bị, lực lượng hạn chế.

Đầu tháng 3-1988, Trung Quốc đưa hai hạm đội xuống khu vực quần đảo Trường Sa, tăng số tàu chiến hoạt động ở đây thường xuyên có từ 9 tàu đến 12 tàu gồm: 1 tàu khu trục tên lửa, 7 tàu hộ vệ tên lửa, 2 tàu hộ vệ pháo, 2 tàu đổ bộ và một số tàu hỗ trợ khác như 3 tàu vận tải LSM, tàu đo đạc, tàu kéo và 1 pông-tông lớn. Tình hình trong khu vực trở nên hết sức căng thẳng với sự có mặt của các hạm đội tàu chiến trang bị pháo lớn và tên lửa của Trung Quốc.


http://daidoanket.vn/Pictures/bao tuan/_2011/162/2011_162_12_anh2.jpg


Lễ tưởng niệm các liệt sĩ đã hy sinh trong trận hải chiến

bảo vệ chủ quyền Trường Sa của Việt Nam năm 1988

trên khu vực đảo Cô Lin, Gạc Ma và Len Đao

Thực hiện nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Trường Sa, ngày 12-3-1988 tàu vận tải HQ-605 thuộc Lữ đoàn 125 Hải quân Việt Nam từ đảo Đá Đông được lệnh đến giữ đảo Len Đao. Lúc 5 giờ sáng ngày 14-3-1988, tàu HQ-605 đổ bộ lên đảo cắm cờ Tổ quốc. Ngày 13-3-1988, các tàu vận tải HQ-604 và HQ-505 được lệnh từ đảo Đá Lớn tiến về đảo Gạc Ma, Cô Lin để bảo vệ hai đảo này. Phối hợp với các tàu HQ-604 và HQ-505 có 2 phân đội công binh (70 người) và 4 tổ chiến đấu (22 người) cùng một số chiến sỹ đo đạc vẽ bản đồ. Khoảng 17 giờ cùng ngày, sau khi 2 tàu của Việt Nam đến đảo Gạc Ma và Cô Lin, các tàu chiến của Trung Quốc xâm nhập trái phép đã áp sát và bao vây tàu HQ-604 của Việt Nam tại đảo Gạc Ma và dùng loa khiêu khích. Tình hình hết sức căng thẳng, song các chiến sỹ Hải quân Việt Nam đã hết sức kiềm chế, kiên trì neo giữ đảo và khẳng định chủ quyền của Việt Nam. Các chiến sỹ Hải quân Việt Nam đã nhanh chóng triển khai lực lượng đổ bộ lên đảo, cắm cờ Tổ quốc và bố trí đội hình bảo vệ đảo. Lúc này, Trung Quốc điều thêm 2 tàu hộ vệ trang bị pháo 100 ly đến đảo Gạc Ma và tiếp tục khiêu khích, đe dọa buộc các tàu của Việt Nam phải rời khỏi đảo.



http://daidoanket.vn/Pictures/bao tuan/_2011/162/2011_162_12_anh5.jpg



Di ảnh Liệt sĩ

Trần Văn Phương



Khoảng 6 giờ sáng ngày 14-3-1988, Trung Quốc cho quân đổ bộ lên đảo Gạc Ma và tiến về phía có là cờ Việt Nam đang tung bay. Dựa vào thế đông quân áp đảo, lính Trung Quốc xông vào định giật cờ của ta, lập tức thiếu úy Trần Văn Phương, hạ sỹ Nguyễn Văn Lanh cùng đồng đội anh dũng kháng cự, lập thành đội hình "vòng tròn bất tử” quyết tâm giữ vững lá cờ Tổ quốc trên đảo. Quân Trung Quốc đã dùng lê đâm và bắn hạ sỹ Nguyễn Văn Lanh bị thương nặng, thiếu úy Phương lao vào cứu đồng đội đã bị đối phương bắn và anh dũng hy sinh. Trước lúc hy sinh, thiếu úy Trần Văn Phương đã hô to: "Hãy để cho máu của mình tô thắm lá cờ vinh quang của Tổ quốc”. Không buộc được bộ đội ta rút khỏi đảo, lúc 7 giờ 30 phút cùng ngày, hai tàu Trung Quốc đã nã pháo 100 ly vào tàu HQ-604 của Việt Nam, làm tàu này hư hỏng nặng, các chiến sỹ trên tàu HQ-604 đã kháng cự quyết liệt buộc binh lính Trung Quốc tràn sang chiếm tàu phải tháo lui, nhảy xuống biển trở về tàu của họ.


http://daidoanket.vn/Pictures/bao tuan/_2011/162/2011_162_12_anh4.jpg


Tàu vận tải HQ-604 bị tàu chiến Trung Quốc

nã pháo, bắn cháy, đang chìm xuống biển ngày 14-3-1988

Tại đảo Cô Lin, lúc 6 giờ sáng ngày 14-3-1988, tàu HQ-505 của Việt Nam đã cắm 2 lá cờ Tổ quốc trên đảo. Khi HQ-604 bị trúng đạn và đang chìm dần xuống biển, thuyền trưởng HQ-505 cho tàu nhổ neo, phóng hết tốc độ ủi lên bãi. Phát hiện tàu ta đang chuẩn bị ủi bãi, hai tàu Trung Quốc quay sang tấn công, ngăn cản. Bất chấp hiểm nguy, HQ-505 lao hết tốc độ ủi được hai phần ba thân tàu lên bãi đảo Cô Lin thì bị trúng đạn bốc cháy. Lúc 8 giờ 15 phút, các chiến sỹ tàu HQ-505 vừa triển khai lực lượng cứu tàu, bảo vệ đảo, vừa đưa xuồng tới cứu cán bộ, chiến sỹ tàu HQ-604 đang bị chìm. Tại đảo Len Đao, lúc 8 giờ 20 phút sáng ngày 14-3-1988, tàu Trung Quốc đã nã pháo dữ đội vào HQ-605 của Việt Nam, làm tàu này bốc cháy và bị chìm lúc 6 giờ ngày 15-3-1988. Cán bộ, chiến sỹ của tàu dìu nhau bơi về hướng đảo Sinh Tồn.

Mặc dù lực lượng chênh lệch, phương tiện vũ khí hạn chế, các chiến sỹ Hải quân Việt Nam đã chiến đấu kiên cường, anh dũng hy sinh, tuân thủ phương châm hết sức kiềm chế, chiến đấu tự vệ để bảo vệ chủ quyền của Việt Nam tại các đảo Cô Lin, Len Đao và khẳng định chủ quyền của Việt Nam tại đảo Gạc Ma bị Trung Quốc chiếm đoạt bằng vũ lực trong trận chiến không cân sức này. Trong trận chiến ngày 14-3-1988 bảo vệ chủ quyền quần đảo Trường Sa, Việt Nam bị thiệt hại 3 tàu vận tải, 3 chiến sỹ hy sinh, 70 chiến sỹ mất tích. Sau này, Trung Quốc trao trả cho ta 9 chiến sỹ bị bắt làm tù binh, còn lại 61 người mất tích cho đến nay. Như vậy, có tất cả 64 người con của đất Việt đã vĩnh viễn nằm lại trong lòng biển của Tổ quốc sau trận chiến đấu bảo vệ chủ quyền của Việt Nam tại đây trong ngày 14-3-1988.


http://daidoanket.vn/Pictures/bao tuan/_2011/162/2011_162_12_nh.jpg


Đô đốc Giáp Văn Cương, Tư lệnh quân chủng Hải quân,

kiểm tra sẵn sàng chiến đấu ở quần đảo Trường Sa năm 1988



Cuộc tấn công bằng tàu chiến của Trung Quốc ngày 14-3-1988 trên quần đảo Trường Sa của Việt Nam thực chất là một hành động xâm lược lãnh thổ của Việt Nam. Bởi vì, từ lâu người Việt Nam đã xác lập và khẳng định chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa một cách hòa bình, liên tục phù hợp với luật pháp quốc tế cũng như sự thật hiển nhiên của lịch sử. Theo luật pháp quốc tế, việc Trung Quốc dùng vũ lực để cưỡng chiếm quần đảo Hoàng Sa và một số đảo của quần đảo Trường Sa không giúp họ tạo ra chứng cứ hợp pháp để khẳng định chủ quyền của mình. Nhân loại văn minh đã thể hiện ý chí của mình trong Nghị quyết 2625 ngày 24-10-1970 tại Đại Hội đồng Liêp Hợp Quốc rằng: "Lãnh thổ của một quốc gia không thể là đối tượng của một cuộc chiếm đóng quân sự do sử dụng vũ lực trái với quy định của Hiến chương LHQ. Lãnh thổ của một quốc gia không thể là đối tượng của một sự chiếm hữu của một quốc gia khác sau khi dùng vũ lực hay đe dọa sử dụng vũ lực. Bất kỳ sự thụ đắc lãnh thổ nào đạt được bằng đe dọa hay sử dụng vũ lực sẽ không được thừa nhận là hợp pháp”.

Ngày 7-5-1988, tại Lễ kỷ niệm 33 năm ngày thành lập Binh chủng Hải quân Quân đội Nhân dân Việt Nam, Đại tướng Lê Đức Anh, khi đó là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, ra thăm cán bộ, chiến sỹ trên quần đảo Trường Sa và biểu dương Hải quân Việt Nam đã tích cực, kiên trì thực hiện xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ quần đảo Trường Sa của Việt Nam trong một hoàn cảnh có nhiều khó khăn, phức tạp. Đại tướng nhấn mạnh: "Chúng ta xin thề trước hương hồn của Tổ tiên ta, trước hương hồn của cán bộ, chiến sỹ đã hy sinh vì Tổ quốc, xin hứa với đồng bào cả nước, xin nhắn nhủ tới các thế hệ mai sau: Quyết tâm bảo vệ bằng được Tổ quốc thân yêu của chúng ta, bảo vệ bằng được quần đảo Trường Sa - một phần lãnh thổ và lãnh hải thiêng liêng của Tổ quốc thân yêu của chúng ta”.


Nhóm PV Biển Đông
Nguồn http://daidoanket.vn

Sat That
24-07-2011, 07:12 PM
ĐƯỜNG LƯỠI BÒ PHI LÝ

KỲ 17

Cô Lin, Trường Sa - “Mắt thần” của biển (09/07/2011)



Trong quần đảo Trường Sa, so với các đảo khác, với vị trí chiến lược của mình, đảo Cô Lin được coi như "mắt thần” của biển. Nằm ở vị trí quan trọng, nhiều năm trước, ra Cô Lin người ta thấy thiếu thốn cam go đủ bề. Nhưng với sự quan tâm và đầu tư cũng như vượt lên khó khăn của người lính, để khẳng định chủ quyền biển, vị thế dân tộc Việt Nam trên biển, nay Cô Lin hiện ra bề thế, vững chãi trước biển. Là nơi bà con đi biển gửi gắm niềm tin, tìm đến neo đậu tránh trú bão, lấy thêm nước ngọt và lương thực cho mình.





http://daidoanket.vn/Pictures/bao tuan/_2011/163/2011_163_4_anhnhophiaduoi.jpg


Ảnh: HOÀNG LONG


Hoài niệm Cô Lin

Trên chuyến tàu ra đảo, thăm các chiến sỹ và tận mắt chứng kiến cuộc sống ngày một đổi thay của các đảo nằm trong quần đảo Trường Sa, Nhà báo Nguyễn Trọng Thiết, đang công tác ở Báo Hải Quân, người luôn được mệnh danh là "sói biển” của giới báo chí đã dành cho tôi nhiều ưu ái. Vì là "người của biển”, lại thêm cái nghề làm báo, tính đến nay anh là nhà báo duy nhất đã ra công tác nhiều nhất trên hầu hết các đảo thuộc quần đảo Trường Sa. Đi nhiều, ghi nhận nhiều, anh như "cuốn biên niên về đảo và các đảo” trong quần đảo Trường Sa. Từ thời gian khó nhất cho đến những ngày vinh quang nhất, đầy đủ nhất như ngày nay qua lời kể của anh.

Hiểu biết của tôi về các đảo hình thành và tỏ tường dần qua những tối hai anh em ngồi cạn đêm trên boong tàu. Ấy là những tấm gương, sự hy sinh cao cả của những người lính, thế hệ đàn anh đã không tiếc máu xương ra với các đảo từ ngày các đảo này còn bộn bề khó khăn và thiếu thốn. Với lính hải quân, những ngày ấy, ra với đảo ai cũng biết khó khăn, có thể một đi không trở về vì bão gió, vì những sự bất ổn trên biển. Nhưng lạ thế, không một ai từ chối cả. Cứ có lệnh, ai nấy vui vẻ lên đường. Vì họ biết, sự ra đi của họ là góp sức cho sự vững chắc của chủ quyền trên biển. Và đồng nghĩa như vậy là sự bình yên của đất liền, tôn vinh thêm sức mạnh và tinh thần Việt.

Trong các câu chuyện anh kể về đảo, ấn tượng nhất với tôi là cuộc "hải chiến năm 1988” đã xảy ra tại đây. Biết Cô Lin có vị trí quan trọng, dù vẫn biết đảo này là của dân Việt, đất Việt nhưng "người ta” vẫn cố tình định đoạt nó. Vì ngày ấy cơ sở vật chất của đảo Cô Lin chưa được đầu tư, đảo chưa kiên cố và nổi hẳn lên mặt nước như bây giờ. Vào lúc triều cường, anh em trên đảo vẫn phải lội biển ngang bụng mà giữ đảo. Lợi dụng lúc ta khó khăn lại cậy sự "lớn mạnh” của mình, "người ta” đã ngang nhiên đưa tầu ra khiêu chiến. Với văn hóa Việt, những người lính chúng ta ngày ấy đã bình tĩnh giải thích và tôn trọng họ, ngay cả những lúc họ ngang ngược nhất.

Thế rồi không dừng ở đấy, những "tàu lạ” kia đã lấn tới. Đảo và chủ quyền đảo của đất Việt lâm nguy. Nhận được chỉ đạo từ trên, không nề hà, những người lính của chúng ta đã có hành vi cao cả là "cho tàu ủi bãi”. Chính nhờ sự mưu trí và dũng cảm này, bên cạnh đau thương và mất mát, chúng ta đã làm chủ và giữ được đảo. Giữ bình yên và nguyên vẹn "con mắt thần” này cho đến ngày hôm nay.

Cũng theo anh Thiết, ngày những người lính hải quân của ta cho "tàu ủi bãi” - một cách bảo vệ đảo hết sức táo bạo và không ngờ tới này cũng như các năm tiếp theo - Cô Lin còn khó khắn lắm. Đảo chưa được xây cất hiện đại, mọi thứ đều không chủ động được. Rau thiếu, lương thực thiếu đến nước ngọt cũng thiếu. Vậy nên ca khúc "mưa, chúng tôi cần mưa” luôn là nỗi khát khao của các chiến sỹ và các đoàn công tác ra Cô Lin thời gian ấy.




http://daidoanket.vn/Pictures/bao tuan/_2011/163/2011_163_4_anhnhophiaduoi1.jpg


Ở một nơi vô cùng khắc nghiệt, nhưng bằng sự chăm chỉ của mình,

những người lính đảo Cô Lin đã trồng được

những vườn rau mướt mát như thế này

Xanh thắm "mắt thần”

Những ngày gian khó, những đau thương thầm lặng ngày nào ở Cô Lin đã nhanh chóng lùi vào quá khứ. Ngày nay nhiều người chỉ còn hình dung và biết được qua những lời kể. Cách đảo Sinh Tồn 9 hải lý, đảo Len Đao 7 hải lý và cách đảo Gạc Ma 4 hải lý, đảo Cô Lin là một đảo nằm trên một quần thể san hô khá rộng. Lướt trên những rặng san hô, chúng tôi nhẹ nhàng tiếp cận đảo, nước biển trong vắt, nhìn thấy cả những đàn cá tung tăng bơi lội.

Đảo trưởng, Thượng úy Hoàng Thanh Sơn cùng anh em trên đảo chỉnh tề quân phục đứng đón những đoàn khách từ đất liền ra thăm. Trên khuôn mặt dạn dầy gió biển và mặn mòi vị muối của các anh, chúng tôi "đã đọc” được những niềm vui và sự an tâm của các anh về một cuộc sống ngày một hiện đại hóa ở đây. Sóng điện thoại, điện thắp sáng bằng các nguồn năng lượng sạch cùng sóng ti vi đã ngày một đưa các anh "về gần” với đất liền hơn.

Từ một đảo chìm, bằng sự gia cố và đầu tư, hiện nay Cô Lin đã "ngoi lên” mặt nước và trở thành một trong những đảo kiên cố. Đảo có thể chịu sóng gió tới bất kỳ cấp độ nào và sẵn sàng có thể ứng chiến về quân sự ở mức độ quyết liệt nhất. Cũng như các đảo khác, nước và rau xanh luôn là chủ đề muôn thuở và là thách đố của biển cả với con người mỗi khi họ có ý định ra đây sinh sống với nó. Nhưng nay, bằng việc đầu tư hệ thống bể chứa và trữ nước mưa và nước do các tầu vận tải chở ra nên Cô Lin đã hoàn toàn chủ động về nguồn nước. Nếu biển cả "trở mình”, không có nguồn cung ứng nước cơ học và có thể không có mưa trong thời gian dài thì hệ thống bể chứa ở đây vẫn có thể đáp ứng nước sinh hoạt cho anh em.
Cái quan trọng, bằng sự tự thân vận động, sự cần cù chịu khó nên ngoài thời gian phải làm nghĩa vụ trong ngày của một người lính, anh em trên đảo Cô Lin đã dành quỹ thời gian của mình để cải tạo, đem lại mầu xanh cho đảo. Ngoài cây cảnh, thì mướt mát và thích thú nhất ở đây vẫn là mầu xanh của những vườn rau do những người lính tự trồng và chăm sóc nấy. Tôi quả quyết, nếu nhìn thấy những loại rau mà các chiến sỹ đã trồng bằng các loại đất được các tầu dày công chở ra từ đất liền trên các khay nhựa đặc chủng, bất kỳ một phụ nữ nào cũng phải thấy "chạnh lòng” trước sự khéo léo của lính đảo Cô Lin. Và ai trong họ cũng ước ao mình có những đôi bàn tay khéo léo như vậy.


http://daidoanket.vn/Pictures/bao tuan/_2011/163/2011_163_4_anhnhophiaduoi2.jpg


Ngoài rau, thì lính đảo cũng nuôi được

những chú "ỉn” béo mập thế này

để cải thiện thêm khẩu phần ăn cho mình

Từ một đảo luôn luôn ngóng trông và phụ thuộc vào các loại thực phẩm được chở ra từ đất liền thì nay các chiến sỹ trên đảo Cô Lin đã chủ động được rất nhiều thứ. Nhìn bảng khẩu phần ăn trong ngày, trong tuần, trong tháng chúng tôi rất yên tâm về sức khỏe của lính nơi đây. Đại diện anh em, Đảo trưởng Hoàng Thanh Sơn vui vẻ cho biết: "Bằng sự tự tăng gia sản xuất của mình, tổng năm 2010 và hết quý 1 năm 2011, anh em ở đảo đã "làm thêm” được 865kg rau xanh, đánh bắt được 402kg cá các loại, chăn nuôi được 60kg thịt các loại... Tổng số tiền làm ra này đã đem lại nguồn thu trên 21 triệu đồng để chi ăn thường xuyên và mua sắm vật chất cho anh em”. Có ra Cô Lin, trước khó khăn về thời tiết, bốn phía là biển chúng ta mới thấy nguồn thu này nó quý hiếm đến mức nào. Và con số này đã khẳng định thêm sự chắt chiu, cần cù, bám biển, bám sóng đến quên mình của anh em lính trên đảo.

Từ một đảo vốn dĩ phụ thuộc vào đất liền, nay với sự nắm tay chiu chắt, chiến đấu, lao động không mệt mỏi mà Cô Lin đã trở thành điểm tìm đến neo đậu của nhiều ngư dân Việt Nam. Ngoài việc tạo thu, tạo chi, nay Cô Lin đã có điều kiện quay lại giúp đỡ ngư dân, đền đáp cho đất liền phần nào. Tổng kết trong thời gian qua, Đảo đã cung ứng cho ngư dân đến 2.000m3 nước ngọt. Bên cạnh nước ngọt, Đảo cũng là nơi tìm đến của của hơn 200 lượt tầu thuyền và là chỗ neo đậu cho nhiều bà con ngư dân ra đây khai thác thủy hải sản bằng các loại tầu thuyền như: tầu câu, tầu xiên lặn và tầu đánh lưới.

Ngoài vị trí "mắt thần”, ngoài nơi tìm đến neo đậu tránh trú bão của bà con, đảo Cô Lin còn đang được mệnh danh là Trạm y tế tiền phương trên biển. Với sự chủ động, ngoài việc khám chữa bệnh cho cán bộ, chiến sỹ, Đảo còn tạo điều kiện chữa trị bệnh cho 13 lượt bà con ngư dân, nhập đón và đưa bà con rời đảo đúng quy định, an toàn.

Cô Lin một thời ngày xưa để nhớ và Cô Lin xứng tầm là con "mắt thần” trước biển như ngày nay. Ấy là những ghi nhận, những nỗi nhớ mà chúng tôi có được trong hành trình đến và chia tay cùng các chiến sỹ ở Đảo này!


Nhóm PV Biển Đông
Nguồn http://daidoanket.vn

Sat That
24-07-2011, 07:15 PM
ĐƯỜNG LƯỠI BÒ PHI LÝ

KỲ 18

Sinh Tồn” trên đại dương gió bão (11/07/2011)



Trong chuyến công tác dài ngày trên biển, khi biết trong "hải lộ” của mình sẽ được đặt chân lên đảo Sinh Tồn, tôi không thể không háo hức, bùi ngùi, xúc động. Những câu thơ mà nhà thơ thần đồng Trần Đăng Khoa cách đây 29 năm lại trỗi lên trong tôi. Tôi nhớ nhất đến câu thơ "...Dù chẳng mưa chúng tôi vẫn sinh tồn trên mặt biển. Đảo vẫn sinh tồn trên đại dương gió bão...”. Những câu thơ này được viết nói về cảnh chờ mưa, khát khao những "giọt lệ trời” của cánh lính cũng như tâm trạng nhà thơ – người lính Trần Đăng Khoa lúc bấy giờ. Sau 29 năm, Sinh Tồn giờ không chỉ có lính "sinh tồn trên đại dương gió bão” mà còn có dân sinh tồn trên gió bão đại dương.




http://daidoanket.vn/Pictures/bao%20tuan/_2011/164/2011_164_12_SinhTon1.jpg


Nhờ sự đầu tư nên cơ sở vật chất để phục vụ người dân

đã được xây dựng khang trang trên đảo Sinh Tồn

Công dân trẻ trên đảo

Trong số các hộ dân đang sinh sống trên đảo Sinh Tồn ngày nay, ấn tượng với tôi nhất vẫn là gia đình trẻ Bùi Đình Khải. Thấm thoắt, thế là đã gần 5 năm trời anh và gia đình đã có mặt và trở thành công dân của đảo. Từ thuở ban đầu đầy bỡ ngỡ, nay anh đã trở thành công dân có "lon số” của Đảo, với một cuộc sống đầy thích nghi và đầy yêu mến, đến mức khi được hỏi, bao giờ định trở về đất liền thì anh trầm ngâm: "Chắc khó lắm. Em xác định là gắn kết đến cuối đời với Sinh Tồn thôi. Vì Sinh Tồn không chỉ là quê hương thứ 2 của em mà còn là nơi hai đứa bé nhà em đã trưởng thành, lớn lên ở đây. Gia đình em và các con em đã mang ơn hòn đảo này, vậy mình phải có gì để đền đáp lại nó. Mà sự đền đáp này không có gì hơn là việc ở lại”.

Khải sinh năm 1983, quê ở phường Hương Xuân, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. Năm 2006, khi bước vào tuổi 23, Khải lấy vợ. Tuy là người thành phố, làm công tác Đoàn nhưng cuộc sống của vợ chồng Khải cũng không lấy gì làm dư dả. Trước khi ra Sinh Tồn, lương trong đất liền của Khải khoảng 500 nghìn, vợ không việc, tiền thuê nhà mỗi tháng "đốn mất” 200 nghìn. Vậy nên cuộc sống hai vợ chồng quay quắt vô cùng.

Năm 2008, trong phong trào ra đảo lập thân và lập nghiệp, suy tính cùng gia đình, Khải đã có quyết định táo bạo là đưa cả gia đình "vượt sóng, ra khơi”. Là 1 trong 21 hộ dân đầu tiên ra Trường Sa đợt ấy, gia đình Khải được phân công ra Sinh Tồn. Khải vẫn nhớ như in ngày đặt chân lên Sinh Tồn, ấy là ngày 9 – 4 – 2008. Khải bảo, thú thật, ở đất liền, tuy khốn khó nhưng nó đã quen. Vậy nên những ngày đặt chân lên hòn đảo "giữa trùng khơi sóng vỗ” này Khải và gia đình cũng không khỏi bỡ ngỡ và khó có thể thích nghi được. Thế nhưng may mắn là Khải và gia đình cũng như các hộ dân khác đã có một chỗ dựa tinh thần để mà lạc quan bám đảo, đi lên và sinh sống ấy chính là nhờ sự động viên của anh em cán bộ, chiến sỹ ngoài này.

24/24 giờ trong ngày, rỗi việc quân, ngơi tay súng lúc nào là họ lại tìm đến động viên, giúp đỡ gia đình anh. Do tình cảm quân dân nên đất lạ, đảo xa đã dần hóa quê hương. Ngày tháng nhanh qua, lính và dân đã như anh em một nhà, nên những ý định quay vào bờ đã dần trở lên vô nghĩa với lý do tình người đã đọng lại. Khải cũng như các gia đình khác đã thích nghi, xác định Sinh Tồn là quê hương thứ 2 của mình. Mãi mãi gắn bó, mãi mãi vương vấn, lưu luyến và không thể dời xa được nữa.


http://daidoanket.vn/Pictures/bao%20tuan/_2011/164/2011_164_12_SinhTon2.jpg


Cuộc sống của các em nhỏ trên đảo Sinh Tồn


Nhờ sự giúp đỡ của đất liền, của cán bộ chiến sỹ ngoài đảo, giờ đây gia đình Khải cũng như bao hộ gia đình khác đã có một mái nhà, một chỗ ở ổn định cho gia đình mình. Riêng gia đình Khải đã được nhận 1 căn nhà với diện tích 90m2 gồm 2 phòng nghỉ và 1 phòng khách. Ngoài phòng ở, gia đình anh cũng có một bếp đun riêng, các công trình vệ sinh đều tự hoại theo tiêu chuẩn.

Giờ Khải cùng vợ con đã mang "mác” người Sinh Tồn 100% rồi. Khải bảo, mỗi khi về đất liền, anh cũng như người thân đều rất tự hào về "thương hiệu” này. Riêng người cha già trong đất liền của anh còn tự hào hơn nữa. Mỗi khi khách đến nhà hay mỗi khi đi thăm bạn bè, câu đầu tiên mà ông cụ thường mang ra "khoe” ấy là: Con tôi và gia đình nó đang ở Sinh Tồn đấy.

Từ một cuộc sống đầy bỡ ngỡ dạo nào, nay Khải đã là công dân đảo xa của biển. Cũng tay lưới, tay câu thạo như ai để ‘cưỡi sóng” mà khai thác hải sản để kiếm thêm thu nhập trong gia đình. Ngoài "chức năng” ngư dân, Khải và gia đình còn được coi là người mát tay của đảo. Hơn chục loại rau xanh được đưa ra, dưới bàn tay chuyên cần của anh cùng vợ con đều vượt qua tất cả mọi nghiệt ngã của biển mà vươn ngọn lên trời. Một cuộc sống dân sinh đang được anh và các gia đình chung tay "chụm lửa” trên hòn đảo được coi là nghiệt ngã và xa xôi có tên Sinh Tồn.



Đảo xa đã ấm tình người

Cũng giống như nhiều đảo khác nằm trong quần đảo Trường Sa của nước Việt, cái khó khăn đầu tiên và muôn thuở ở đây vẫn là nước ngọt. Nhưng với chiến lược kinh tế biển đã được xác định, với sự đầu tư và chăm chút của đất liền thì những năm gần đây vấn đề về nước ngọt đã được khắc phục cơ bản. Tuy không có nguồn nước ngọt tự nhiên như ở đảo Trường Sa lớn, nhưng với việc xây dựng các bể ngầm chứa nước nên chuyện nước ngọt cho sinh hoạt hàng ngày ở đây đã được khắc phục.

Trung tá Đảo trưởng Đinh Trọng Thắm lạc quan cho biết: Tuy chưa gọi là dư dả, nhưng với tổng số bể ngầm hiện có của Sinh Tồn, nước ngọt ở đây đã đảm bảo đến mức tối thiểu cho dân và cho lính sinh hoạt. Ngoài việc có nước ngọt để dùng, người dân ở đây còn có thêm nước ngọt để tưới cho cây trồng. Có nước ngọt và chủ động được nước ngọt, đảo sẽ đa dạng thêm về các loại thực vật, làm phong phú thêm chủng loại cây trồng ngoài các cây truyền thống như phong ba, bàng vuông.

Ngoài các hộ gia đình ra đảo lần đầu tiên, với một cuộc sống được khẳng định và được đưa tin từ đảo về, rồi qua những lần người đất liền ra thăm người ở đảo, một cuộc sống thực tế hiện hữu đã được đưa về. Hàng năm đảo tiếp tục đón nhận những công dân từ đất liền tiếp theo tự nguyên ra đảo. Sinh Tồn ngày một ấm áp thêm bởi những cư dân và những mái nhà, xanh thêm những vườn rau và cây trái.


http://daidoanket.vn/Pictures/bao%20tuan/_2011/164/2011_164_12_SinhTon3.jpg


Trần Quang Thành, sinh năm 1970, người ở thành phố Nha Trang cũng là một trong những công dân như vậy. Ra biển, ra Sinh Tồn bằng tiếng gọi tha thiết của biển. Thành bảo, trước ở đất liền mình cũng đi biển. Nhưng do ngư trường trong đó chật chội, lại thêm sự cạn kiệt của thủy hải sản gần bờ nên thu nhập cũng hẻo lắm. Ra ngoài này, môi trường phong phú, cá tôm đánh bắt được nhiều, công việc cũng thuận lợi hơn. Trước đây mỗi lần ra được đến đây để đánh bắt cá thì thời gian phải là cả tháng. Nhưng nay ra đây ở, "nhà” tự dưng gần biển hơn, sáng đi, chiều có thể về với vợ con. Vừa gần gũi, lại đỡ phải chi phí cho những lần đi biển dài ngày như trước kia.

"Theo chân” Thành, gia đình anh cũng vượt sóng ra đây. Cuộc sống nhanh chóng được thích nghi. Con gái anh, cháu Trần Thị Thu Hiền ngoài giờ cắp sách đến trường cũng có thêm thời gian để giúp đỡ cha mẹ làm kinh tế ở nơi cách đất liền đến hàng trăm hải lý này. Hiện tại, ngoài việc bám biển để khai thác thủy hải sản thì nhà anh còn tăng gia sản xuất. Ngoài trồng rau còn là cả việc nuôi gia súc, gia cầm. Nhìn đàn vịt, ngan nhà anh lúc lỉu đi lại trong vườn, một cảm giác đất liền hóa đảo đã hiện hữu và hoàn toàn thuyết phục được tôi cũng như mọi người.

"Chúng tôi ngồi trên đảo Sinh Tồn. Bóng đen sẫm như gốc cây khô cháy. Mắt đăm đăm nhìn về nơi ấy. Nơi cơn mưa thăm thẳm xa khơi. Ánh chớp xanh lấp loáng phía chân trời... Chúng tôi không cạo đầu để tóc lên như cỏ” - những câu thơ hoài niệm khắc khoải, gợi cảnh khao khát và cô đơn của những người lính đợi mưa trên đảo Sinh Tồn 29 năm trước lại chập chờn hiện về trong tôi. Nhưng nó lại nhanh chóng được thay thế bằng những gì tôi đã thấy ngày nay ở Sinh Tồn, như những vần thơ mong đợi đầy đoán định về tương lai: "Đá san hô sẽ nảy cỏ xanh lên. Đảo xa khơi sẽ hoá đất liền” của nhà thơ Trần Đăng Khoa.


NHÓM PV BIỂN ĐÔNG
Nguồn http://daidoanket.vn

Sat That
24-07-2011, 07:46 PM
ĐƯỜNG LƯỠI BÒ PHI LÝ

KỲ 19

Cờ Tổ quốc vẫn tung bay trên ngư trường Hoàng Sa (12/07/2011)




Trong những năm gần đây ngư dân Việt Nam mà nhất là ngư dân tỉnh Quảng Ngãi luôn bị tàu nước ngoài bắt bớ, đánh đập, đâm tàu khiến tính mạng ngư dân nhiều phen lâm nguy. Những chuyến ra khơi gắn với những vụ "tai nạn” như vậy thật sự là nỗi kinh hoàng đối với dư luận, đe dọa nghiêm trọng tính mạng, tài sản và công việc mưu sinh bao đời của ngư dân Việt. Thật đáng trân trọng, bất chấp những hiểm nguy, được sự hỗ trợ của cả nước, ngư dân Việt Nam với lòng quả cảm, vượt lên đầu sóng ngọn gió, bám biển ra khơi, khẳng định chủ quyền của đất nước và cờ Tổ quốc vẫn luôn tung bay trên ngư trường Hoàng Sa.






http://daidoanket.vn/Pictures/bao%20tuan/_2011/165/2011_165_12_NGUDAN2.jpg


"Sóng gió” trên Biển Đông
Cho đến nay, ông Đặng Nam - thuyền trưởng tàu BKS QNg 2203 TS ở xã Nghĩa An, huyện Tư Nghĩa, Quảng Ngãi - không thể nào quên được vụ tàu ông bị đâm chìm khiến 9 thuyền viên suýt mất mạng. Ông Nam kể: "Vào khoảng 1 giờ 30 ngày 15-7-2009, trong lúc đang hành nghề lưới chuồn tại tọa độ 13,45' độ vĩ bắc - 110,32' độ kinh đông, cách bờ biển Phú Yên - Bình Định khoảng 200 km về phía đông, tàu của tôi bất ngờ bị một chiếc tàu không rõ nguồn gốc tông chìm. Rất may một tàu khác của ngư dân Việt Nam gần đó đã kịp thời ứng cứu, nhưng cả 9 ngư dân đều bị thương, trong đó, anh Phạm Văn Ca (30 tuổi) và Đặng Lan (32 tuổi) bị thương rất nặng. Toàn bộ tài sản, gồm tàu và ngư lưới cụ, với tổng trị giá khoảng 500 triệu đồng đã mất sạch.
Điều đáng lên án là trong lúc chạy tránh bão cũng đã có rất nhiều tàu, thuyền bị bắt, ngư dân bị đánh đập, bị tịch thu tài sản. Như trong cơn bão số 9, có đến 16 chiếc tàu đánh cá của hơn 200 ngư dân huyện đảo Lý Sơn và huyện Bình Sơn- Quảng Ngãi đánh bắt hải sản ngoài khơi không còn cách nào khác phải chạy vào trú tại đảo Hoàng Sa vào chiều tối ngày 28-9-2009. Từ đây những ngư dân từ già cho đến trẻ bị những kẻ "cướp biển” đánh đập và cướp sạch tài sản, khi thoát chết trở về những gì họ kể lại thật kinh hoàng. Em Lê Hợp mới 15 tuổi cũng bị bọn chúng bắt nằm sấp xuống sàn tàu và đánh đập dã man, bảo chỉ ra chỗ nào cất dấu tài sản của bà con trên tàu. Họ hành hạ những ngư dân vô tội, cướp đi tài sản, kể cả lương thực sống còn của họ. 16 tàu của bà con không chiếc nào thoát được thảm nạn trên.


http://daidoanket.vn/Pictures/bao%20tuan/_2011/165/2011_165_12_NGUDAN3.jpg



Những ngư dân vẫn quyết tâm bám biển

Mới đây, ngày 6-5-2011, tại đảo Bạch Quy thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam, tàu QNg 50615TS do ngư dân Trần Văn Thoa (31 tuổi) làm thuyền trưởng cùng 14 ngư dân thuộc xã Bình Châu huyện Bình Sơn đã bị một tàu kiểm ngư của Trung Quốc rượt đuổi và tịch thu 1 máy dò cá, 1 máy định vị tầm xa, 1 máy quét, lấy toàn bộ hải sản. Tổng số tài sản bị lấy hơn 200 triệu đồng. Tiếp đến trưa ngày 11-5-2011, tàu của thuyền trưởng Phạm Hà, 37 tuổi cũng bị tàu kiểm ngư của Trung Quốc vơ vét sạch tài sản như dây hơi, máy định vị, đồ nghề sửa máy, dây điện và toàn bộ 200 kg tôm hùm, 3 tấn cá... Anh Võ Đào (35 tuổi) ở thôn Châu Thuận Biển, xã Bình Châu là thuyền trưởng tàu cá QNg 90 019 TS cũng cho biết: "Ngày 9-5-2011, sau 10 ngày vất vả giữa biển khơi, 8 anh em đánh bắt được khoảng 4-5 tấn hải sản các loại thì bị tàu kiểm ngư Trung Quốc mang biển hiệu 309 áp sát trấn lột toàn bộ...”
Đáng nói, trong số trên có những ngư dân kỳ cựu, hàng chục năm trời bám biển nhưng chính vì sự bắt bớ, tịch thu tài sản, đòi tiền chuộc thậm chí đánh đập đã khiến họ tan gia bại sản như "Sói biển” Mai Phụng Lưu, ở Lý Sơn với 4 lần bị tịch thu tài sản, tàu thuyền, nợ nần chống chất hàng trăm triệu đồng. Hay như ông Tiêu Viết Là, 48 tuổi, ở xã Bình Châu huyện Bình Sơn, rất nhiều lần bị Trung Quốc bắt tàu, tịch thu tài sản, đòi tiền chuộc hàng trăm triệu đồng. Theo ông Là, có lần tàu Trung Quốc đuổi theo tàu ông và xả súng vào be tàu khiến 6 ngư dân bị thương, trong đó anh Huỳnh Văn Hưng bị bắn gãy xương tàn phế một cánh tay đến tận bây giờ. Họ còn kê biên lai phạt 6 vạn nhân dân tệ nhưng sau đó thu tàu khiến ông mất thêm trên 300 triệu...


Theo thống kê (chưa đầy đủ) của tỉnh Quảng Ngãi, từ năm 2005 – 2009, toàn tỉnh có 81 tàu cá với 929 ngư dân bị tàu nước ngoài bắt. Trong đó năm 2005 tàu thuyền bị bắt ít nhất là 7 tàu, 75 ngư dân và nhiều nhất là năm 2008 với 26 tàu và 227 ngư dân. Riêng từ đầu năm 2010 đến nay, có gần 20 tàu thuyền với trên 200 ngư dân bị tàu nước ngoài bắt giữ, tịch thu phương tiện và bắt nộp phạt hàng trăm triệu đồng mới cho về nước.



http://daidoanket.vn/Pictures/bao%20tuan/_2011/165/2011_165_12_NGUDAN4.jpg



Tàu QNg-5012 của ông Nguyễn Văn Bay

trở về trong tơi tả và bị cướp sạch tài sản, ngư cụ

Đồng hành cùng ngư dân
Trước những khó khăn và hiểm nguy mà bà con ngư dân phải đối mặt trên Biển Đông, để tháo gỡ những khó khăn này, để "đồng hành” cùng ngư dân, những năm qua, Nhà nước đã có nhiều chính sách giúp đỡ bà con. Cụ thể, Chính phủ đã có Quyết định số: 118/2007/QĐ-TTg về hỗ trợ đối với ngư dân bị tai nạn trên biển. Chính phủ cũng đã quyết định xây dựng trạm cứu nạn, cứu hộ tại huyện đảo Lý Sơn với tổng vốn đầu tư gần 70 tỷ đồng. Bộ NN&PTNT cũng đang triển khai hệ thống thông tin cho tàu cá. Một số biện pháp khác như triển khai phát triển quỹ "nhân đạo nghề cá”, "quỹ bảo hiểm”... Bộ Chỉ huy BĐBP các tỉnh miền Trung cũng đã chỉ đạo các đồn, trạm biên phòng ở các địa phương vận động ngư dân thành lập tổ, đội tổ chức vươn ra khơi đánh bắt thủy sản và thường trực theo dõi thông tin để hỗ trợ ngư dân...


http://daidoanket.vn/Pictures/bao%20tuan/_2011/165/2011_165_12_NGUDAN5.jpg



Những ngư dân trên chiếc tàuBKS QNg 2203 TS

bị nạn bàng hoàng kể lại vụ việc


Hiện nay tất cả các tàu cá đều được trang bị máy Icom tầm xa, tầm gần để liên lạc thường xuyên với nhau và liên lạc với đất liền. Chính nhờ hệ thống này mà công tác cứu nạn, cứu hộ trên biển được thuận lợi, góp phần hạn chế thấp nhất những rủi ro. Tại hai tỉnh Quảng Nam và Quảng Ngãi, chính quyền đã hỗ trợ kinh phí để đào tạo thuyền trưởng, máy trưởng; tổ chức tập huấn cách ứng phó khi gặp bão, các quy định về trang thiết bị an toàn tàu cá, kiến thức sử dụng tần số máy thông tin liên lạc phục vụ cho công tác cứu nạn, cứu hộ trên biển; kỹ năng sơ cứu ban đầu cho người bị nạn; vận động thành lập các tổ đoàn kết sản xuất trên biển tập hợp các tàu nhằm phát huy tinh thần đoàn kết, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau trong sản xuất, phòng tránh bão, cứu nạn, cứu hộ trên biển...

Chính quyền cũng đã khuyến khích người dân mạnh dạn đầu tư, tạo điều kiện cho bà con vay vốn đóng tàu có công suất lớn đánh bắt xa bờ. Đề án "Hỗ trợ đóng mới, cải hoán tàu thuyền đánh bắt xa bờ” đã được UBND tỉnh Quảng Nam phê duyệt. Theo đó, từ năm 2010-2015, tỉnh hỗ trợ cho các chủ tàu cá là ngư dân, tổ hợp tác, HTX thực hiện nâng cấp hay đóng mới tàu cá có công suất từ 90CV trở lên. Về mức hỗ trợ, đối với tàu có công suất từ 90 đến dưới 250CV được hỗ trợ mỗi tàu 80 triệu đồng/năm, từ 250CV đến dưới 400CV được hỗ trợ 100 triệu đồng, từ 400CV trở lên hỗ trợ 120 triệu đồng... Xã Bình Chánh, huyện Bình Sơn đã làm các thủ tục giúp ngư dân được nhận gần 4 tỷ đồng tiền hỗ trợ theo Quyết định 289 của Chính phủ, để giải quyết những khó khăn. Mới đây nhất, UBND tỉnh Quảng Ngãi và huyện Lý Sơn đã vận động các chủ tàu thuyền và lao động hành nghề trên biển thuộc địa bàn huyện liên kết với nhau để thành lập nghiệp đoàn nghề cá đầu tiên trên địa bàn tỉnh. Tỉnh Quảng Ngãi cũng đã quyết định thành lập Quỹ hỗ trợ ngư dân.


http://daidoanket.vn/Pictures/bao%20tuan/_2011/165/2011_165_12_NGUDAN1.jpg



Mai Phụng Lưu trở về bên vợ

sau một lần bị Trung Quốc bắt giữ

Nơi ấy là Tổ quốc của chúng ta

Phải nói rằng, cho dù gặp không ít khó khăn từ thiên tai hay từ phía Trung Quốc, nhưng ngư dân Việt Nam vẫn quyết tâm bám biển. Bởi với họ nơi đó là cuộc sống, là Tổ quốc. Sự liên tục có mặt của các ngư dân thật sự là những "cột mốc sống” khẳng định chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa và Trường Sa. Thực tế, nhiều thế hệ ngư dân ở miền Trung đã gắn bó với Hoàng Sa, Trường Sa như máu thịt của mình. Ông Mai Phụng Lưu, ở Lý Sơn, người đã hơn 30 năm gắn bó với nghề biển tâm sự: "Chúng tôi thuộc từng tên đảo, vách đá của Hoàng Sa như Bon Bay, Phú Lâm, Đá Lồi, Cây Bàng... Bởi nơi này là máu thịt của chúng tôi, là mảnh đất thiêng liêng của cha ông để lại!”. Thuyền trưởng Mai Phụng Lưu 4 lần bị phía Trung Quốc bắt tàu, đòi tiền chuộc người, khiến gia đình gặp không ít khó khăn, ngập chìm trong nợ nần, nhưng khát vọng ra khơi vẫn cháy bỏng trong ông. Mới đây ông được vay 300 triệu đồng trong đêm hội "Đồng hành cùng ngư dân bám biển” diễn ra tại TP.Quy Nhơn, tỉnh Bình Định, do Hội Doanh nghiệp hàng Việt Nam chất lượng cao tổ chức. Ông nói: "Bằng mọi cách tôi sẽ có con tàu 200 CV và 2 tháng sau cờ Tổ quốc sẽ tung bay trên con tàu của tôi ở ngư trường Hoàng Sa”. Còn anh Nguyễn Dưỡng cũng ở Lý Sơn cho biết: "Tôi vừa đóng mới một chiếc tàu, tôi sẽ đi Hoàng Sa. Hoàng Sa là của mình. Hoàng Sa do tổ tiên để lại. Mình không ra là có tội với cha ông của mình”.



http://daidoanket.vn/Pictures/bao%20tuan/_2011/165/2011_165_12_NGUDAN6.jpg



Những ngư dân Lý sơn hành nghề lặn

bắt hải sâm ở ngư trường Hoàng Sa


Thật vậy, cho dù còn đó những nỗi lo và hiểm nguy nhưng hiện tại, Quảng Ngãi hiện có 5.600 tàu đánh bắt thủy sản, trong đó gần 1.700 tàu đánh cá xa bờ với hơn 40.000 lao động trực tiếp sản xuất trên biển. Trong đó, tại ngư trường Hoàng Sa có hơn 600 tàu với gần 1.000 lao động, Trường Sa có 425 tàu với trên 700 lao động. Hay như tại Quảng Nam có trên 3.200 tàu cá tham gia đánh bắt hải sản trong đó có gần 500 tàu đánh bắt xa bờ ở 2 quần đảo nói trên. Chỉ tính riêng huyện đảo Lý Sơn, dân số hơn 21.000 người, có đến 70% dân số sống với nghề biển và họ vẫn đang quyết tâm bám biển, bất chấp những hiểm nguy, sóng gió trên Biển Đông.


http://daidoanket.vn/Pictures/bao%20tuan/_2011/165/2011_165_12_NGUDAN7.jpg



Cảng cá Lý Sơn vẫn tấp nập tàu thuyền vào ra
Cùng với Quảng Nam, Quảng Ngãi, các tỉnh miền Trung cũng đã có hàng nghìn tàu thuyền cùng với hàng chục nghìn ngư dân bám biển, bất chấp tất cả những hiểm nguy. Bởi họ ý thức được rằng, Hoàng Sa, Trường Sa là ngư trường truyền thống lâu đời của Việt Nam, cha ông đã để lại cho họ thì họ sẽ và mãi mãi giữ gìn. Nhưng nhiều ngư dân cho rằng, họ rất cần nhiều hơn nữa sự "đồng hành” từ các cơ quan chức năng trong khi đánh bắt thủy sản ngoài biển khơi như cần có được những thông tin chính xác đánh bắt cá ở những tọa độ nào thì không bị tàu nước ngoài đe dọa, rượt đuổi, không còn tiếp tục bị thiệt hại về tài sản như đã từng xảy ra. Cần sớm có một hành lang ngư trường an toàn nhằm giúp ngư dân an tâm khi hành nghề đánh bắt trên biển, giúp ngư dân có được những tàu đánh cá công suất lớn, trang bị đầy đủ các hệ thống thông tin liên lạc, định vị hiện đại. Cần tăng cường công tác tuần tra, bảo vệ của lực lượng hải quân, biên phòng trên biển, cần ngăn chặn các tàu lạ xâm phạm lãnh hải Việt Nam, phải kiên quyết bảo vệ biển của mình bằng mọi giá... Họ còn cho rằng, cần phải coi ngư dân Lý Sơn bám biển như những người lính. Họ là hậu duệ của đội hùng binh Hoàng Sa từ hơn 300 năm trước, đang tiếp bước truyền thống cha ông chứ không chỉ đơn thuần là ra khơi để kiếm kế sinh nhai. Có như vậy ngư dân mới thật sự an tâm bám biển.

NHÓM PV BIỂN ĐÔNG
Nguồn http://daidoanket.vn

Sat That
24-07-2011, 07:49 PM
ĐƯỜNG LƯỠI BÒ PHI LÝ


KỲ 20

Cơ sở pháp lý quốc tế về sự thiết lập chủ quyền lãnh thổ tại các hải đảo (13/07/2011)




Chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ là vấn đề thiêng liêng của mỗi dân tộc. Trong đó, lãnh thổ và biên giới quốc gia là hai yếu tố gắn với nhau. Pháp luật quốc tế hiện đại và tập quán quốc tế lâu đời đều thừa nhận tính bất khả xâm phạm của lãnh thổ và biên giới quốc gia. Tuy nhiên, việc xác lập chủ quyền lãnh thổ trên đất liền hay trên các vùng biển, đảo đều phải hội đủ các yếu tố theo luật pháp quốc tế của từng thời điểm lịch sử. Phương thức chiếm hữu và thụ đắc lãnh thổ vì thế cũng thay đổi theo thời gian. Sau các cuộc chiến tranh thế giới gây ra những hậu quả đau thương kinh hoàng cho nhân loại, Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc đã ra Nghị quyết 2526 năm 1970 tuyên bố: "Mọi hành động thụ đắc lãnh thổ bằng đe dọa hoặc bằng sử dụng vũ lực đều không được thừa nhận là hợp pháp”.






http://daidoanket.vn/Pictures/bao%20tuan/_2011/166/2011_166_1_anh.jpg















Bản đồ Việt Nam do Đỗ Bá - Công Đạo vẽ vào thế kỷ XVII.

Lời chú giải trên bản đồ khu vực phủ Quảng Ngãi ghi rõ

"Giữa biển có một dải cát dài, gọi là Bãi Cát Vàng”...

Ở thế kỷ XIV và XV tại các nước phương Tây người ta đã thừa nhận việc cấp đất của Giáo hoàng đủ để trao chủ quyền cho một nước đối với lãnh thổ vô chủ. Tập quán này bắt đầu từ Sắc lệnh ngày 4-5-1493 do Giáo hoàng Alexandre VI ký xác định nguyên tắc phân chia các vùng lãnh thổ mới phát hiện ngoài Châu Âu giữa Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha. Theo Sắc lệnh này, tất cả các vùng lãnh thổ bao gồm: "Tất cả các đảo và đất liền đã tìm thấy và sẽ tìm thấy, đã phát hiện và sẽ phát hiện ở phía Đông một đường tưởng tượng chạy từ địa cực này sang địa cực khác qua phía Tây đảo Cap Vert 100 hải lý là thuộc Bồ Đào Nha”. Còn các vùng lãnh thổ ở phía Tây đường đó là thuộc Tây Ban Nha. Theo Hiệp ước Tordesillas giữa Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha được ký kết ngày 7-6-1494 và được Giáo hoàng Jules II xác nhận năm 1506 thì con đường tưởng tượng được dịch về phía Tây 170 hải lý. Trong giai đoạn từ đầu thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX, các nước Hà Lan, Anh, Pháp cũng phát triển dần trở thành cường quốc, bị đụng chạm quyền lợi, không chịu chấp hành Sắc lệnh nói trên. Từ thực tế này, các nước đã tìm ra nguyên tắc mới về thiết lập chủ quyền trên những vùng lãnh thổ mà họ phát hiện. Đó là thuyết "quyền ưu tiên chiếm hữu” một vùng lãnh thổ thuộc về quốc gia nào đã phát hiện ra vùng lãnh thổ đó đầu tiên. Đó chính là thuyết "quyền phát hiện”. Theo thuyết này thì chỉ cần các nhà hàng hải của một quốc gia cắm một lá cờ lên một hòn đảo, thậm chí một thuyền trưởng của một nước nhìn thấy một vùng đất mới, quốc gia đó có quyền ưu tiên chiếm hữu.
Trên thực tế, việc phát hiện như trên chưa bao giờ tự nó đem lại cho quốc gia phát hiện chủ quyền lãnh thổ vì rất khó xác định chính xác thế nào là phát hiện, xác nhận việc phát hiện và xác định giá trị pháp lý của việc phát hiện ra một vùng lãnh thổ. Vì thế việc phát hiện đã mau chóng được bổ sung bằng việc chiếm hữu trên danh nghĩa, nghĩa là quốc gia phát hiện ra một vùng lãnh thổ phải để lại dấu vết trên vùng lãnh thổ mà họ phát hiện như một bia hay một mốc chủ quyền hay một dấu hiệu quốc gia có giá trị hợp lệ mới được coi là có chủ quyền lãnh thổ.


http://daidoanket.vn/Pictures/bao%20tuan/_2011/166/2011_166_12_anh1.jpg



Lễ thả thuyền trên biển trong ngày lễ khao lề thế lính Hoàng Sa
Thuyết quyền phát hiện đã được thay thế bằng thuyết chiếm hữu về danh nghĩa đã được các quốc gia áp dụng từ thế kỷ XVI đến cuối thế kỷ XVII. Song thuyết chiếm hữu về danh nghĩa càng ngày càng bộc lộ những nhược điểm. Đã xảy ra tình trạng có những nước vô tình hay cố ý lại "phát hiện” và đặt dấu hiệu như cắm cờ, cột mốc, bia về chủ quyền của mình lên những lãnh thổ mà các quốc gia khác đã xác nhận. Do đó mà nảy sinh ra nhiều vụ tranh chấp. Các luật gia càng ngày càng thấy việc phát hiện, kể cả việc phát hiện có để lại dấu vết chỉ đem lại cho quốc gia phát hiện vùng lãnh thổ một danh nghĩa phôi thai, chưa hoàn chỉnh. Danh nghĩa này có thể bị mất đi nếu như nó không được củng cố bằng những hành động thực tế tích cực. Chính vì vậy, thuyết chiếm hữu về danh nghĩa cũng đã bắt đầu bị phê phán từ thế kỷ XVII, theo đó chiếm hữu danh nghĩa chỉ mới là một dạng phôi thai ban đầu không thể tự nó tạo ra danh nghĩa chủ quyền đầy đủ. Việc phát hiện cần phải được bổ sung bằng các hành động chiếm đóng hiệu quả mới có thể tạo ra cơ sở pháp lý đầy đủ cho việc thụ đắc chủ quyền lãnh thổ. Chủ quyền muốn được xác lập thì phải là thật sự, có hiệu quả, tức là đòi hỏi sự có mặt thực tế của quốc gia chiếm hữu trên vùng lãnh thổ đó.
Sau Hội nghị Berlin về châu Phi năm 1885 của 13 nước châu Âu và Hoa Kỳ và sau khoá họp của Viện Pháp luật Quốc tế ở Lausanne (Thụy Sĩ) năm 1888, nguyên tắc chiếm hữu thật sự trở thành quan điểm chiếm ưu thế trên thế giới. Điều 3, điều 34 và 35 của Định ước Berlin ký ngày 26-6-1885 xác định nội dung của nguyên tắc chiếm hữu thật sự và các điều kiện chủ yếu để có việc chiếm hữu thật sự như sau: "Phải có sự thông báo về việc chiếm hữu cho các nước ký Định ước trên”; "Phải duy trì trên những vùng lãnh thổ mà nước ấy chiếm hữu sự tồn tại của một quyền lực đủ để khiến cho các quyền mà nước ấy đã giành, được tôn trọng”.


http://daidoanket.vn/Pictures/bao%20tuan/_2011/166/2011_166_12_anh2.jpg



Đại Nam Nhất Thống toàn đồ


Tuyên bố của Viện Pháp luật Quốc tế Lausanne năm 1888 đã nhấn mạnh "mọi sự chiếm hữu muốn tạo nên một danh nghĩa sở hữu độc quyền thì phải là thật sự tức là thực tế, không phải là danh nghĩa”. Chính tuyên bố trên của Viện Pháp luật Quốc tế Lausanne đã khiến cho nguyên tắc chiếm hữu thật sự của Định ước Berlin có giá trị phổ biến trong luật pháp quốc tế chứ không chỉ có giá trị với các nước ký Định ước trên. Nội dung chính của nguyên tắc chiếm hữu thật sự là: Việc xác lập chủ quyền lãnh thổ phải do Nhà nước tiến hành, tư nhân không có quyền thiết lập chủ quyền lãnh thổ vì tư nhân không có tư cách pháp nhân quốc tế, vì quan hệ quốc tế là quan hệ giữa các quốc gia; Sự chiếm hữu phải được tiến hành một cách hoà bình trên một vùng lãnh thổ thật sự là vô chủ (res nullius) hoặc là đã được quốc gia làm chủ chủ động từ bỏ (derelicto); Dùng vũ lực để chiếm một vùng lãnh thổ đã có chủ là một hành động phi pháp; Quốc gia chiếm hữu trên thực tế phải thực hiện những hành động chủ quyền ở mức độ tối thiểu phù hợp với các điều kiện tự nhiên và dân cư trên vùng lãnh thổ đó; Việc thực hiện chủ quyền phải liên tục trên vùng lãnh thổ đó.
Ngày 10 tháng 9 năm 1919, Công ước Saint Germain đã được các cường quốc lúc bấy giờ ký tuyên bố hủy bỏ Định ước Berlin năm 1885 với lý do là trên thế giới không còn lãnh thổ vô chủ nữa và như thế nguyên tắc chiếm hữu thật sự không còn giá trị thực tế nữa. Song do tính hợp lý của nguyên tắc này, các luật gia trên thế giới vẫn vận dụng nó khi phải giải quyết các vụ tranh chấp chủ quyền trên các hải đảo.
Sau Chiến tranh thế giới thứ 2, Liên Hợp Quốc được thành lập tiếp theo Hội Quốc Liên. Từ các cuộc chiến tranh xâm lược, Hiến chương Liên Hợp Quốc đưa ra nguyên tắc (điều 2 khoản 14) có giá trị như một nguyên tắc pháp lý áp dụng cho tất cả các quốc gia. Nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực trên đã được phát triển và tăng cường trong Nghị quyết 2625 năm 1970: "Lãnh thổ của một quốc gia không thể là đối tượng của một cuộc chiếm đóng quân sự do sử dụng vũ lực trái với các quy định của Hiến chương. Lãnh thổ của một quốc gia không thể là đối tượng của một sự chiếm hữu của một quốc gia khác sau khi dùng đe dọa hay sử dụng vũ lực. Bất kỳ sự thụ đắc lãnh thổ nào đạt được bằng đe dọa hay sử dụng vũ lực sẽ không được thừa nhận là hợp pháp”. Nghị quyết trên cũng qui định: "Các quốc gia có bổn phận không đe dọa hay sử dụng vũ lực để vi phạm các biên giới quốc tế hiện có của một quốc gia khác hay như biện pháp giải quyết các tranh chấp quốc tế, kể cả các tranh chấp về lãnh thổ và các vấn đề liên quan đến các biên giới của các quốc gia.”.


http://daidoanket.vn/Pictures/bao%20tuan/_2011/166/2011_166_12_anh3.jpg



Bản dập mộc bản nói về vua Gia Long phái

Phạm Quang Ảnh ra đảo Hoàng Sa dò xét đường biển


Năm 1982, Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển ("United Nations Convention on Law of Sea” - viết tắt là UNCLOS) công bố ngày 10-2-1982 tại Montego Bay ở Jamaica đã được 159 quốc gia ký nhận. Sau khi có đủ 60 quốc gia duyệt y (ratification), kể từ ngày 16-11-1994 UNCLOS hay LOS Convention trở thành luật quốc tế đối với các quốc gia phê chuẩn và được thi hành, đã xác định về chủ quyền trên biển của mỗi quốc gia.
Đối chiếu với trường hợp hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam, từ đầu thế kỷ XV đến cuối thế kỷ XIX, theo tập quán pháp lý phương Tây lúc bấy giờ, sự xác lập chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo này là một sự thật thể hiện bằng các hành động cụ thể về sự quản lý, chỉ đạo của các Nhà nước Việt Nam đương thời một cách nhất quán, liên tục, hoà bình phù hợp với cơ sở pháp lý quốc tế đương thời. Sau đó, chủ quyền của Việt Nam tiếp tục được khẳng định dựa trên các cơ sở pháp lý quốc tế có giá trị phổ biến là Tuyên bố của Viện Pháp luật Quốc tế Lausanne năm 1888, Hiến chương Liên Hiệp Quốc và Công ước về Luật Biển 1982 mà các thành viên ký kết (trong đó có cả những nước đang vi phạm chủ quyền của Việt Nam ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa) đều phải tôn trọng.

Nhóm PV Biển Đông
Nguồn http://daidoanket.vn

Sat That
24-07-2011, 07:58 PM
ĐƯỜNG LƯỠI BÒ PHI LÝ

KỲ 21

Cơ sở pháp lý khẳng định chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam (14/07/2011)




Trong lịch sử, Việt Nam đã phải trải qua nhiều cuộc chiến tranh chống ngoại xâm. Phần lớn thư tịch cổ quốc gia trong các giai đoạn đó đã bị quân xâm lược tiêu hủy với mục tiêu xóa sạch văn hóa Việt để dễ bề đồng hóa. Tuy nhiên, chỉ với những tài liệu chính sử còn lại đến nay cũng đủ để chứng minh người Việt Nam đã có chủ quyền lịch sử từ rất lâu đời trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, hoàn toàn phù hợp với tập quán cũng như luật pháp quốc tế về việc xác lập và khẳng định chủ quyền lãnh thổ.





http://daidoanket.vn/Pictures/bao%20tuan/_2011/167/2011_167_12_anh1.jpg



















Đại tướng Lê Đức Anh (lúc này là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng)

ở quần đảo Trường Sa, Việt Nam năm 1988

Quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa của Việt Nam gồm nhiều đảo đá san hô rất nhỏ ở giữa Biển Đông. Hiện hai quần đảo đang là tâm điểm tranh chấp phức tạp giữa một số nước ven Biển Đông. Về việc giải quyết tranh chấp chủ quyền đối với lãnh thổ, pháp luật quốc tế đã hình thành nguyên tắc xác lập chủ quyền là nguyên tắc chiếm hữu thật sự và thực hiện quyền lực Nhà nước một cách thật sự, liên tục và hòa bình. Nguyên tắc này đã được các nước và các cơ quan tài phán quốc tế áp dụng để giải quyết nhiều vụ tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ trên thế giới.
Áp dụng nguyên tắc nói trên của pháp luật quốc tế vào trường hợp hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, các bằng chứng lịch sử và căn cứ pháp lý đều cho thấy rằng các Nhà nước Việt Nam đã chiếm hữu thật sự hai quần đảo này hàng trăm năm qua. Nói chính xác là các Nhà nước Việt Nam trong lịch sử và cho tới nay đã thực thi chủ quyền ở đây ít ra từ thế kỷ XVII khi hai quần đảo chưa hề thuộc chủ quyền của bất cứ nước nào. Từ đó Việt Nam đã thực hiện việc xác lập và thực thi chủ quyền của mình đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa một cách liên tục và hòa bình.
Các bằng chứng lịch sử mà Việt Nam đã thu thập được rất phong phú, mặc dù như đã nói, do hoàn cảnh chiến tranh liên tục nên nhiều thư tịch cổ của Việt Nam đã bị mất mát, thất lạc. Tuy nhiên, những tư liệu còn lại đến nay và chính sử vẫn đủ để khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Một là, các bản đồ Việt Nam thế kỷ XVII đã gọi hai quần đảo bằng cái tên Bãi Cát Vàng và ghi vào địa hạt huyện Bình Sơn, phủ Quảng Ngãi. Hai là, nhiều tài liệu cổ của Việt Nam như Toàn Tập Thiên Nam Tứ chí Lộ Đồ Thư (thế kỷ XVII), Phủ Biên Tạp Lục (1776), Đại Nam Thực Lục Tiền Biên và Chính Biên (1844 - 1848), Đại Nam Nhất Thống Chí (1865-1875), các Châu bản nhà Nguyễn (1802-1945)... đều nói về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa như là Bãi Cát Vàng vạn dặm trên Biển Đông và việc Nhà nước cử đội Hoàng Sa ra khai thác các quần đảo này. Ba là, nhiều sách cổ, bản đồ cổ của nước ngoài cũng thể hiện các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam. Đỉnh cao nhất của việc tuyên bố và xác lập chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là vào năm 1816 khi vua Gia Long sai quân lính ra quần đảo Hoàng Sa cắm cờ Việt Nam và tuyên bố chủ quyền. Cũng cần nói thêm là trong một thời gian khá dài, người Việt Nam luôn coi quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa là một dải đảo dài hàng vạn dặm trên Biển Đông, nên gọi là Vạn Lý Trường Sa, hay Đại Trường Sa, Bãi Cát Vàng... Trên thực tế, các chúa Nguyễn cũng như nhà Nguyễn sau này đều có nhiều hành động liên tục cử người ra cai quản, khai thác các đảo trên cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Nhà nước phong kiến Việt Nam đã tổ chức các đội Hoàng Sa, Bắc Hải để thực thi quyền chủ quyền và khai thác hai quần đảo. Các thể lệ tuyển chọn người, chế độ khen thưởng, đãi ngộ đối với các đội đều được Nhà nước quy định rõ ràng. Các đội này được duy trì và hoạt động liên tục từ thời chúa Nguyễn (1558-1783) đến nhà Tây Sơn (1786-1802) và nhà Nguyễn. Triều đình Nhà Nguyễn đã cử các tướng Phạm Quang Ảnh (năm 1815), Trương Phúc Sĩ, Phạm Văn Nguyên, Phạm Hữu Nhật (các năm 1834, 1835, 1836) ra Hoàng Sa khảo sát, đo đạc các đảo, khảo sát, vẽ bản đồ, xây miếu, dựng bia.


http://daidoanket.vn/Pictures/bao%20tuan/_2011/167/2011_167_12_anh2.jpg



Các chiến sỹ Hải quân Quân đội Nhân dân Việt Nam

trên đảo Phan Vinh thuộc quần đảo Trường Sa tháng 5-1988
Sau khi đô hộ Đông Dương, Pháp nhân danh Việt Nam tiếp tục quản lý hai quần đảo qua việc cử tàu chiến tuần tiễu để đảm bảo an ninh, ngăn chặn buôn lậu, cho phép người Nhật khai thác phân chim trên đảo, cử tàu De Lanessan ra nghiên cứu hải dương, địa chất, sinh vật... Từ năm 1930 đến 1932, các tàu chiến Inconstant, Alerte, La Malicieuse và De Lanessan của hải quân Pháp liên tiếp ra quần đảo Hoàng Sa. Đầu những năm 30 của thế kỷ 20, Pháp cho quân trú đóng ở các đảo chính thuộc quần đảo Trường Sa. Các hoạt động này đã được công bố trong Công báo của Cộng hòa Pháp ngày 26-7-1933. Năm 1933, Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định quy thuộc quần đảo Trường Sa vào tỉnh Bà Rịa. Pháp cũng tách quần đảo Hoàng Sa ra khỏi tỉnh Nam Nghĩa và đặt vào tỉnh Thừa Thiên và cho một đơn vị đóng quân ở đó. Sau khi trở lại Đông Dương, Pháp đã yêu cầu quân Trung Hoa Dân Quốc rút khỏi các đảo mà họ đã chiếm đóng trái phép năm 1946 và Pháp đã cho quân thay thế quân Trung Quốc, xây dựng lại trạm khí tượng, đài vô tuyến.
Năm 1951, tại Hội nghị San Francisco (Hoa Kỳ) có một đề nghị bổ sung bản dự thảo Hòa ước yêu cầu trao trả cho Trung Quốc hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Nhưng Hội nghị đã bác bỏ đề nghị này với số phiếu áp đảo là 46 phiếu thuận, 3 phiếu chống và 1 phiếu trắng. Tại Hội nghị, Ngoại trưởng Trần Văn Hữu dẫn đầu phái đoàn Chính phủ Quốc gia Việt Nam đã tuyên bố khẳng định chủ quyền lâu đời của người Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà không gặp sự phản đối hay bảo lưu của nước nào.
Năm 1956 Pháp chuyển giao lãnh thổ miền Nam Việt Nam cho Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và chính quyền này đã cho quân ra tiếp quản, tổ chức hai quần đảo về mặt hành chính (lập ở mỗi quần đảo một xã thuộc một huyện ở đất liền), xây các bia chủ quyền, duy trì các trạm khí tượng. Từ những năm 50 của thế kỷ 20 tình hình hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trở nên phức tạp hơn. Lợi dụng tình hình rối ren khi Pháp rút khỏi Đông Dương theo Hiệp định Genève năm 1954, Trung Quốc đã bí mật chiếm đóng trái phép nhóm đảo phía đông của quần đảo Hoàng Sa vào năm 1956. Chính quyền VNCH đã kịch liệt phản đối. Năm 1959 quân Trung Quốc giả làm ngư dân đổ bộ lên nhóm đảo phía tây quần đảo Hoàng Sa. Quân đội VNCH đã phát hiện ngăn chặn và bắt giữ 82 "ngư dân” Trung Quốc.
Đối với nhóm đảo phía tây của quần đảo Hoàng Sa, chính quyền VNCH tiếp tục quản lý cho đến năm 1974. Năm 1974, Trung Quốc dùng không quân, hải quân chiếm luôn phần phía tây của quần đảo Hoàng Sa. Chính quyền VNCH và Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam đã kịch liệt phản đối hành động xâm lược này của Trung Quốc. Năm 1975, chính quyền VNCH sụp đổ, Hải quân Quân đội Nhân dân Việt Nam tiếp quản đầy đủ các đảo do quân đội VNCH cai quản trên Biển Đông. Nhà nước Việt Nam thống nhất sau đó tiếp tục khẳng định chủ quyền của người Việt Nam trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, ban hành nhiều văn bản hành chính nhà nước thành lập các huyện đảo Hoàng Sa và huyện đảo Trường Sa cũng như hoàn thiện việc quản lý hành chính trên các quần đảo này. Một sự thật hiển nhiên là cho đến năm 1988 chưa hề có bất kỳ sự hiện diện nào của Trung Quốc ở quần đảo Trường Sa. Ngày 14-3-1988, Trung Quân bắt đầu dùng vũ lực chiếm đóng trái phép một số đảo thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Dưới ánh sáng của pháp luật quốc tế, Việt Nam có đầy đủ chứng cứ lịch sử và cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền lâu đời và liên tục của mình đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.


http://daidoanket.vn/Pictures/bao%20tuan/_2011/167/2011_167_12_anh3.jpg






Trẻ em đảo Trường Sa Lớn ngày nay

đang trên đường đến lớp học

Công ước Luật Biển năm 1982 cho phép các quốc gia ven biển được hưởng quy chế thềm lục địa để thăm dò và khai thác tài nguyên. Đây là chủ quyền chuyên biệt, không tùy thuộc vào điều kiện phải có sự chiếm hữu, khai phá hay tuyên bố minh thị. Mọi sự tùy tiện chiếm cứ của nước ngoài dù có bằng vũ lực hay không đều bất hợp pháp và vô hiệu lực. Về mặt địa lý, đảo Tri Tôn, quần đảo Hoàng Sa chỉ cách Quảng Ngãi 135 hải lý và đảo Hoàng Sa (Pattle) chỉ cách lục địa Việt Nam 160 hải lý. Vì vậy, quần đảo Hoàng Sa nằm trong thềm lục địa của Việt Nam được quy định bởi Công ước về Luật Biển năm 1982. Về mặt địa chất, các nghiên cứu khoa học đều cho thấy quần đảo Hoàng Sa là một thành phần của Việt Nam. Về địa hình, đáy biển vùng quần đảo Hoàng Sa là một cao nguyên chìm dưới đáy biển nối tiếp liên tục lục địa Việt Nam. Tại quần đảo Trường Sa cũng vậy, về mặt địa chất và địa hình đáy biển các đảo Trường Sa là sự tiếp nối tự nhiên của lục địa Việt Nam từ đất liền ra ngoài biển. Hơn nữa, bãi Tư Chính và đảo Trường Sa (Spratly) chỉ cách đất liền Việt Nam từ 150 đến 200 hải lý, nằm trong thềm lục địa của Việt Nam.
Một yêu cầu hết sức khách quan đặt ra cho tất cả các nước có hoạt động liên quan tới Biển Đông là phải tuân thủ pháp luật chung mà cộng đồng quốc tế, trong đó có các quốc gia ven Biển Đông, đã dày công xây dựng - Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 của. Khi vận dụng Công ước để thực thi chủ quyền và quyền chủ quyền đối với nội thủy, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của mình, các quốc gia ven Biển Đông có nghĩa vụ tôn trọng chủ quyền và quyền chủ quyền của các nước khác ven Biển Đông đối với lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của họ. Trong thời đại văn minh, sử dụng vũ lực, đe dọa sử dụng vũ lực để cưỡng chiếm lãnh thổ nước khác đã bị pháp luật quốc tế nghiêm cấm. Vũ lực cũng sẽ không phải là cách thức đúng đắn để giải quyết các tranh chấp ở Biển Đông. Tôn trọng các nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc tế, tôn trọng Hiến chương Liên Hợp Quốc, tôn trọng các quy định của Công ước Luật Biển năm 1982, giải quyết tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình, thực hiện đầy đủ các cam kết trong DOC, tiến tới xây dựng Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC), cùng chung sức theo hướng biến Biển Đông thành vùng biển hòa bình, hữu nghị và hợp tác là thể hiện sự hành xử của những quốc gia văn minh, tôn trọng sự thật lịch sử cũng như thượng tôn pháp luật quốc tế mà chính mình đã công nhận và ký kết.

Nhóm PV Biển Đông
Nguồn http://daidoanket.vn

Sat That
25-07-2011, 07:10 PM
ĐƯỜNG LƯỠI BÒ PHI LÝ

KỲ 22

Trung Quốc chưa bao giờ có chủ quyền ở Hoàng Sa và Trường Sa (15/07/2011)




Trong suốt 22 thế kỷ, từ các đời Tần Thủy Hoàng, Hán Vũ Đế, Tống Thần Công, Minh Thành Tổ đến giữa thế kỷ XX (1951), tài liệu chính sử Trung Quốc đã chưa bao giờ cho thấy chủ quyền của họ đối với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (mà họ gọi là Tây Sa và Nam Sa) trên Biển Đông của Việt Nam (mà họ gọi là Biển Hoa Nam). Chỉ từ những năm giữa thế kỷ XX trở lại đây, Trung Quốc thay đổi thái độ và liên tục lên tiếng đòi hỏi chủ quyền "bất khả tranh nghị” đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Tuy nhiên, họ không đưa ra được cơ sở pháp lý hay một bằng chứng lịch sử nào đáng tin cậy cho thấy họ có chủ quyền hợp pháp trên các quần đảo này.





http://daidoanket.vn/Pictures/bao%20tuan/_2011/168/2011_168_12_1.jpg





Tuần tra bảo vệ chủ quyền trên

đảo Song Tử Tây, quần đảo Trường sa, Việt Nam

Ảnh: HOÀNG LONG





Trung Quốc đòi hỏi chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa chỉ dựa trên các tài liệu của các nhà du hành, thám hiểm và dĩ nhiên, theo công pháp quốc tế những tài liệu này không phải là các tư liệu chính thức của Nhà nước có thể dựa vào để chứng minh chủ quyền và sự kiểm soát chính thức của Trung Quốc tại các quần đảo này. Các bản đồ cổ mà Trung Quốc trưng ra để làm bằng chứng lịch sử cũng không phải là bản đồ chính thức của các triều đại phong kiến Trung Quốc. Thậm chí, cho đến cuối thế kỷ XX, tài liệu chính sử ghi chép lại cho thấy Trung Quốc vẫn không coi hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là lãnh thổ của họ. Điều này được ghi nhận bởi các sự kiện liên quan đến 2 tàu La Bellona và Imeji Maru vận chuyển đồng dưới sự bảo hiểm của các công ty Anh quốc. Hai tàu này bị chìm trong khu vực quần đảo Hoàng Sa (Paracels), trong các năm 1895 và 1896. Các ngư dân Trung Quốc từ đảo Hải Nam đã thu nhặt đồng từ xác tàu chìm và đem đi bán cho các thương nhân ở Hải Nam. Các công ty bảo hiểm của hai con tàu đã phản đối với Chính phủ Trung Quốc, đòi Trung Quốc phải chịu trách nhiệm. Khâm sai Quảng Đông lúc đó đã trả lời Công sứ Anh tại Bắc Kinh rằng: "Paracels là những hòn đảo vô chủ, chẳng thuộc Trung Quốc cũng như chẳng thuộc An Nam, về mặt hành chính chúng không nằm trong địa phận của quận huyện nào ở Hải Nam và cũng không có cơ quan đặc trách nào lo việc cảnh sát ở đó cả”. Trước những sự thật lịch sử hiển nhiên như vậy, Trung Quốc vẫn mạo nhận rằng họ đã chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa từ thế kỷ thứ XV trong chuyến đi thứ tư của Trịnh Hòa năm 1413. Tuy nhiên, trong các sách sử chính thức của Trung Quốc ghi chép về những chuyến hải hành phái bộ Trịnh Hòa không phải để chinh phục vùng Biển Đông (mà họ gọi là Biển Hoa Nam) nơi có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đoàn thuyền của phái bộ này chỉ đi ngang qua Biển Đông hướng về Ấn Độ Dương, không hề ghé lại các đảo hay quần đảo nào của Việt Nam.


http://daidoanket.vn/Pictures/bao%20tuan/_2011/168/2011_168_12_2.jpg





Chùa Việt Nam trên đảo Trường sa Lớn


Theo luật pháp quốc tế, muốn xác lập chủ quyền lãnh thổ trên biển và hải đảo phải hội đủ 3 điều kiện: phải có sự thực thi chủ quyền của Nhà nước; thực thi một cách liên tục và lâu dài; được sự thừa nhận của các quốc gia duyên hải, đặc biệt là các quốc gia tiếp cận và đối diện. Những tài liệu chính sử của Trung Quốc cho thấy cho đến thế kỷ XIX người Trung Quốc cũng chỉ đi ngang qua các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, không hề có việc tuyên bố, hành xử chủ quyền lâu dài và liên tục tại các đảo này. Thậm chí, có tài liệu của Trung Quốc còn mặc nhiên công nhận sự liên hệ của các quần đảo này với Việt Nam. Cuốn Hải Lục của Vương Bỉnh Nam (1820-1842) viết: "Lộ trình phía ngoài được nối với lộ trình phía trong bởi Vạn Lý Trường Sa nằm giữa biển. Chiều dài của quần đảo khoảng vài chục ngàn dặm. Nó là bức phên dậu phòng thủ biên giới phía ngoài của nước An Nam”. Hơn nữa, chính sử nhà Thanh còn ghi rõ cho đến cuối thế kỷ XIX lãnh thổ Trung Quốc chỉ chạy đến đảo Hải Nam tại vĩ tuyến 18 là hết, trong các bản đồ chính thức của triều đình không hề có các địa danh Tây Sa, Nam Sa hay Vạn Lý Trường Sa... Có thể khẳng định rằng nhà Thanh kết thúc từ năm 1911 chưa bao giờ tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Vì vậy, càng không bao giờ có cái gọi là "vùng biển lịch sử” bao chiếm hầu như toàn bộ Biển Đông do Trung Quốc tự tuyên bố như là "ao nhà” của họ từ hàng ngàn năm về trước.


http://daidoanket.vn/Pictures/bao%20tuan/_2011/168/2011_168_12_3.jpg




Bà con dân tộc miền núi Việt Nam thăm

UBND xã đảo Song Tử Tây, quần đảo Trường Sa



Luật quốc tế cũng cho phép thủ đắc lãnh thổ do chiếm cứ, tuy nhiên phải hội đủ các điều kiện sau đây: chiếm cứ thực sự; chiếm cứ công khai; và chiếm cứ hoà bình. Không thể phủ nhận một sự thật lịch sử là vào năm 1956, Trung Quốc đã bí mật chiếm cứ vũ trang các đảo phía đông quần đảo Hoàng Sa. Năm 1974, Trung Quốc tiếp tục dùng vũ lực chiếm đoạt toàn bộ các đảo phía tây quần đảo Hoàng Sa từ Hải quân Việt Nam Cộng Hòa. Năm 1988, Trung Quốc tiếp tục đưa tàu chiến vũ trang hạng nặng chiếm đoạt một số đảo thuộc quần đảo Trường Sa. Những vụ chiếm cứ này của Trung Quốc không mang tính hòa bình mà do sử dụng vũ lực mang tính xâm lăng nên không bao giờ được luật pháp quốc tế công nhận. Do đó, những đảo mà Trung Quốc đã cưỡng chiếm bằng vũ lực trên Biển Đông không được coi là hợp pháp nên không bao giờ có chủ quyền theo luật pháp quốc tế. Trong khi đó, Việt Nam đã chiếm cứ, quản lý, khai thác hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa công khai, liên tục, lâu dài và hoà bình ít nhất từ thế kỷ XVII cho đến nay, nên theo luật pháp quốc tế, Việt Nam có đủ điều kiện xác lập và hành xử chủ quyền của mình trên hai quần đảo này, kể cả các đảo đã bị cưỡng đoạt bằng vũ lực và đang bị Trung Quốc chiếm đóng bất hợp pháp.


http://daidoanket.vn/Pictures/bao%20tuan/_2011/168/2011_168_12_4.jpg



Đảo Trường Sa Lớn


Khi Thế chiến thứ II còn đang tiếp diễn, năm 1943, đại diện ba cường quốc đồng minh là Hoa Kỳ, Anh và Trung Hoa Dân Quốc đã họp tại Cairo (Ai Cập) ra Tuyên cáo Cairo ngày 27-11-1943. Điều đáng lưu ý là tại Hội nghị Cairo, Trung Hoa Dân Quốc không hề đòi hỏi chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Tháng 7-1945, đại diện Hoa Kỳ, Anh và Liên Xô họp tại Potsdam (Đức) ra Tuyên ngôn Potsdam ngày 26-7-1945, trong đó có việc ấn định thể thức giải giới quân đội Nhật tại Thái Bình Dương. Theo đó, Trung Quốc có nghĩa vụ giải giới quân đội Nhật tại Việt Nam từ vĩ tuyến 16 trở ra Bắc kể cả quần đảo Hoàng Sa; quân đội Anh từ vĩ tuyến 16 trở vào Nam kể cả quần đảo Trường Sa. Giải giới không có nghĩa là tiếp thu hay chiếm lãnh thổ. Do đó nếu Anh không có chủ quyền lãnh thổ ở Trường Sa thì Trung Quốc cũng không có chủ quyền lãnh thổ tại Hoàng Sa, và dĩ nhiên cũng không có chủ quyền ở Trường Sa. Tại Hội nghị San Francisco năm 1951 Nhật Bản đã khước từ chủ quyền lãnh thổ tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà nước này chiếm đóng trong chiến tranh. Hội nghị cũng đã phủ nhận chủ quyền của Trung Quốc và mặc nhiên thừa nhận chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo này. Ngày 7-5-1951, tại phiên họp toàn thể Hội nghị, Thủ tướng kiêm Ngoại trưởng Chính phủ Quốc gia Việt Nam Trần Văn Hữu đã lên diễn đàn công bố chủ quyền của Việt Nam tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và không có sự phản kháng nào của tất cả các quốc gia tham dự hội nghị. Về mặt pháp lý quốc tế, với sự công bố chủ quyền của Việt Nam tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trước 51 quốc gia hội viên Liên Hợp Quốc, có nghĩa là kể từ năm 1951 các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã được cộng đồng thế giới thừa nhận thuộc chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam. Điều này có giá trị tuyệt đối, kể cả đối với các quốc gia không tham dự Hội nghị. Ba năm sau, Hiệp định Genève 1954 tiếp tục khẳng định rõ ràng chủ quyền của Việt Nam tại các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Ngoài ra, Hiệp định Genève 1954 cũng khẳng định: "Các quốc gia tham dự Hội nghị Genève (trong đó có Trung Quốc) cam kết tôn trọng chủ quyền độc lập, nền thống nhất quốc gia và sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam”.


http://daidoanket.vn/Pictures/bao%20tuan/_2011/168/2011_168_12_5.jpg



Đoàn đại biểu các dân tộc Việt Nam

tại mốc chủ quyền trên đảo Trường Sa Lớn
Căn cứ vào những tài liệu lịch sử chính thức có giá trị pháp lý quốc tế, Trung Quốc đã ý thức được sự yếu kém của họ về cả 3 mặt pháp lý, địa lý và lịch sử. Do đó, họ không bao giờ dám công khai thảo luận về vấn đề tranh chấp chủ quyền các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cũng như các đảo khác trên Biển Đông. Họ thường né tránh và luôn tuyên bố đó là một vấn đề "không thể chối cãi” hay "không thể tranh luận”. Lý do rất đơn giản vì họ không có đủ tài liệu hay lý lẽ để có thể đưa ra tranh nghị một cách công khai trước sự giám sát của cộng đồng quốc tế cũng như của các tổ chức đảm bảo việc thực thi luật pháp quốc tế để có thể chứng minh chủ quyền hợp pháp của họ tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Theo luật pháp quốc tế, ngày nay tất cả các cuộc xâm chiếm lãnh thổ bằng vũ lực đều bị coi là bất hợp pháp nên không có giá trị pháp lý để xác lập chủ quyền lãnh thổ. Do đó, các đảo mà Trung Quốc đã cưỡng chiếm bằng vũ lực và đang chiếm giữ bất hợp pháp trên Biển Đông, cũng như tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam là không bao giờ thuộc chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc.

Nhóm PV Biển Đông
Nguồn http://daidoanket.vn

Sat That
25-07-2011, 07:15 PM
ĐƯỜNG LƯỠI BÒ PHI LÝ

KỲ 23

“Đường lưỡi bò” phi lý và tham vọng bá chủ của Trung Quốc ở Biển Đông (16/07/2011)




Tháng 5-2009, Trung Quốc gửi công hàm tới Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc và kèm theo một tấm bản đồ có vẽ 9 đoạn đứt khúc (còn gọi là "đường chữ U” hay "đường lưỡi bò”) thể hiện yêu sách bao chiếm gần như toàn bộ Biển Đông. Trung Quốc đòi hỏi cộng đồng quốc tế thừa nhận "vùng biển lịch sử” của họ được bao chiếm bởi "đường lưỡi bò”. Tuy nhiên, điều đáng nói là từ đó đến nay mặc dù Trung Quốc chưa bao giờ làm rõ được cơ sở pháp lý của các đòi hỏi này nhưng hành động của họ thì lại ngày càng gia tăng gây hấn, xâm phạm thô bạo chủ quyền lãnh thổ của nhiều quốc gia trong khu vực làm cho tình hình Biển Đông trở nên căng thẳng.





http://daidoanket.vn/Pictures/bao%20tuan/_2011/169/2011_169_4_5.jpg





Tàu Viking 2 của Việt Nam

Công hàm ngày 7-5-2009 có lẽ là văn bản đầu tiên trong hơn 60 năm qua thể hiện quan điểm chính thức của Trung Quốc về yêu sách "đường lưỡi bò” và cũng là lần đầu tiên Trung Quốc chính thức công bố bản đồ "đường lưỡi bò” với toàn thế giới. Trước đó, mặc dù "đường lưỡi bò” đã được thể hiện nhiều lần trong một số bản đồ lưu hành trong nước, nhưng Chính phủ của họ chưa bao giờ có một tuyên bố chính thức nào trước cộng đồng quốc tế. Thậm chí trong những văn bản pháp lý quan trọng của Nhà nước Trung Quốc về các vùng biển như các Tuyên bố về Lãnh hải năm 1958, về Lãnh hải và Vùng tiếp giáp năm 1992, về Đường cơ sở năm 1996, và về Vùng đặc quyền kinh tế và Thềm lục địa năm 1998... "đường lưỡi bò” cũng không hề được nhắc tới. Theo các học giả Trung Quốc, "đường lưỡi bò” lần đầu tiên xuất hiện trên bản đồ các đảo trong Biển Đông (mà họ gọi là Biển Hoa Nam) được Vụ Địa lý của Bộ Nội vụ Cộng hòa Trung Hoa xuất bản năm 1948. Một số người cố đẩy thời gian xuất hiện của "đường lưỡi bò” xa hơn nhằm mục đích giải thích có lợi cho Trung Quốc. Họ cho rằng "đường lưỡi bò” do một người tên Hu Jinjie vẽ từ năm 1914 và đến tháng 12-1947 một viên chức của Cộng hòa Trung Hoa tên là Bai Meichu vẽ lại đường này trong một bản đồ cá nhân để thể hiện cảm xúc của mình khi nghe tin Pháp chiếm đóng và tuyên bố chủ quyền ở Trường Sa năm 1933. Tuy nhiên họ cũng thừa nhận: "Không rõ khi vẽ đường này Bai Meichu có đủ hiểu biết và kiến thức về luật biển quốc tế đương đại hay không?”. "Đường lưỡi bò” khởi thủy có 11 đoạn vẽ bao gồm các quần đảo Đông Sa, Hoàng Sa, Trường Sa và bãi ngầm Trung Sa chiếm hầu hết Biển Đông. Tuy nhiên, đến năm 1953, đường 11 đoạn được điều chỉnh lại thành 9 đoạn như ngày nay, bỏ 2 đoạn trong Vịnh Bắc Bộ. Đáng lưu ý là đến nay không có bất kỳ tài liệu nào cho biết tọa độ cũng như vị trí chính xác của "đường lưỡi bò”. Rõ ràng nguồn gốc và ý nghĩa của "đường lưỡi bò” hoàn toàn mập mờ, không chính xác đến nỗi bản thân các học giả Trung Quốc cũng không thống nhất được một sự giải thích hợp lý nào. Thậm chí, có học giả Trung Quốc còn cho rằng "không có cơ sở nào trong luật quốc tế cho yêu sách lịch sử đó” (Yann Huei Song). Gần đây, trên các trang mạng của Trung Quốc cũng xuất hiện nhiều ý kiến của chính người Trung Quốc thắc mắc về việc "tại sao lại vẽ Nam Hải của chúng ta tới tận cửa nhà người ta?”.


http://daidoanket.vn/Pictures/bao%20tuan/_2011/169/2011_169_4_1.jpg



Bản đồ đường yêu sách 9 đoạn (đường lưỡi bò) Trung Quốc

gửi kèm công hàm lên Liên hợp quốc năm 2009

phản đối báo cáo xác định ranh giới ngoài thềm lục địa

của Việt Nam và Malaysia
Biên giới và chủ quyền lãnh thổ là vấn đề thiêng liêng, hệ trọng từ rất lâu trong lịch sử của mọi dân tộc. Các cơ sở pháp lý quốc tế đều coi trọng việc bảo vệ đường biên giới ổn định của các quốc gia. Do vậy, đường biên giới là một trong số các thể chế ổn định nhất từ tất cả các thể chế. Vậy mà trong vấn đề "đường lưỡi bò” ngay đến cả người Trung Quốc, tác giả của đường yêu sách này, còn chưa biết nó được xác định cụ thể như thế nào thì làm sao có thể gọi đó là biên giới quốc gia được.
Theo TS Nguyễn Hồng Thao (Đại học Quốc gia Hà Nội), với Công hàm ngày 7-5-2009 kèm theo bản đồ "đường lưỡi bò”, có vẻ như Trung Quốc đòi hỏi cộng đồng quốc tế phải thừa nhận tính chất lịch sử của "đường lưỡi bò” và mặc nhiên coi Biển Đông là vùng biển lịch sử của Trung Quốc. Về lâu dài, sự nhập nhằng sẽ khiến đường này được ngộ nhận là đường biên giới trên biển của Trung Quốc. Họ cũng khéo léo kết hợp đường này với các khái niệm vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của luật biển quốc tế hiện đại bằng tuyên bố Trung Quốc có chủ quyền không thể tranh cãi với các vùng nước phụ cận của quần đảo Trường Sa. Như vậy, toàn bộ Biển Đông sẽ trở thành "ao nhà” của Trung Quốc. Tuy nhiên, theo luật pháp quốc tế, một vịnh hay một vùng nước được coi là vùng có tính chất lịch sử, phải thoả mãn ít nhất hai điều kiện: Phải thực thi chủ quyền thật sự liên tục, hoà bình và lâu dài; Phải có sự chấp nhận công khai hoặc im lặng không phản đối của các quốc gia khác, đặc biệt là các quốc gia láng giềng và có lợi ích liên quan. Trung Quốc đã không đưa ra được bất kỳ bằng chứng nào có sức thuyết phục về việc họ đã thực thi chủ quyền trên toàn bộ vùng biển rộng lớn này một cách liên tục, hoà bình và lâu dài. Không có một bằng chứng nào trong cổ sử Trung Quốc cho thấy Biển Đông là "ao nhà” của họ. Các chính quyền phong kiến Trung Quốc không hề thiết lập hoặc duy trì có lợi cho họ một sự độc tôn nào trong vùng biển này, khả dĩ có thể loại bỏ hoạt động của các hải đội Hoàng Sa, Bắc Hải của nhà Nguyễn (Việt Nam). Ngược lại, còn có những ghi nhận về sự thừa nhận tính hợp pháp của các hoạt động của hải đội Hoàng Sa như trường hợp năm 1774, quan huyện Văn Xương (Trung Quốc) giúp các dân binh Hoàng Sa khi đi làm nhiệm vụ bị bão dạt vào đất Trung Quốc trở về nguyên quán. Trung Quốc cũng chưa bao giờ công bố công khai yêu sách "đường lưỡi bò” một cách chính thức trước cộng đồng quốc tế. Mặc dù các học giả Trung Quốc cho rằng "đường lưỡi bò” tồn tại từ lâu không bị ai phản đối, thế nhưng "đường lưỡi bò” trước đây chỉ xuất hiện trong một bản đồ tư nhân, không phải là cái để các quốc gia khác có ý kiến. Hơn nữa, Hội nghị San Francisco 1951 cũng đã bác bỏ đề nghị về chủ quyền của Trung Quốc tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Điều này cho thấy yêu sách "đường lưỡi bò” của Trung Quốc chưa bao giờ được cộng đồng quốc tế thừa nhận. "Đường lưỡi bò” còn mâu thuẫn ngay với quan điểm chính thức của Trung Quốc đã nêu trong Tuyên bố ngày 4-6-1958 về các vùng biển Trung Quốc. Trong Tuyên bố này rõ ràng Trung Quốc công nhận rằng các đảo bị tách biệt với lục địa bởi biển cả, chứ không phải bởi các vùng nước lịch sử. Trong Luật về lãnh hải và vùng tiếp giáp năm 1992, Trung Quốc cũng chỉ nêu đòi hỏi lãnh hải 12 hải lý xung quanh những vùng đất yêu sách chủ quyền và vùng tiếp giáp 12 hải lý dành cho thuế quan và các mục đích tương tự chứ không hề xác định "vùng nước lịch sử”. Ngày 15-6-1996, Trung Quốc phê chuẩn Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS) và ban hành "Quy định về hệ thống đường cơ sở để tính chiều rộng lãnh hải”, bao gồm cả quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Điều này đã vi phạm chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam và cũng là sự vi phạm các quy định của UNCLOS về vạch đường cơ sở.


http://daidoanket.vn/Pictures/bao%20tuan/_2011/169/2011_169_4_2.jpg



2 trong số 3 tàu hải giám Trung Quốc

đã xâm phạm lãnh hải Việt Nam,

lao vào cắt cáp và cản trở hoạt động

của tàu Bình Minh 02 ngày 26-5-2011



Chủ quyền lãnh thổ không thể có được từ sự suy diễn dựa trên những dẫn chứng thiếu căn cứ. Do vậy, "đường lưỡi bò” không được xác định rõ cả về cơ sở pháp lý lẫn toạ độ địa lý, đã vi phạm chủ quyền lãnh thổ không chỉ của các nước liên quan mà còn là sự thách thức đối với quyền lợi hàng hải, hàng không của cộng đồng quốc tế. Cộng đồng thế giới chưa bao giờ ghi nhận một yêu sách chiếm cứ hầu hết toàn bộ Biển Đông như vậy và sẽ không bao giờ chấp nhận một vùng biển lớn, con đường hàng hải quốc tế quan trọng vào loại nhất nhì thế giới lại nằm dưới quyền tài phán của duy nhất một quốc gia như yêu sách "đường lưỡi bò” của Trung Quốc.


http://daidoanket.vn/Pictures/bao%20tuan/_2011/169/2011_169_4_3.jpg



Tọa độ tàu Trung Quốc vào lãnh hải Việt Nam

cắt cáp của tàu Bình Minh 02



Trung Quốc luôn tuyên bố muốn có hòa bình, ổn định và chủ trương giải quyết các vấn đề tranh chấp trên Biển Đông một cách êm thấm. Thế nhưng, gần đây Trung Quốc lại gia tăng các hoạt động gây căng thẳng nhằm áp đặt yêu sách "đường lưỡi bò” chiếm gần trọn diện tích Biển Đông bất chấp quyền lợi của các nước trong khu vực cũng như chính các điều luật quốc tế mà họ đã công nhận và ký kết. Vào ngày 26-5 và 9-6-2011, tàu Trung Quốc đã hai lần xâm nhập cắt cáp thăm dò dầu khí của tàu Việt Nam hoạt động trong vùng biển chủ quyền Việt Nam. Ngày 27-5-2011, Việt Nam gửi Công hàm cho Đại sứ Trung Quốc tố cáo Trung Quốc vi phạm Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển và quyền chủ quyền của Việt Nam ngay trong khu vực đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam. Ngày hôm sau, Trung Quốc đáp lại rằng những gì họ làm là "thực thi luật biển và các hoạt động giám sát là hoàn toàn bình thường trong vùng biển thẩm quyền của Trung Quốc”. Ngày 29-5-2011, Việt Nam tiếp tục phản đối hành động trên của Trung Quốc bằng cách tuyên bố rằng các tàu Việt Nam đã thực hiện việc thăm dò hoàn toàn trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa 200 hải lý của mình, phù hợp với UNCLOS. Đây không phải là một khu vực tranh chấp mà cũng không nằm trong "vùng quản lý của Trung Quốc”. Trung Quốc đã cố ý đánh lừa dư luận rằng đây là vùng tranh chấp. Hai ngày sau, Trung Quốc lại ngang ngược tuyên bố rằng hành động thực thi luật pháp của các tàu hải giám Trung Quốc chống lại việc các tàu Việt Nam vận hành bất hợp pháp là hoàn toàn chính đáng. Họ còn thúc giục Việt Nam phải "ngay lập tức chấm dứt những hành động xâm phạm và không được gây thêm rắc rối mới”. Nhưng, theo các nhà bình luận quốc tế, thêm một lần nữa Trung Quốc đã không đặt tuyên bố của họ vào khuôn khổ của các vùng nước UNCLOS. Và Trung Quốc cũng không đưa ra ranh giới cụ thể cho yêu sách của họ cũng như trích dẫn ra bất kỳ điều luật quốc tế nào để có thể biện minh cho lập luận và hành động của họ.


http://daidoanket.vn/Pictures/bao%20tuan/_2011/169/2011_169_4_4.jpg



Tàu ngư chính 311 tham gia giải cứu cho tàu cá Trung Quốc

trong vụ cắt cáp tàu Viking 2 ngày 9-6-2011
Nhà nghiên cứu Dương Danh Dy, nguyên Tổng lãnh sự Việt Nam tại Quảng Châu (Trung Quốc) phân tích: Biển Đông giàu có tài nguyên trở nên có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là "lợi ích cốt lõi” của Trung Quốc. Có thể khẳng định trong thời gian tới, vấn đề Biển Đông sẽ là nơi Trung Quốc không những giữ nguyên những tham vọng vốn có mà nhất định sẽ phát triển mạnh mẽ hơn trước nhiều lần và càng bất chấp thiên hạ hơn”. Theo ông Dy, hơn lúc nào hết, Việt Nam và các bên liên quan phải cảnh giác cao độ trước âm mưu của Trung Quốc trên Biển Đông. Điều trước tiên là phải làm cho toàn thể người Việt Nam trong nước cũng như ngoài nước thấy rõ sự đe dọa trực tiếp của Trung Quốc đối với chủ quyền của Việt Nam tại Biển Đông. Từ đó, phát huy sức mạnh của dân tộc và thời đại, khôn khéo, sáng tạo trong đường lối, chính sách đối ngoại bảo vệ có hiệu quả nhất chủ quyền trên Biển Đông của nước ta.

Nhóm PV Biển Đông
Nguồn http://daidoanket.vn

Sat That
25-07-2011, 07:19 PM
ĐƯỜNG LƯỠI BÒ PHI LÝ

KỲ 24

Châu bản thời Minh Mạng và Thiệu Trị khắc ghi chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam (18/07/2011)




Nhiều kỳ trước chúng tôi đã thông tin tới bạn đọc các chứng cứ từ sách sử trong nước và nước ngoài (kể cả Trung Quốc) để chứng minh chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Nhằm cung cấp thêm cho bạn đọc những chứng cứ lịch sử khác ngoài sách sử, chúng tôi xin đề cập tới một số châu bản thời Nguyễn, cụ thể là hai triều vua Minh Mạng và Thiệu Trị – Đó là những hiện vật gốc (có bản do chính nhà vua phê) đang được lưu trữ cẩn mật qua đó có thể khẳng định: Chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là hiển nhiên không thể tranh cãi.





http://daidoanket.vn/Pictures/bao%20tuan/_2011/170/2011_170_12_anh1.jpg





Bản dập Mộc bản triều Nguyễn phản ánh vua Minh Mạng

cho giúp đỡ tàu phương Tây bị mắc cạn ở Hoàng Sa



Châu bản thời Nguyễn có nội dung liên quan đến việc thực thi chủ quyền của mình tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đến nay còn rất nhiều. Trong khuôn khổ bài viết này chỉ xin đi vào giới thiệu nội dung của 11 châu bản trong 144 tập châu bản của hai triều vua Minh Mạng và Thiệu Trị (giai đoạn từ năm 1830 đến 1847). 11 văn bản thời Minh Mạng và Thiệu Trị đề cập trực tiếp đến địa danh Hoàng Sa gồm 7 Tấu, 2 Phúc Tấu, 2 Dụ. Xin được trích giới thiệu các châu bản này.

Thứ nhất là hai bản Tấu ngày 27-6 năm Minh Mạng 11 (1830) của Thủ ngự Đà Nẵng được lưu trong tập Châu bản Minh Mạng 43, trang 57 và 58. Nội dung có đoạn: "Thuyền buôn của tài phú Pháp Ê-đoa, thuyền trưởng Đô-ô-chi-ly, phái viên Lê Quang Quỳnh cùng thuỷ thủ đoàn, ngày 20 đã rời cảng Đà Nẵng đi Lữ - tống (Lữ - Tống Lucon) buôn bán. Giờ dần ngày 27, Ê-đoa và 11 thuỷ thủ đi trên chiếc sam bản lớn cập cảng nói rằng: Canh 2 đêm 21, ở phía tây Hoàng Sa (xứ Cát Vàng) thuyền đụng đá ngầm bị ngập nước. Thuyền trưởng và phái viên còn đi sau. Cảng đã phái thuyền đem theo nước uống đi cứu hộ, giờ ngọ đã gặp và đưa họ về cảng”.

Châu bản thứ ba là bản Dụ ngày 18-7 năm Minh Mạng 16 (1835) được lưu trữ trong tập Châu bản Minh Mạng 54, trang 92. Nội dung có đoạn viết: "Chuyến đi Hoàng Sa lần này, công vụ hoàn tất. Riêng Cai đội Phạm Văn Nguyên trên đường công hồi đã trì hoãn, có Chỉ giao Bộ Công trị tội. Nay phạt 80 trượng cho phục chức Cai đội. Các tên Giám thành Trần Văn Vân, Nguyễn Văn Tiện, Nguyễn Văn Hoằng vẽ họa đồ Hoàng Sa chưa chu tất, phạt mỗi tên 80 trượng. Các tên hướng dẫn hải trình Võ Văn Hùng, Phạm Văn Sanh thưởng mỗi tên một tiểu "Phi Long ngân tiền”. Binh thợ, dân phu hai tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định đi theo thưởng mỗi tên 1 quan tiền.”.

Châu bản thứ tư là bản Phúc Tấu của Bộ Công ngày 12-2 năm Minh Mạng 17 (1836) nằm trong tập Châu bản Minh Mạng 55, trang 336. Châu phê (Vua phê): "Mỗi thuyền vãng thám Hoàng Sa phải đem theo 10 tấm bài gỗ (cột mốc) dài 4,5 thước, rộng 5 tấc, khắc sâu hàng chữ "Năm Bính Thân (Minh Mạng 17), họ tên Cai đội Thuỷ quân phụng mệnh đi đo đạc cắm mốc ở Hoàng Sa để lưu dấu”. Đã phái Thuỷ quân Chánh đội trưởng Phạm Hữu Nhật giờ Mão hôm qua đi Ô - thuyền rời Thuận An vào Quảng Ngãi quản suất việc vãng thám Hoàng Sa kỳ này. Bộ đã cho làm đủ số cột mốc gửi gấp vào Quảng Ngãi. Châu cải (Vua sửa lại): "Báo gấp cho Quảng Ngãi thực thi ngay, giao cho tên ấy nhận biện”. Châu phê: "Thuyền nào đi tới đâu, cắm mốc tới đó để lưu dấu”.


http://daidoanket.vn/Pictures/bao%20tuan/_2011/170/2011_170_12_anh2.jpg



Bản dập Mộc bản phản ánh nội dung vua Minh Mạng

phái suất đội thủy quân Phạm Hữu Nhật ra Hoàng Sa


Châu bản thứ năm là bản Tấu của Bộ Công ngày 13-7 năm Minh Mạng 18 (1837) lưu trong tập Châu bản Minh Mạng 57, trang 244. Tấu rằng: Lần đi Hoàng Sa này trở về, trừ bọn Kinh phái Thuỷ sư Suất đội Phạm Văn Biện, hướng dẫn hải trình Võ Văn Hùng, Phạm Văn Sanh, đà công Lưu Đức Trực khởi hành chậm trễ đã bị xử phạt. Nên chăng chiếu lệ thưởng tặng cho binh dân hai tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định đi theo, xin đợi Chỉ.

Châu bản thứ sáu là bản Dụ ngày 13-7 năm Minh Mạng 18 (1837) lưu tại tập Châu bản Minh Mạng 57, trang 245. Nội dung có đoạn: "Trước có phái Thuỷ sư, Giám thành, binh dân hai tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định đi Hoàng Sa đo đạc, cắm mốc, vẽ họa đồ, trừ bọn Phạm Văn Biện gồm 4 tên can tội đã có Chỉ phạt trượng. Còn binh dân đi theo lặn lội biển cả cực khổ, thưởng mỗi tên binh định một tháng lương, dân phu mỗi tên 2 quan tiền”.

Châu bản thứ bảy là văn bản Tấu của Bộ Hộ ngày 11-7 năm Minh Mạng 17 (1837) lưu tại tập Châu bản Minh Mạng 57, tr 211, có đoạn ghi: "Xin 5 ngày cứu xét tấu sách của Quảng Ngãi xin khai tiêu (thanh toán) việc chi cấp lương tiền cho dân phu công vụ Hoàng Sa”.

Châu bản thứ tám là bản Tấu của Quảng Ngãi ngày 19-7 năm Minh Mạng 19 (1838) lưu trong tập Châu bản Minh Mạng 64, tr.146. Một đoạn Tấu viết: "Xin chiếu lệ miễn thuế năm nay cho 2 chiếc "Bản chinh thuyền” đã đưa binh dân đến Hoàng Sa đo đạc giáp vòng từ hạ tuần tháng 3 tới hạ tuần tháng 6, hoàn tất công vụ nay đã trở về”.

Châu bản thứ chín là bản Tấu của Bộ Công ngày 2-4 nhuận (tháng 4 nhuận) năm Minh Mạng 19 (1838) lưu trong tập Châu bản Minh Mạng 68, trang 21. Một đoạn Tấu viết: "Việc phái vãng để đo đạc giáp vòng Hoàng Sa kỳ năm nay, ấn định khởi hành hạ tuần tháng 3, nhưng vì gió đông nổi lên liên tục kèm theo mưa lớn, tới hạ tuần tháng 4 vẫn chưa khởi hành được, xin tấu trình”.


http://daidoanket.vn/Pictures/bao%20tuan/_2011/170/2011_170_12_anh3.jpg



Vua Minh Mạng người có nhiều chỉ dụ khẳng định chủ quyền

quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam


Châu bản thứ mười là văn bản Phúc Tấu của Bộ Công ngày 26-1 năm Thiệu Trị 7 (1847) lưu tại tập Châu bản Thiệu Trị 42, trang 83. Đáp rằng: "Tháng 6 năm Thiệu Trị 5 (1845) phụng Sắc về việc đình hoãn vãng thám Hoàng Sa. Nay phúc tấu đợi Chỉ có nên vãng thám Hoàng Sa kỳ này hay không? Châu phê (vua phê): "Đình hoãn”.

Châu bản thứ mười một là bản Tấu của Bộ Công ngày 28-12 năm Thiệu Trị 7 (1847) lưu tại tập Châu bản Thiệu Trị 51, trang 125. Có đoạn viết: "Hàng năm, vào mùa xuân theo lệ phái binh thuyền vãng thám Hoàng Sa thuộc hải cương nước nhà cho thành thục đường đi lối lại. Năm 1845 có Chỉ đình hoãn kỳ vãng thám 1846. Vì công vụ bận rộn, năm nay cũng xin được đình hoãn. Châu phê: "Đình hoãn”.

Giới thiệu qua mười một châu bản của hai triều vua Minh Mạng (1820 - 1840) và Thiệu Trị (1841 - 1847), chúng ta có thể thấy rằng: Các thuyền buôn bán, giao dịch của nước ngoài khi ra hay vào lãnh hải của Việt Nam đều được tấu rõ lên nhà vua. Thứ hai, hàng năm các triều vua đều có tờ sai các đội đi Hoàng Sa để "thi hành công vụ”. Nhiều khi, chính vua ngự bút phê vào các tờ sai đó cho thuyền ra khơi hay đình hoãn. Sau khi kết thúc công việc đội vãng thám phải chạy thuyền thẳng về Kinh đô để báo cáo tình hình, khai nộp hoá vật, hải vật. Nhà vua thông qua Bộ Công để kiểm tra, đánh giá và tuỳ mức độ đóng góp hay vi phạm mà luận công hay định tội, thưởng phạt công minh. Những người hoàn thành nhiệm vụ đều được Nhà nước ghi nhận.

Công việc vãng thám ở Hoàng Sa và Trường Sa là vô cùng gian nan nguy hiểm. Đảo Lý Sơn (Cù lao Ré) nổi tiếng trong lịch sử là nơi tiền tiêu sản sinh ra nhiều đoàn vãng thám đi thực thi chủ quyền tại Hoàng Sa và Trường Sa. Đã có nhiều người lính ra đi không trở về. Những ngôi mộ gió ở Lý Sơn khắc ghi điều đó. Vì thế mới có lễ khao lề thế lính Hoàng Sa (lễ truy điệu sống, làm đám tang trước để an ủi người đi) độc đáo trên thế giới. Chủ quyền hải giới Việt Nam đã được dựng bằng máu và nước mắt của lớp lớp những con người như thế.


Nhóm PV Biển Đông
Nguồn http://daidoanket.vn

Sat That
25-07-2011, 07:23 PM
ĐƯỜNG LƯỠI BÒ PHI LÝ

KỲ 25

Châu bản thời vua Bảo Đại khắc ghi chủ quyền Hoàng Sa của Việt Nam (19/07/2011)




Nếu như các tờ châu bản thời vua Minh Mệnh và Thiệu Trị được viết bằng chữ Hán thì các tờ châu bản thời vua Bảo Đại được viết bằng chữ Quốc ngữ. Và một điều khác biệt nữa là trong thời điểm Nam triều thuộc Pháp bảo hộ này, có châu bản lại được sao dịch thêm một bản ngôn ngữ Pháp.





http://daidoanket.vn/Pictures/bao%20tuan/_2011/171/2011_171_12_chauban1.jpg



Bản sao châu bản sang tiếng Pháp

do Thương tá Trần Đình Tùng soạn


Trong bài viết này, chúng tôi xin được giới thiệu tới bạn đọc hai châu bản do nhà nghiên cứu Phan Thuận An công bố sau khi phát hiện ra nhiều tài liệu chữ Hán, Việt, Pháp... trong tủ sách tại phủ thờ công chúa Ngọc Sơn (con vua Đồng Khánh, em vua Khải Định và là cô ruột vua Bảo Đại) tọa lạc tại 31 Nguyễn Chí Thanh (TP. Huế). Sở dĩ nhà nghiên cứu Phan Thuận An tìm được và đứng ra công bố tài liệu châu bản quý vì công chúa Ngọc Sơn chính là bà nội của vợ ông. Trung quân đô thống, phò mã Nguyễn Hữu Tiến (chồng của công chúa Ngọc Sơn) – một vị quan có vai vế trong triều đình đã đưa về nhà cất giữ một tập châu bản với khoảng 70 văn bản có chữ phê, chữ ký của vua Bảo Đại. Trong quá trình nghiên cứu tập châu bản này, ông Phan Thuận An đã phát hiện hai châu bản có liên quan trực tiếp đến việc thực thi chủ quyền tại Hoàng Sa. Hiện tại, hai châu bản này đã được bàn giao cho Bộ Ngoại giao để lưu trữ.
Hai tờ châu bản đều có kích cỡ giấy 21,5x31cm và đều có niên đại năm Bảo Đại thứ 13 (1939). Đây là loại giấy tốt, chuyên dùng ở Ngự tiền Văn phòng dưới thời vua Bảo Đại. Bởi vậy, ở góc phía trên bên trái của mỗi tờ, ngoài hai hàng chữ Pháp "Palais Impérial” (Hoàng Cung) và "Cabinet Civil de Sa Majesté” (Ngự tiền Văn phòng), tờ nào cũng có in dòng chữ Hán "Ngự tiền Văn phòng dụng tiên”. "Tiên” là loại giấy có vẽ hình đẹp làm nền, ngày xưa thường dùng để viết thư, cũng thường gọi là giấy "hoa tiên”.
Tờ châu bản thứ nhất đề ngày 15-12 năm Bảo Đại thứ 13, tức là ngày 3-2-1939. Châu bản này không giống các châu bản khác ở chỗ có đến 2 văn bản khác nhau (một bản bằng tiếng Việt, một bản bằng tiếng Pháp), nhưng liên quan mật thiết với nhau. Văn bản tiếng Việt được soạn trước, có nội dung như sau: "Huế, ngày 15 tháng 12 năm Bảo Đại thứ 13 (3-2-1939). Ngự tiền Văn phòng kính tâu: Nay Văn phòng chúng tôi có tiếp tờ thơ số 68-sp ngày 2 - 2 -1939 của Quí Khâm sứ Đại thần Thương tá xin thưởng Tứ hạng Long tinh cho M. Fontan, Louis, Garde principal de 1ère classe de la Garde Indigène, vừa tạ thế ở nhà thương Huế; và nhờ chúng tôi tâu lên Hoàng đế ban chuẩn. Phí ngân cấp chỉ và thiệt chất huy chương ấy sẽ do ngân sách Trung Kỳ đài thọ. Vậy chúng tôi xin sao nguyên thơ của Quí Khâm sứ Đại thần, phụng đính theo phiến nầy, kính tâu lên Hoàng đế tài định, hậu chỉ lục tuân. Nay kính tâu! Tổng lý Đại thần (ký tên: Phạm Quỳnh).


http://daidoanket.vn/Pictures/bao%20tuan/_2011/171/2011_171_12_chauban2.jpg



Châu bản ngày 3-2-1939


Văn bản tiếng Việt này đã được soạn lại thành một bản ngôn ngữ chữ Pháp để gửi tới Tòa Khâm sứ Trung Kỳ đóng ở bờ nam sông Hương. Toàn văn bản dịch như sau: "Huế, ngày 2-2-1939 - Khâm sứ Trung Kỳ- Huân chương Bắc đẩu Bội tinh - Kính gửi Ngài Tổng lý Ngự tiền Văn phòng, Huế. Thưa Ngài, Tôi kính nhờ Ngài vui lòng tâu lên Đức Kim thượng xin phê chuẩn cho một đề nghị là truy tặng Long tinh của Nam triều cho ông Louis Fontan là Chánh Cai đội hạng nhất của ngạch lính Khố xanh, vừa tạ thế vào ngày hôm nay tại Nhà thương lớn ở Huế sau khi bị bệnh sốt "typhus” mà ông đã nhiễm phải trong thời gian công tác ở đảo Hoàng Sa. Trong trường hợp lời đề nghị này được chấp nhận, tôi sẽ rất biết ơn Ngài nếu Ngài gửi thật gấp bằng khen và huy chương ấy cho tôi qua trương mục ngân sách địa phương. Ký tên: Graffeuil. Sao y nguyên bản. Thương tá Ngự tiền Văn phòng - Ký tên: Trần Đình Tùng”.
Văn bản chữ Việt và văn bản chữ Pháp của châu bản thứ nhất này có thể hiểu như sau: Vào ngày 2-2-1939, Khâm sứ Trung kỳ Graffeuil gửi cho Tổng lý Ngự tiền Văn phòng Phạm Quỳnh một văn thư đề nghị tâu xin Hoàng đế Bảo Đại truy tặng huy chương Long tinh của Nam triều cho ông Louis Fontan, người vừa qua đời trong ngày hôm ấy. Trước đó, ông này giữ chức vụ Chánh Cai đội hạng nhất của đội lính Khố xanh trú đóng tại đảo Hoàng Sa. Trong thời gian ra công tác tại đây ông đã bị nhiễm phải một loại bệnh sốt rét rất nguy hiểm và chết tại Nhà thương lớn ở Huế. Sau khi nhận được văn thư này, Tổng lý Ngự tiền Văn phòng Phạm Quỳnh giao cho quan chức dưới quyền trực tiếp của mình là Thương tá Trần Đình Tùng trách nhiệm sao y nguyên văn một bản để đính kèm vào tờ phiến đệ trình lên nhà vua. Ngày 3-2-1939, nghĩa là chỉ 1 hôm sau, tờ phiến và bản sao văn thư ấy được Ngự tiền Văn phòng dâng lên vua Bảo Đại. Trong tờ phiến, ông Tổng lý tuy không nhắc lại nguyên nhân cái chết của ông Fontan (vì đã có nói rõ ở văn thư đính kèm rồi), nhưng đề nghị ban thưởng "Tứ hạng Long tinh” cho viên chức người Pháp ấy. Đây là thái độ của triều Nguyễn coi trọng công lao của những người thuộc chính quyền Bảo hộ có công phòng thủ đảo Hoàng Sa. Đọc xong tờ phiến và văn thư đính kèm, vua Bảo Đại chấp nhận ngay những lời đề nghị và đã ngự phê hai chữ "Chuẩn y” và ký tắt hai chữ "BĐ” (Bảo Đại) bằng viết chì màu đỏ”.


http://daidoanket.vn/Pictures/bao%20tuan/_2011/171/2011_171_12_chauban3.jpg



Châu bản ngày 15-2-1939 có chữ châu phê của vua Bảo Đại


Châu bản thứ hai cách châu bản thứ nhất kể trên ít ngày. Nội dung châu bản ghi: "Huế, ngày 27 tháng 12 năm Bảo Đại thứ 13. (15 Février 1939). Ngự tiền Văn phòng kính tâu: Nay Văn phòng chúng tôi có tiếp thơ số 177s-sp, ngày 10 tháng 2 năm 1939 của quí Khâm sứ Đại thần thương rằng ngạch binh thanh khố Trung Kỳ có nhiều công lao trong việc dẹp yên các miền man di dấy loạn và lập đồn phòng thủ ở đảo Hoàng Sa, nghĩ nên thưởng Ngũ hạng Long tinh cho hiệu kỳ ngạch ấy và nhờ chúng tôi tâu lên Hoàng đế ban chuẩn. Phí ngân cấp chỉ và thiệt chất huy chương ấy sẽ do ngân sách Trung Kỳ đài thọ. Chúng tôi có phụng nghĩ dạng bản dụ ngữ ban chuẩn huy chương ấy cho ngạch binh thanh khố Trung Kỳ, kính tâu lên Hoàng đế tài định, như mông du doản, hậu chỉ lục tuân. Nay kính tâu. Tổng lý đại thần, Thần: (ký tên: Trần Đình Tùng)”. Bên lề trái của văn bản, vua Bảo Đại có phê chữ "Chuẩn” và ký tắt hai chữ "BĐ”. Vì cách nay đã gần trăm năm nên ngôn ngữ có phần thay đổi. Nội dung có thể hiểu như sau: Ngày 10-2-1939, Tòa Khâm sứ Trung kỳ có đề nghị Nam triều nên thưởng huy chương Long tinh hạng 5 cho đơn vị lính khố xanh ở Trung Kỳ, do có công... lập đồn phòng thủ ở đảo Hoàng Sa. Đến ngày 15-2-1939, Tổng lý Ngự tiền Văn phòng Trần Đình Tùng dâng lên Hoàng đế Bảo Đại tờ "tấu” xin nhà vua duyệt y. Chi phí về thưởng cấp huy chương do Tòa khâm sứ Trung Kỳ đài thọ. Qua hai châu bản này, chúng ta thấy trong khoảng thời gian ngắn (cách nhau hơn ngày), đã có tới hai châu bản liên quan đến chủ quyền Hoàng Sa. Mặc dù thời điểm đó, Nam triều đang thuộc sự bảo hộ của Pháp nhưng những người lính đi nghĩa vụ ở Hoàng Sa về đều được trọng thưởng. Thậm chí khi những người Pháp làm suất đội hay chỉ đơn thuần là lính Hoàng Sa mà mất đi thì cũng được xét truy tặng.
Điều này chứng tỏ vị vua cuối cùng của chế độ phong kiến Việt Nam dù đang lâm vào thế yếu vẫn tìm mọi cách để khẳng định hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm trong hải giới của Việt Nam. Và kể cả người đề nghị cũng như người đồng ý tặng thưởng đều đánh giá cao việc đồn trú ở quần đảo Hoàng Sa. Từ hai châu bản này, chứng tỏ cho đến trước một tháng quân Nhật tuyên bố đã kiểm soát quần đảo Hoàng Sa (31-3-1939), thì quần đảo Hoàng Sa vẫn thuộc chủ quyền và quyền kiểm soát liên tục của Việt Nam.

Nhóm PV Biển Đông
Nguồn http://daidoanket.vn

Sat That
25-07-2011, 07:27 PM
ĐƯỜNG LƯỠI BÒ PHI LÝ

KỲ 26

Công hàm 1958 với chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam (20/07/2011)




Gần đây Trung Quốc luôn rêu rao cái gọi là họ có chủ quyền không thể tranh cãi đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Việc Trung Quốc diễn giải nội dung Công hàm ngày 14-9-1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng như là một chứng cứ cho thấy Việt Nam đã công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là hết sức phiến diện và xuyên tạc nội dung, ý nghĩa của bản Công hàm đó, hoàn toàn xa lạ với nền tảng pháp lý của Việt Nam cũng như luật pháp quốc tế, bất chấp thực tế khách quan của bối cảnh lịch sử đương thời. Có thể nói, giải thích xuyên tạc Công hàm 1958 là một trong chuỗi những hành động có tính toán nhằm tạo cớ, từng bước hợp thức hóa yêu sách chủ quyền phi lý của họ đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.





http://daidoanket.vn/Pictures/bao%20tuan/_2011/172/2011_172_12_anh1.jpg



Đảo Núi Le thuộc quần đảo Trường Sa


Theo lý giải của Trung Quốc, ngày 4 tháng 9 năm 1958, Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai đã công khai tuyên bố với quốc tế quyết định của Chính phủ Trung Quốc về hải phận 12 hải lý kể từ đất liền của Trung Quốc và các đảo ngoài khơi, bao gồm cả quần đảo Tây Sa và Nam Sa (tức quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam). Sau đó, ngày 14-9-1958, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) Phạm Văn Đồng gửi Công hàm cho Thủ tướng Chu Ân Lai, nguyên văn như sau:
"Thưa Đồng chí Tổng lý,
Chúng tôi xin trân trọng báo tin để Đồng chí Tổng lý rõ: Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của Chính phủ nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc.
Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa trên mặt biển. Chúng tôi xin kính gửi Đồng chí Tổng lý lời chào rất trân trọng”.
Cần phải thấy rằng, các tuyên bố nói trên của Trung Quốc cũng như của VNDCCH ra đời trong bối cảnh có nhiều chuyển biến phức tạp và cấp bách đối với Trung Quốc về tình hình lãnh thổ trên biển theo luật pháp quốc tế cũng như diễn biến căng thẳng của vấn đề quân sự xung quanh eo biển Đài Loan. Năm 1956, Liên Hợp Quốc bắt đầu tiến hành các hội nghị quốc tế bàn về Luật Biển, sau đó một số hiệp định được ký kết vào năm 1958, tuy nhiên vẫn chưa làm thỏa mãn yêu sách về lãnh hải của một số quốc gia. Từ đầu thế kỷ XX, nhiều quốc gia đã bắt đầu chú ý tới nguồn lợi to lớn từ khoáng sản và tài nguyên biển, bộc lộ ý đồ mở rộng chủ quyền trên biển. Trung Quốc, dù trong lịch sử ít quan tâm đến biển, cũng bắt đầu chú ý đến việc mở mang, kiếm tìm những đặc quyền trên biển. Mặc dù lúc đó chưa phải là thành viên của Liên Hợp Quốc, nhưng Trung Quốc cũng bắt đầu chú ý đến việc lên tiếng với cộng đồng quốc tế nhằm giải quyết các vấn đề trên biển theo hướng có lợi cho Trung Quốc. Trong chiến lược cho tương lai, thì việc cạnh tranh trên biển, cũng như tìm kiếm những nguồn tài nguyên trên biển là một vấn đề được Trung Quốc đặt ra. Trên thực tế, cũng từ đầu thế kỷ XX, Trung Quốc đã hình thành ý định nhòm ngó các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Rõ ràng, việc nhòm ngó các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam từ thế kỷ XX đã nằm trong chiến lược "lấn sân” của Trung Quốc về tham vọng mở rộng biên giới quốc gia trên biển.
Ngày 26-5-1950, chiến tranh Triều Tiên bùng nổ, Tổng thống Hoa Kỳ Harry S. Truman đã ra lệnh cho Hạm đội 7 tiến vào eo biển Đài Loan, ngăn chặn cuộc tấn công của Trung Quốc nhắm vào các đảo trên eo biển Đài Loan. Với hành động này, Mỹ đã thực sự bảo hộ Đài Loan, mặc cho Trung Quốc kịch liệt lên án. Để tỏ rõ quyết tâm giải phóng Đài Loan, ngày 3-9-1954, Trung Quốc đã tấn công trừng phạt đối với các hòn đảo ven biển như Kim Môn, Mã Tổ. Các nhà chép sử gọi đây là cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan lần thứ nhất. Ngày 11-8-1954, Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai tuyên bố sẽ "giải phóng” Đài Loan, và tăng cường pháo kích vào hai đảo Kim Môn và Mã Tổ. Ngày 12-9-1954, Chủ tịch Hội đồng Liên quân Hoa Kỳ đưa ra dự tính tấn công Trung Quốc bằng vũ khí nguyên tử nhưng Tổng thống Eisenhower đã do dự sử dụng vũ khí nguyên tử cũng như sự liên can của quân đội Hoa Kỳ vào cuộc chiến này. Năm 1958, tiếp tục xảy ra cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan lần thứ hai. Ngày 23-8-1958 Trung Quốc đột ngột tăng cường nã pháo vào đảo Kim Môn. Theo Hiệp định Phòng thủ tương hỗ giữa Đài Loan-Hoa Kỳ, Tổng thống Eisenhower đã ra lệnh cho tàu chiến Hoa Kỳ đến bảo vệ đường tiếp tế hậu cần từ đảo Đài Loan đến 2 đảo tiền tiêu Kim Môn và Mã Tổ.
Ngoài bối cảnh "phức tạp và cấp bách” đối với Trung Quốc như đã nêu trên, theo Thạc sĩ Hoàng Việt (Quỹ Nghiên cứu Biển Đông), Công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng ra đời trong bối cảnh quan hệ đặc thù VNDCCH –Trung Quốc lúc đó "vừa là đồng chí vừa là anh em”. Năm 1949, bộ đội Việt Nam còn tấn công và chiếm vùng Trúc Sơn thuộc lãnh thổ Trung Quốc từ tay các lực lượng khác rồi trao trả lại cho Quân giải phóng Trung Quốc. Năm 1957, Trung Quốc chiếm giữ đảo Bạch Long Vĩ của Việt Nam từ tay một số lực lượng khác, rồi sau đó cũng trao trả cho Việt Nam. Điều này cho thấy quan hệ đặc thù của hai nước VNDCCH – Trung Quốc lúc bấy giờ. Do vậy, trong tình hình lãnh thổ Trung Quốc đang bị đe dọa chia cắt, cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan lần thứ hai khiến Hải quân Hoa Kỳ đưa tàu chiến vào can thiệp, việc Trung Quốc ra tuyên bố về lãnh hải bao gồm đảo Đài Loan trước hết nhằm khẳng định chủ quyền trên biển của Trung Quốc trong tình thế bị đe dọa tại eo biển Đài Loan. Tuy nhiên, Trung Quốc vẫn không quên mục đích "sâu xa” của họ trên Biển Đông nên đã "lồng ghép” thêm hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam vào bản tuyên bố. Công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng xuất phát từ mối quan hệ rất đặc thù với Trung Quốc trong thời điểm VNDCCH đang rất cần tranh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ của các quốc gia trong khối xã hội chủ nghĩa bấy giờ và là một cử chỉ ngoại giao tốt đẹp thể hiện quan điểm ủng hộ của VNDCCH trong việc tôn trọng lãnh hải 12 hải lý của Trung Quốc trước các diễn biến quân sự phức tạp trên eo biển Đài Loan. Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã phát biểu những lời ủng hộ Trung Quốc trong hoàn cảnh hết sức khẩn trương, chiến tranh chuẩn bị leo thang, Hạm đội 7 của Mỹ đang tiến vào eo biển Đài Loan và đe dọa Trung Quốc.

Nội dung Công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng được thể hiện rất thận trọng, đặc biệt là không hề có việc tuyên bố từ bỏ chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Bởi, hơn ai hết, chính Thủ tướng VNDCCH thấu hiểu quyền tuyên bố về lãnh thổ quốc gia thuộc thẩm quyền cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất là Quốc hội, và việc bảo vệ tòan vẹn lãnh thổ quốc gia luôn luôn là mục tiêu hàng đầu đối với Nhà nước và nhân dân Việt Nam, nhất là trong hoàn cảnh ra đời của Công hàm như đã nêu trên. Công hàm 1958 có hai nội dung rất rõ ràng: Một là, Chính phủ VNDCCH ghi nhận và tán thành việc Trung Quốc mở rộng lãnh hải ra 12 hải lý; Hai là, Chính phủ VNDCCH chỉ thị cho các cơ quan nhà nước tôn trọng giới hạn lãnh hải 12 hải lý mà Trung Quốc tuyên bố. Trong Công hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng không có từ nào, câu nào đề cập đến vấn đề lãnh thổ và chủ quyền, càng không nêu tên bất kỳ quần đảo nào như Trung Quốc đã nêu. Do vậy, chỉ xét về câu chữ trong một văn bản có tính chất ngoại giao cũng dễ dàng nhận thấy mọi suy diễn cho rằng Công hàm 1958 đã tuyên bố từ bỏ chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và coi đó là bằng chứng khẳng định Việt Nam đã thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo này là xuyên tạc lịch sử và hoàn toàn không có cơ sở pháp lý.

Tại Hội nghị San Francisco 1951, các quốc gia tham dự đã bác bỏ yêu sách về chủ quyền của Trung Quốc trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Cũng tại hội nghị này, Việt Nam đã long trọng tuyên bố chủ quyền lâu đời và liên tục của mình trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong phiên họp toàn thể mà không có bất kỳ sự phản đối hay ý kiến gì khác của tất cả các quốc gia tham dự. Điều đó có nghĩa là kể từ năm 1951, cộng động quốc tế đã thừa nhận chủ quyền lịch sử và pháp lý của Việt Nam tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Những tuyên bố đơn phương về chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo này theo luật pháp quốc tế là vô hiệu. Hiệp định Genève 1954, mà Trung Quốc là một nước tham gia chính thức, cũng thừa nhận chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về người Việt Nam. Các điều khoản trong Hiệp định cũng yêu cầu các quốc gia tham dự Hội nghị cam kết tôn trọng chủ quyền độc lập, nền thống nhất quốc gia và sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Do vậy, phần tuyên bố về chủ quyền của Trung Quốc liên quan tới hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam trong bản tuyên bố ngày 4-9-1958 về cơ sở pháp lý quốc tế đương nhiên được xem là không có hiệu lực. Trong Công hàm 1958, Thủ tướng Phạm Văn Đồng không hề đề cập đến hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Vì điều đó là không cần thiết, bởi theo Hiệp định Genève 1954, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm phía Nam vĩ tuyến 17 tạm thời thuộc quyền quản lý của Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa (VNCH). Trong thời điểm đó, dưới góc độ tài phán quốc tế, thì Chính phủ VNDCCH không có nghĩa vụ và quyền hạn hành xử chủ quyền tại hai quần đảo này theo luật pháp quốc tế. Công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng đương nhiên chỉ tán thành những tuyên bố của Trung Quốc có nội dung hợp pháp được cộng đồng quốc tế thừa nhận trên cơ sở luật pháp quốc tế cho đến giai đoạn đó. Một phần nội dung của bản tuyên bố ngày 4-9-1958 của Trung Quốc đã vi phạm nghiêm trọng chủ quyền quốc gia về lãnh thổ của Việt Nam, đồng thời cũng vi phạm nghiêm trọng các cơ sở pháp lý về chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà cộng đồng quốc tế đã thừa nhận cũng như đã nhiều lần tái thừa nhận một cách minh thị là thuộc chủ quyền của Việt Nam. Chính phủ VNDCCH trong bối cảnh quan hệ hữu nghị rất đặc thù với Trung Quốc đã khẳng định lập trường ghi nhận, tán thành tuyên bố giới hạn 12 hải lý về lãnh hải của Trung Quốc, còn những nội dung cụ thể diễn giải vượt quá phạm vi chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc theo các hiệp ước quốc tế đã không được đề cập tới như là một sự mặc nhiên thừa nhận sự vô hiệu của nó dưới ánh sáng của pháp luật quốc tế. Trong khi đó, Chính quyền VNCH, theo Hiệp định Genève 1954, đã liên tục thực thi chủ quyền lâu đời của người Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa bằng các văn bản hành chính nhà nước cũng như bằng việc triển khai thực thi chủ quyền thực tế trên hai quần đảo này. Đỉnh cao của sự khẳng định chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong giai đoạn này là trận hải chiến quyết liệt của Hải quân VNCH chống lại sự xâm lược của tàu chiến và máy bay Trung Quốc tại quần đảo Hoàng Sa năm 1974.


http://daidoanket.vn/Pictures/bao%20tuan/_2011/172/2011_172_12_anh2.jpg



Bức Công hàm 1958

(Ảnh minh họa. Nguồn: Internet)


Trong bối cảnh lịch sử đặc biệt nêu trên càng thấy rõ một sự thật hiển nhiên là Công hàm ngày 14-9-1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng đơn giản chỉ ghi nhận lãnh hải 12 hải lý của Trung Quốc, không hề nhắc lại các nội dung mập mờ liên quan đến các quần đảo thuộc chủ quyền của Việt Nam. Về thực chất, Công hàm 1958 thể hiện một thái độ chính trị, một cử chỉ hữu nghị với tuyên bố giới hạn lãnh hải 12 hải lý của Trung Quốc. Thực là phi lý, nếu cố tình suy diễn và xuyên tạc (như lập luận phía Trung Quốc), cho rằng Thủ tướng Phạm Văn Đồng, người con ưu tú của dân tộc, lại ký văn bản từ bỏ lãnh thổ và chủ quyền của đất nước trong khi chính ông và cả dân tộc Việt Nam đã chiến đấu hết mình để giành độc lập, tự do. Có lẽ cần phải nhấn mạnh rằng tất cả những hành động ngoại giao của Thủ tướng Phạm Văn Đồng trong Công hàm 1958 có thể hiểu không phải là ông không nhìn thấy mọi ý đồ của Trung Quốc đối với cách mạng Việt Nam vì ông đã có kinh nghiệm trong bàn đàm phán Genève năm 1954, khi mà Trung Quốc đã có không ít động thái rất bất lợi cho VNDCCH. Nội dung Công hàm ngày 14-9-1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng phù hợp với hoàn cảnh và mối quan hệ đặc thù giữa VNDCCH và Trung Quốc bấy giờ, đồng thời cũng hàm chứa thái độ không bao giờ từ bỏ chủ quyền của người Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đó cũng là quan điểm nhất quán của Việt Nam, bởi từ năm 1945 đến nay, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Quốc hội Việt Nam Cộng hòa, Mặt trận DTGPMN Việt Nam và sau đó là Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và hiện nay là Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam chưa bao giờ lên tiếng hoặc ra nghị quyết từ bỏ chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Một cơ sở nữa trên phương diện pháp lý, nước VNDCCH lúc đó không trực tiếp quản lý đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trước năm 1975, các quốc gia và lãnh thổ tranh chấp gồm: Trung Quốc, Đài Loan, Việt Nam Cộng hòa và Philippines. Như vậy, những lời tuyên bố của VNDCCH xem như lời tuyên bố của một quốc gia thứ ba không có ảnh hưởng đến vụ tranh chấp. Tuy nhiên, có tác giả đã cố tình nêu thuyết "estoppel” để suy diễn những lời tuyên bố đó có hiệu lực bó buộc đối với Việt Nam.
Theo luật quốc tế, không có một văn bản pháp lý nào có thể gắn cho những lời tuyên bố đơn phương một tính chất bó buộc, ngoại trừ thuyết "estoppel”. Mục đích chính của nó ngăn chặn trường hợp một quốc gia có thể hưởng lợi vì những thái độ bất nhất của mình, và do đó, gây thiệt hại cho quốc gia khác. Vì vậy, estoppel phải hội đủ các điều kiện chính: (1) Lời tuyên bố hoặc hành động phải do một người hoặc cơ quan đại diện cho quốc gia phát biểu và phải được phát biểu một cách minh bạch; (2) Quốc gia nại "estoppel” phải chứng minh rằng mình đã dựa trên những lời tuyên bố hoặc hoạt động của quốc gia kia, mà có những hoạt động nào đó, hoặc không hoạt động; (3) Quốc gia nại "estoppel” cũng phải chứng minh rằng, vì dựa vào lời tuyên bố của quốc gia kia, mình đã bị thiệt hại, hoặc quốc gia kia đã hưởng lợi khi phát biểu lời tuyên bố đó; (4) Nhiều bản án còn đòi hỏi lời tuyên bố hoặc hoạt động phải được phát biểu một cách liên tục và lâu dài. Thí dụ: bản án "Phân định biển trong vùng Vịnh Maine”, bản án "Những hoạt động quân sự và bán quân sự tại Nicaragua”, bản án "Ngôi đền Preah Vihear”...
Áp dụng những nguyên tắc trên của estoppel vào những lời tuyên bố của VNDCCH, chúng ta thấy thiếu điều kiện 2 và 3 đã nêu ở trên. Năm 1956, năm 1958 và năm 1965, Trung Quốc đã không có thái độ nào, hoặc thay đổi thái độ vì dựa vào lời tuyên bố của VNDCCH. Trung Quốc cũng không thể chứng minh được rằng mình bị thiệt hại gì do dựa vào những lời tuyên bố đó. VNDCCH cũng không được hưởng lợi gì khi có những lời tuyên bố đó.
Trong suốt quá trình thực hiện mưu đồ bá chủ trên Biển Đông, Trung Quốc đã không ít lần đưa ra các tài liệu xuyên tạc lịch sử, biến có thành không, biến không thành có, tung hỏa mù để cố tình làm sai lệch nhận thức của chính nhân dân Trung Quốc cũng như của cộng đồng quốc tế về vấn đề này theo hướng có lợi cho mưu đồ của Trung Quốc. Tuy nhiên, trước những bằng chứng hiển nhiên của sự thật lịch sử và dưới ánh sáng của luật pháp quốc tế những hành vi xuyên tạc, tung hỏa mù, cố tình làm cho cộng đồng quốc tế ngộ nhận càng khiến cho Trung Quốc lộ rõ âm mưu cũng như thủ đoạn của họ trong suốt quá trình áp đặt ý đồ "nuốt trọn” Biển Đông, theo kiểu "miệng nói hòa bình không xưng bá, tay làm phức tạp hoá tình hình”.

Nhóm PV Biển Đông
Nguồn http://daidoanket.vn

Sat That
25-07-2011, 07:34 PM
ĐƯỜNG LƯỠI BÒ PHI LÝ

KỲ 27

Xuyên tạc lịch sử trong âm mưu chiếm đoạt Hoàng Sa và Trường Sa (21/07/2011)




Có thể nói, tham vọng áp đặt chủ quyền phi lý của Trung Quốc trên hầu hết Biển Đông đã tỏ ra hết sức mâu thuẫn với nguồn tài liệu chính sử của họ. Từ lâu, Trung Quốc đã không từ bỏ việc làm mà tất cả các học giả chân chính đều lên án là cố tình bịa đặt và xuyên tạc lịch sử. Hành động này đã được Trung Quốc toan tính lâu dài và tổ chức thực hiện công phu để có thể xuyên tạc lịch sử hàng ngàn năm từ cổ chí kim trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Trong phạm vi của bài viết này, chúng tôi chỉ có thể điểm ra một vài trường hợp cụ thể như là một trong rất nhiều minh chứng cho những toan tính trên của Trung Quốc.





http://daidoanket.vn/Pictures/bao%20tuan/_2011/173/2011_173_12_anh1.jpg



Đảo Đá Đông thuộc quần đảo Trường Sa, Việt Nam

Các Sách Trắng về chủ quyền của Trung Quốc tại hai quần đảo Tây Sa và Nam Sa, cũng như một số tài liệu nghiên cứu của các học giả Trung Quốc mà tiêu biểu là ông Hàn Chấn Hoa với cuốn "Tổng hợp sử liệu các đảo Nam Hải của nước ta” (Trung Quốc –NV) đã đưa ra nhiều kết luận "hùng hồn” rằng có rất nhiều "sự thật lịch sử”, trong đó có sự hiện diện của các di chỉ khảo cổ, "chứng tỏ đầy đủ rằng” Trung Quốc là người đã phát hiện, kinh doanh, khai thác và thực hiện việc cai quản đầu tiên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (mà họ gọi là Tây Sa và Nam Sa) từ "hàng nghìn năm nay”. Thế nhưng, đáng tiếc là các sử gia Trung Quốc thời cổ xưa lại chính là những nhà chép sử có lòng tự trọng và nghiêm túc với chức trách. Các bộ Sử ký của nhiều triều đại phong kiến Trung Quốc đã ghi lại hầu hết các sự kiện quan trọng với nhiều chi tiết rõ ràng, nên khi đi vào từng vấn đề cụ thể, lập luận của Trung Quốc ngày nay về chủ quyền của họ trên Biển Đông, trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam cũng đã tỏ ra hết sức mâu thuẫn với bản thân các tài liệu chính sử.

Xét về mặt địa lý, Trung Quốc trích dẫn từ một số sách địa lý cổ xưa của họ có những ghi nhận và mô tả về các đảo Hoàng Sa và Trường Sa để cho rằng họ phát hiện và xác lập chủ quyền tại hai quần đảo này từ hàng ngàn năm qua. Chẳng hạn như cuốn Nam Châu Dị Vật Chí của Vạn Chấn (thời Tam Quốc 220-265) viết dưới thời Hán Vũ Đế, có mô tả về các đảo đá và cát trên Biển Đông, có đoạn mô tả chỗ nước nông và có đá nam châm khiến cho tàu thuyền qua lại nguy hiểm, dễ bị chìm. Dị Vật Chí của Dương Phù (đời Đông Hán, 25-220 sau CN) nói về những điều lạ của xứ nước ngoài mô tả địa danh Trướng Hải như sau: "Tại Trướng Hải Kỳ Đầu nước cạn nhưng nhiều đá nam châm, thuyền lớn đi ngoài cõi, dưới thuyền gắn lá sắt sẽ bị nhổ ra”. Chỉ có vậy, thế nhưng các tài liệu gần đây của Trung Quốc lại "áp đặt” sự mô tả này về Trướng Hải Kỳ Đầu cùng truyền thuyết về đá nam châm hút đinh sắt của các thuyền có liên quan tới các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong Biển Đông. Cũng cần nhấn mạnh rằng, phần lớn các thư tịch cổ của Trung Quốc khi nói về đảo và các bãi đá ngầm trên Biển Đông đều chép với rất nhiều tên gọi khác nhau. Chẳng hạn như trong cuốn Đông Tây Dương Khảo của Trương Nhiếp (1618), có nói đến các đảo nằm cách huyện Văn Xương 100 dặm (khoảng 50km), điều này không thể phù hợp về mặt địa lý với quần đảo Hoàng Sa (Paracels) nằm cách Hải Nam về phía nam đến hơn 250km. Tên của các đảo này cũng được chép rất khác nhau tùy theo sự tưởng tượng của tác giả như: Cửu Nhũ Loa Châu, Vạn Lý Thạch Đường, Thiên Lý Thạch Đường, Thất Châu Dương, Thất Châu Sơn... Thật là khó có thể chấp nhận quan điểm của Trung Quốc khi họ cứ khăng khăng cho rằng những đảo đó chính là quần đảo Hoàng Sa (Paracels) hoặc có lẽ là Trường Sa (Spratleys). Đôi khi, sự khẳng định của họ không khỏi gây ra sự sửng sốt. Trong tài liệu "Các biên giới của Trung Quốc” của Chu Kiện (1991), tác giả khẳng định "năm 1873, Quách Tông Đào, Đại sứ đầu tiên của Trung Quốc được cử sang phương Tây, trong nhật ký hành trình đã nhắc đến Nam Sa (Spratleys) thuộc về Trung Quốc”. Thế nhưng đoạn văn này lại được minh hoạ thêm bởi chú thích đề cập tới Hoàng Sa (Paracels) và ghi chú đảo nằm ở vĩ độ 17 Bắc. Đây quả là sự lẫn lộn nghiêm trọng và càng cho thấy sự cố tình gán ghép các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam vốn nằm phía nam vĩ tuyến 17 vào lãnh thổ Trung Quốc.


http://daidoanket.vn/Pictures/bao%20tuan/_2011/173/2011_173_12_anh2.jpg



Khu hậu cần nghề cá trên đảo Song Tử Tây,

quần đảo Trường Sa, Việt Nam

Các tham vọng của Trung Quốc còn mâu thuẫn bởi chính các nguồn tư liệu khác của họ. Nhiều tài liệu địa lý cổ mô tả và phân định rõ lãnh thổ của đế chế Trung Hoa khá trùng hợp nhau, các mô tả này đều định rõ lãnh thổ Trung Hoa có điểm tận cùng ở phía nam là đảo Hải Nam. Theo hướng này, trong số các cuốn sách ở thế kỷ XII, rồi thế kỷ XVII và XVIII, trong đó các cuốn Địa chí phủ Quỳnh Châu (tức đảo Hải Nam) cũng như cuốn Địa chí tỉnh Quảng Đông năm 1731, cuốn sách dâng nộp vua Thanh năm thứ 9 đời Văn Chính (1731), bản đồ tỉnh Quảng Đông không nói gì đến hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trong khi đó vào năm 1754, các dân binh hải đội Hoàng Sa của Việt Nam bị đắm thuyền khi công tác trên quần đảo Hoàng Sa trôi dạt tới bờ biển Trung Quốc, nhà chức trách Trung Quốc sau khi thẩm tra xong đã đưa họ về quê hương mà không có sự phản kháng nào của Trung Quốc, chứng tỏ hoạt động của hải đội Hoàng Sa được Trung Quốc thời đó ghi nhận là việc bình thường thực thi chủ quyền của Việt Nam tại vùng biển này. Trong tất cả các tài liệu Trung Quốc đều nhắc lại rằng các ngư dân Trung Quốc đã đến các đảo trên Biển Đông vào mọi thời kỳ. Nhưng, các tài liệu mà họ đưa ra chỉ cho thấy đó là những hành vi cá nhân, không mang tính nhà nước, không phù hợp với một sự chiếm hữu cũng như với ý định khẳng định chủ quyền lãnh thổ quốc gia bởi vì việc chiếm cứ "do các tư nhân không hành động nhân danh chính phủ của họ mà thực hiện vì một lợi ích cá nhân không tạo thành một sự chiếm hữu”, theo luật pháp quốc tế đương thời.
Hơn nữa, cũng trong những thời kỳ này, chính các quần đảo đó thường được các ngư dân Việt Nam lui tới. Trên thực tế, đã không có một chút dấu vết gì chứng tỏ là Trung Quốc đã từng phản kháng lại sự khẳng định chủ quyền của Hoàng đế Gia Long và các người kế nhiệm ông trong suốt cả thế kỷ XVIII cũng như thế kỷ XIX, khi các chúa Nguyễn của Việt Nam tổ chức việc khai thác các đảo nằm dưới quyền tài phán của họ một cách mạnh mẽ và liên tục. Chúng ta có thể tìm thấy trong các văn tập lịch sử Trung Quốc những lời xác nhận sự không tồn tại tham vọng về các đảo trên Biển Đông của Trung Quốc trong lịch sử. Như vậy, có thể thấy rằng Trung Quốc chưa bao giờ có việc thực thi chủ quyền mang tính nhà nước đối với các quần đảo này suốt lịch sử cho tới đầu thế kỷ XX. Sự thờ ơ của Trung Quốc đối với các quần đảo trên Biển Đông đã được hai tài liệu xác nhận: bản đồ Trung Hoa của đế chế thống nhất Hoàng Triều Nhất Thống Dư Địa Tổng Đồ, phát hành vào năm 1894, lãnh thổ Trung Quốc trong đó chỉ mở rộng tới đảo Hải Nam. Ngoài ra, quyển "Trung Quốc Địa Lý Học Giáo Khoa Thư”, phát hành năm 1906 nêu ở trang 241 rằng "điểm cực nam của Trung Quốc là bờ biển Nhai Châu, đảo Quỳnh Châu, ở vĩ tuyến 18°13' Bắc”.


http://daidoanket.vn/Pictures/bao%20tuan/_2011/173/2011_173_12_anh3.jpg



Hải đăng đảo Sơn Ca, quần đảo Trường Sa, Việt Nam




Sự chính xác và rõ ràng của các luận chứng khẳng định chủ quyền lâu đời, liên tục của Việt Nam bằng những hành động cụ thể của người Việt theo lệnh của triều đình từ thế kỷ XVIII, khiến Trung Quốc phải phản bác lại là các vua chúa Việt Nam luôn chỉ hoạt động nhằm phục vụ Hoàng đế Trung Hoa. Điều này lại càng phi lý. Vương quốc Việt Nam (Đại Cồ Việt) được thành lập vào thế kỷ XI bằng việc thiết lập một quyền lực chính trị và một nền cai trị độc lập đối với Trung Quốc, nhưng đồng thời công nhận một cách khéo léo quyền bá chủ của Trung Quốc. Mối quan hệ chư hầu này khó xác định theo một quan điểm pháp lý bởi vì nội dung của nó mơ hồ và tăng giảm tùy theo các thời kỳ. Trong lịch sử bang giao Đại Việt – Trung Hoa, các triều đại Việt Nam cần lễ thụ phong của Trung Quốc để được công nhận, giống như mọi quốc gia hiện đại muốn đứng vững thì không thể bỏ qua sự công nhận quốc tế. Đối với Trung Quốc, cống nạp thể hiện sự phụ thuộc tối đa mà họ hy vọng. Ngược lại, đối với Đại Việt, cống nạp thể hiện sự độc lập tối đa mà vương quốc này có thể đạt tới mà không gây nên phản ứng đế quốc từ phía Trung Quốc. Chế độ chư hầu được Việt Nam chấp nhận trên danh nghĩa, dưới hình thức triều cống danh dự. Nhưng nghĩa vụ tôn kính của triều đình Việt Nam đối với "Thiên triều” là hoàn toàn hình thức. Lịch sử các quan hệ Trung-Việt từ khi thành lập nước Việt Nam, thoát ra khỏi sự chi phối của Trung Quốc, đã được đánh dấu bằng nhiều mưu toan quân sự của Trung Quốc chống lại Việt Nam. Sau khi đã chiến thắng, các vua Việt Nam không bao giờ quên việc tìm cách xoa dịu người láng giềng khổng lồ của mình bằng một sự thần phục tượng trưng. Từ đó cho thấy lập luận của Trung Quốc đưa ra từ quan hệ chư hầu để mập mờ đòi hỏi yêu sách chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam là không hề có giá trị pháp lý.


http://daidoanket.vn/Pictures/bao%20tuan/_2011/173/2011_173_12_anh4.jpg



Bộ đội Việt Nam chăm sóc rau xanh trên đảo Sơn Ca,

quần đảo Trường Sa, Việt Nam
Trung Quốc cũng sử dụng một số báo cáo về khảo cổ học để cho rằng họ có chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Tuy nhiên, không có một kiểm chứng khoa học khách quan nào cho thấy những di vật cổ xưa nói là được tìm thấy trên các quần đảo này là của người Trung Quốc. Hơn nữa, theo giới chuyên môn, giả sử "các di chỉ khảo cổ” mà Trung Quốc cho là phát hiện tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam đúng là của người Trung Quốc đi chăng nữa, thì theo luật pháp quốc tế, cũng không có ý nghĩa trong việc xác lập chủ quyền lãnh thổ tại đây. Là một ngành khoa học, khảo cổ học và những di chỉ khảo cổ không có vai trò quyết định trong việc công nhận hay bác bỏ chủ quyền của một quốc gia trên một vùng lãnh thổ nơi các di chỉ khảo cổ hiện diện. Việc Trung Quốc coi các "di chỉ khảo cổ” nói là tìm thấy ở quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa để kết luận "hàng loạt tư liệu văn vật này chứng minh một cách hùng hồn rằng quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa từ cổ xưa là lãnh thổ của Trung Quốc” là một kết luận mang tính suy diễn, không có cơ sở khoa học, lịch sử và pháp lý quốc tế. Cái gọi là những "di chỉ khảo cổ” của Trung Quốc chỉ là sự bịa đặt cố ý nhằm phục vụ cho mưu đồ chính trị, không làm thay đổi được thực tế là hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã thuộc chủ quyền lãnh thổ Việt Nam từ rất lâu đời và người Việt Nam đã thực thi quyền chủ quyền của mình liên tục trên hai quần đảo này cho tới nay.

Nhóm PV Biển Đông
Nguồn http://daidoanket.vn

Sat That
25-07-2011, 07:39 PM
ĐƯỜNG LƯỠI BÒ PHI LÝ

KỲ 28

Dư luận quốc tế phản đối “đường lưỡi bò” (22/07/2011)




Các nguồn dư luận khách quan trên thế giới đều cho rằng những yêu sách chủ quyền của Trung Quốc ở Biển Đông, mà đặc biệt là yêu sách "đường lưỡi bò” là những đòi hỏi vô lý, không phù hợp với luật pháp quốc tế và cũng hoàn toàn mâu thuẫn với tài liệu lịch sử chính thống của người Trung Quốc. Thế nhưng, các hành động gây hấn ngày càng gia tăng của Trung Quốc nhằm áp đặt yêu sách "đường lưỡi bò” không chỉ khiến các quốc gia trong khu vực lo ngại mà còn bị cộng đồng quốc tế phê phán như là sự đe dọa tới quyền tự do hàng hải cũng như lợi ích của nhiều quốc gia khác trên thế giới.





http://daidoanket.vn/Pictures/bao%20tuan/_2011/174/2011_174_12_anh1.jpg



Đảo Sơn ca thuộc quần đảo Trường Sa, Việt Nam

Công hàm của Trung Quốc đệ trình lên Ủy ban Liên Hợp Quốc về Thềm lục địa mở rộng ngày 7-5-2009 có lẽ là văn bản đầu tiên trong hơn 60 năm qua, thể hiện yêu sách chính thức của Trung Quốc về "đường lưỡi bò” (còn gọi là "đường yêu sách 9 đoạn”, "đường chữ U”) và cũng là lần đầu tiên mà Trung Quốc chính thức công bố bản đồ đường yêu sách này với thế giới. Ngoại trừ các học giả Trung Quốc, tất cả các học giả nước ngoài đều chỉ rõ "đường lưỡi bò” của Trung Quốc hoàn toàn không có cơ sở pháp lý, lịch sử và thực tiễn. Theo đó, vùng nước trong "đường lưỡi bò” chiếm đến 80% diện tích Biển Ðông mà Trung Quốc cho là "vùng nước lịch sử” của họ là không thể chấp nhận được. Cộng đồng quốc tế chưa bao giờ ghi nhận một yêu sách như vậy và sẽ không chấp nhận một vùng biển lớn nhất nhì thế giới thuộc về quyền tài phán của một nước. Thậm chí, Indonesia là một nước không hề có tranh chấp Biển Đông cũng phải chính thức gửi công hàm phản đối "đường lưỡi bò”, cho rằng bản đồ "đường lưỡi bò” của Trung Quốc là "rõ ràng không có căn cứ pháp lý quốc tế và đi ngược lại với các quy định của Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982”. Cộng đồng quốc tế càng ngạc nhiên hơn với yêu sách phi lý của Trung Quốc trong khi trước đó, nước này đã cùng ASEAN ký kết và nhiều lần tái khẳng định bằng những tuyên bố long trọng "cam kết triển khai đầy đủ và hiệu quả Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và hướng tới thông qua Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) trên cơ sở đồng thuận, qua đó góp phần vào hòa bình, ổn định và hợp tác trong khu vực”.
Theo TS Peter A. Dutton, Viện Nghiên cứu Hàng hải Hoa Kỳ, từ "đường lưỡi bò” yêu sách chủ quyền trên Biển Đông tham lam "lờ đi những giới hạn luật pháp được quy định bởi Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển Quốc tế 1982 (UNCLOS)” đến những hoạt động thực tế mang tính gây hấn trên Biển Đông, Trung Quốc đã phá vỡ cam kết "giữ nguyên hiện trạng”, "không làm căng thẳng tình hình” trong DOC mà nước này đã ký năm 2002 với các quốc gia ASEAN. Kể từ giữa năm 2009, Trung Quốc liên tục "gây chuyện”, với từng nước riêng rẽ liên quan đến tranh chấp, trực tiếp và gián tiếp, và lan rộng ra với cả khu vực. Trung Quốc tăng cường xây dựng đơn vị hành chính, đơn phương cấm đánh bắt cá, bắt giữ và đòi tiền chuộc với các tàu cá của các quốc gia Đông Nam Á, va chạm với tàu Hoa Kỳ, xây dựng cơ sở hải quân khổng lồ ở đảo Hải Nam, tổ chức tàu tuần tra, tập trận không quân và hải quân trong khu vực tranh chấp... là những bước leo thang có tính toán trong việc làm gia tăng căng thẳng tình hình trên Biển Đông. TS Peter Dutton nói: "UNCLOS nói rõ rằng, tuyên bố về quyền tài phán của một quốc gia đối với tài nguyên phải dựa trên yếu tố địa lý của đường bờ biển. Việc Trung Quốc tuyên bố quyền tài phán trong "đường lưỡi bò”, mà không đề cập dù là gián tiếp đến các đặc điểm địa lý từ bờ biển hay đường cơ sở là một vi phạm căn bản luật pháp quốc tế”. TS Peter Dutton còn cho rằng, "đường lưỡi bò” là một trong hai nguồn chính gây căng thẳng trên Biển Đông, đặc biệt là trong thời gian gần đây. Giáo sư Carl Thayer, Học viện Quốc phòng Australia, nói rằng việc học giả Trung Quốc sử dụng "di sản lịch sử” để giải thích về yêu sách "đường lưỡi bò” thêm một lần nữa bộc lộ việc thiếu cơ sở pháp lý theo luật quốc tế trong tuyên bố chủ quyền này. Trung Quốc yêu sách "đường lưỡi bò” nhưng lại không thể biện minh "đường lưỡi bò” thể hiện điều gì. Hành động của Trung Quốc đại diện cho một làn sóng mới về sự khẳng định chủ quyền một cách áp đặt và gây hấn trên Biển Đông. Trung Quốc đang ra sức áp đặt một cơ sở pháp lý để chứng minh rằng họ "quản lý Biển Đông” và có quyền quản lý hành chính ở đó. Hành động của Trung Quốc rất nguy hiểm bởi vì họ không dựa trên sự hiểu biết chung về luật pháp quốc tế. Nghiêm trọng hơn khi Trung Quốc từ chối làm rõ, một cách chính xác những gì mà họ đang đòi hỏi chủ quyền. Các yêu sách của Trung Quốc thường trong tình trạng mơ hồ và do đó dễ gây hiểu lầm. Trong khi đó, hành động của họ trên thực tế đang đẩy mạnh việc tăng cường kiểm soát Biển Đông càng nhiều càng tốt.


http://daidoanket.vn/Pictures/bao%20tuan/_2011/174/2011_174_12_anh2.jpg


Trong khi Philippines phản đối đích danh "đường lưỡi bò” thì Công hàm của Trung Quốc lại không hề đả động chút nào đến "đường lưỡi bò” này. So sánh hai Công hàm 2009 và 2011 của Trung Quốc, các học giả lại càng thấy hai Công hàm này mâu thuẫn nhau. Trong khi Công hàm 7-5-2009 của Trung Quốc đòi hỏi "chủ quyền không thể tranh cãi của Trung Quốc trên các đảo trong Biển Đông (mà họ gọi là Biển Nam Trung Hoa) và các vùng nước kế cận”, có nghĩa là theo yêu sách "đường lưỡi bò”, thì Công hàm 14-4-2011 lại lờ đi "đường lưỡi bò” mà cho rằng quần đảo Nam Sa (tức Trường Sa của Việt Nam) có lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa theo quy định của UNCLOS. Các học giả cho rằng, việc hai công hàm trong vòng 2 năm đã có những mâu thuẫn cho thấy bản thân Trung Quốc còn lẫn lộn và mâu thuẫn với chính họ, không biết giải thích thế nào về "đường lưỡi bò” cho có lý. Hoặc cũng có thể coi đây là lập trường nhất quán cố tình tạo lẫn lộn, tung hỏa mù, áp dụng tùy tiện lúc theo UNCLOS, lúc theo yêu sách lịch sử theo kiểu "mèo trắng mèo đen miễn bắt được chuột”, một chiến thuật mập mờ thường hay được sử dụng để buộc dư luận phải "tin” vào những điều phi lý.
Trong cuộc hội đàm tại Thủ đô Washington D.C của Hoa Kỳ ngày 21-6-2011, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert Gates và người đồng cấp Nhật Bản Toshima Kitazawa cũng đã ra Tuyên bố chung kêu gọi Trung Quốc hành xử có trách nhiệm đối với sự ổn định tại khu vực. Nguyên do là bởi khi nhắc đến DOC, Giám đốc Ban An ninh Chính trị thuộc Ban Thư ký ASEAN TS Termsak Chalermpalanupap tiết lộ rằng, ASEAN đã ít nhất 20 lần đưa ra dự thảo về hướng dẫn thực hiện DOC, nhưng đều bị Trung Quốc từ chối. Vì thế, hầu như dư luận thế giới đều có chung lời kêu gọi rằng Trung Quốc cần tỏ rõ thiện chí hơn nữa trong việc tham gia thực hiện DOC và tôn trọng các cam kết mà họ đã ký trong UNCLOS về các vấn đề liên quan tới Biển Đông. "Trung Quốc đang gây khó khăn trong đàm phán về quy tắc ứng xử”, vị học giả đại diện cho ASEAN nói, "muốn giải quyết vấn đề Biển Đông, trước hết, Trung Quốc phải thay đổi quan điểm của mình”.


http://daidoanket.vn/Pictures/bao%20tuan/_2011/174/2011_174_12_anh3.jpg


Thượng nghị sĩ Hoa Kỳ John McCain phát biểu trong một hội thảo về an ninh Biển Đông mới đây khẳng định: "Điều khiến tôi lo ngại, và tôi cho rằng nhiều người trong số các quý vị cũng vậy, là những tuyên bố đòi chủ quyền bành trướng mà Trung Quốc đang đưa ra ở Biển Đông. Lý do đưa ra cho những tuyên bố này thì không có cơ sở nào theo luật quốc tế; và những hành động ngày càng quyết liệt mà Trung Quốc đang thực hiện nhằm khẳng định quyền tự tuyên bố của họ, trong đó có cả những vùng biển thuộc phạm vi 200 hải lý tính từ bờ biển của các nước ASEAN, cũng như hàng loạt vụ việc gần đây liên quan đến Việt Nam và Philippines”.
Sự quyết đoán và các hành động gia tăng gây hấn của Trung Quốc trong việc áp đặt các yêu sách chủ quyền trên Biển Đông trong các năm 2009, 2010 và 2011 đã gây ra một phản ứng quốc tế dữ dội. Nó đã thúc đẩy các quốc gia ASEAN lại gần nhau hơn và cung cấp cơ hội cho Indonesia, Chủ tịch ASEAN năm 2011, khẳng định vai trò trung tâm của ASEAN trong an ninh khu vực. Vấn đề này nổi bật tại Diễn đàn Khu vực ASEAN và tại buổi khai mạc Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng hồi năm ngoái. Trung Quốc đã dùng thủ đoạn ngoại giao và tìm cách hạn chế tổn hại bằng cách đồng ý khôi phục lại Nhóm làm việc chung ASEAN – Trung Quốc đang bị "hấp hối”, để thực hiện DOC. Nhóm làm việc này vốn từ lâu đã bị tê liệt vì sự khăng khăng bất hợp tác của Trung Quốc, cho rằng tuyên bố chủ quyền và lãnh thổ chỉ có thể được giải quyết song phương giữa các nước liên quan. Gần đây, ASEAN càng ra sức thúc giục Trung Quốc nâng cấp DOC thành quy tắc ứng xử (COC) mang tính ràng buộc hơn. Một số nhà ngoại giao trong khu vực hy vọng rằng, một thỏa thuận như thế có thể đạt được vào dịp kỷ niệm lần thứ mười của DOC, tháng 11 năm 2012. Tuy vậy còn phải chờ xem thái độ của Trung Quốc ra sao.
Trước sức ép của cộng đồng thế giới mà đặc biệt là của ASEAN, trong một hội nghị mới đây tại Bali (Indonesia), ASEAN và Trung Quốc đã đạt được sự đồng thuận về một văn bản gọi là Dự thảo các biện pháp hướng dẫn hành động hợp tác trên Biển Đông, tức là Văn bản hướng dẫn thi hành DOC. Các giới chức ASEAN và Trung Quốc cho biết các biện pháp hướng dẫn này không có tính chất ràng buộc cho việc thực thi DOC mà các bên đã cam kết thực hiện từ năm 2002. Như vậy sự kiện này có nghĩa vẫn là chưa vượt qua khỏi các cam kết DOC, nói gì tới Bộ Quy tắc về ứng xử ở Biển Đông (COC). Một số quốc gia thành viên ASEAN cho rằng những biện pháp hướng dẫn này vẫn còn mang tính chất mơ hồ và không đầy đủ để buộc các bên cam kết phải thực thi nghiêm túc.


http://daidoanket.vn/Pictures/bao%20tuan/_2011/174/2011_174_12_anh4.jpg



Một trong những chứng cứ lịch sử về chủ quyền

của Việt Nam trên các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa

Ảnh: HOÀNG LONG

Theo các nhà phân tích quốc tế, điều quan trọng là ASEAN và những cường quốc ủng hộ phải kiên quyết trong mục tiêu hướng tới việc giải quyết các tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông trên cơ sở của UNCLOS. Nếu không, "kẻ mạnh sẽ làm những gì họ có thể làm và kẻ yếu phải hứng chịu những gì họ phải chịu”, như sử gia Hi Lạp Thucydides đã từng cảnh báo từ nhiều thế kỷ trước. Có học giả cảnh báo, nếu cộng đồng thế giới để mặc cho Trung Quốc chuyển đổi Biển Đông thành một phiên bản hiện đại của "mare nostrum” (biển của chúng ta) chắc chắn sẽ làm suy yếu một chế độ pháp lý quốc tế đang đóng góp cho trật tự toàn cầu và khi đó, yêu sách về lãnh thổ của Trung Quốc có thể vượt xa ra ngoài Biển Đông vươn tới tận bờ biển Mexico chẳng hạn.
Trên cơ sở diễn giải xuyên tạc luật biển quốc tế, Trung Quốc đã ban hành nhiều quy định luật pháp trong nước để mở rộng yêu sách của mình trên các vùng biển mà Trung Quốc nói là xác lập theo UNCLOS. Tuy nhiên, các yêu sách chủ quyền cũng như cách diễn giải xuyên tạc luật biển quốc tế của Trung Quốc không chỉ thách thức nghiêm trọng chủ quyền, các quyền chủ quyền của các nước trong khu vực Biển Đông mà còn đe doạ các quyền tự do và lợi ích hợp pháp của các nước ngoài khu vực. Điều đó đã gây quan ngại nghiêm trọng cho cộng đồng thế giới; hơn nữa, càng làm cho tình hình Biển Đông ngày càng "nóng” lên bởi các hành động ngang ngược của Trung Quốc nhằm "thực thi” yêu sách chủ quyền đơn phương của họ ở Biển Đông theo bản đồ "đường lưỡi bò” phi lý.

Nhóm PV Biển Đông
Nguồn http://daidoanket.vn

Sat That
25-07-2011, 07:45 PM
ĐƯỜNG LƯỠI BÒ PHI LÝ

KỲ 29

Hoàng Sa và Trường Sa trong tâm linh người Việt (23/07/2011)




Dân tộc Việt Nam trong lịch sử dựng nước và giữ nước đã sớm nhận ra một sự thật rằng "văn hoá còn dân tộc còn”, từ đó chủ quyền lãnh thổ cùng với độc lập dân tộc cũng sẽ mãi mãi vững bền. Nhưng điều đó chỉ có thể khi cả dân tộc đoàn kết lại thành một khối thống nhất mà các yếu tố văn hóa và tâm linh chính là chất kết dính, hấp dẫn từng bộ phận người Việt trở lại bên nhau cùng nhau giữ gìn, xây đắp, phát triển cơ đồ của Tổ tiên được vun đắp từ biết bao xương máu của các thế hệ người Việt Nam.





http://daidoanket.vn/Pictures/bao%20tuan/_2011/175/2011_175_4_anh1.jpg









Chùa Song Tử Tây

Không biết bao nhiêu ngôi mộ gió đã được đắp lên trên dãy đất hình chữ S bên bờ Biển Đông này hàng ngàn năm qua để làm nơi nương tựa cho những hương hồn người Việt đã gửi thân mình trong lòng biển cả của Tổ quốc. Và cũng là nơi nương tựa cho chính phần hồn của những người Việt còn đang sống bình an trong những chuyến hải hành gian khổ ngang dọc các vùng quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đảo Lý Sơn ngày nay, Cù Lao Ré ngày xưa, quê hương của những hải đội hùng binh Hoàng Sa kiêm quản Trường Sa, có lẽ chính là nơi lưu dấu những giá trị tâm linh rõ nét và sâu đậm nhất của người Việt về một phần lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc - hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trên những vùng biển đó, máu xương của biết bao thế hệ người Việt ở Lý Sơn đã đổ xuống, khắc ghi và gìn giữ các thành quả khai phá lãnh thổ, các giá trị tinh thần đời đời truyền lại cho những thế hệ mai sau. Những dân binh Hoàng Sa trước khi lên đường đã được tế sống vì nhiệm vụ vô cùng gian khổ và hiểm nguy. Thế nhưng, đều đặn hàng năm, theo lệnh vua họ vẫn hiên ngang vượt lên đầu sóng ngọn gió để thực hiện những chuyến hải hành ngang dọc Hoàng Sa và Trường Sa, thực thi chủ quyền thiêng liêng của người Việt Nam. Cho đến ngày nay, tên tuổi và hương hồn của họ đã thấm vào máu thịt của Tổ quốc hòa vào trong một phần lãnh thổ thiêng liêng không thể tách rời của cả dân tộc, họ vẫn luôn được hương khói đều đặn hàng năm với Lễ Khao Lề Thế Lính Hoàng Sa của hầu như tất cả các gia tộc ở Lý Sơn giờ đây. Ngày nay, không chỉ có các họ tộc, chính quyền địa phương mà đã có rất nhiều người Việt từ khắp nơi trở về quê hương của những hùng binh Hoàng Sa trong những dịp khai lễ để thắp nén hương tưởng niệm và cầu nguyện cho những linh hồn phiêu bạt trên biển cả kia trở về nương tựa trong lòng của Dân tộc và Tổ quốc. Những hoạt động tâm linh này ở Lý Sơn từ nhiều đời qua vẫn liên tục diễn ra, thành kính và thiêng liêng trở thành đời sống văn hóa tâm linh đặc biệt sâu sắc của người dân hậu duệ những hùng binh năm xưa.


http://daidoanket.vn/Pictures/bao%20tuan/_2011/175/2011_175_4_anh2.jpg




Các nhân chứng từng có mặt trên quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam xưa kia còn kể lại câu chuyện về một ngôi Miếu Bà xuất hiện từ rất lâu đời trên đảo Hoàng Sa (Pattle). Câu chuyện này phù hợp với giá trị văn hoá cũng như đời sống tâm linh của người Việt từ nhiều đời qua. Với người Việt "khi ta ở chỉ là nơi đất ở, khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn”, trong cảnh cô đơn, sóng gió biển cả, Miếu Bà là nguồn an ủi lớn lao cho những người đi biển mỗi khi qua lại những vùng quần đảo này. Nơi đó người dân biển gửi gắm niềm tin và hy vọng của mình cho thần linh biển cả và cũng chính là hồn thiêng sông núi, tổ tiên dòng tộc che chở, phù hộ cho sự bình yên của họ trước sự ác liệt khó lường của thiên nhiên. Theo tác giả Trần Thế Đức, Miếu Bà trên đảo Hoàng Sa được xây dựng từ rất lâu đời, không ai biết rõ, tọa lạc ở một góc tây nam của đảo, nơi mà từ đất liền ra là nhìn thấy ngay từ xa. Rõ là Bà quay mặt ra hướng này để che chở cho ghe thuyền của người Việt từ đất liền ra quần đảo Hoàng Sa, cũng có nghĩa là miếu này do người Việt lập nên. Tượng Bà đứng trên một bệ xi măng, người được choàng bằng chiếc khăn bằng vải màu hồng, do một nhân viên khí tượng mang ra từ đất liền. Cứ mỗi lần đổi ca, các nhân viên lại mang ra chiếc khăn mới để thay cho Bà. Vùng biển trước mặt miếu là vùng dành riêng cho Bà, không ai được lai vãng tới. Lớ xớ tới đó kiếm cá là Bà quở phạt ngay. Cái chết của một viên đội Pháp trùng hợp với việc ông này không tin vào truyền thuyết về Bà nên đem chất nổ tới vùng biển trước Miếu Bà vốn có rất nhiều cá để đánh bắt. Khi châm ngòi cháy cho bánh thuốc nổ để đánh cá, ông ta ngó hoài không thấy lửa cháy nên mò tới để xem, không ngờ lửa chỉ cháy bên trong ruột ngòi mà không cháy phần vỏ bọc bên ngoài, vừa tới xem thì bánh thuốc nổ khiến ông ta chết ngay lập tức. Bà càng linh thiêng, càng làm cho niềm tin của người dân đảo thêm mạnh mẽ, nên càng trở thành nguồn an ủi, chở che cho đời sống tâm linh của mọi người. Chính sử triều Nguyễn cũng từng ghi lại nhiều lần các vua nhà Nguyễn đã chỉ dụ cho người ra hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa dựng chùa, lập miếu thờ cúng càng chứng tỏ người Việt xưa vốn coi trọng phần hồn, đời sống tâm linh đã thực thi chủ quyền trên các quần đảo này theo cách rất riêng biệt của người Việt Nam. Biết bao chiến sĩ trận vong, bỏ mình để khai phá, khai thác và giữ gìn vùng lãnh thổ thiêng liêng đầy sóng gió khắc nghiệt này của Tổ quốc. Hương hồn của họ hòa vào với hồn thiêng sông núi, tiếp tục vượt lên đầu sóng ngọn gió về với hương khói thờ phụng, lời cầu khấn của các thế hệ mai sau che chở và truyền thêm nguồn cảm hứng cho tinh thần dân tộc nhờ vào những cử chỉ và hành động coi trọng các giá trị văn hóa và tâm linh của bao thế hệ người Việt Nam vốn không bao giờ quên cội nguồn gốc rễ của mình.


http://daidoanket.vn/Pictures/bao%20tuan/_2011/175/2011_175_4_anh3.jpg



Đoàn đại biểu 54 dân tộc anh em vàothắp hương

tại chùa Song Tử Tây, quần đảo Trường Sa Việt Nam

Ảnh: HOÀNG LONG



Những ngày đi lại trên quần đảo Trường Sa, chúng tôi đã chứng kiến và vô cùng xúc động trước những buổi lễ tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ đã hy sinh thân mình để bảo vệ một phần lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc trên vùng biển này. Những vòng hoa có màu cờ Tổ quốc được thả xuống vùng biển Gạc Ma, Cô Lin, Len Đao... mang dòng chữ "Đời đời nhớ ơn các anh hùng liệt sĩ”. Trong hương khói nghi ngút, giữa trưa trời nắng rực rỡ bất chợt hoá u trầm bởi một áng mây đen trịch bất ngờ kéo tới. Trước đó, vì quá nắng, trưởng đoàn còn cho phép mọi người đội mũ khi làm lễ, nay tự nhiên từng người một đã nhẹ nhàng bỏ mũ xuống... Rất nhiều tiếng nấc nghẹn ngào hòa vào lời ai điếu trầm hùng của người sĩ quan Hải quân Nhân dân Việt Nam: "Trường Sa hôm nay vẫn chưa thực sự bình yên. Chúng tôi, những người hiện đang tiếp tục sự nghiệp của các đồng chí, xin thề trước anh linh của Tổ tiên, trước hương hồn của các đồng chí, đồng thời xin nhắn nhủ tới các thế hệ mai sau, quyết tâm bảo vệ bằng được quần đảo Trường Sa - một phần lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc - và xây dựng Trường Sa trở thành huyện đảo giàu mạnh, ngang tầm với vị trí chiến lược trên Biển Đông. Hôm nay, Đoàn công tác của chúng tôi đi qua nơi các đồng chí đã chiến đấu kiên cường và anh dũng hy sinh. Bầu trời Trường Sa mây trắng lặng. Lòng chúng tôi lặng trắng, lệ tràn mi và vẫn văng vẳng đâu đây câu nói của liệt sĩ thiếu úy Trần Văn Phương - Phó Chỉ huy trưởng đảo Gạc Ma: "Không được lùi bước. Phải để cho máu mình tô thắm lá cờ Tổ quốc”. Trong niềm xúc động sâu sắc, chúng tôi kính cẩn nghiêng mình tưởng nhớ tới các đồng chí và xin được thắp nén hương, thả vòng hoa tưởng niệm, tưởng nhớ tới hương hồn của các đồng chí. Mong các đồng chí thanh thản yên nghỉ trong lòng biển khơi của quê hương, dân tộc; cùng chúng tôi canh giữ chủ quyền biển, đảo, thềm lục địa thiêng liêng của Tổ quốc”. Vòng hoa mang màu cờ Tổ quốc dập dềnh trên biển cả đang lặng sóng bất chợt dâng trào, như muốn gửi gắm trở lại với con tàu một lời nhắn nhủ từ những dợn sóng bạc đầu: "Vinh dự nhất của những người lính biển đã hy sinh là được chính tấm lòng biển cả của Tổ quốc ôm ấp, chở che và gìn giữ mãi mãi trong văn hóa, trong đời sống tâm linh của cả dân tộc mình”.


http://daidoanket.vn/Pictures/bao%20tuan/_2011/175/2011_175_4_anh4.jpg



Thả vòng hoa tưởng niệm các liệt sĩ hy sinh bảo vệ

quần đảo Trường Sa tại khu vực đảo Cô Lin, Gạc Ma

(Trời đang nắng sau khi thả vòng hoa bất chợt

một đám mây đen kéo tới che phủ ngay trên bầu trời quanh tàu HQ-996)

Ảnh: HOÀNG LONG


Chẳng biết tự bao giờ trên các đảo ở Hoàng Sa hay Trường Sa đã xuất hiện nhiều ngôi chùa và đền miếu để thờ Thần, thờ Phật. Điều đó càng khẳng định sâu sắc và mạnh mẽ sự xuất hiện của đời sống tâm linh Việt trên những hòn đảo khắc nghiệt này giữa Biển Đông trùng trùng sóng gió. Những năm gần đây, Phật tử trong cả nước và những ngư dân ở quần đảo Trường Sa đã đóng góp và trùng tu nơi thờ Phật khang trang và vững chãi hơn. Ngoài Song Tử Tây thì những ngôi chùa tại đảo Trường Sa Lớn, Nam Yết, Sinh Tồn... cũng đã được trùng tu xây dựng khang trang, bề thế, để các Phật tử trên đảo và những ngư dân thường xuyên khai thác hải sản gần khu vực quần đảo Trường Sa tới thắp hương lễ Phật vào những tuần lễ tiết... Ở những ngôi chùa trên quần đảo Trường Sa, tất cả những văn bia, những hoành phi câu đối đều được khắc, viết bằng chữ Việt. Nhìn những tấm hoành phi, câu đối sơn son thiếp vàng với những mỹ từ ca ngợi sự trường tồn của dân tộc, ca ngợi cảnh sắc kỳ vĩ của Vạn lý Trường Sa, ca ngợi sự mênh mông đến khôn cùng của trời biển nước Nam, ví như "Quần đảo huy hoàng chất ngất Biển Đông ngời thắng cảnh - Chùa chiền sừng sững nguy nga Đất Việt nổi danh lam”, lòng mỗi người đến vãn cảnh chùa không khỏi tự hào trước giang sơn gấm vóc Việt Nam. Ai cũng nguyện cầu Đức Phật từ bi phù hộ độ trì cho nước Việt và bất kỳ ai cũng cảm thấy mình cần phải có trách nhiệm hơn trong sự nghiệp đại đoàn kết, hòa hợp hòa giải dân tộc, góp sức của từng con dân Đất Việt đưa đất nước mỗi ngày thêm hùng mạnh, đủ sức chống chọi lại mọi nguy cơ xâm lấn và đồng hóa.


http://daidoanket.vn/Pictures/bao%20tuan/_2011/175/2011_175_4_anh5.jpg



Phóng viên báo Đại Đoàn Kết cùng đại tá Hoàng Ngọc Dương,

Quân chủng Hải Quân Việt Nam viếng mộ thắp hương tưởng niệm

các liệt sĩ hy sinh trên đảo Sơn Ca, quần đảo Trường Sa, Việt Nam





http://daidoanket.vn/Pictures/bao%20tuan/_2011/175/2011_175_4_anh6.jpg



Trồng cây xanh trong chùa trên

đảo Trường Sa Lớn, quần đảo Trường Sa, Việt Nam

Người Việt có câu "đất vua, chùa làng”. Vì vậy tự ngàn đời, trong tâm thức của con dân nước Việt, ngôi chùa chính là hình ảnh biểu trưng cho sự nương tựa tinh thần, là chốn tâm linh để lương dân ngưỡng vọng, thờ phụng giữ gìn lẽ sống từ bi, bác ái. Với người Việt, đạo Phật không chỉ là một tôn giáo hay tín ngưỡng mà từ lâu còn là một nét văn hóa. Ở đâu có làng của người Việt ở đó có chùa cùng với những sinh hoạt tín ngưỡng. Gia tài văn hóa và tâm linh đó, Tổ tiên của chúng ta cũng đã để lại ngay trên chính những hòn đảo xa xôi, khắc nghiệt nhất nhưng luôn luôn là máu thịt là một phần lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc Việt Nam – các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Nhóm PV Biển Đông
Nguồn http://daidoanket.vn

HQ0909
25-07-2011, 07:59 PM
TT - Giới chuyên gia cho rằng các cuộc thảo luận ở Bali và những gì đạt được về biển Đông không đem lại những đột phá có thể làm thay đổi cục diện.

Chuyên gia Thời Yên Hoằng, thuộc Đại học Nhân dân Bắc Kinh, thừa nhận kết quả đạt được là rất ít ỏi nếu nhìn từ quan điểm chiến lược. Dù các cuộc gặp giữa ngoại trưởng Mỹ và Trung Quốc cũng như cuộc gặp giữa Trung Quốc và Việt Nam có phần nào làm dịu căng thẳng, song “vẫn tồn tại những bất đồng về lập trường của các bên”.

Philippines cũng có nhận định tương tự. Báo The Inquirer dẫn lời Ngoại trưởng Philippines Albert del Rosario cho rằng những lời mang tính xoa dịu của Trung Quốc không có ý nghĩa khi Bắc Kinh đã từ chối thay đổi quan điểm của họ và luôn cho rằng không quốc gia nào có chủ quyền ở biển Đông.

“Làm sao bạn có thể thảo luận song phương bất cứ điều gì khi bạn ngồi vào bàn đàm phán với Trung Quốc thì họ cho rằng mọi thứ là của họ” - Ngoại trưởng Rosario nói.

Ngày 24-7, ngay sau khi kết thúc diễn đàn ARF, Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton đã lên tiếng hối thúc Trung Quốc và ASEAN cần nhanh chóng hoàn tất Bộ quy tắc ứng xử của các bên trên biển Đông (COC).

“Washington cho rằng bản hướng dẫn thực thi Tuyên bố về ứng xử của các bên trên biển Đông (DOC) là bước quan trọng đầu tiên, song chỉ là bước đầu tiên. Chúng tôi mong rằng ASEAN hãy hành động nhanh hơn, thậm chí cấp bách, để đạt được COC nhằm tránh xảy ra bất cứ vấn đề gì trên các tuyến hàng hải huyết mạch và các vùng lãnh hải trên biển Đông” - Ngoại trưởng Hillary nhấn mạnh.
MỸ AN
http://tuoitre.vn/The-gioi/448103/My-hoi-thuc-ASEAN---Trung-Quoc-dat-duoc-COC.html

HQ0909
26-07-2011, 11:16 AM
Tổng thống Philippines Benigno Aquino hôm qua cho hay quốc đảo sẵn sàng sử dụng sức mạnh quân sự để bảo vệ lãnh hải mà họ tuyên bố ở Biển Đông. Ông Aquino thể hiện quan điểm cứng rắn nói trên trước quốc hội trong Thông điệp Quốc gia hàng năm, với thông điệp rằng Philippines sẽ nâng cấp lực lượng vũ trang hiện nay, bao gồm việc mua một tàu hải quân mới cùng nhiều vũ khí hiện đại, AFP đưa tin.

"Chúng ta không muốn làm gia tăng căng thăng với bất kỳ nước nào, nhưng chúng ta phải cho thế giới thấy rằng chúng ta sẵn sàng bảo vệ những gì thuộc về mình", Tổng thống Aquino nói trong tiếng vỗ tay của các chính trị gia và các vị khách được mời tới nghe Thông điệp Quốc gia.



http://vnexpress.net/Files/Subject/3b/a2/ca/dc/aquino1.jpg



Tổng thống Philippines Benigno Aquino tuyên bố Thông điệp Quốc gia trước quốc hội hôm qua. Ảnh: AFP





Tổng thống Philippines cho hay nước ông sẽ không cho phép các quốc gia khác áp đặt ý chí riêng vào các tranh chấp chủ quyền lãnh hải. "Đây là lúc chúng ta không chỉ thể hiện sự đáp trả với những đe dọa một cách rụt rè nữa. Thông điệp của chúng ta với thế giới rất rõ ràng. Cái gì thuộc về Philippines là của Philippines", ông Aquino nhấn mạnh.

Philippines trong thời gian qua liên tục cáo buộc các tàu hải quân của Trung Quốc vi phạm các vùng nước mà Manila tuyên bố chủ quyền tại Biển Đông, dẫn tới tình trạng căng thẳng ngoại giao ngày một gia tăng giữa hai nước.

Các tàu hải giám của Trung Quốc cũng liên tục có các hành vi cắt cáp và cản trở hoạt động của các tàu khảo sát địa chấn Việt Nam trong giai đoạn cuối tháng 5, đầu tháng 6. Việt Nam tuyên bố đây là những hành động nhằm biến vùng không có tranh chấp thành có tranh chấp, nằm trong toan tính biến yêu sách đường 9 đoạn thành hiện thực.

Tại Biển Đông, Trung Quốc có tuyên bố chủ quyền chồng lấn với Việt Nam, Philippines, Brunei và Malaysia. Trước tình hình căng thẳng gia tăng tại vùng biển được đánh giá là giàu trữ lượng dầu mỏ và nằm trên tuyến hàng hải huyết mạch, Biển Đông trở thành chủ đề nóng tại các hội nghị bộ trưởng ASEAN vừa diễn ra tại Bali, Indonesia. Trung Quốc và các nước ASEAN bước đầu đạt được sự thống nhất về các hướng dẫn thực thi Tuyên bố về Quy tắc Ứng xử trên Biển Đông (DOC).

Phan Lê
http://vnexpress.net/gl/the-gioi/2011/07/philippines-san-sang-su-dung-quan-su-bao-ve-lanh-hai/

haiquan1993
26-07-2011, 07:08 PM
Tặng quà cho gia đình các liệt sĩ Trường Sa

26/07/2011 13:04









(TNO) Ngày 26.7, kỷ niệm ngày Thương binh liệt sĩ 27.7, Quận Đoàn Hải Châu, TP Đà Nẵng đã tổ chức lễ tri ân tưởng niệm các anh hùng thương binh, liệt sĩ.
Rạng sáng ngày 26.7, hơn 100 đoàn viên, thanh niên của quận Đoàn đã đến nghĩa trang Gò Cà dâng hương tưởng niệm các liệt sĩ đã hi sinh qua các thời kỳ kháng chiến, bày tỏ lòng tri ân của tuổi trẻ Đà Nẵng hướng đến các chiến sĩ đã ngã xuống vì độc lập dân tộc.


http://www.thanhnien.com.vn/Picture20117/MinhNguyet/Thang7/Tangqua2.jpg


Cùng ngày, tại UBND quận Hải Châu, lễ tri ân các anh hùng liệt sĩ cũng đã diễn ra hết sức cảm động, với sự tham dự của các gia đình thương binh, liệt sĩ và những cán bộ cách mạng lão thành; lãnh đạo UBND quận, cùng hơn 200 bạn đoàn viên thanh niên.
Để bày tỏ tình cảm nhân ngày Thương binh liệt sĩ, các bạn đoàn viên, thanh niên Quận Đoàn Hải Châu bằng sự đóng góp của mình, đã gửi 6 phần quà đến 6 gia đình liệt sĩ, hi sinh ở Trường Sa (mỗi phần quà 1 triệu đồng).
Đồng thời, các bạn cũng trao tặng 5 phần quà cho 5 cựu Thanh niên xung phong (ảnh), mỗi phần quà 1 triệu đồng và 15 phần quà cho các gia đình chính sách (mỗi phần quà 500.000 đồng).

HQ0909
26-07-2011, 10:55 PM
Vào đầu năm học 2011-2012, học sinh, sinh viên các trường ĐH, CĐ, TCCN sẽ có một buổi học dành riêng cho các nội dung về chủ quyền biển, đảo và chiến lược biển của Việt Nam.

Theo hướng dẫn của Bộ GD-ĐT, trong "Tuần sinh hoạt công dân - HSSV" đầu năm học 2011-2012, học sinh, sinh viên các trường ĐH, CĐ, TCCN sẽ có ít nhất 5 buổi học tập nhằm nâng cao nhận thức, nắm được tình hình kinh tế, chính trị, xã hội trong nước, khu vực và quốc tế.

Trong đó, HSSV có một buổi học dành riêng cho các nội dung về chủ quyền biển, đảo và chiến lược biển của Việt Nam; giáo dục pháp luật, giáo dục giới tính. Ngoài ra, HSSV được cung cấp các kiến thức về phòng, chống ma túy; tệ nạn mại dâm; phòng, chống HIV/AIDS, tội phạm và các tệ nạn xã hội; phòng, chống tác hại của trò chơi điện tử có nội dung xấu; giáo dục an toàn giao thông; công tác bảo đảm an ninh, trật tự trong trường học.

Bộ GD-ĐT yêu cầu các nhà trường xây dựng kế hoạch học tập phù hợp, tổ chức các hoạt động ngoại khóa, tham quan di tích... Cuối đợt sinh hoạt, HSSV thảo luận, viết thu hoạch và được cấp giấy chứng nhận đã hoàn thành đợt học tập coi đó là tiêu chí đánh giá thi đua.

Quỳnh Phạm - hanoimoi.com
http://daidoanket.vn/index.aspx?Menu=1501&chitiet=35217&Style=1

HQ0909
26-07-2011, 10:58 PM
Hôm nay 26-7, tư lệnh hải quân chín nước trong khu vực Asean (và tùy viên quốc phòng Lào tại VN) có mặt tại thủ đô Hà Nội để tham dự Hội nghị tư lệnh hải quân Asean lần 5-2011 (ANCM-5).
Với chủ đề "Hợp tác hải quân Asean vì hòa bình và an ninh biển”, trong bốn ngày diễn ra hội nghị (đến 29-7), ANCM-5 sẽ tập trung trao đổi, chia sẻ quan điểm về an ninh khu vực và vai trò cũng như biện pháp hợp tác của hải quân trong đối phó với các thách thức an ninh của khu vực. Nội dung thứ hai là thảo luận hai sáng kiến của VN: "Định hướng hợp tác hải quân ASEAN” và "Giao lưu sĩ quan hải quân trẻ Asean”.

ANCM là một trong ba hội nghị quân binh chủng quan trọng (không quân, hải quân và lục quân) được tổ chức thường niên và đây là lần đầu tiên VN đăng cai tổ chức ANCM.

Nằm trong khuôn khổ hợp tác quân sự Asean, ANCM có mục đích trao đổi, chia sẻ quan điểm về tình hình an ninh khu vực, góp phần tăng cường hợp tác hữu nghị, xây dựng lòng tin và sự hiểu biết lẫn nhau giữa các nước...
Đ.BÌNH - tuoitre.vn
http://daidoanket.vn/index.aspx?Menu=1366&chitiet=35214&Style=1

HQ0909
26-07-2011, 11:13 PM
(VTC News) - Trong bài viết trên tạp chí “Asia Focus”, cựu quan chức ngoại giao Mỹ David Brown cho rằng trong thời gian tới, cùng với việc tăng cường sức mạnh trên biển, Trung Quốc sẽ đẩy mạnh hoạt động thăm dò và khai thác tài nguyên. Động thái này của Trung Quốc chắc chắn sẽ vấp phải phản ứng mạnh mẽ của các nước đòi chủ quyền khác, đặc biệt là Việt Nam và Philíppin.

Bài viết do Nghiên cứu Biển Đông giới thiệu.


Với nhận thức rằng các đòi hỏi chủ quyền là vấn đề phức tạp và lâu dài, Trung Quốc đã coi mục tiêu thiết thực trước mắt là khai thác nguồn lợi dầu lửa và khí đốt. Để thực hiện mục tiêu này, Trung Quốc đã đẩy mạnh các nỗ lực trong việc khẳng định quyền kiểm soát phần lớn Biển Đông. Trong thời gian tới, cùng với việc tăng cường sức mạnh trên biển, Trung Quốc sẽ đẩy mạnh hoạt động thăm dò và khai thác tài nguyên.

Động thái này của Trung Quốc chắc chắn sẽ vấp phải phản ứng mạnh mẽ của các nước đòi chủ quyền khác, đặc biệt là Việt Nam và Philíppin. Vì thế tình hình vừa tạm lắng dịu trên Biển Đông trong mấy ngày gần đây - sau một loạt những va chạm giữa Trung Quốc với Philíppin và Việt Nam - chỉ là tạm thời và căng thẳng sẽ sớm tái diễn.


http://farm.vtc.vn/media/vtcnews/2011/07/20/chientrandaumobd07.jpg







Mặc dù các đòi hỏi chủ quyền của Bắc Kinh trên Biển Đông theo đường lưỡi bò dường như phi lý, song trước thế và lực hiện nay của Trung Quốc, các nước như Việt Nam và Philíppin khó có thể kỳ vọng Bắc Kinh nhượng bộ đòi hỏi chủ quyền. Trong trường hợp Trung Quốc không thể đơn phương khẳng định chủ quyền, mức cao nhất mà nước này có thể nhượng bộ là đề nghị cùng hợp tác khai thác tài nguyên tại các khu vực chồng lấn, chiểu theo Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) và các luật pháp quốc tế khác.

Nhiều học giả từng nghiên cứu các tuyên bố khẳng định chủ quyền của các nước tranh chấp tại Biển Đông đều đi đến kết luận rằng phương án khả thi duy nhất để duy trì hòa bình trên Biển Đông là các bên tranh chấp nên gác lại các đòi hỏi chủ quyền và hướng tới xây dựng một cơ chế hợp tác khai thác tài nguyên. Tuy nhiên, triển vọng này cũng không dễ dàng khi một số nước như Philíppin vẫn kiên quyết đàm phán đa phương và không chấp nhận khai thác chung khi chưa phân định rõ chủ quyền.

http://nghiencuubiendong.vn/images/stories/trungq5.JPG

Một khía cạnh khác cản trở triển vọng hợp tác khai thác chính là việc Trung Quốc giờ đây quá tự tin vào khả năng tự tổ chức thăm dò và khai thác nên sẽ không chịu chia sẻ lợi ích cho các bên tranh chấp và cũng không muốn nhượng một phần lợi ích cho Mỹ và phương Tây thông qua việc cho phép các tập đoàn dầu khí nước ngoài hợp tác. Điều này chắc chắn sẽ gây ra phản ứng từ phía Mỹ vì ngoài các toan tính chiến lược toàn cầu, lợi ích tài nguyên ở Biển Đông cũng là một phần lý do khiến Mỹ tuyên bố quay trở lại Đông Nam Á.


http://farm.vtc.vn/media/vtcnews/2011/07/20/pvn1.jpg







Về triển vọng giải quyết tranh chấp, ông David cho rằng bất lợi hiện nay đối với Bắc Kinh là việc các nước ASEAN có tranh chấp ở Biển Đông đã nhất trí cùng gác tranh chấp để tập trung đối phó với Trung Quốc. Các nước ASEAN có tranh chấp cũng đồng quan điểm rằng UNCLOS, Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác (TAC) và một bộ quy tắc ứng xử (COC) trong tương lai là cơ sở cho mọi cuộc đàm phán và buộc Trung Quốc phải hành xử trong một khuôn khổ pháp lý.

Quan điểm thống nhất của các nước ASEAN có tranh chấp ở Biển Đông đã tạo cho họ sức mạnh đoàn kết trước Trung Quốc. Quan điểm đó cũng không trái với luật pháp quốc tế nên các nước ASEAN có tranh chấp dù có lợi ích riêng trong quan hệ với Trung Quốc, cũng khó từ chối việc ủng hộ nhau. Đây là môi trường thuận lợi để nước giữ chức Chủ tịch ASEAN hiện nay là In-đô-nê-xi-a thúc đẩy các nước xây dựng và chấp nhận COC làm nền tảng ngăn ngừa xung đột.

Tuy nhiên, nếu ASEAN không đạt được tiến triển trong việc xây dựng COC thì bất lợi sẽ ập đến sau khi Inđônêxia vào tháng 11 tới trao ghế Chủ tịch ASEAN cho Campuchia và sau đó là Lào và Mianma - ba nước khó cưỡng lại sức ép từ phía Trung Quốc. Khi đó, Trung Quốc sẽ tìm cách chia rẽ ASEAN hơn nữa và ép từng nước hữu quan phải giải quyết tranh chấp thông qua đàm phán song phương, mà đối tượng hàng đầu bị o ép sẽ là Việt Nam và Philíppin.

Nguồn: Asia Focus, ngày 18/7
VTC New (http://vtc.vn/602-294447/quoc-te/nghien-cuu-bien-dong/bat-loi-se-ap-den-neu-asean-khong-som-xay-dung-xong-coc.htm)

HQ0909
27-07-2011, 03:25 PM
Hỗ trợ cho 11 ngư dân trẻ gặp hoạn nạn

Sáng 26.7 tại hội trường Tỉnh Đoàn Bình Định (185 Phan Bội Châu, TP Quy Nhơn), Báo Thanh Niên phối hợp với Tỉnh Đoàn Bình Định và HDBank sẽ tổ chức trao tiền hỗ trợ đợt 1 cho 11 ngư dân trẻ gặp hoạn nạn. Mức hỗ trợ từ 40 đến 80 triệu đồng/người, trong đó:

- Tỉnh Quảng Ngãi có 6 ngư dân gồm: Trương Văn Tiến ở thôn Tây, xã An Hải, H.Lý Sơn; Hồ Văn Lâm ở thôn Đông, xã An Hải, H.Lý Sơn; Bùi Huệ ở đảo Bé, H.Lý Sơn; Trần Hiền ở thôn Tây, xã An Vĩnh, H.Lý Sơn; Võ Đào ở thôn Châu Thuận Biển, xã Bình Châu, H.Bình Sơn. Trần Văn Thoa ở thôn Phú Quý, xã Bình Châu, H.Bình Sơn.

- Tỉnh Bình Định có 3 ngư dân là: Võ Xuân Cường ở thôn Thạnh Xuân Bắc, xã Hoài Hương, H.Hoài Nhơn; Nguyễn Văn Sang ở P.Trần Phú, TP Quy Nhơn; Phan Văn Ca ở xã Cát Khánh, H.Phù Cát, Bình Định.

- Tỉnh Phú Yên có 2 ngư dân là: Trần Min ở P.6, TP Tuy Hòa và Bùi Xuân Minh ở P.6, TP Tuy Hòa.

TNO (http://www.thanhnien.com.vn/Pages/20110724/Giup-ngu-dan-yen-long-ra-khoi.aspx)
__________________________________________________ _________

Khởi công xây nhà Nhân ái cho ngư dân trẻ

Sáng nay 27.7, tại thôn Phước Thiện, xã Bình Hải, H.Bình Sơn (Quảng Ngãi), Báo Thanh Niên phối hợp Tỉnh Đoàn Quảng Ngãi và nhà tài trợ - Công ty TNHH dầu nhờn GS Việt Nam tổ chức lễ khởi công xây nhà cho 5 ngư dân trẻ gặp hoạn nạn, khó khăn.

Các ngư dân được hỗ trợ xây nhà (40 triệu đồng/căn) gồm: Tu Thanh Sơn, Huỳnh Văn Hưng, Huỳnh Văn Phương (cùng thôn Phước Thiện, xã Bình Hải), Lê Thành Tâm (thôn An Vĩnh) và Phạm Hồng Lễ (thôn Kỳ Xuyên, cùng xã Tịnh Kỳ, H.Sơn Tịnh, Quảng Ngãi).

TNO (http://www.thanhnien.com.vn/Pages/20110726/Nuoc-mat-nghia-tinh.aspx)

HQ0909
27-07-2011, 03:59 PM
Đó là nội dung chính trong một bài xã luận đăng trên báo Yomiuri Shimbun, nhật báo lớn nhất Nhật Bản, hôm 26.7.

Bài xã luận có đoạn: “ASEAN muốn bắt đầu đàm phán với Trung Quốc nhằm nâng tuyên bố năm 2002 (Tuyên bố của các bên về ứng xử ở biển Đông - DOC) thành bộ quy tắc ứng xử có tính ràng buộc pháp lý hơn. Thiết nghĩ Nhật Bản nên tích cực ủng hộ ASEAN trong vấn đề này. Chúng ta không thể xem tranh chấp ở biển Đông là chuyện của người khác”.

Trước đó, giáo sư Ken Jimbo của Đại học Kaio nhận định với báo Japan Times rằng tuy không trực tiếp tham gia tranh chấp, Nhật có thể góp phần ngăn chặn xung đột ở biển Đông bằng cách hỗ trợ các nước ASEAN tăng cường khả năng và trang thiết bị tuần duyên cũng như nâng cấp các cảng biển.

http://www.thanhnien.com.vn/Pictures20116/TieuKhuong/11/tau-chien-dep.jpg
Tàu Hải giám 50 của Trung Quốc - Ảnh: cnhubei.com


Trong khuôn khổ các hội nghị khu vực ở Bali, Indonesia hồi tuần trước, Ngoại trưởng Nhật Takeaki Matsumoto cũng tuyên bố Tokyo “rất quan tâm và có lợi ích” trong việc bảo đảm hòa bình và ổn định ở biển Đông.

Tình hình biển Đông gần đây “nóng” lên vì các hành động đơn phương của Trung Quốc nên “Nhật Bản và Mỹ cần hợp tác với ASEAN trong việc yêu cầu Trung Quốc đồng ý xây dựng các quy định có hiệu quả hơn”, Yomiuri Shimbun nhấn mạnh. Bài xã luận còn nhận định hòa bình và ổn định ở biển Đông là lợi ích chung của 18 nước tham dự Hội nghị thượng đỉnh Đông Á (EAS), dự kiến diễn ra tại Bali vào tháng 11. Do đó, các bên cần phải đồng thuận trong việc tạo ra các quy định có giá trị pháp lý. Tham dự EAS sắp tới gồm 10 nước ASEAN, Ấn Độ, Hàn Quốc, Mỹ, Nga, Nhật Bản, New Zealand, Trung Quốc và Úc.

Nhật Bản và Trung Quốc cũng đang có tranh chấp trên biển và giới quan sát đánh giá Tokyo lo ngại nếu Bắc Kinh đạt mục đích thâu tóm biển Đông thì chuyện tương tự có thể xảy ra ở biển Hoa Đông. Theo Tân Hoa xã ngày 26.7, Trung Quốc vừa tăng cường thêm tàu Hải giám 50 vào đội tuần tra ở biển Hoa Đông. Tàu dài 98m, độ rẽ nước 3.980 tấn, áp dụng hệ thống động cơ đẩy quay tối tân. Tính tới nay, đội tàu hải giám Trung Quốc đã sở hữu 283 tàu, 10 máy bay, hơn 300 xe chuyên dụng và nhiều trang bị tiên tiến


Trung Quốc xoa dịu Đài Loan
Trung Quốc vẫn chưa có phản ứng gì về việc Đài Loan cáo buộc 2 máy bay SU-27 của đại lục xâm nhập không phận đảo này vào ngày 29.6. Cơ quan phòng vệ Đài Loan ngày 25.7 tuyên bố sẽ tăng cường theo dõi động thái của Bắc Kinh và sẵn sàng ứng phó. Tuy nhiên, hồi tháng 3, phát ngôn viên Bộ Quốc phòng Trung Quốc Cảnh Nhạn Sinh từng tuyên bố việc triển khai quân sự ở đại lục “tuyệt đối không nhắm vào đồng bào Đài Loan”. “Chúng tôi luôn nghĩ rằng người hai bên nên cố gắng tránh nồi da xáo thịt, chung tay xây dựng một tương lai tươi đẹp”, ông Cảnh nói. Một số nhà phân tích nhận định Trung Quốc đang tìm cách giảm lo ngại từ Đài Loan và lôi kéo đảo này hợp tác trong tranh chấp ở biển Đông. Ngọc Bi




Văn Khoa - Ngọc Bi
TNO (http://www.thanhnien.com.vn/Pages/20110726/Nhat-can-ho-tro-ASEAN-trong-van-de-bien-Dong.aspx)

HQ0909
28-07-2011, 11:50 AM
"Bản chất của biển Đông là vấn đề quốc tế chứ không phải Việt Nam, Philippines hay Indonesia lôi kéo các nước khác vào để quốc tế hóa", Phó đô đốc Nguyễn Văn Hiến, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng phát biểu tại hội nghị Tư lệnh hải quân ASEAN (ANCM-5) sáng 27/7.

Sáng 27/7, tư lệnh hải quân các nước ASEAN đã nhóm họp tại Hà Nội. Đây là lần thứ năm những người đứng đầu hải quân các nước trong khu vực tập trung bàn thảo về chủ đề hợp tác vì hòa bình và an ninh biển.
Theo Phó đô đốc Nguyễn Văn Hiến, Tư lệnh hải quân Việt Nam, những năm qua, xu thế hòa bình, hữu nghị và hợp tác trên biển tiếp tục được duy trì và có những bước phát triển thuận lợi cho hợp tác hải quân cả trong và ngoài khu vực. Tính thực tiễn của hợp tác ngày càng rõ, nổi bật nhất là việc hợp tác tuần tra chung ở eo biển Malacca khiến nạn cướp biển trên tuyến hàng hải quốc tế quan trọng bậc nhất thế giới này giảm mạnh...

Tuy nhiên, ASEAN cũng đang đứng trước những thách thức an ninh đáng kể. "Một thực tế rõ ràng là trong khu vực chúng ta tồn tại những tuyên bố chủ quyền chồng lấn với một số vùng biển, đảo, tập trung trên khu vực biển Đông", Phó đô đốc Nguyễn Văn Hiến nói.
http://vnexpress.net/Files/Subject/3b/a2/cc/22/oh1.jpg
Tư lệnh Hải quân Việt Nam Nguyễn Văn Hiến. Ảnh: Phan Lê.

Theo ông, nhiều hành động vi phạm luật pháp quốc tế và đe dọa chủ quyền đối với một số quốc gia trong khu vực đang đe dọa hòa bình, ổn định của khu vực và thế giới. Điều này tạo nguy cơ bùng nổ xung đột nếu không có nhận thức chung đúng đắn, quyết tâm cho một giải pháp hòa bình và quản lý xung đột hữu hiệu. Đó là chưa kể đến các thách thức an ninh phi truyền thống đang ngày càng gia tăng như thảm họa môi trường, buôn lậu, tội phạp xuyên quốc gia...

Để ứng phó, Tư lệnh Nguyễn Văn Hiến đề nghị hải quân ASEAN cùng xác định lập trường chung về giải pháp hòa bình, thông qua đàm phán cho việc giải quyết các tranh chấp trên những vùng biển có tranh chấp chủ quyền, tuân thủ luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Luật biển 1982. Các nước ASEAN ngoài công khai, minh bạch chính sách quốc phòng để tạo dựng lòng tin cần ủng hộ tích cực cho nỗ lực thực thi Tuyên bố ứng xử các bên ở biển Đông (DOC), tiến tới xây dựng Bộ quy tắc ứng xử trên biển Đông (COC) giữa ASEAN và Trung Quốc.

Hoan nghênh trước việc ASEAN và Trung Quốc đạt được thỏa thuận về Hướng dẫn thực hiện DOC (http://hoangsa.org/gl/the-gioi/2011/07/asean-trung-quoc-thoa-thuan-bien-phap-thuc-thi-doc/), song theo ông Hiến còn cần sự thống nhất giữa lời nói và hành động cũng như thống nhất nhận thức từ cấp lãnh đạo tới người dân. "Bản chất của biển Đông là vấn đề quốc tế chứ không phải Việt Nam, Philippines hay Indonesia lôi kéo các nước khác vào để quốc tế hóa", Tư lệnh hải quân Việt Nam nói.

Cũng tại hội nghị, lần lượt người đứng đầu hải quân các nước đã nêu lên mối quan tâm của mình về hợp tác vì hòa bình và an ninh biển.

Theo Đô đốc Tan Sri Abdul Aziz, Tư lệnh hải quân Malaysia, vấn đề chủ quyền trên biển của các nước hiện rất phức tạp. Tuy nhiên, những vấn đề như môi trường biển, an ninh biển… thì cần cách giải quyết chung. Vì vậy, cần hợp tác chia sẻ thông tin an ninh hàng hải giữa các nước như Malaysia đã làm khá tốt trong thời gian qua.

Vị Tư lệnh này đề nghị nên mở rộng cơ chế này trong khu vực ASEAN. "Muốn làm được điều đó, cần lựa chọn một đơn vị trung tâm kết nối thông tin ở mỗi nước để có tin đầy đủ, nhanh nhạy nhằm có hướng xử lý kịp thời", người đứng đầu hải quân Malaysia nói.
http://vnexpress.net/Files/Subject/3b/a2/cc/22/ancm.jpg
Những người đứng đầu hải quân ASEAN chụp ảnh lưu niệm trong phiên họp sáng 27/7. Ảnh: Admm.org.


Đề cập đến chủ đề tranh chấp trên biển, Phó tư lệnh Philippines, tướng Alexander Pama đề nghị các nước ủng hộ quan điểm giải quyết bằng hình thức song phương lẫn đa phương.

Trong khi đó, Phó Tư lệnh Myanmar, tướng Nyan Tun khẳng định, hợp tác an ninh biển, xử lý hài hòa lợi ích đều là mong muốn của các dân tộc yêu chuộng hòa bình. Ông hy vọng, thông qua các cuộc tiếp xúc, hội nghị của tư lệnh, vấn đề giữa các nước sẽ được giải quyết, đi đến thống nhất dựa trên quan điểm tự nguyện, nguyên tắc đồng thuận.

Đánh giá cao tầm quan trọng của an ninh hàng hải trong bối cảnh hiện tại, Phó đô đốc Marsetio - Phó tư lệnh Hải quân Indonesia - đề xuất lộ trình cụ thể để thúc đẩy hợp tác thông qua hội nghị Tư lệnh hải quân các nước theo hướng mở rộng. Indonesia cũng tán thành việc lập hệ thống chia sẻ thông tin; thành lập trung tâm huấn luyện sĩ quan các nước ASEAN, như tổ chức cuộc gặp gỡ giữa các sĩ quan tham mưu các cấp để xử lý kịp thời những thông tin liên quan đến tình hình chung của khu vực.

Mang đến thông tin khá thiết thực về hợp tác hải quân, Tư lệnh hải quân Singapore, tướng Ng Chee Peng cho biết, việc tuần tra chung giữa Singapore với một số nước chống cướp biển thời gian qua là rất khả quan. "Chúng tôi đã lập cổng thông tin ASEAN về vấn đề an ninh biển, hân hạnh mời hải quân các nước tham gia để chia sẻ thông tin", vị Tư lệnh này cho biết.

Trong khi đó, Tư lệnh Hải quân Brunei đề xuất nên mở rộng hội nghị này giống ADMM+, tức là mời các nước đối tác của ASEAN tham dự. Nếu trước mắt chưa tiến tới ANCM + thì nên nghiên cứu mời quan sát viên các nước.

Trong khuôn khổ hội nghị, từ nay tới 29/7, những người đứng đầu hải quân ASEAN sẽ có các cuộc tiếp xúc song phương và đi thăm một số đơn vị hải quân Việt Nam. Hội nghị ANCM 6 sẽ được tổ chức tại Brunei vào năm 2013.

Nguyễn Hưng - Phan Lê
VNE (http://vnexpress.net/gl/xa-hoi/2011/07/viet-nam-khong-loi-keo-cac-nuoc-vao-bien-dong/)

HQ0909
28-07-2011, 12:39 PM
TT - Bên lề hội nghị Tư lệnh hải quân ASEAN lần 5 (ANCM-5, sáng 27-7), trao đổi với báo chí trong nước và quốc tế, Phó đô đốc, Tư lệnh Hải quân nhân dân Việt Nam Nguyễn Văn Hiến cho biết các tư lệnh hải quân nói sẽ cố gắng không xử lý cứng rắn nữa đối với các trường hợp ngư dân Việt Nam vi phạm.


http://images1.tuoitre.vn/tianyon/ImageView.aspx?ThumbnailID=510439




Phó đô đốc, Tư lệnh Hải quân VN Nguyễn Văn Hiến - Ảnh: Đ.Bình



Tư lệnh Hải quân Việt Nam Nguyễn Văn Hiến cho biết:



Đường dây nóng giúp bảo đảm môi trường thiện chí
Trao đổi với báo chí bên lề ANCM-5, ông Tan Sri Abdul Aziz bin Hj Jaafar, tư lệnh hải quân Malaysia, cho rằng nếu đường dây nóng giữa lực lượng hải quân ASEAN được thiết lập sẽ có tác dụng thông tin nhanh chóng những vụ việc xảy ra trên biển, giúp hải quân phản ứng nhanh hơn. Ông Tan nói: “Nếu có một tàu cá bị bắt, đường dây nóng sẽ cung cấp trợ giúp một cách nhanh chóng. Còn nếu tàu cá bị bắt trong khu vực tranh chấp, cách tốt nhất là thả ra, bởi vì bất cứ một hành động nào khác cũng làm tranh chấp thêm căng thẳng. Đó là lý do vì sao chúng tôi ở đây, để bảo đảm rằng có một môi trường cho các hành động thiện chí”.Thúy Ngân

- Tại hội nghị này, hải quân VN đã đưa ra hai sáng kiến để thảo luận. Thứ nhất là nâng cấp hội nghị không chính thức này lên, vì trước đây chỉ là hội nghị tương tác - gặp gỡ hải quân ASEAN. Còn từ lần này chúng ta nâng lên tầm chính thức là hội nghị tư lệnh hải quân.

Thứ hai, hội nghị này sẽ luân phiên tổ chức theo hình thức tự nguyện đăng cai hằng năm và trước mỗi hội nghị sẽ có nhóm công tác các sĩ quan tham mưu làm việc trước để nâng cao tính hệ thống. Ngoài ra, để tránh va chạm không cần thiết trên biển và để tạo sự thân thiết, gần gũi trên biển giữa hải quân các nước ASEAN thì hội nghị (mà ở đây là VN) đưa sáng kiến tàu, máy bay của hải quân ASEAN khi gặp nhau trên biển sẽ đánh tín hiệu, nháy đèn, vẫy cờ, máy bay nghiêng cánh chào “Hải quân ASEAN”.

* Hiện vẫn tồn tại vấn đề ngư dân VN bị đe dọa, tịch thu phương tiện trong quá trình sản xuất trên biển. Hải quân VN sẽ làm gì để bảo vệ họ?

- Trong quá trình trao đổi riêng, tôi đã làm việc với tư lệnh hải quân hai nước mà ngư dân ta hay vi phạm và bị xử lý cứng rắn nhất là Malaysia và Indonesia. Tôi nói với họ rằng ngư dân VN là ngư dân nghèo đánh cá, trình độ hiểu biết của ngư dân có hạn, việc họ vi phạm vùng biển là không chủ ý và không có ý xâm phạm chủ quyền.

Vì nhu cầu mưu sinh, nên nếu có vi phạm thì trong lúc chúng ta đang thỏa thuận phân chia chủ quyền giữa hai nước, trong lúc VN đang tăng cường giáo dục ngư dân về Luật biển, trong lúc ta chuẩn bị tiến hành hợp tác tuần tra chung trên biển để giảm thiểu các việc đó, tránh hiểu lầm cũng như ảnh hưởng đến quan hệ hai nước thì các tư lệnh hải quân đều ủng hộ.

Họ nói sẽ cố gắng xử lý không cứng rắn nữa đối với các trường hợp ngư dân VN vi phạm. Họ cũng nói không chỉ có hải quân theo dõi việc này mà nước họ cũng có nhiều lực lượng khác tham gia, như Indonesia có 12 lực lượng quản lý biển khác nhau thì họ chỉ lo được ở góc độ hải quân, còn các lực lượng khác họ không lo được, mà chỉ có thể tác động thôi.

* Hải quân là lực lượng chủ yếu bảo vệ chủ quyền biển đảo của tất cả các nước. Vậy tiếng nói chung của hải quân ASEAN đối với Trung Quốc là như thế nào?

- Qua trao đổi riêng với từng đoàn thì các đoàn đều ủng hộ phương án là nên xử lý tranh chấp với Trung Quốc và cả tranh chấp trong ASEAN phải theo luật pháp quốc tế, đặc biệt là công ước Luật biển năm 1982, rồi Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở biển Đông (DOC) và gần đây nhất là hướng dẫn thực hiện DOC vừa thỏa thuận được tại Bali (Indonesia) tháng vừa rồi. Đặc biệt phải tôn trọng DOC để giải quyết các tranh chấp bằng thương lượng hòa bình, không đe dọa dùng vũ lực và sử dụng vũ lực.

* Hợp tác hải quân ASEAN đã góp phần như thế nào vào việc giữ gìn hòa bình trên biển?

- Hải quân tất cả các nước đều giữ vai trò chủ chốt trong giữ gìn, bảo vệ chủ quyền, an ninh biển nên hợp tác hải quân rất quan trọng. Lần này hải quân VN đưa thành hội nghị chính thức, được các nước ủng hộ nhiệt liệt và đồng thuận rất cao. VN đã mở ra nền tảng hợp tác hải quân, và đặc biệt quan trọng hiện nay vì an ninh biển không chỉ quan trọng đối với các quốc gia nằm bên bờ biển Đông mà cả các quốc gia không có biển của ASEAN, cả các quốc gia ngoài khu vực có lợi ích ở đây. Hợp tác hải quân vì thế vô cùng quan trọng, cần phải nâng lên tầm hội nghị.

Cần phải mở rộng các biện pháp cụ thể, và các biện pháp cụ thể phải được tiến hành trên thực tiễn. Hội nghị lần này hải quân các nước sẽ thống nhất đề xuất các sáng kiến, các biện pháp cụ thể và sẽ xích lại gần nhau hơn. Tôi cho rằng trước đây vấn đề biển nhạy cảm nên các hội nghị hải quân không gọi là hội nghị, mà chỉ có các hội nghị không quân, lục quân vì thật ra nó ít chồng lấn lĩnh vực mà cũng chỉ gọi là gặp gỡ. Mười năm qua, từ năm 2001-2010 chỉ có bốn hội nghị, có lần bị ngắt quãng từ năm 2005 đến năm 2010 mới tổ chức. Lần này chúng ta nâng lên thành hội nghị thường niên và có tổ chức thực hiện. Ta đã củng cố cấu trúc mới về hợp tác hải quân, góp phần tạo nên cấu trúc lớn về hợp tác an ninh trong khu vực.
Đ.BÌNH ghi


Hội nghị Tư lệnh Hải quân ASEAN-5: Mở rộng hợp tác với các nước ngoài khu vực


Sáng 27-7, Hội nghị tư lệnh hải quân ASEAN lần 5-2011 (ANCM-5) đã khai mạc với sự tham dự của tư lệnh hải quân chín nước ASEAN và tùy viên quốc phòng Lào tại VN.

Các tư lệnh hải quân đã thống nhất sẽ mở rộng hợp tác với các nước ngoài khu vực, phối hợp triển khai tuần tra chung trên biển Đông. Hải quân ASEAN sẽ lập trung tâm và cổng thông tin để chia sẻ thông tin, thiết lập đường dây nóng giữa hải quân các nước trong khu vực, hợp tác về tình báo và đào tạo chung. Thống nhất việc gửi tín hiệu chào nhau giữa hải quân các nước khi gặp nhau trên biển...
Phát biểu tại hội nghị, Phó đô đốc Nguyễn Văn Hiến - thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm tư lệnh Hải quân nhân dân VN - khẳng định: “Tình hình an ninh trên biển Đông đang diễn ra hết sức phức tạp, việc vi phạm chủ quyền quốc gia đối với một số nước ASEAN đang gây ra những lo ngại cho nhiều nước trong và ngoài khu vực”.

Tư lệnh hải quân các nước cho rằng “tình hình an ninh biển Đông đã có sự đan xen phức tạp” mà một quốc gia đơn lẻ khó có thể tự giải quyết. Các đại biểu cũng cảnh báo trong khi chưa có một cơ chế quản lý xung đột hữu hiệu thì “những tính toán sai lầm có thể dẫn tới xung đột”. Biện pháp giải quyết chỉ có thể bằng “ngoại giao hòa bình”, dựa trên cơ sở luật pháp quốc tế.
Đ.Bình - Thúy Ngân


nguồn: tuoitre (http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/448540/Ngu-dan-vi-pham-se-duoc-xu-ly-mem-hon.html)

HQ0909
28-07-2011, 12:46 PM
Trích tiền vé trận VN - Qatar “góp đá”

TT - Ngày 26-7, Liên đoàn Bóng đá VN (VFF) đã quyết định sẽ trích 1 tỉ đồng từ số tiền bán vé xem trận đấu giữa đội tuyển VN và đội tuyển Qatar (ở trận lượt về vòng loại thứ hai World Cup 2014) để ủng hộ chương trình “Góp đá xây Trường Sa” do Trung ương Đoàn và báo Tuổi Trẻ phát động.

Ông Nguyễn Trọng Hỷ, chủ tịch VFF, cho biết: “VFF đánh giá cao ý nghĩa cao đẹp của chương trình trong việc góp phần hỗ trợ thiết thực cho công tác xây dựng, gìn giữ biển đảo và thềm lục địa thiêng liêng của Tổ quốc, tạo nhịp cầu để người dân ở đất liền đến với biển đảo được gần hơn. Chính vì vậy, chúng tôi muốn góp một phần nhỏ của bóng đá tham gia với chương trình này, như sự thể hiện tấm lòng của những công dân hoạt động trong lĩnh vực bóng đá gửi đến Trường Sa. Cũng thông qua chương trình, VFF và đội tuyển quốc gia xin gửi tới đồng bào và các chiến sĩ đang làm nhiệm vụ tại vùng biển, đảo Trường Sa lời chúc tốt đẹp nhất. Bên cạnh đó, VFF cũng mong người hâm mộ hãy đến sân Mỹ Đình chiều 28-7 để cổ vũ cho đội tuyển của chúng ta trong trận đấu với Qatar. Một phần tiền vé xem trận đấu này sẽ được gửi đến chương trình Góp đá xây Trường Sa”.
http://tuoitre.vn/Ban-doc/448385/Trich-tien-ve-tran-VN---Qatar-“gop-da”.html

Sat That
30-07-2011, 07:55 AM
Máu người không phải nước lã
Tác giả: Tương Lai
Bài đã được xuất bản.: 38 phút trước


Một câu hỏi đặt ra : nguồn mạch nào đã tạo ra ý chí và sức mạnh của dân tộc ta vượt qua những thử thách chiến tranh nối tiếp chiến tranh vô cùng tàn khốc, thế hệ này sang thế hệ khác kế tiếp nhau cầm vũ khí chiến đấu không ngừng không nghỉ bất chấp mọi hy sinh?

Trong những ngày tháng bảy nặng trĩu suy tư này, cùng với nén nhang thắp lên mộ liệt sĩ và lá thư gửi người bạn thương binh vượt quá tuổi "xưa nay hiếm" đã lâu vẫn đang gò lưng trên trang viết có thể đưa lên trang báo, trang mạng những lời tâm huyết, lại phải dày vò trong sự lý giải về những hy sinh vô bờ bến của dân tộc mình để tồn tại và phát triển đăng tìm lối ra cho những day dứt, băn khoăn.
Một câu hỏi đặt ra : nguồn mạch nào đã tạo ra ý chí và sức mạnh của dân tộc ta vượt qua những thử thách chiến tranh nối tiếp chiến tranh vô cùng tàn khốc, thế hệ này sang thế hệ khác kế tiếp nhau cầm vũ khí chiến đấu không ngừng không nghỉ bất chấp mọi hy sinh? Liệu có phải ông cha ta đã từng giải thích điều đó. Lục tìm trong ký ức bài thơ "Gốc Lửa" [Nguyên hỏa] của thiền sư Khuông Việt thế kỷ XI
Mộc trung nguyên hữu hỏa
Nguyên hỏa phục hoàn sanh
Nhược vị mộc vô hỏa
Toàn toại hà do manh
[Tạm dịch : Trong cây vốn có lửa/ Sẵn lửa, lửa mới sinh ra/ Nếu cây không có lửa/ Khi cọ xát sao lại thành]. Bản lĩnh Việt Nam được tôi luyện trong cái thế trứng chọi đá mà muốn tồn tại thì phải thường trực cảnh giác và ngoan cường, chỉ một chút lơi lỏng, dao động là mất nước.
Bởi vậy mới có câu "Đầu tôi chưa rơi, xin bệ hạ đừng lo" của Trần Thủ Độ trấn an vua Thái Tông. Nhưng rồi trước sức uy hiếp của giặc, Thánh Tông và Nhân Tông vẫn băn khoăn. Để chấm dứt sự dao động, Trần Hưng Đạo quyết liệt hơn : "Bệ hạ muốn hàng, xin trước hãy chém đầu tôi"! "Nếu cây không có lửa", nếu hồn thiêng sông núi không hun đúc nên một bản lĩnh, khí phách và tài thao lược của "Đức Thánh Trần" thì làm sao quy tụ được lòng dân, quan quân "một lòng phụ tử" để khắc lên cánh tay hai chữ "Sát Thát"!
Chính sách "ngụ binh ư nông" của thời Trần thế kỷ XIII vẫn cứ phải kéo dài cho đến thế kỷ XXI và chắc sẽ còn phải bổ sung, cập nhật, sáng tạo thêm. Thì đấy, chỉ sau ngày 30 tháng tư năm 1975, non sông quy vào một mối chưa được bao lâu, hậm hực vì một Việt Nam hùng mạnh cản trở những tham vọng nung nấu từ thời đế quốc Nguyên Mông muốn tràn xuống Đông Nam Á, một cuộc chiến đẫm máu nữa đã được phát động. Cho dù đã có những danh tướng như Toa Đô phải rơi đầu, Ô Mã Nhi phải nằm trong bụng cá, vẫn chưa đủ "dạy" cho chúng những "bài học"! Cơn khát năng lượng khiến cho "cái lưỡi bò" tham lam liều lĩnh vẫn cứ thè ra bất chấp pháp lý và đạo lý!


http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/assets/images/phapluattp1307695441_1311933498.jpg



Trước nanh vuốt của kẻ thù, từ người lính đến người dân trĩu nặng lòng yêu nước, thuộc mọi tầng lớp xã hội, chính kiến, tôn giáo trong nước và nước ngoài... đã kiên trì đấu tranh, khi thầm lặng, khi quyết liệt trên tất cả các mặt trận từ quân sự đến chính trị, ngoại giao... Vậy thì cái gì đã hun đúc nên sức quật khởi kỳ diệu của chủ nghĩa yêu nước sâu nặng, thà hy sinh tất cả chứ nhất quyết không làm nô lệ của người Việt Nam ta?
Liệu có phải do lời răn dạy của ông cha ta, khi "sơn hà nguy biến" thì phải bằng sức mạnh toàn dân để hóa giải, "gươm dơ lấy nước làm sạch, nước dơ lấy máu làm sạch".
Máu của biết bao thế hệ Việt Nam đã thấm đẫm trên từng thước đất, thước nước từ Trường Sơn ra đến Biển Đông. Ai có thể đếm được, để tồn tại, dân tộc này phải trả giá bao nhiêu sinh mạng Việt Nam, bao nhiêu cơ nghiệp, nhà cửa, đền thờ, chùa chiền, mồ mả ông cha... bị tàn phá trong cuộc chiến đấu tàn khốc quyết giành cho được độc lập và thống nhất đất nước, tự do và hạnh phúc cho nhân dân? Máu chảy ruột mềm,ai đã ngã xuống trên mảnh đất này, dù ở trên chiến tuyến nào cũng đều chung dòng máu Việt Nam trong huyết quản.
Vậy mà vết thương của chiến tranh đâu đã thôi rỉ máu. Làm sao cảm thông đủ được với những nạn nhân của chất độc da cam mà nhiều người, nhiều gia đình đang gánh chịu? Theo nhiều nhà khoa học thế giới, số người bị nhiễm chất độc này ở Việt Nam không phải chỉ dừng ở con số 4, 8 triệu người mà có thể là hàng chục triệu người, tác động của chất độc khủng khiếp này không chỉ là 20 năm mà có thể trên cả 100 năm với những di truyền về sinh thái đặc biệt gây ra tình trạng sảy thai, lưu thai hoặc có con bị dị tật bẩm sinh. Theo Beatrice Eisman và Vivian Raineri *, trong thập niên 1980, chỉ riêng tại bệnh viện Từ Dũ ở Thành phố Hồ Chí Minh trung bình mỗi ngày có một trẻ sơ sinh ra đời với dị tật bẩm sinh.
Xin chỉ gợi ra đây một chuyện. Từ một lá thư của độc giả gửi đến người đang viết những dòng này khẩn thiết kêu gọi sự quan tâm giúp đỡ ông bố của anh : một thương binh đang bị hành hạ bởi chất độc da cam trong khi một mảnh đạn vẫn còn nằm trong đầu chưa gắp ra được. Bức thư có đoạn : " qua quá trình điều trị tại Bệnh viện Đa khoa Hà Đông, bệnh viện đã xác định bố cháu bị xơ gan, ung thư gan, tiểu đường típ 2. Vào năm 2010, bố cháu đã 3 lần được bệnh viện đưa đến giám định tại Trung tâm Giám định chất độc da cam của Bệnh viện. Trong 3 lần ấy, các bác sĩ tại đây đã làm các xét nghiệm đầy đủ và đã có kết luận là bố cháu bị nhiễm chất độc màu da cam [Trong số 120 người đến giám định, sau khi loại dần chỉ còn lại 6 người, sau đó còn 3 người thì bố cháu ở trong diện 3 người đó]. Mặc dầu vậy, trong thời gian qua, bố cháu chưa hề nhận được bất cứ sự trợ giúp nào của Nhà nước theo như chính sách đã quy định. Vừa rồi, bố cháu lại nhận được giấy gọi đi giám định lần thứ 4 vào ngày 14.4.2011 tới. Trong tình trạng bệnh tình nguy kịch của bố cháu hiện nay, bố cháu vẫn bắt khiêng đi giám định...".
Bốn lần giám định mà chi phí đều do người bệnh gánh chịu và đã có kết luận hình như vẫn chưa đủ để nhận được một trợ giúp cho người thương binh nhâp ngũ tháng 7.1967 và chiến đấu trên các mặt trận, nơi Mỹ rải nhiều chất da cam nhất, trong cơn túng quẫn của gia đình anh H...tình cờ đọc được bài báo của người đang viết những dòng này và gửi thư cầu cứu. Bức thư được chuyển đến báo Đại Đoàn Kết, và Tổng biên tập đã có phản hồi tích cực, cử phóng viên về địa phương tìm hiểu và có bài phóng sự đăng trên số báo ra ngày 24.6.2011.
Và, oái oăm thay, sự quan tâm của ngôn luận lại đến quá muộn, trước đó mấy ngày, bố anh H... đã lìa đời để không thể nghe đọc bài phóng sự tình nghĩa nóng bỏng kia. Tìm cách trao tờ báo ra muộn này cho anh, con trai của người xấu số, anh H...ứa nước mắt đau đớn : "Thế là Bố cháu không còn đọc được tin vui này để vơi đi phần nào nỗi đau đớn và u uất". Vậy mà anh vẫn chân thành cám ơn người chuyển tờ báo và rồi mấy ngày sau, người này nhận được gói nụ vối anh gửi tặng để tỏ lòng biết ơn!
Trong sương sớm, giữa sự tĩnh lặng của thành phố mang tên Bác, ngồi nhâm nhi ngụm nước vối nghĩa tình để suy ngẫm về thời cuộc và thân phận con người qua câu chuyện của người cựu chiến minh từng đổ máu trên chiến trường. Vị chát đắng quen thuộc của hương thơm nụ vối đọng lại trong cổ.. Bất giác không cầm được nước mắt. Thoáng trong óc lời bài hát Trịnh Công Sơn : "...Giọt nước mắt thương dân/ Dân mình phận long đong...Ôi dòng nước mắt trong tim/ Chảy lai láng vào hồn..."**.
Nước mắt Việt Nam nào cũng có vị mặn, máu của cơ thể Việt Nam nào cũng màu đỏ. Bỗng nhớ đến một cuốn sách của ai đó có nhan đề "Máu người không phải nước lã" để rồi vận vào mình : máu của dân tộc mình chắc chắn không phải là nước lã!
------------------------
Nguồn www.vietnamnet.vn (http://www.vietnamnet.vn)

HQ0909
31-07-2011, 02:08 PM
TT - Trao đổi với Tuổi Trẻ bên hành lang Quốc hội, chủ tịch HĐQT Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương VN (VietinBank) Phạm Huy Hùng cho biết VietinBank đã chính thức khởi công xây dựng trung tâm văn hóa tại đảo Nam Yết, quần đảo Trường Sa, Khánh Hòa với tổng đầu tư lên đến 60 tỉ đồng, được lấy từ quỹ phúc lợi của 18.000 cán bộ công nhân viên VietinBank.

Ông Hùng cho biết trung tâm văn hóa này là công trình lớn nhất trên Trường Sa, có diện tích đất xây dựng 1.300m2, tổng diện tích sàn xây dựng 3.000m2.

Trung tâm có cả hội trường lớn, thư viện, nhà đọc sách, nhà nghỉ... Dự kiến công trình sẽ hoàn thành vào tháng 4-2012.

C.V.KÌNH
http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/449044/60-ti-dong-xay-trung-tam-van-hoa-o-dao-Nam-Yet.html

HQ0909
01-08-2011, 10:33 PM
Ủy ban điều tra an ninh - kinh tế Mỹ vừa ra tuyên bố cảnh báo các hành động không phù hợp của Trung Quốc trên Biển Đông.

Ủy ban điều tra an ninh - kinh tế nói trên thuộc Quốc hội Mỹ và có những bộ phận chuyên nghiên cứu, theo dõi về những biến động tại khu vực châu Á.


http://images.danviet.vn/CMSImage/Resources/Uploaded/linhan/TQ1.jpg




Một tàu ngư chính của Trung Quốc trên Biển Đông. Ảnh: China Daily



Ủy ban này cho rằng, những hành động gần đây của Trung Quốc trên Biển Đông "hoàn toàn trái với luật biển của Liên Hợp quốc và tập quán cơ bản của quốc tế trong đòi hỏi chủ quyền trên biển".

Ủy ban này đề xuất Mỹ tiến hành thường xuyên hơn các cuộc tập trận ở Biển Đông, coi đó là hình thức phản đối chiến lược biển của Trung Quốc.

Theo ủy ban trên, tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc đối với các đảo ở Biển Đông chỉ dựa trên căn cứ lịch sử của nước này, không thỏa mãn các điều kiện đòi chủ quyền theo tập quán quốc tế hiện đại.
L.A
Theo Sankei
http://danviet.vn/p1c26/the-gioi.htm

HQ0909
03-08-2011, 11:29 AM
(GDVN) - Nhân dân Nhật báo ngày 2/8 cho biết, Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã chính thức cho ban hành bộ quy tắc hướng dẫn thực hiện các tuyên bố về ứng xử trên Biển Đông nhằm giảm bớt các tranh chấp lãnh thổ với các quốc gia Đông Nam Á.

Theo báo này, Bộ quy tắc ứng xử trên được các bên có liên quan thống nhất thông qua tại một Hội nghị AMM 44 và ARF 18 hồi cuối tháng 7 vừa qua ở Bali, Indonesia.Bộ quy tắc hướng dẫn thực hiện các tuyên bố về ứng xử trên Biển Đông đã được chính thức đăng tải trên trang web của Bộ Ngoại giao Trung Quốc (www.mfa.gov.cn (http://www.mfa.gov.cn)) vào cuối ngày thứ Hai.

http://giaoduc.net.vn/images/stories/2011/08/02/images(1).jpg

Theo Nhân dân Nhật báo, động thái trên cho thấy thái độ chân thành của Bắc Kinh trong việc giải quyết căng thẳng trên lãnh hải.

Tuy nhiên, bài báo trên cũng nhấn mạnh rằng đó không phải là giải pháp mang tính lâu dài giúp giải quyết các tranh chấp trên biển và khẳng định Trung Quốc sẽ vẫn giữ nguyên các tuyên bố về chủ quyền lãnh thổ của mình trên Biển Đông

Nguyễn Hường (Theo Reuters)
giaoduc (http://giaoduc.net.vn/quoc-te/43-tu-lieu/9399-trung-quc-cong-b-quy-tc-hng-dn-thc-hin-doc.html)

HQ0909
03-08-2011, 12:01 PM
Philippines định mở thầu cho các dự án thăm dò dầu khí tại các khu vực trên biển Đông, bất chấp căng thẳng đang leo thang về tranh chấp chủ quyền với Trung Quốc.

AFP hôm qua trích thuật nguồn tin từ Thứ trưởng Năng lượng Jose Layug của Philippines cho biết một số công ty nước ngoài, trong đó ba công ty Trung Quốc kể cả công ty CNOOC do nhà nước quản lý, tỏ ý muốn khai thác dầu tại các vùng biển ngoài khơi đảo Palawan phía Tây Philippines.

Ông Layug nói các khu vực này không phải là vùng có tranh chấp và hoàn toàn nằm trong đặc khu kinh tế 200 hải lý của Philippines.

Tin AP cùng ngày cho hay nhật báo Nhân Dân của Trung Quốc hôm qua tố cáo chính quyền Manila thiếu thiện chí giải quyết tranh chấp ở biển Đông, đồng thời cảnh cáo sẽ có hậu quả nếu các mối quan tâm của Trung Quốc bị lơ là.

Tờ Nhân Dân nói hoạt động xây dựng gần đây của binh sĩ Philippines trên một quần đảo mà Manila nhận chủ quyền vi phạm tinh thần thỏa thuận sơ khởi đạt được hồi tháng rồi giữa Trung Quốc với các nước ASEAN trong việc giải quyết tranh chấp ở biển Đông.

Nhân Dân nhật báo của Trung Quốc khẳng định Trung Quốc sẽ không ngồi yên để cho lãnh thổ của mình bị các nước khác nuốt chửng.

Hãng thông tấn Reuters cho hay tối 1/8, Bộ Ngoại giao Trung Quốc công bố trên website bản hướng dẫn liên quan đến việc giải quyết tranh chấp biển Đông mà Bắc Kinh cùng các nước ASEAN nhất trí hồi tháng trước tại hội nghị ở Indonesia.

Truyền thông Trung Quốc nói công bố các quy định phát huy tinh thần hợp tác chứng tỏ thiện chí của Bắc Kinh trong việc giải quyết căng thẳng ở biển Đông nhưng khẳng định rằng Trung Quốc sẽ không lùi bước trong các tuyên bố chủ quyền rộng lớn của mình tại khu vực.
Theo VOA
BĐV (http://baodatviet.vn/Home/thegioi/Philippines-khong-them-de-y-thai-do-cua-TQ/20118/159164.datviet)

HQ0909
03-08-2011, 10:46 PM
Đàm phán cấp chuyên viên về Thỏa thuận những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển giữa Việt Nam và Trung Quốc vừa diễn ra tại Hà Nội.

http://vnexpress.net/Files/Subject/3b/a2/d1/03/bien-dong-3.jpg

Thông báo của Bộ Ngoại giao hôm nay cho biết từ ngày 29/7 đến 1/8 đã diễn ra Đàm phán vòng 7 cấp chuyên viên về Thỏa thuận những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển giữa Việt Nam và Trung Quốc.

"Qua 7 vòng đàm phán, hai bên đã sơ bộ nhất trí với nhau về một số nguyên tắc như: Các tranh chấp ở Biển Đông cần được giải quyết bằng các biện pháp hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Liên Hợp quốc về Luật Biển năm 1982", văn bản trên dẫn lời của phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Nguyễn Phương Nga.
"Trong quá trình giải quyết tranh chấp, cần nghiêm chỉnh thực hiện “Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông” (DOC), không tiến hành bất cứ hành động nào nhằm mở rộng, phức tạp hóa tranh chấp, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực; Những vấn đề chỉ liên quan đến Việt Nam và Trung Quốc thì giải quyết song phương, những vấn đề liên quan đến các bên khác thì cần trao đổi giữa các bên liên quan".
Hai bên thỏa thuận sẽ tổ chức vòng đàm phán tiếp theo trong năm nay.

Mai Trang
VNE (http://vnexpress.net/gl/the-gioi/2011/08/viet-trung-tiep-tuc-dam-phan-ve-bien-dong/)

rock_coi84
06-08-2011, 03:31 AM
"Tuần hành là hành động thể hiện lòng yêu nước"


http://dantri4.vcmedia.vn/VLEfzoZuPAIveDWb3xCC/Image/2011/07/NVH5010_f8abc.jpg
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Chủ tịch nước Trương Tấn Sang theo dõi phiên thảo luận tại hội trưởng (ảnh: Việt Hưng).


Tại buổi thảo luận của Quốc hội chiều 5/8, đại biểu Nguyễn Bá Thuyền (Lâm Đồng) cho rằng, tình hình biển Đông có diễn biến phức tạp, Chính phủ đã chủ động đấu tranh ngoại giao, có các biện pháp đồng bộ để nêu cao chủ quyền, phản đối những hành vi gây hấn. Chính phủ cũng đã có báo cáo hoành tráng về vấn đề này.

Tuy nhiên, đại biểu vẫn chưa hài lòng, chưa yên tâm khi tình hình biển Đông còn rất phức tạp. Đại biểu kỳ vọng nhiệm kỳ này “cố gắng lấy lại quần đảo Hoàng Sa”.

Đại biểu Nguyễn Tấn Tuân (Khánh Hòa) cho biết, nhiều cử tri bày tỏ bức xúc trước hiện tượng ngư dân Việt Nam đánh bắt ở ngư trường của mình bị tàu nước ngoài xua đuối. Tàu thăm dò dầu khí của Việt Nam cũng bị cắt cáp. Ngoài ra còn nhiều hành động xâm phạm chủ quyền biển đảo khác.

Nhận xét Chính phủ đã kịp thời có báo cáo và các chương trình gắn với phát triển kinh tế và đảm bảo an ninh quốc phòng nhưng ông Tuân đề xuất Quốc hội cũng cần có chính kiến, yêu cầu Chính phủ xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế các vùng biển đảo như nào để kết hợp được việc bảo đảm an ninh, chủ quyền quốc gia.

Ông Tuân gợi ý: “Nếu Chính phủ tạo ra, củng cố được các tuyến vành đai vững chắc trên biển đảo bằng các chương trình phát triển kinh tế như vận tải biển, khai thác dầu khí, nuôi trồng, đánh bắt hải sản thì lúc đó người dân cũng có nhiều điều kiện thể hiện lòng yêu nước bằng cách bám biển để bảo vệ chủ quyền”.

Đại biểu cũng đặt vấn đề Quốc hội cần xem xét hành động thế nào, làm gì để người dân thể hiện lòng yêu nước một cách đúng đắn. Nói về những cuộc tuần hành hòa bình của người dân để phản đối tình trạng xâm phạm chủ quyền, ông Tuân bày tỏ đã rất buồn về những thông tin cho rằng người dân làm cái này cái kia, mổ xẻ đó là hành động tự phát hay tự giác. “Tôi cho đó cũng là một hành động để thể hiện lòng yêu nước của người dân với chủ quyền biển đảo của chúng ta” – ông Tuân khảng khái.


Nguồn: dantri.com.vn

HQ0909
06-08-2011, 09:46 AM
Chiều qua (5.8), QH thảo luận tại hội trường về tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm và các giải pháp thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 6 tháng cuối năm.

Các đại biểu đề nghị, Chính phủ cần làm rõ đâu là nguyên nhân khách quan, đâu là nguyên nhân chủ quan gây nên tình hình lạm phát như hiện nay để có biện pháp khắc phục. Nhiều ý kiến nhận xét tình trạng đầu tư công còn dàn trải và kém hiệu quả nhưng việc cắt giảm đầu tư công mà Chính phủ áp dụng cần phải tính toán hợp lý chứ không phải cắt giảm đồng loạt như thời gian vừa qua. Đồng thời với cắt giảm, phải có tiêu chí cụ thể, gắn với từng địa phương, từng vùng miền. Nếu cứ cắt giảm cào bằng thì kinh tế - xã hội ở miền núi không thể rút ngắn khoảng cách so với miền xuôi được.

Xung quanh vấn đề an ninh quốc phòng, ĐB Nguyễn Tấn Tuân (Khánh Hòa) đề xuất: Quốc hội phải có chính kiến và đề nghị Chính phủ báo cáo kế hoạch phát triển kinh tế ở các vùng biển đảo như thế nào để trên cơ sở đó chúng ta kết hợp được việc phát triển kinh tế và bảo đảm an ninh quốc phòng.

"Nếu Chính phủ tạo ra được các vành đai vững chắc trên tuyến huyện đảo bằng các chương trình phát triển kinh tế mũi nhọn như vận tải biển, khai thác dầu khí, nuôi trồng, đánh bắt thủy sản thì lúc đó tôi nghĩ người dân sẽ có nhiều điều kiện để thể hiện lòng yêu nước của mình bằng việc bám biển để chúng ta giữ được chủ quyền biển đảo", ĐB Tuân nói.

Sáng nay (6.8), QH tiếp tục thảo luận tại hội trường về tình hình kinh tế - xã hội .

T.Mai
TNO (http://www.thanhnien.com.vn/Pages/20110806/Bao-ve-chu-quyen-bien-dao-gan-voi-phat-trien-kinh-te.aspx)

HQ0909
06-08-2011, 09:52 AM
Ngày 3-8, đại diện Hội Gôn TP.HCM đã đến trao đổi với Tuổi Trẻ và Bệnh viện 175 về việc góp 1 tỉ đồng trong giải golf Swing for life 2011 để tài trợ các thiết bị y tế cho Trường Sa.

Ông Hồ Hùng Vân, phó chủ tịch Hội Gôn TP.HCM, cho biết: “Giải golf lần này cũng rất đặc biệt vì trong 10 năm tổ chức với số tiền 10 tỉ đồng đều để chăm lo cho người nghèo. Nhưng lần thứ 11 (năm 2010) giải được tổ chức để ủng hộ hai dàn năng lượng mặt trời trị giá gần 1 tỉ đồng cho chương trình “Chung tay thắp sáng nhà giàn DK1” của báo Tuổi Trẻ.

Tiếp nối truyền thống đó, năm nay các tay golf của TP.HCM cũng muốn đồng hành cùng chương trình của báo Tuổi Trẻ để hỗ trợ nâng cấp bệnh xá Trường Sa nhằm giúp các ngư dân, người dân và chiến sĩ trên đảo yên tâm giữ biển, giữ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc”.

Tại cuộc gặp, đại tá Nguyễn Hồng Sơn - phó giám đốc Bệnh viện 175, đơn vị trực tiếp phụ trách các trạm xá, bệnh xá tại Trường Sa - cho biết: “Bệnh viện rất phấn khởi khi Hội Gôn TP.HCM hỗ trợ các trang thiết bị cho bệnh xá Trường Sa. Hiện bệnh xá cũng đang xuống cấp và thiếu thốn nhiều trang thiết bị y tế, máy phát điện... cần được hỗ trợ”. Qua đó đại diện ba đơn vị đã thống nhất số tiền thu được sẽ dùng để trang bị máy siêu âm (kỹ thuật số), máy xét nghiệm, bộ dụng cụ phẫu thuật chuyên dụng... phục vụ nhu cầu khám chữa bệnh cho người dân và chiến sĩ tại đảo.
tuoitre (http://tuoitre.vn/Ban-doc/449780/Thay-vi-gui-hoa-hay-dong-gop-cho-Truong-Sa.html)

youk0n
06-08-2011, 10:03 AM
Trích đoạn.
Tuy nhiên, đại biểu vẫn chưa hài lòng, chưa yên tâm khi tình hình biển Đông còn rất phức tạp. Đại biểu kỳ vọng nhiệm kỳ này “cố gắng lấy lại quần đảo Hoàng Sa”.
http://dantri.com.vn/c728/s728-505283/tuan-hanh-la-hanh-dong-the-hien-long-yeu-nuoc.htm
Biết rằng rất khó, nhưng rõ ràng là chúng ta đang cố gắng chứ không phải ngồi không.

HQ0909
06-08-2011, 04:31 PM
Đòi hỏi vô lý của Trung Quốc đối với "đường lưỡi bò" trên Biển Đông là một trong những mối đe dọa lớn nhất đối với hòa bình ở khu vực Đông Nam Á, Ngoại trưởng Philippines hôm qua khẳng định.


http://vnexpress.net/Files/Subject/3b/a2/d2/aa/PHI.jpg
Ông Albert del Rosario, Ngoại trưởng Philippines. Ảnh: AFP
Ngoại trưởng Philippines Albert del Rosario phát biểu tại một đại học ở thủ đô Manila hôm qua. Trong bài phát biểu ông cho rằng mối đe dọa từ Bắc Kinh không chỉ liên quan tới những bên tuyên bố chủ quyền tại Biển Đông, mà còn tác động tới tất cả thực thể đang sử dụng Biển Đông để lưu thông hàng hải.

"Các tàu hải quân Trung Quốc đã bắn cảnh cáo về phía ngư dân Philippines, quấy rối một tàu thăm dò dầu mỏ và dựng nhiều vật đánh dấu trên vùng biển thuộc chủ quyền của Philippines trong năm nay, sau khi Trung Quốc đưa ra yêu sách 9 đoạn về Biển Đông", AFP dẫn lời ông Rosario.

Ông Rosario cho rằng, nếu chủ quyền Philippines trên Biển Đông bị "bôi nhọ" bởi yêu cầu "vô căn cứ" của Bắc Kinh, nhiều nước nên tính trước những nguy cơ tiềm ẩn đối với hoạt động hàng hải trên Biển Đông. Ngoại trưởng Philippines nói yêu sách 9 đoạn hay còn gọi là "đường lưỡi bò" là một trong những "mối đe dọa lớn nhất đối với sự ổn định tại khu vực Đông Nam Á".

Căng thẳng trên Biển Đông gia tăng trong vài tháng gần đây, với việc nhiều nước châu Á lo ngại Trung Quốc ngày càng tỏ ra gây hấn trong quá trình thực thi yêu sách của họ đối với một số vùng thuộc Biển Đông. Ngoại trưởng Philippines cũng đã kêu gọi Liên Hợp Quốc phân xử các tranh chấp trên Biển Đông.

Trước đó, tờ China Daily của Trung Quốc cảnh báo Philippines về việc tăng cường hiện diện quân sự ở Biển Đông. Báo này nói rằng Manila xâm phạm "toàn vẹn lãnh thổ của Trung Quốc", đồng thời cảnh báo Philippines có thể phải trả "giá đắt" nếu đánh giá sai tình hình.

Bắc Kinh cáo buộc Philippines không coi trọng một thỏa thuận mà Trung Quốc và ASEAN vừa đạt được ở Indonesia tháng trước nhằm giải quyết mâu thuẫn trên biển một cách hòa bình. "Những việc mà Manila làm không chỉ vi phạm toàn vẹn lãnh thổ của Trung Quốc mà còn đi ngược lại lập trường của ASEAN cũng như tinh thần của văn bản hướng dẫn DOC. Philippines sẽ phải trả giá đắt nếu tính toán sai về vấn đề Biển Đông", xã luận trên China Daily có đoạn.

Việt Linh
VNE (http://vnexpress.net/gl/the-gioi/2011/08/yeu-sach-cua-trung-quoc-de-doa-hoa-binh-asean/)

HQ0909
06-08-2011, 04:38 PM
Một tờ báo Trung Quốc hôm nay cảnh báo Philippines về việc tăng cường hiện diện quân sự ở Biển Đông, giữa lúc căng thẳng hai nước lên cao.

http://vnexpress.net/Files/Subject/3b/a2/d2/35/tau-tuan-tra.jpg

Tàu chiến lớn nhất mà Philippines vừa mua để tuần tra trên Biển Đông. Ảnh: US Coast Guard.
China Daily đăng một bài xã luận với giọng gay gắt, nói rằng Manila xâm phạm "toàn vẹn lãnh thổ của Trung Quốc", đồng thời cảnh báo Philippines có thể phải trả "giá đắt" nếu đánh giá sai tình hình. Bài xã luận cũng cáo buộc Philippines không coi trọng một thỏa thuận mà Bắc Kinh và hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á vừa đạt được ở Indonesia tháng trước nhằm giải quyết mâu thuẫn trên biển một cách hòa bình.

"Những việc mà Manila làm không chỉ vi phạm toàn vẹn lãnh thổ của Trung Quốc mà còn đi ngược lại lập trường của ASEAN cũng như tinh thần của văn bản hướng dẫn" thực thi Tuyên bố về Ứng xử giữa các bên ở Biển Đông (DOC). "Philippines sẽ phải trả giá đắt nếu tính toán sai" về vấn đề Biển Đông, Inquirer dẫn bài xã luận trên China Daily cho biết.

Bài xã luận được đưa ra sau khi tờ Philippine Star đưa tin hải quân Philippines sẽ sớm hoàn thành một nơi trú ẩn để "bảo vệ các binh sĩ đang canh gác và bảo vệ chủ quyền đất nước" trên một hòn đảo ở Trường Sa mà cả hai nước đều tuyên bố sở hữu.

Khối kiến trúc giống vỏ sò mà hải quân Philippines bắt đầu khởi công từ hồi tháng 5 hiện diện trên đảo mà Philippines gọi là Patag, Trung Quốc gọi là Feixin và Việt Nam gọi là Bình Nguyên. Nó thuộc quần đảo Trường Sa do Việt Nam tuyên bố chủ quyền. Các bên khác cũng đưa ra tuyên bố gồm Trung Quốc và Philippines.
Căng thẳng về chủ quyền biển đảo lên cao trong năm nay khi Việt Nam và Philippines tố cáo Trung Quốc ngày càng tỏ ra hung hăng tại đây. Manila cáo buộc lực lượng Trung Quốc quấy nhiễu tàu khai thác dầu và bắn ngư dân của họ. Trong tháng 5, tàu Trung Quốc cũng hai lần cắt cáp tàu thăm dò địa chấn của Việt Nam ở khu vực thuộc chủ quyền của Việt Nam.

Mai Trang
VNE (http://vnexpress.net/gl/the-gioi/2011/08/bao-trung-quoc-doa-philippines/)

HQ0909
06-08-2011, 10:10 PM
Hoạt động này nhằm khẳng định chủ quyền quần đảo Trường Sa, cùng với đó, cho nhân dân biết về cuộc sống, chiến đấu, bảo vệ, giữ vững chủ quyền biển đảo của quân, dân trên huyện đảo...

http://a9.vietbao.vn/images/vi975/xa-hoi/75297844-1_8.jpg

Những viên đá san hô từ quần đảoTrường Sa đến với nhân dân cả nước (Ảnh: ST)

Kế hoạch số 90 của UBND TP Hà Nội nêu rõ, ngày 6/8 tới, lễ tiếp nhận đá san hô quần đảo Trường Sa sẽ được tổ chức tại Bảo tàng Hà Nội.

Theo UBND TP, hoạt động này nhằm tuyên truyền cho nhân dân về chủ quyền quần đảo Trường Sa, tuyên truyền về cuộc sống, chiến đấu, bảo vệ, giữ vững chủ quyền biển đảo.

Cùng với đó, tuyên truyền cho nhân dân về cuộc sống, hoạt động sản xuất phát triển kinh tế biển của quân, dân huyện đảo Trường Sa và tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động hướng về biển đảo và Trường Sa...

Hoạt động tặng đá Trường Sa cho 63 tỉnh, thành trên cả nước được Quân chủng hải quân triển khai từ năm 2009. Theo đó, mỗi tỉnh, thành sẽ được tặng một bản đồ bằng đá san hô, phỏng theo mô hình 33 đảo và điểm đảo của quần đảo Trường Sa, mỗi viên đá khắc kinh độ, vĩ độ của từng đảo, điểm đảo.

Kiều Min
http://biendong.vntime.vn/News.aspx?Section=TruongSa&obj=b51ac1c6-89f7-46cd-81db-73c3eb162142

Sat That
08-08-2011, 08:44 AM
Họ luôn hướng về Tổ quốc

Hôm qua, tôi lại nhận được thư của anh Nguyễn Hùng từ Úc báo tin tòa soạn Waste Management vừa phúc đáp giải thích về việc trong một ấn phẩm ra gần đây, tập san này đã đăng hình bản đồ có “đường lưỡi bò Trung Quốc” kèm theo bài báo khoa học của một nhóm tác giả Trung Quốc.

Ban lãnh đạo Waste Management thừa nhận việc đăng bản đồ như vậy là trái với nguyên tắc trung lập, khách quan và không tham gia vào các vấn đề chính trị mà tập san này chủ trương
.

Câu chuyện bắt đầu bằng việc giáo sư Nguyễn Văn Tuấn ở Úc phát hiện bài báo có tấm bản đồ xúc phạm tới chủ quyền Việt Nam nói trên. Sau khi ông Tuấn lên tiếng, người Việt khắp nơi, trong đó có nhóm của anh Nguyễn Hùng, đã cùng nhau gửi thư tới tập san Waste Management yêu cầu cải chính.


Đây không phải là lần đầu tiên anh Nguyễn Hùng gửi cho tôi những thông tin đấu tranh vì chủ quyền đất nước. Đầu năm 2010, từ phát hiện của một số người Việt ở nước ngoài về việc Hội Địa lý quốc gia Mỹ (NGS) ghi chú sai về quần đảo Hoàng Sa, phương hại tới chủ quyền Việt Nam, nhóm của anh Nguyễn Hùng (gồm những người Việt sống ở New Zealand, Úc, Mỹ, Canada…) đã gửi tới Báo Thanh Niên thông tin này. Để rồi từ đó, báo chí, các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước, cơ quan chính quyền tại Việt Nam đã đồng lòng lên tiếng, và kết quả là NGS đã phải điều chỉnh những bản đồ sai trái. Cách đây ít lâu, anh Nguyễn Hùng còn gửi tới tôi thông tin về sáng kiến của nhiều người Việt ở nước ngoài về việc hỗ trợ những ngư dân bị cướp tài sản khi đang hành nghề trên biển kiện thủ phạm ra tòa án quốc tế. Nỗ lực này hiện vẫn đang được tiến hành.


Tôi nhớ trong một bức thư, anh Nguyễn Hùng viết: “Chúng tôi ngày phải đi “cày” kiếm cơm, tối về mới có thể làm gì đó cho đất nước được”.


Rời Tổ quốc trong hoàn cảnh éo le của lịch sử và giờ đã chọn một quốc gia khác làm nơi sinh sống, nhưng những người như anh Nguyễn Hùng vẫn không nguôi ý thức rằng mình là con dân đất Việt. Với ý thức ấy, họ luôn đau đáu về chủ quyền Tổ quốc. Hồi cuối năm ngoái, khi trở về miền Trung để viếng mồ mả ông bà, anh đã tranh thủ ra đảo Lý Sơn gặp gỡ bà con ngư dân bị nạn cũng như được đến gần hơn với Hoàng Sa thân yêu vốn đã tạm rơi vào tay ngoại bang.
Một lần, khi trao đổi vấn đề người Việt trong và ngoài nước cùng lên tiếng vì chủ quyền đất nước, anh Nguyễn Hùng nói với tôi: “Người Việt ở đâu cũng coi đất nước này là Tổ quốc. Dù xa quê hương đã lâu, chúng tôi vẫn luôn hướng về. Để đấu tranh cho chủ quyền đất nước, cần gác lại những lấn cấn bên này, bên kia”.
Không phải hô hào suông, “gác lại lấn cấn” hay “đấu tranh vì chủ quyền đất nước” đã được những người mang dòng máu Việt khắp năm châu, mà anh Nguyễn Hùng chỉ là một ví dụ nhỏ, thực hiện mỗi ngày và đã thu được nhiều kết quả cụ thể: chẳng hạn buộc NGS, Google Maps… sửa bản đồ, hay vụ việc liên quan tới tập san Waste Management nói trên.
Chúng ta hay nói tới huy động sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc để giữ gìn, bảo vệ chủ quyền đất nước. Mà, sức mạnh tổng hợp của dân tộc này không chỉ giới hạn trong đường biên giới quốc gia.



Đỗ Hùng
Nguồn www.thanhnien.com.vn

HQ0909
08-08-2011, 03:27 PM
Trao đổi với phóng viên của báo điện tử Dân trí ngày 6/8, Thiếu tướng - Chính ủy Cục Cảnh sát biển Việt Nam Bùi Sĩ Trinh cho biết, chiếc máy bay đầu tiên được cảnh sát biển nghiệm thu hợp đồng sẽ bay sang Thụy Điển lắp thiết bị tuần thám và năm 2012 mới về Việt Nam.
Sẽ có nhiều máy bay và tàu lớn

Gần đây có thông tin Cảnh sát biển Việt Nam đã tiếp nhận máy bay tuần thám đầu tiên từ phía Tây Ban Nha (http://giaoduc.net.vn/giao-duc-quoc-phong/114-hai-quan/9375-cnh-sat-bin-vit-nam-nhn-may-bay-tun-tham-bin-c212-400-u-tien.html). Bao giờ thì máy bay chính thức về Việt Nam, thưa ông?

Đoàn chúng tôi có sang Tây Ban Nha nghiệm thu hợp đồng số một và đã bay thử. Chiếc máy bay này còn phải đưa sang Thụy Điển lắp các thiết bị tuần thám. Năm 2012, mới chính thức tiếp nhận từ Tây Ban Nha về Việt Nam. Trước mắt sẽ đặt ở Hà Nội.


http://giaoduc.net.vn/images/stories/2011/08/07/0DSC0155_82752.JPG
Thiếu tướng - Chính ủy Cục Cảnh sát biển Việt Nam Bùi Sĩ Trinh


Ngoài việc mua máy bay, kế hoạch hiện đại hóa trang thiết bị của lực lược Cảnh sát biển được thực hiện thế nào thưa ông?
Đáp ứng xu hướng hiện đại của thế giới và khả năng kiểm soát vùng biển chúng tôi đang tiếp tục trang bị những thiết bị cần thiết. Chúng tôi đang xây dựng dự án mới cho giai đoạn 2012 - 2020.

Để đáp ứng được chức năng, nhiệm vụ, kế hoạch giai đoạn này Cảnh sát biển sẽ có thêm nhiều máy bay và tàu lớn hơn. Khi đó chúng tôi sẽ hoạt động dài ngày hơn trên những vùng biển xa (http://giaoduc.net.vn/giao-duc-quoc-phong/114-hai-quan/9375-cnh-sat-bin-vit-nam-nhn-may-bay-tun-tham-bin-c212-400-u-tien.html).

Đã xua đuổi tàu Ngư chính Trung Quốc

Thực tế, ngư dân Việt Nam vẫn bị tàu nước ngoài đe dọa tính mạng và tài sản khi đánh bắt trên vùng biển chủ quyền. Có thiết bị hiện đại Cảnh sát biển Việt Nam sẽ sử dụng thế nào để bảo vệ họ?

Bảo vệ ngư dân là nhiệm vụ của tất cả các lực lượng, Hải quân, Cảnh sát biển, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và cả địa phương. Khi phát hiện ngư dân bị tàu nước ngoài có những hành động làm ảnh hưởng đến tài sản, tính mạng trong tọa độ thuộc vùng biển Việt Nam, chúng tôi sẽ báo cáo bộ và trực tiếp đến tọa độ đó để ứng cứu ngư dân.

Nhiệm vụ quan trọng nhất của việc mua máy bay là tăng cường khả năng kiểm soát vùng biển. Nếu như trong quá trình tuần tra, kiểm soát trên biển hoặc đang trực neo đậu ở khu vực tàu ngư dân gặp nạn nhận được tin chắc chắn Cảnh sát biển sẽ có mặt để giải quyết. Tinh thần của chúng tôi, cứu dân là mệnh lệnh trái tim, là nhiệm vụ của mình.

Nhiều người cho rằng ngư dân nước ngoài vi phạm vùng biển Việt Nam thì chúng ta xử lý quá nhẹ. Trong khi đó, ngư dân Việt Nam luôn bị nước ngoài xử rất nặng khi có hành vi tương tự. Quan điểm của ông về vấn đề này thế nào?

Vừa qua nước ngoài quản lý theo chính sách mới của họ rất khắt khe, phải nói là nếu so với ta thì quá nặng. Thậm chí trong chính sách của họ còn có việc xử tù thuyền trưởng, một số nước còn đốt, đánh chìm tàu.

Đối với tàu nước ngoài chúng tôi chủ yếu dùng biện pháp xua đuổi và giải thích rõ việc họ đánh cá là xâm phạm vùng biển của Việt Nam. Nếu vi phạm sẽ quay phim, chụp ảnh, lập biên bản rồi phóng thích để sau này có tài liệu, quá trình làm ngoại giao sẽ phản ánh. Những việc mình làm có căn cứ, từng bước chứ mình không làm quá nặng như một số nước.


http://giaoduc.net.vn/images/stories/2011/08/07/dd_d8e59.jpg
Năm 2012, máy bay sẽ về Việt Nam


Tuy nhiên, những trường hợp vi phạm nghiêm trọng vẫn phải xử lý. Nếu tàu nước ngoài đánh bắt hải sản hoặc đi vào trong vùng biển của Việt Nam như vùng đặc quyền kinh tế, vùng tiếp giáp, vùng lãnh hải và bên trong đường cơ sở nội thủy thì chúng tôi nhắc nhở xua đuổi.

Trường hợp không nghe mà vi phạm nghiêm trọng chúng tôi sẽ lập biên bản bắt giữ, đưa về cảng của Cảnh sát biển xác minh rõ các yếu tố vi phạm và xử phạt hành chính. Từng có trường hợp 1 tàu cá Trung Quốc chúng tôi xử phạt đến 500 triệu đồng. Đối tượng cũng nhận thức cái sai, chưa có trường hợp nào chống đối.

Thực tế trong thời gian qua, một số tàu lớn của Trung Quốc xuất hiện trên vùng biển của Việt Nam. Đã bao giờ Cảnh sát biển phải đối mặt với họ chưa, phản ứng như thế nào với những trường hợp này?

Nếu họ vào vùng biển Việt Nam chúng tôi sẽ xua đuổi ngay. Và thực tế chúng tôi đã xua đuổi một số tàu lớn của nước ngoài, như Tàu Ngư chính Trung Quốc. Kể cả tàu Hải Giám Trung Quốc nếu họ vào vùng biển của Việt Nam thì trách nhiệm chúng tôi vẫn xua đuổi.
Nói chung khi thấy tàu nước ngoài mình sẽ đến để thông báo cho họ rõ đây là vùng biển Việt Nam và đề nghị họ ra khỏi vùng biển.

Xin cảm ơn ông!
giaoduc (http://giaoduc.net.vn/giao-duc-quoc-phong/114-hai-quan/9863-qnu-h-vao-vung-bin-vit-nam-chung-toi-s-xua-ui-ngayq.html)

HQ0909
08-08-2011, 08:27 PM
(8/8/2011 2:53:07 PM) Sự khăng khăng của Trung Quốc, khẳng định chủ quyền ở cái gọi là đường chín đoạn (chữ U) trên Biển Đông chính là điểm then chốt, ngăn chặn việc tìm ra giải pháp cho các tranh chấp ở khu vực này, ngoại trưởng Philippines Albert del Rosario khẳng định cuối tuần qua (ngày 5.8).





http://sgtt.vn/ImageHandler.ashx?ImageID=151698

Yêu sách về đường chữ U của Trung Quốc chiếm gần trọn Biển Đông là nguy cơ tiềm ẩn đe doạ tự do hàng hải và thương mại của nhiều quốc gia.




Trong một diễn đàn tại đại học Ateneo de Manila, ông Rosario nói, Philippines cho rằng đường chữ U mà Trung Quốc vẽ ra rõ ràng là bất hợp pháp. Nó là tuỳ tiện và không dựa trên bất cứ một cơ sở nào, và cũng không có giá trị nào theo luật quốc tế, đặc biệt là theo Công ước luật Biển năm 1982 của Liên hiệp quốc. Và đường chín đoạn đó là một trong những đe doạ lớn nhất cho hoà bình ở Đông Nam Á.

Ngoại trưởng Philippines cũng cho rằng, nếu không bị phản đối, yêu sách về đường chữ U của Trung Quốc chiếm gần trọn Biển Đông, sẽ không chỉ ảnh hưởng bất lợi cho các quyền chủ quyền và quyền tài phán của Philippines, mà còn là nguy cơ tiềm ẩn đe doạ tự do hàng hải và thương mại của nhiều quốc gia khác.

Từ đó, ông del Rosario nêu quan điểm của nước này là theo hai con đường. Thứ nhất, một khuôn khổ hợp tác xử lý các tranh chấp nên được các chuyên gia pháp lý của ASEAN xem xét, dự kiến sẽ họp tại Manila vào tháng 9 tới. Thứ hai, các bên khác cùng tham gia với Philippines, đòi hỏi Trung Quốc chứng minh giá trị của đường chữ U là phù hợp với UNCLOS.

Trong khuôn khổ xử lý tranh chấp nói trên, Philippines đề xuất khu vực hoà bình, tự do, hữu nghị và hợp tác (ZoPFFC) với ASEAN, tách biệt khu vực không có tranh chấp và có tranh chấp theo UNCLOS.

Với đề xuất thứ hai, ngoại trưởng Philippines nhấn mạnh, cơ chế xử lý tranh chấp của Liên hiệp quốc là con đường duy nhất để cuối cùng làm yên bình Biển Đông. Trung Quốc và các bên liên quan không thể né tránh mãi được việc đưa yêu sách của mình ra toà án của Liên hiệp quốc. “Cộng đồng thế giới phải được cai trị bằng luật lệ”, ông nói.

Trước đó, bộ Năng lượng Philippines đã tuyên bố kế hoạch đấu giá một số khu vực ở Biển Đông để khai thác dầu mỏ, bất chấp diễn biến xấu hơn với Trung Quốc. Đồng thời Hải quân Philippines cũng sẽ sớm hoàn thành một căn cứ cho quân canh gác và bảo vệ lãnh thổ ở đảo Patag. Phản ứng lại, tờ China Daily của Trung Quốc đã “buộc tội” Philippines vi phạm toàn vẹn lãnh thổ và nói Manila sẽ phải “trả giá cao” cho hành động nói trên.

Thiên Bình/SGTT (AFP, Gulfnews)
biendong (http://biendong.vntime.vn/News.aspx?Section=TinBienDong&obj=81d89ddf-6fd3-4320-80a2-897064673a9f)

HQ0909
09-08-2011, 09:30 PM
Mạng Hoàn cầu ngày 7/8 đưa tin, ngày 5/8, Người phát ngôn Ngoại giao Đài Loan La Thiệu Hòa cho biết “Đài Loan sẽ không trao đổi hoặc hợp tác với Đại lục về việc giải quyết các vấn đề liên quan đến Biển Đông”, nhiệm vụ chủ yếu của quan hệ hai bờ là hiệp thương về vấn đề kinh tế, thảo luận về thời cơ chưa chín muồi về chính trị và an ninh, thông qua hiệp thương để giải quyết tranh chấp Biển Đông, tránh những tranh chấp không cần thiết.


Bài viết do Nghiên cứu Biển Đông giới thiệu.

Ông La Thiệu Hòa còn cho biết, hiện nay sức chiến đấu của bộ đội “tuần tra biên phòng eo biển” đóng ở đảo Đông Sa và đảo Thái Bình đáp ứng được nhu cầu phòng ngự an ninh thường xuyên. Việc đóng quân trên đảo và tiến hành nhiệm vụ tuần tra biên phòng trên biển của bộ đội tuần tra chính là cách thể hiện “chủ quyền”.




http://farm.vtc.vn/media/vtcnews/2011/08/08/dao.jpg









Trong khi đó, tờ Thanh niên nhật báo ngày 5/8 đưa tin ngày 4/8, BNG Trung Quốc (TQ) và Ủy ban Đại lục lại lần nữa cùng lên tiếng tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc đối với Biển Đông; nhấn mạnh trong tương lai sẽ bày tỏ lập trường, nhắc lại chủ quyền, tăng cường các hoạt động liên quan tại các diễn đàn quốc tế để các nước thấy rằng cần phải có sự tham dự của Đài Loan nếu muốn giải quyết thỏa đáng vấn đề Biển Đông.

BNG nước này cũng nhấn mạnh, sẽ phủ nhận mọi thỏa thuận giữa các bên về chủ quyền Trường Sa mà không có sự tham gia của TQ. Ngoài ra, ngày 3/8, thêm một đoàn sinh viên được Cục Tuần tra biển và Bộ Giáo dục Trung Quốc tuyển chọn đã lên đường ra thăm Đông Sa.

Trung Quốc thời báo ngày 5/8: “Báo cáo đánh giá tình hình khu vực Biển Đông” của TQ có nêu: chỉ cần ĐL tham gia vấn đề Biển Đông với “thân phận thích hợp”, TQ sẽ có hỗ trợ thích hợp.

Thế nhưng, Ủy viên lập pháp (Nghị sỹ quốc hội) Dân Tiến Đảng Thái Hoàng Lang tuyên bố: "Chỉ cần thừa nhận chủ quyền của Đài Loan, để Đài Loan tham dự các hội nghị về Biển Đông với tư cách là một quốc gia độc lập có chủ quyền thì chúng tôi hoàn toàn hoan nghênh. Nếu theo kiến nghị của học giả Đại lục mà biến Đài Loan thành vùng đất chư hầu như Hongkong, Macao thì chúng tôi nhất quyết phản đối”.

Thái Hà (gt)
biendong (http://biendong.vntime.vn/News.aspx?Section=TinBienDong&obj=c1ca4f23-fa4f-498c-9ee5-b3d4540881df)

HQ0909
09-08-2011, 10:35 PM
Các hoạt động đánh cá xa bờ của ngư dân Trung Quốc đang khiến dư luận Indonesia lo ngại. Hiện chính phủ nước này công nhận 10 nước có vùng biển chồng lấn gồm Ấn Độ, Đông Timor, Malaysia, Palau, Philippines, Papua New Guinea, Singapore, Thái Lan, Úc và Việt Nam.

http://www.thanhnien.com.vn/Pictures20116/NgocThanh/28/TausanbayTQ.jpg
Tàu sân bay được cho là sắp hạ thủy của Trung Quốc - Ảnh: Qlwb.com.cn

Tuy nhiên, Trung Quốc cách Indonesia khá xa nhưng lại hành xử như thể đang có vùng biển chồng lấn. Trong bài xã luận đăng trên tờ Jakarta Post, chuyên gia Andi Arsana của Đại học Gadjah Mada nêu rõ vào năm 2009 và 2010, tàu cá Trung Quốc bắt đầu thả lưới ở ngoài khơi đảo Natuna của Indonesia, dưới sự bảo vệ của tàu ngư chính. Theo ông, đó cũng là thời điểm Bắc Kinh bắt đầu tuyên bố mạnh mẽ về bản đồ đường 9 đoạn ở biển Đông. Jakarta Post còn dẫn lời Bộ trưởng Quốc phòng Purnomo Yusgiantoro cho hay Indonesia đang phải thực hiện nhiều biện pháp để đuổi tàu đánh cá bất hợp pháp của Trung Quốc.

Trong một diễn biến khác, Tân Hoa xã đưa tin do ảnh hưởng của bão Muifa nên tàu sân bay đầu tiên của Trung Quốc chưa thể hạ thủy nhưng một số nguồn tin quân sự cho hay công tác chuẩn bị đang tích cực được triển khai.

Thụy Miên - Ngọc Bi
TNO (http://www.thanhnien.com.vn/Pages/20110809/Chuyen-gia-Indonesia-lo-ngai-Trung-Quoc.aspx)

haiquan1993
10-08-2011, 11:55 PM
Độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ là thiêng liêng 10/08/2011 | 21:22:00
Từ khóa : Ba Đình (http://www.vietnamplus.vn/Search.aspx?KeyWord=%22Ba%20%C4%90%C3%ACnh%22), Hoàn Kiếm (http://www.vietnamplus.vn/Search.aspx?KeyWord=%22Ho%C3%A0n%20Ki%E1%BA%BFm%22 ), Cử tri (http://www.vietnamplus.vn/Search.aspx?KeyWord=%22C%E1%BB%AD%20tri%22), Lạm phát (http://www.vietnamplus.vn/Search.aspx?KeyWord=%22L%E1%BA%A1m%20ph%C3%A1t%22) , Đại hội Đảng (http://www.vietnamplus.vn/Search.aspx?KeyWord=%22%C4%90%E1%BA%A1i%20h%E1%BB% 99i%20%C4%90%E1%BA%A3ng%22)


http://www.vietnamplus.vn/Themes/Default/Images/email.gif EMAIL (javascript:showDialog("/Utilities/Email4Friend.aspx?new_url=http://www.vietnamplus.vn/Home/Doc-lap-chu-quyen-toan-ven-lanh-tho-la-thieng-lieng/20118/100994.vnplus",450,390)) http://www.vietnamplus.vn/Themes/Default/Images/print.gif PRINT (http://www.vietnamplus.vn/Utilities/PrintView.aspx?ID=100994) CỠ CHỮ A (http://www.vietnamplus.vn/Home/Doc-lap-chu-quyen-toan-ven-lanh-tho-la-thieng-lieng/20118/100994.vnplus#) A (http://www.vietnamplus.vn/Home/Doc-lap-chu-quyen-toan-ven-lanh-tho-la-thieng-lieng/20118/100994.vnplus#) A (http://www.vietnamplus.vn/Home/Doc-lap-chu-quyen-toan-ven-lanh-tho-la-thieng-lieng/20118/100994.vnplus#)

http://www.vietnamplus.vn/avatar.aspx?ID=103501&at=0&ts=300&lm=634486089849900000 Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tiếp xúc cử tri tại quận Hoàn Kiếm. (Ảnh: Trí Dũng/TTXVN)





Ngày 10/8, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cùng các đại biểu Quốc hội đơn vị bầu cử số 1, thành phố Hà Nội, đã tiếp xúc đông đảo cử tri các quận Ba Đình, Hoàn Kiếm, báo cáo kết quả Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XIII.

Đa số cử tri đều bày tỏ vui mừng, phấn khởi trước kết quả thành công của Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội Khóa XIII. Tại kỳ họp này, Quốc hội đã bầu các chức danh lãnh đạo cấp cao của Nhà nước, các cơ quan của Quốc hội, quyết định cơ cấu tổ chức và phê chuẩn đề nghị bổ nhiệm các thành viên của Chính phủ, phù hợp với sự lãnh đạo của Đảng và ý chí, nguyện vọng của nhân dân.

Cử tri hoan nghênh việc Quốc hội ngay tại Kỳ họp đầu tiên đã dành thời gian thỏa đáng thảo luận sâu sắc tình hình kinh tế-xã hội 6 tháng đầu năm, làm rõ những nguyên nhân, tồn tại, đồng thời đề ra các giải pháp cơ bản nhằm tháo gỡ khó khăn, tiếp tục thực hiện thắng lợi nhiệm vụ 6 tháng cuối năm. Tuy nhiên, cử tri cũng bày tỏ lo ngại về tình hình lạm phát, giá cả các mặt hàng thiết yếu tăng cao, ảnh hưởng đến đời sống, sinh hoạt của nhân dân, nhất là công nhân lao động.

Những diễn biến phức tạp của thị trường tài chính tiền tệ, lãi suất ngân hàng tăng cao đã ảnh hưởng bất lợi đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp vừa và nhỏ. Nhiều cử tri đề nghị cần triển khai hiệu quả các biện pháp bình ổn thị trường, giá cả, tháo gỡ khó khăn nhằm thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh, bảo đảm an sinh xã hội.

Quốc hội cần tiếp tục nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát, chất vấn và trả lời chất vấn, nhất là đối với những vấn đề dân sinh bức xúc, những vấn đề cử tri quan tâm...

Bên cạnh đó, cử tri còn đề cập vấn đề cải cách giáo dục, nâng cao chất lượng đào tạo ở cả 4 cấp, không nên duy trì loại hình đào tạo tại chức...; phát triển đô thị phải đồng bộ, đi đôi với phát triển cơ sở hạ tầng: điện, đường, trường, trạm... bảo đảm để mọi người dân đều được hưởng lợi từ quá trình phát triển.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã lắng nghe và cảm ơn cử tri đóng góp nhiều ý kiến chân thành, xây dựng, gửi gắm niềm tin vào các đại biểu Quốc hội; mong rằng sau mỗi cuộc tiếp xúc cử tri sẽ làm vơi đi những bức xúc và tăng thêm niềm tin của cử tri với Quốc hội.

Gửi lời cảm ơn cử tri đã tín nhiệm bầu làm đại biểu Quốc hội khóa XIII, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh, là đại biểu Quốc hội, phải cố gắng làm tốt chức năng nhiệm vụ được giao, phải nắm vững và thực hiện đúng nội quy, quy chế, quy trình luật định, luôn lắng nghe ý kiến cử tri và góp phần giải quyết những đề xuất, kiến nghị của cử tri.

Tổng Bí thư nhấn mạnh, trong bối cảnh tình hình trong nước và thế giới diễn biến phức tạp, không ít khó khăn thách thức, thành công của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, cuộc bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa XIII và đại biểu Hội đồng Nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011-2016, Kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khóa XIII, là những kết quả đáng trân trọng, thể hiện sự đoàn kết nhất trí cao của toàn dân và của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng. Những thành công to lớn và toàn diện đó đã tạo nên niềm tin mới, khí thế mới, quyết tâm mới, để toàn Đảng, toàn dân ta thực hiện thành công những mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra.

Trước sự quan tâm của nhiều cử tri về việc nghiên cứu sửa đổi Hiến pháp (http://www.vietnamplus.vn/Home/Sua-doi-Hien-phap-nam-1992-phai-bam-sat-thuc-te/20118/100586.vnplus) năm 1992, Tổng Bí thư khẳng định đây là vấn đề rất quan trọng, nhằm thể chế hóa đường lối của Đảng mà tập trung nhất là Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), đồng thời đáp ứng yêu cầu thực tiễn đặt ra. Việc sửa đổi Hiến pháp cần phải được tiến hành một cách bài bản, chuẩn bị kỹ lưỡng, trên nguyên tắc phát huy dân chủ, lắng nghe ý kiến đóng góp của nhân dân, các nhà khoa học, tham khảo kinh nghiệm của các nước.

Xung quanh việc giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội, Tổng Bí thư nhấn mạnh, chúng ta không quá coi trọng tăng trưởng, mà chủ trương duy trì mức tăng trưởng hợp lý, tập trung thực hiện tốt các chính sách bảo đảm an sinh xã hội.

Tổng Bí thư đã phân tích những nguyên nhân chủ quan và khách quan dẫn đến những tồn tại trong phát triển kinh tế-xã hội thời gian qua, đó là sự yếu kém, thiếu kinh nghiệm trong công tác quản lý, nội lực của nền kinh tế nước ta còn yếu, tình hình kinh tế thế giới diễn biến phức tạp, khó lường, công tác nghiên cứu dự báo còn hạn chế.

Trước sự quan tâm của cử tri về chủ quyền biển đảo, Tổng Bí thư khẳng định độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc là thiêng liêng, phải quyết tâm bảo vệ, giữ vững. Chúng ta đã nhiều lần công khai tuyên bố và có nhiều hình thức khẳng định chủ quyền lãnh thổ và quyết tâm bảo vệ chủ quyền lãnh thổ.

Chủ trương chiến lược của Đảng, Nhà nước ta là giữ vững hòa bình, ổn định để phát triển, khai thác tiềm năng, phát triển mạnh kinh tế biển để làm giàu cho đất nước; thực hiện phương châm đa dạng hóa, đa phương hóa các quan hệ quốc tế, vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Về vấn đề phòng chống tiêu cực, tham nhũng, lãng phí, Tổng Bí thư chỉ rõ, học tập, làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh cần được thực hiện thường xuyên, liên tục, trong đó cán bộ, đảng viên phải nêu cao tinh thần tiên phong gương mẫu. Học tập, làm theo đạo đức, tác phong, lối sống của Bác, trước hết phải bắt đầu bằng những việc làm thiết thực, cụ thể, tập trung làm tốt công tác xây dựng chỉnh đốn Đảng, không hô hào chung chung.

Tổng Bí thư đặc biệt nhấn mạnh, cần gìn giữ, phát huy tinh thần đoàn kết, sự đồng lòng nhất trí trong Đảng, trong dân, như giữ gìn con người của mắt mình, tạo sức mạnh tổng hợp thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra, đưa đất nước ta vững bước đi lên công nghiệp hóa, hiện đại hóa./.


Nguyễn Thị Sự (TTXVN/Vietnam+)

Sat That
11-08-2011, 09:03 AM
Biển Đông cần có "thần linh pháp quyền"

Tác giả: Hoàng Phương
Bài đã được xuất bản.: 2 giờ trước




Quyền lực cần tính chính đáng. Thiếu tính chính đáng trong các hành động, sức mạnh chỉ còn là bạo lực, và không còn chính nghĩa. Luật và thể chế giúp các nước lớn theo đuổi quyền lãnh đạo của mình với các nước khác bằng một con đường chính danh.
Tuần Việt Nam trò chuyện với cây viết Nguyễn Chính Tâm, tác giả của loạt bài Đi tìm một trật tự mới trên Biển Đông, để làm rõ thêm ý tưởng của ông trên con đường định chế hóa tranh chấp Biển Đông, nhằm tìm một giải pháp hợp lý và công bằng.
>>Biển Đông: Tại sao trật tự của Trung Quốc lại có vấn đề? (http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2011-07-29-bien-dong-ta-i-sao-tra-t-tu-cu-a-trung-quo-c-la-i-co-va-n-de-)
>>Trật tự mới cho Biển Đông: Sức mạnh hay thể chế? (http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2011-07-29-tra-t-tu-mo-i-cho-bie-n-dong-su-c-ma-nh-hay-the-che-)
>>Nhân tố bên ngoài trong việc xác lập trật tự mới ở Biển Đông (http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2011-08-01-nhan-to-my-trong-viec-xac-lap-trat-tu-moi-o-bien-dong)
- Trong bài viết của mình, ông đề nghị tranh chấp biển Đông cần được "định chế hóa". Xin ông làm rõ thêm ý nghĩa của khái niệm này?
Định chế hoá hiểu một cách nôm na là đem luật và chuẩn tắc vào nhằm quy định và kiểm soát các hành vi. Một khu vực được cai trị bằng luật, hay bằng sự tương tác giữa những giá trị, về lý thuyết sẽ trật tự hơn, vì quan hệ giữa thành viên cộng đồng có thể nhận diện bằng các tín hiệu được đoán trước. Tựa như vai trò của đèn đỏ, đèn xanh và đèn vàng tại một ngã tư. Hay các bảng chỉ đường, hướng dẫn hành vi tại nơi công cộng. Trong môi trường đó, con người sẽ phần nào phải từ bỏ sức mạnh, đề ứng xử với nhau bằng luật và thể chế. Điều mà đối với các nước nhỏ và yếu (hơn) là một lợi điểm.
- Thực tế chính trị quốc tế từ trước tới giờ vẫn là cuộc chơi của sức mạnh, và của các cường quốc. Phải chăng một kiến nghị "định chế hóa" như vậy có vẻ hơi viễn vông?
Viễn vông hay không sẽ tùy theo góc nhìn. Tôi đồng ý rằng sức mạnh là yếu tố quan trọng trong chính trị quốc tế, nhưng không phải là yếu tố duy nhất.
Quan sát tình hình Đông Á những năm vừa qua, chúng ta nhận rõ hai xu hướng phát triển. Một mặt là thể chế với sự hình thành các tổ chức vùng từ Asean+3, Sáng kiến Chiang Mai, Hiệp định thương mại tự do ASEAN-Trung Quốc. Một mặt là sự vươn lên của sức mạnh thông qua sự trỗi dậy của Trung Quốc.
Nếu chỉ đề cao sức mạnh, các nước trong vùng nhỏ và yếu hơn chỉ có một khung lựa chọn. Phù thịnh dưới bóng của nước lớn, với hy vọng nước lớn sẽ giữ vai trò "vương quyền", chia sẻ an ninh cũng như lợi ích chung. Con đường thứ hai là đi tìm đối trọng bên ngoài, để đảm bảo rằng an ninh và lợi ích của mình sẽ không bị "bá quyền nước lớn" đe dọa. Cân bằng bên trong qua sắm sửa khí giới, tàu chiến. Cân bằng bên ngoài bằng cách thiết lập liên minh quân sự.
Trọng sức mạnh, các nước sẽ đối thoại với nhau bằng tàu chiến. Với cái búa, mọi sự việc điều được giải quyết như một cái đinh. Nhưng rõ ràng rằng, không phải tất cả mọi vấn đề hiện nay đều là cái đinh gỉ sét.


http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/assets/images/BienDong-HoangLong_1312966668.jpgẢnh Hoàng Long



Vì thế, trong bài viết của mình, tôi không phủ nhận hoàn toàn sức mạnh và lựa chọn chính trị sức mạnh, chỉ lập luận rằng, đó không phải là cứu cánh (mục đích), mà chỉ là phương tiện để khu vực đi đến điểm cuối cùng là một trật tự pháp trị, trong đó luật và thể chế là chuẩn mực cho các hành vi.
- Làm sao chúng ta có thể đảm bảo rằng nước lớn chấp nhận con đường "định chế hóa" khi họ có ưu thế về sức mạnh...
Tôi nghĩ sẽ không có một câu trả lời tuyệt đối cho câu hỏi này. Về nguyên tắc, nước mạnh có ba lý do để chấp nhận giới hạn mình vào cuộc chơi thể chế.
Một là đề phòng khi sức mạnh mình bị suy giảm; tạo được một vị trí ưu tiên trong thể chế sẽ giúp họ đảm bảo được quyền lợi tối thiểu của mình, không phụ thuộc nhiều vào chỉ số sức mạnh.
Hai là trong một trật tự lúc nào cũng giải quyết bằng vũ lực, thì chi phí rất cao; chẳng lẽ bất kỳ xung động lớn nhỏ nào cũng phải bật công tắc hạt nhân, hay khởi động ngư lôi tàu chiến? Thương mại nằm ở đâu, tài chính nằm ở đâu, làm ăn buôn bán nằm ở đâu?
Luật dưới góc nhìn nước lớn là biện pháp giúp họ thực hiện lợi ích với phí chi trả tương đối tối ưu, thỏa mãn được các nhóm lợi ích đang hưởng lợi từ giao thương kinh tế.
Ba là nguyên tắc căn bản mà mỗi chính trị gia nào cũng hiểu: quyền lực cần tính chính đáng, Thiếu tính chính đáng trong các hành động, sức mạnh chỉ còn là bạo lực, và không còn chính nghĩa. Luật và thể chế giúp các nước lớn theo đuổi quyền lãnh đạo của mình với các nước khác bằng một con đường chính danh: "Danh có chính thì ngôn mới thuận".
- Vậy trong trường hợp Trung Quốc liệu ba lý do trên có tồn tại?
Trung Quốc là cường quốc đang lên (kinh tế lẫn quân sự). Một mặt Trung Quốc muốn kiến tạo lại một trật tự khác trong những điểm mà mình bất lợi từ trật tự cũ. Mặt khác, quá trình xây dựng trật tự này phải vừa có lợi, nhưng cũng vừa không tốn kém, đặc biệt hạn chế phải vào cuộc chơi liều lĩnh quân sự với hạm đội của các cường quốc mạnh hơn.
Các nghiên cứu về tiềm lực hải quân trong toàn cầu cho thấy, quả là hải quân quân đội Trung Quốc (PLA) đang trỗi dậy, nhưng vẫn còn nằm ở nhóm cường quốc biển cuối cùng được định nghĩa như sức mạnh có giới hạn khu vực cùng với các nước như Nhật Bản hay Hàn Quốc.
Trung Quốc cần luật để chơi với các nước mạnh, để đảm bảo rằng các vấn đề không cần phải giải quyết bằng giải pháp quân sự, gây tốn kém. Với các nước yếu thì dù sức mạnh vượt trội hơn, nhưng phương pháp quân sự hay đe dọa mang tính răn đe hơn là muốn trực tiếp động thủ.
Cần nhớ rằng, biển Đông và tranh chấp tại đây không phải chỉ là cuộc chơi giữa nước mạnh Trung Quốc và các nước yếu (hơn) ASEAN, mà được định hình bởi nhiều bên, phân tầng theo nhiều góc độ. Siêu cường mạnh nhất Mỹ đang suy giảm tương đối, nên cần luật để đảm bảo ảnh hưởng. Cường quốc thứ hai hay bật trung như Nhật, Hàn Quốc, Úc hưởng lợi từ một trật tự ổn định, không xung đột, có xu hướng ủng hộ giải quyết tranh chấp thức đa phương. Câu hỏi bây giờ nằm ở phía Trung Quốc.
Điều quan trọng ở đây là đừng nên xem Bắc Kinh như một thể thống nhất với một chính sách nhất quán, mà nên phân tích theo từng nhóm quyền lực hay lợi ích với nhiều góc nhìn và giải pháp tiếp cận khác nhau. Theo góc nhìn đó, một chính sách trọng thể chế là một trong những lựa chọn. Cái cần lúc này là động lực nào từ bên ngoài khiến xu thế đó thành chủ đạo trong hoạch định chính sách của Trung Nam Hải.
- Trong bối cảnh như vậy, Việt Nam và các nước ASEAN cần phải làm gì?
Hai vũ khí quan trọng nhất của các nước nhỏ trong thế trận Biển Đông là đa phương (thông qua luật và thể chế) và công luận quốc tế.
Trong bài viết, tôi có nêu lại ý kiến về việc thành lập đồng thuận nội khối về một bộ quy tắc ứng xử của các bên ở Biển Đông mang tính ràng buộc pháp lý (Code of Conduct- COC) và thống nhất về sự diễn dịch khác biệt giữa các nước với nhau về Công ước LHQ về Luật biển năm 1982 (UNCLOS).
Ngoài ra, thành phần thứ ba trong việc giải quyết các vấn đề tranh chấp là rất cần thiết. Cơ chế kiến tạo an ninh cộng đồng thông qua sự cầm trịch của ASEAN (dưới ủng hộ của Mỹ và đồng minh) có thể là bước đi đầu cho một lộ trình thiết lập một trật tự mới tại Biển Đông.
Bên cạnh đó, trong một cộng đồng tôn trọng luật, thì công luận cũng là một người chấp pháp. Hiện diện của sức mạnh trong văn cảnh này đến từ đạo đức và luật pháp, thể hiện rõ nét nhất qua tiếng nói ủng hội và phản đối những hành vi đi ngược lại các giá trị chung. Một trong số đó rõ ràng là chống giải quyết vấn đề bằng vũ lực, cũng như hành động xâm phạm chủ quyền.
Chênh lệch sức mạnh về pháo hạm, tàu chiến vì thế đòi hỏi sự cân bằng từ pháp lý, chuẩn tắc và tính chính danh. Việt Nam từ hai năm gần đây đã đẩy mạnh việc "học thuật hóa" Biển Đông qua việc tự tổ chức và tham gia rất nhiều hội thảo, nghiên cứu về đề tài này.
Tiến thêm một bước nữa: "học thuật hoá" đi trước, "dân sự hoá" cần phải theo sau. Ngọai giao nhân dân đã từng là lưỡi liềm đỏ trong chiến tranh Việt Nam, thì ở thế kỷ 21 nó cũng là một tiếng vọng lương tri quy lòng người về một mối. Hiện nay, một trong những vấn đề cấp thiết của bài tóan Biển Đông đang nằm ở việc làm sao phải mổ xẻ tiếp những điểm còn khúc mắc, tìm ra được cái "hợp lý hơn" của lý lẽ. Điều này không chỉ là nhiệm vụ của nhà hoạch định chính sách, học giả mà còn là trách nhiệm của mỗi người con đất Việt. Đặc biệt, khi vấn đề càng phức tạp, càng nhạy cảm thì sức hậu thuẫn của toàn dân tộc nhịp theo từng bước của chính sách mới càng giá trị.
- Nếu được phép hình dung về giải pháp cho Biển Đông những năm tới trong một câu. Ông sẽ nói gì?
Tôi không phải là người lạc quan tếu, nhưng tôi tin pháp trị là xu hướng của một xã hội văn minh. Hướng tới hòa bình, thịnh vượng tranh chấp tại đây phải được giải quyết và hành xử theo luật pháp. Nói như lời cụ Hồ: Biển Đông cần có "thần linh pháp quyền"!!



Nguồn www.vietnamnet.vn (http://www.vietnamnet.vn)

Sat That
11-08-2011, 09:07 AM
Thiếu thiện chí chính trị đã đánh đổ niềm tin trên biển Tác giả: Rory Medcalf, Raoul Heinrichs và Justin Jones
Bài đã được xuất bản.: 3 giờ trước





Thiếu thông tin liên ngành, cơ chế đối phó khủng hoảng không hoạt động, sự ganh đua giữa các thể chế, sự mất trật tự, hay lực lượng quân đội và các kỹ năng đi biển dưới chuẩn có thể phá hoại những sáng kiến an ninh tốt nhất. Nhưng thành phần quan trọng là thiện chí chính trị.
>> Kỳ 1: Sự cố, đối đầu và khủng hoảng trên biển ở Châu Á (http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2011-08-05-su-co-doi-dau-va-khung-hoang-tren-bien-o-chau-a)
>> Kỳ 2: Chủ nghĩa dân tộc trên biển (http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2011-08-08-chu-nghia-dan-toc-tren-bien)
>> Kỳ 3: Các mô hình lý tưởng về niềm tin trên biển (http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2011-08-09-cac-mo-hinh-ly-tuong-ve-niem-tin-tren-bien-o-chau-a)
CBMs trực tiếp
Một dạng CBMs thứ hai gồm những biện pháp liên quan trực tiếp hơn tới các khu vực đang tranh chấp, các vấn đề tranh chấp và khả năng đe dọa. Chúng ta gọi đây là các "CBMs trực tiếp". Về lý thuyết, các biện pháp này có khả năng nhiều hơn so với các CBMs gián tiếp trong việc giảm nguy cơ đối đầu hoặc leo thang. Một loạt CBMs trực tiếp trên biển bao gồm:
- Các kênh thông tin liên tục: Đôi khi được biết đến như các "liên kết nóng", các kênh thông tin này gồm đường dây điện thoại trực tiếp, hoặc các nghị định thư thông tin đã thỏa thuận giữa các lãnh đạo hoặc các tư lệnh chiến dịch, tần số sóng radio hoặc các mã dấu hiệu thống nhất, hoặc các biện pháp thông tin nhanh chóng và đáng tin cậy khác mà qua đó các đại diện của mỗi quốc gia có thể chắc chắn kết nối được với người đồng cấp ở một quốc gia khác trong thời gian khủng hoảng.
Một khả năng khác có thể là thành lập đội sĩ quan liên lạc với các lực lượng mỗi nước khác hoặc tại một trung tâm giám sát và giảm thiểu nguy cơ trung lập. Những người này có thể tạo cơ hội nhanh chóng làm rõ bản chất và các ý định của bất cứ hành động nào có vẻ mang tính đe dọa. Các kênh trao đổi thông tin có thể kém hiệu quả hơn nếu có sự bất đồng về mục đích. Ví dụ, một đường dây nóng đồng nghĩa với việc thông báo tăng cường về các hoạt động quân sự, hay là để giải quyết lo ngại, hoặc cả hai?
- Các chuẩn chung về thông tin trên biển: Các nghị định thư tiêu chuẩn quốc tế về thông tin giữa các tàu bè qua lại trên biển. Nhưng mức độ thực hiện hay độ bao hàm của các văn bản này khác nhau, cũng như cách hiểu luật quốc tế liên quan cũng không đồng nhất. Tại châu Á, một diễn đàn đa phương vững chắc về an ninh biển, Hội nghị chuyên đề hải quân Tây Thái Bình Dương, đã đưa ra một thông báo được biết đến với cái tên Quy tắc về các cuộc đụng độ không báo trước trên biển (CUES) để các lực lượng hải quân các nước tham gia áp dụng tự nguyện.
- Đối thoại thường xuyên và mềm dẻo về các vấn đề ở cấp tác chiến: các cuộc hội đàm như vậy khác với các cuộc hội đàm an ninh song phương mở rộng ở chỗ chúng có thể được triệu tập nhanh nhằm giải quyết những mối lo ngại đặc biệt về các trường hợp khiêu khích hoặc bất hòa trên biển. Cuộc đối thoại như vậy cũng có thể được triệu tập nhằm cải thiện việc thực thi các thỏa thuận và các kênh thông tin.
- Các thỏa thuận chính thức và các hoạt động chung trên thực tế liên quan đến các khu vực nhạy cảm hoặc tranh chấp: bao gồm các cuộc tuần tra phối hợp trên biển, chia sẻ dữ liệu và cùng thăm dò hoặc khai thác nguồn tài nguyên ngoài khơi. Về lý thuyết, các bước như vậy có thể đem lại sự thông cảm lẫn nhau: lý tưởng nhất sẽ là tuần tra phối hợp nhằm bảo vệ các dự án tài nguyên chung.


http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/assets/Uploads/images3560980_1312949001.jpgẢnh minh họa: vietnamplus


- Các tuyên bố hoặc quy tắc ứng xử không ràng buộc liên quan đến các khu vực nhạy cảm hoặc đang tranh chấp: Tác động và giá trị của các tuyên bố này tùy thuộc vào bối cảnh uy tín chính trị và hành vi trên thực tế. Đó có thể là tuyên bố đơn phương, song phương hoặc đa phương.
- Các thỏa thuận chính thức nhằm thiết lập quy định và hướng dẫn cho các hành vi của mỗi bên. Trong lĩnh vực biển, hình mẫu cho loại thỏa thuận này là INCSEA. Thỏa thuận được thiết lập giữa Mỹ và Liên Xô trong thời chiến tranh Lạnh nhằm tránh các hoạt động ảnh hưởng lẫn nhau thường xuyên dẫn tới các sự cố nghiêm trọng.
Một văn bản kế thừa thỏa thuận này hiện vẫn có hiệu lực giữa Mỹ và Nga, và nhiều thỏa thuận song phương tương tự hiện vẫn tồn tại ở châu Âu. Một thỏa thuận năm 1993 giữa Nga và Nhật Bản là một ví dụ duy nhất ở châu Á. Các thỏa thuận như vậy giảm nguy cơ va chạm, kiềm chế các hành động khiêu khích như trang bị vũ khí trong thời bình, và xây dựng khả năng dự đoán trong các hoạt động tương tác trên biển. Đặc biệt một thỏa thuận INCSEA phải là một biện pháp nhằm giảm nguy cơ. Một thỏa thuận INCSEA cũng không có nghĩa là thay thế các quy định toàn cầu hoặc các biên bản ghi nhớ về cách ứng xử bình thường của tàu bè.
Thỏa thuận INCSEA Mỹ-Liên Xô cung cấp các biện pháp tránh va chạm, phòng tránh can thiệp vào đội hình của bên kia, tránh huy động lực lượng đến các khu vực có đông tàu thuyền qua lại, duy trì khoảng cách an toàn giữa các tàu thuyền, sử dụng các dấu hiệu chấp nhận được khi huy động lực lượng, không leo thang các vụ tấn công hay phóng chướng ngại hoặc rọi đèn pha vào các tàu của bên kia, sử dụng máy bay một cách thận trọng khi tiếp cận hoặc hoạt động ở vị trí gần các tàu và máy bay của bên kia, quy định thời gian cảnh báo (từ 3-5 ngày) trước khi tiến hành các hoạt động quân sự lớn của hải quân ở ngoài khơi.
Về nguyên tắc, các thỏa thuận xây dựng lòng tin chính thức không nhất thiết phải là song phương, hiện một CSCE đa phương đang có hiệu lực ở châu Âu, văn bản yêu cầu khai báo về các cuộc diễn tập quân sự. Tuy nhiên, ít khả năng đạt tiến bộ sớm hoặc nhanh chóng hướng tới một giải pháp tương tự cho vấn đề biển ở Ấn Độ - Thái Bình Dương, vì rất khó đạt các thỏa thuận song phương cũng như tại các diễn đàn như ARF. Nếu mặt khác, các cường quốc, đặc biệt là Mỹ và Trung Quốc, đạt đột phá về điểm này, thì có thể xây dựng một tiêu chuẩn thuyết phục đối với các quốc gia khác trong khu vực.
Cách tiếp cận tổng thể
Ngay cả những người ủng hộ CBMs nhất cũng không thể nói rằng một bước đơn lẻ cũng có thể thiết lập niềm tin hay giải quyết được bất đồng theo một cách nào đó. Ngược lại, lý tưởng nhất là một cơ chế tổng thể các CBMs, hoạt động trên nhiều cấp độ và nhiều mặt. CBMs trực tiếp và gián tiếp có thể được củng cố một cách song phương, và các quốc gia nghiêm túc muốn giảm nguy cơ quân sự và đạt thỏa thuận mang tính xây dựng có thể theo đuổi một sự kết hợp các cách tiếp cận: trực tiếp và gián tiếp, song phương và đa phương.
Điều này đòi hỏi nghiêm túc đặt ra thời gian và chỉ định nhân sự cấp cao. Ví dụ, yếu tố quân sự của một cách tiếp cận thực sự toàn diện cho việc giải quyết song phương có thể liên quan đến từ 5-7 cấp tương tác định kỳ, trong đó có các cuộc hội nghị cấp bộ trưởng, giám đốc cục, vụ, các cuộc đối thoại hải quân cấp chiến lược, các nhóm làm việc tác chiến và các đơn vị cá nhân. Cam kết đa phương cũng có thể được tiến hành ở các cấp khác nhau.
Bên cạnh đó, CBMs tập trung giảm căng thẳng quân sự thường cần sự can dự của cả những tác nhân phi quân sự. Các thực thể chính phủ và phi chính phủ khác có vai trò trong an ninh biển có thể tham gia vào giải pháp. Họ có thể tương tác với các đối tác nước ngoài của mình một cách mềm dẻo và cởi mở hơn các quan chức quân sự, như trường hợp Mỹ - Trung hợp tác bảo vệ bờ biển.
Bởi đồng thời, các thực thể phi quân sự này có thể là một phần của vấn đề. Các tổ chức giám sát và bảo vệ bờ biển, các cơ quan thực thi pháp luật, những người có thẩm quyền đánh bắt cá và các lực lượng hỗ trợ biển khác đều có thể là một bên tham gia trong sự cố biển, tương tự như các tàu đánh cá thương mại. Sự cố quần đảo Senkaku/Điếu Ngư năm 2010 xảy ra giữa Lực lượng Bảo vệ Bờ biển Nhật Bản với một tàu cá Trung Quốc, trong khi sự cố Impeccable năm 2009 xảy ra với các tàu cá Trung Quốc. Một thỏa thuận INCSEA giữa các lực lượng hải quân với nhau thôi có thể sẽ hạn chế giá trị của nó nếu nhiều sự cố lại liên quan đến các lực lượng phụ trợ (như trong quan hệ Mỹ- Trung).
Dù là cách nào, một cơ chế CBMs về biển triệt để đòi hỏi mỗi chính phủ liên quan phải kiểm soát được người dân cũng như các tài sản quân sự của mình. CBMs hiệu quả cần sự phối hợp nghiêm ngặt từ bên trong và sự quản lý giữa các nước có liên quan. Thiếu thông tin liên ngành, cơ chế đối phó khủng hoảng không hoạt động, sự ganh đua giữa các thể chế, sự mất trật tự, hay lực lượng quân đội và các kỹ năng đi biển dưới chuẩn có thể phá hoại những sáng kiến an ninh tốt nhất. Nhưng thành phần quan trọng là thiện chí chính trị.
CBMs có thể kém hiệu quả nếu các bên không nhất trí về nội dung hoặc mục đích, hoặc nếu các hoạt động mạo hiểm mà các biện pháp này nhằm tới trên thực tế là các hành động chính sách công khai liên quan đến các va chạm về lợi ích./.


Nguồn www.vietnamnet.vn

HQ0909
11-08-2011, 09:11 PM
http://nghiencuubiendong.vn/images/stories/10605140.JPG

Trả lời phỏng vấn của đài ABC của Úc trong bài "Thỏa thuận chung” về vấn đề Biển Đông, TS. Trần Trường Thủy, GĐ Trung tâm Nghiên cứu Biển Đông, cho biết quan điểm của ông về một số vấn đề nhiều người quan tâm hiện nay như chuyến đi Trung Quốc của Thứ trưởng NG Hồ Xuân Sơn, các thỏa thuận về quản lý Biển Đông như DOC, Bản hướng dẫn thực thi DOC, và mong đợi của Việt Nam tại Hội nghị Bali.

Phóng viên: Sau chuyến công du Trung Quốc của Đặc Phái Viên Hồ Xuân Sơn, Việt Nam và Trung Quốc tuyên bố đã đạt được “thỏa thuận chung”. Xin ông cho biết về thỏa thuận đó?

TS. Trần Trường Thủy: Theo tôi hiểu thì chuyến đi của Đặc phái viên Việt Nam sang Trung Quốc với mục đích làm giảm nhẹ căng thẳng trên Biển Đông. Chuyến đi này xảy ra sau chuyến thăm Việt Nam của Phó Trưởng ban Đối Ngoại Đảng Cộng Sản Trung Quốc. Hai thông điệp chính truyền tải trong chuyến đi của đặc phái viên Việt Nam là nêu quan ngại trước việc Trung Quốc cắt cáp thăm dò của tàu Bình Minh 02 và tàu Viking II trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, đồng thời mong muốn củng cố quan hệ hữu nghị với Trung Quốc. Đây chính là hai vế đi liền nhau trong chính sách của Việt Nam là vừa đấu tranh trên những vấn đề khác biệt nhưng vẫn giữ vững quan hệ ổn định với các bên liên quan, thúc đẩy hợp tác trong những vấn đề có điểm đồng về lợi ích.

Về “thỏa thuận chung” theo tôi hiểu thì không phải là một thỏa thuận gì mang tính văn bản pháp lý, trong chuyến đi ngắn như thế thì không thể đạt được thỏa thuận gì trong vấn đề phức tạp như Biển Đông. Hai bên chỉ có tuyên bố báo chí chung như đã công khai: tăng cường quan hệ Việt-Trung; tích cực thực hiện nhận thức chung của lãnh đạo hai nước trong vấn đề Biển Đông; hướng dẫn dư luận, báo chí; và tích cực đàm phán về các nguyên tắc giải quyết vấn đề trên biển.

Một số người đặt câu hỏi về “nhận thức chung” của lãnh đạo cấp cao hai nước là gì, có thỏa thuận gì không. Thực ra “nhận thức chung” chỉ mang tính chung chung, được tuyên bố trong nhiều chuyến thăm cấp cao của hai bên. Các ý cơ bản chỉ mang tính nguyên tắc như giải quyết tranh chấp thông qua thương lượng, đàm phán trên cơ sở luật pháp quốc tế, nhất là Công ước luật biển 1982; gìn giữ tình hình ổn định ở Biển Đông, không áp dụng hành động làm phức tạp hóa hoặc mở rộng thêm tranh chấp; tích cực nghiên cứu và bàn bạc để hợp tác cùng phát triển để đề ra mô hình và khu vực thích hợp, theo hình thức dễ trước khó sau.

Các thành tố của “nhận thức chung” này thực ra là của Tuyên bố ứng xử các bên tại Biển Đông ký giữa ASEAN và Trung Quốc năm 2002, chỉ khác là mang áp dụng cụ thể thêm cho quan hệ Việt-Trung.

Phóng viên: Tin cho biết Trung Quốc và ASEAN vừa đạt thống nhất về văn bản hướng dẫn thực hiện DOC. Tuy nhiên, một số quốc gia thành viên ASEAN than phiền những biện pháp hướng dẫn này có tính chất mơ hồ và không đầy đủ. Quan điểm của ông về vấn đề này?

TS. Trần Trường Thủy:Văn bản vừa đạt được giữa Trung Quốc và ASEAN là văn bản hướng dẫn cách thức thực hiện DOC, có thể so sánh là như thông tư hướng dẫn thực hiện sau khi đã ban hành luật. Nội dung văn bản chỉ là các bước hướng dẫn cách thức thực hiện cụ thể các điều khoản của DOC. Lâu đến nay hai bên không nhất trí thông qua văn bản này là do bất đồng về cách thức tiến hành: ASEAN muốn bàn bạc, thống nhất với nhau trước, sau đó mới bàn với Trung Quốc; trong khi Trung Quốc không đồng ý bàn với ASEAN như là một khối. Bất đồng nữa liên quan đến việc ASEAN muốn thực thi đầy đủ các điều khoản của DOC, trong khi Trung Quốc chỉ chú trọng vào các dự án hợp tác.

Việc hai bên đạt được thống nhất về Văn bản hướng dẫn này chỉ là bước nhỏ trong quản lý tranh chấp Biển Đông. Văn bản chỉ thể hiện là Trung Quốc và ASEAN có thể ngồi đàm phán và đặt được thỏa thuận với nhau. Cả DOC và văn bản hướng dẫn này không đủ hiệu lực để ngăn ngừa các hành vi làm phức tạp, căng thẳng tình hình của các bên.

Phóng viên: Nếu các thỏa thuận sắp đạt được đều có tính chất không ràng buộc (như đã xảy ra với DOC từ năm 2002 tới nay) thì liệu việc ra đời thêm một văn kiện nữa có sẽ giúp giải quyết tình hình căng thẳng ở Biển Đông hay không?

TS. Trần Trường Thủy:Hiện trong khu vực có hai cơ chế trực tiếp liên quan đến quản lý tình hình Biển Đông là Công ước luật biển 1982 và Tuyên bố DOC 2002.

Công ước luật biển 1982 là văn bản quan trọng nhất, phổ quát nhất quy định quyền và nghĩa vụ của các quốc gia liên quan đến biển, trong đó bao gồm các quy định về giải quyết tranh chấp liên quan đến biển. Tuy nhiên, Công ước không giải quyết vấn đề tranh chấp chủ quyền đối với các đảo, đá; mà ngược lại là nhân tố làm tranh chấp mở rộng hơn, do liên quan đến tranh chấp nguồn tài nguyên dầu khí, hải sản ở biển theo vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Ngoài ra Công ước cũng có nhiều điều khoản không rõ ràng nên các bên việc dẫn khác nhau nhằm tối đa hóa lợi ích của mình và biện minh cho hành động. Ví dụ như các điều khoản liên quan đến đảo, đá nào có vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa ; hay quy định về họat động của tàu bè quân sự nước ngoài trong vùng đặc quyền kinh tế.

DOC được ký kết nhằm mục đích quản lý tranh chấp thông qua khuyến khích các bên kiềm chế không làm phức tạp tình hình, tăng cường xây dựng lòng tin và thúc đẩy hợp tác. Tuy nhiên, DOC là văn bản chính trị không có giá trị pháp lý nên không có giá trị ràng buộc và không có chế tài để xử lý vi phạm. Các điều khoản cũng chưa đầy đủ để kiềm chế hành động của các bên và một số điều khoản chưa rõ ràng để quy chiếu.

Thực tiễn cho thấy hai công cụ cơ bản này không đủ để quản lý hiệu quả các tranh chấp và không đủ hiệu lực để duy trì ổn định ở Biển Đông. Do đó rất cần thiết một văn bản mới có giá trị pháp lý quy định đầy đủ các điều khoản điều chỉnh hành vi của các bên liên quan thì mới có thể giúp quản lý hiệu quả tranh chấp Biển Đông.

Phóng viên: Theo ông, Việt Nam trông đợi gì ở cuộc họp Bali. Xin cho biết một số trông đợi cụ thể?

TS. Trần Trường Thủy:Cá nhân tôi nghĩ là Việt Nam có thể trông đợi từ Bali ở mấy nội dung. Thứ nhất là duy trì việc bàn thảo về vấn đề Biển Đông tại các cuộc họp liên quan nội bộ ASEAN, ASEAN+ Trung Quốc và đặc biệt là tại ARF, càng nhiều tiếng nói quan ngại, nhiều kêu gọi tuân thủ luật pháp quốc tế, thực thi DOC càng có tác dụng trong việc duy trì hòa bình ổn định ở Biển Đông. Có thể Việt Nam cũng trông chờ vào phát biểu của Ngoại trưởng Mỹ về Biển Đông. Thứ hai là củng cố đoàn kết ASEAN, tăng cường đồng thuận trong vấn đề Biển Đông, có các mốc thời gian cụ thể cho các bước đi mới như COC. Trong tuyên bố chung các ngoại trưởng tôi thấy các ngoại trưởng đã đặt các mốc lộ trình cụ thể cho việc bàn thảo COC. Thứ ba là tranh thủ đạt các tiến triển mới trong các trao đổi song phương, với Trung Quốc. Thứ tư là đạt được các bước tiến cụ thể trong đàm phán: như Bản hướng dẫn thực thi DOC là một bước tiến mới./.


Việt Hùng (theo ABC)
Theo nghiencuubiendong
biendong (http://biendong.vntime.vn/News.aspx?Section=TinBienDong&obj=ca2f52ce-c44b-41bd-a90a-59720ef3d5b9)

HQ0909
11-08-2011, 09:21 PM
Một trang web của Bộ Quốc phòng Trung Quốc hôm nay nói rằng tàu sân bay của nước này “sẽ được dùng để giải quyết các tranh chấp lãnh thổ”, bất chấp những tuyên bố ngay trước đó của chính phủ rằng con tàu “không phải là mối đe dọa với các nước láng giềng”.




http://dantri4.vcmedia.vn/R3Q4O5ZByYfaYuux8wVI/Image/2011/07/2707trung_5faa7.jpg


Theo báo chí tại Đại lục, hiện nay Trung Quốc đang tiến hành huấn luyện phi công máy bay trên tàu sân bay.


Trong phần bình luận đăng trên jz.chinamil.com.cn, Guo Jianyue, a một phóng viên cấp cao của trang mạng thuộc từ PLA Daily (Nhật báo Quân giải phóng Nhân dân Trung Quốc) do Bộ Quốc phòng nước này điều hành, đặt câu hỏi:“Tại sao chúng ta đóng tàu sân bay nếu chúng ta không có can đảm và mong muốn dùng nó để giải quyết tranh chấp lãnh thổ”.

Sau đó, Guo Jianyue tự trả lời: “Dùng tàu sân bay này hoặc các tàu chiến khác để giải quyết các tranh chấp sẽ rất hợp lý nếu cần… Chúng ta sẽ có thêm sự tự tin và quyết tâm bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ khi sở hữu các tàu sân bay”.

Nhiều tờ báo và trang mạng ở Trung Quốc đã đăng lại bài viết trên.

Tuyên bố trên được đưa ra chỉ một ngày sau khi hãng tin chính thức Xinhua đưa tin một đoạn ngắn về chuyến ra khơi thử nghiệm của tàu sân bay đầu tiên. Ngay sau đó, Mỹ và Nhật Bản đã lên tiếng bày tỏ lo ngại về động thái liên quan đến sức mạnh hải quân của Trung Quốc.

Tuyên bố này cũng xuất hiện không lâu sau khi Trung Quốc một lần nữa nhắc lại rằng con tàu sân bay “được tân trang lại từ tàu cũ của Ukraine” sẽ được dùng chủ yếu cho huấn luyện, tìm kiếm, và rằng tàu sẽ không làm thay đổi chính sách quân sự phòng vệ của Bắc Kinh.

Sau Mỹ, Nhật Bản hôm qua tuyên bố muốn Trung Quốc minh bạch hoá chương trình hiện đại hải quân.

Chánh Văn phòng Nội các Nhật Bản Yukio Edano cho biết Tokyo sẽ hợp tác với một số nước khác để tìm kiếm sự minh bạch trong chương trình hiện đại hoá hải quân của Trung Quốc. Về thông tin Trung Quốc chạy thử tàu sân bay đầu tiên, ông Edano cho rằng Bắc Kinh phải chịu trách nhiệm với cộng đồng quốc tế về các hoạt động quân sự của nước này, đặc biệt nhìn từ góc độ minh bạch.

Theo báo chí tại Đại lục, hiện nay Trung Quốc đang tiến hành huấn luyện phi công máy bay trên tàu sân bay.

Theo báo chí Hồng Kông hôm nay, sau khi hoàn tất công đoạn kiểm tra nhiều lần, tàu sân bay của Trung Quốc sẽ chính thức được đưa vào vận hành năm 2012.

Việt Hà/dantri
Theo AFP, Channel News Asia
News online (http://biendong.vntime.vn/News.aspx?Section=TuongQuanQuanSu&obj=5196f2a9-6d0a-4f28-a7a2-091af1819803)

HQ0909
12-08-2011, 10:56 AM
TT - Việt Nam và Ấn Độ đã đề cập vấn đề biển Đông trong cuộc họp Đối thoại chiến lược lần 2 và Tham khảo chính trị lần 5 giữa Việt Nam và Ấn Độ trong hai ngày 8 và 9-8 tại Hà Nội.

Theo Bộ Ngoại giao Việt Nam, hai bên đã nhất trí về quan điểm giải quyết vấn đề biển Đông bằng những biện pháp hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế và Công ước Liên Hiệp Quốc về luật biển 1982, các bên liên quan cần nghiêm túc thực hiện Tuyên bố chung về ứng xử giữa các bên trên biển Đông (DOC).

Bên cạnh vấn đề biển Đông, hai bên cũng nhất trí tiếp tục duy trì quan hệ hợp tác chặt chẽ và tốt đẹp tại các diễn đàn khu vực và quốc tế, trong đó có hợp tác ASEAN - Ấn Độ, hội nghị cấp cao Đông Á hợp tác sông Hằng - sông Mekong và tại Liên Hiệp Quốc.

Tại các cuộc họp, hai bên đã trao đổi sâu rộng về hợp tác song phương trong các lĩnh vực, đặc biệt là về hợp tác quốc phòng và an ninh, công nghệ cao, đào tạo nguồn nhân lực; đồng thời trao đổi các biện pháp để thúc đẩy hơn nữa quan hệ đối tác chiến lược giữa hai nước trong thời gian tới.
H.GIANG
http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/450513/Bien-Dong-xuat-hien-trong-doi-thoai-chien-luoc-Viet---An.html

HQ0909
14-08-2011, 07:50 PM
Đó là bài Mai em về Trường Sa, dựa vào bài thơ cùng tên của nhà báo Nguyễn Vũ Quỳnh (ảnh) - Trưởng đại diện phía Nam Báo Người Hà Nội, nhạc sĩ Nguyễn Tất Tùng phổ nhạc.

http://www.thanhnien.com.vn/Pictures20116/Nam/1308/tac-gia-tho.jpg

Về cơ duyên sáng tác bài thơ này, nhà báo Nguyễn Vũ Quỳnh thổ lộ: "Tôi ra thăm Trường Sa cách đây 20 năm. Lâu lắm rồi chưa được trở lại, thì ngày 21.6 vừa qua, khi mở Báo Thanh Niên tôi thấy bài Phóng viên nơi đầu sóng. Các đồng nghiệp của Thanh Niên như cho tôi được trở lại với Trường Sa. Rất xúc động khi đọc bài viết của các bạn ghi lại tình cảm của quân dân Trường Sa đang ngày đêm bảo vệ biển trời Tổ quốc. Từ cảm xúc ấy tôi viết bài thơ Mai em về Trường Sa, trong đó có một số ý lấy cảm xúc từ bài báo, như:
"Tạm biệt nhé anh về Trường Sa
Ở ngoài ấy đang chớm mùa giông bão
Xa đất liền xa miền thơm thảo
Tạm biệt em vì Nam Quốc Sơn Hà
Tạm biệt nhé em - Trường Sa không xa
Đá Tây - Phan Vinh nắng tràn Nam Yết
Đêm Tiên Nữ lá thư vừa viết
Gửi Len Đao kịp thả những vòng hoa...".

Bài thơ sau đó đã được nhạc sĩ Nguyễn Tất Tùng phổ nhạc. Xin gửi tặng bài thơ và bài hát Mai em về Trường Sa đến quân dân huyện đảo Trường Sa, đồng nghiệp và bạn đọc Báo Thanh Niên".

G.K
http://www.thanhnien.com.vn/Pages/20110813/Them-mot-bai-hat-ve-Truong-Sa.aspx

HQ0909
15-08-2011, 03:22 PM
http://www.thanhnien.com.vn/Picture20118/TuanThanh/thukhoa.jpg

Thủ khoa thả hoa tưởng niệm chiến sĩ hải quân hy sinh vì Tổ quốc - Ảnh: Nguyễn Đức
Sáng 14.8, 112 thủ khoa tốt nghiệp các trường đại học, học viện tại Hà Nội đã đến TP Hải Phòng để giao lưu với những người lính canh giữ biển đảo Tổ quốc. Sự kiện này nằm trong chuỗi hoạt động tuyên dương thủ khoa do Thành Đoàn Hà Nội tổ chức.

Với câu hỏi “Vì sao bạn muốn trở thành một cô giáo dạy địa lý?”, bạn Nguyễn Thị Châu Loan, thủ khoa tốt nghiệp khoa Địa lý, trường ĐH Sư phạm Hà Nội, chia sẻ: Mình đã yêu môn địa lý, muốn trở thành giáo viên dạy địa lý để được truyền đạt kiến thức về đất nước, về biển đảo cho học sinh.

Cuộc tọa đàm bắt đầu sôi nổi dần lên khi đến câu hỏi: Tốt nghiệp ĐH với vị trí thủ khoa, có rất nhiều cơ hội nghề nghiệp đang mở ra vẫy gọi, có khi nào thủ khoa sẽ xung phong ra Trường Sa hay các vùng hải đảo xa xôi?

Bạn Nguyễn Ngọc Dũng, thủ khoa tốt nghiệp bộ môn địa chất công trình, trường ĐH Mỏ - Địa chất, cho biết mình từng được nghe kể lại những tấm gương hy sinh anh hùng của các chiến sĩ hải quân trên bãi đá Gạc Ma, Cô Lin và rất xúc động. Sắp tới, ở trường của Dũng sẽ thực hiện một dự án về khảo sát chi tiết các vùng bờ biển Việt Nam, và bạn sẽ xung phong được cộng tác với các chiến sĩ hải quân để phát triển vùng biển đảo của Tổ quốc.

Các nữ thủ khoa xuất sắc cũng háo hức thể hiện tình cảm của mình với biển đảo. Bạn Hà Linh Chi - thủ khoa trường ĐH Ngoại thương không ngần ngại bày tỏ: “Tốt nghiệp ĐH, em đã nhận được một số lời mời vào công tác ở một số công ty và đơn vị. Trong số đó, có một lời mời vào công tác ở Hải quân để giảng dạy tiếng Nga cho các kỹ sư điều khiển tàu và các thiết bị nhập từ Nga. Nhưng thú thực là em đã gạt đi, bởi suy nghĩ: con gái không phù hợp với môi trường quân đội. Tuy nhiên, lần gặp gỡ, giao lưu này, em được nghe những câu chuyện hết sức cảm động về hải quân nên em thay đổi quan điểm. Hãy cho em được gia nhập Hải quân”.

Bích Ngọc - Nguyễn Đức
http://www.thanhnien.com.vn/Pages/20110815/Thu-khoa-voi-chu-quyen-bien-dao.aspx

HQ0909
15-08-2011, 03:41 PM
Đất Việt xin giới thiệu tới độc giả ý kiến của Phó Đô đốc Hải quân Nhật Bản Fumio Ota về mục đích của Hải quân Trung Quốc trong tương lai.

Phó Đô đốc Fumio Ota từng là Giám đốc Trung tâm tình báo quốc phòng của Bộ quốc phòng Nhật Bản

http://quocphong.baodatviet.vn/Uploaded_CDCA/thuctap_qpcn/20110815/qp-nghia-fumioota-2.jpg

Dưới đây là ý kiến của ông Fumio Ota được Wall Street Journal đăng tải:

Hải quân Trung Quốc: Loại 1 sang loại 2

Quá trình thử nghiệm tàu sân bay Thi Lang của Trung Quốc là một sự kiện được Mỹ, Nhật Bản cùng nhiều nước Đông Nam Á chú ý trong thời gian gần đây. Với Thi Lang, Hải quân Trung Quốc đã đạt được bước biến mới trong việc sở hữu những khả năng mà họ chưa từng có trong quá khứ.

Quá trình thử nghiệm tàu sân bay đầu tiên của Trung Quốc vào ngày 10/8 đánh dấu một bước chuyển lớn trong học thuyết hải quân của quốc gia đông dân nhất thế giới.

Cách đơn giản nhất phân loại học thuyết hải quân của các quốc gia trên thế giới chia làm 2 loại: Loại 1 - “từ chối đại dương” và loại 2 - “thống trị đại dương”.

Từ trước tới nay, Trung Quốc thuộc vào loại 1, do vậy mục đích của hải quân chỉ là chặn đứng mọi khả năng mà đối phương có thể tận dụng để lấn át họ trên vùng thềm lục địa. Vì vậy, họ chủ yếu sử dụng thủy lôi và tàu ngầm.

Mỹ, Nhật Bản và Anh thuộc vào loại 2, hải quân của họ được thành lập với mục đích thống trị vùng biển mà họ muốn kiểm soát. Nhưng với những động thái mới nhất này, Trung Quốc đang thể hiện rõ quyết tâm muốn gia nhập câu lạc bộ các lực lượng hải quân hùng mạnh nhất.

Tàu ngầm Mỹ dễ dàng xử lý tàu sân bay Trung Quốc

Hàng không mẫu hạm cung cấp cho Trung Quốc nhiều khả năng và công cụ linh hoạt. Từ trước tới nay, tầm kiểm soát trên không của Trung Quốc luôn là một điểm yếu cố hữu vì họ chỉ sử dụng các sân bay trên bộ.
http://quocphong.baodatviet.vn/Uploaded_CDCA/thuctap_qpcn/20110815/qp-nghia-fumioota-1.jpg

Thi Lang tiến ra khơi trong sự quan tâm đặc biệt của các quốc gia láng giềng với Trung Quốc
Sự có mặt của “sân bay di động trên biển”, Hải quân Trung Quốc sẽ tạo một thách thức đáng kể đối với Nhật Bản. Hiện nay, máy bay chiến đấu của Lực lượng phòng vệ biển Nhật Bản tự do quần thảo trên các giàn khoan dầu của Trung Quốc tại biển Hoa Đông. Nhưng điều đó sẽ chấm dứt khi tàu sân bay Trung Quốc được triển khai.

Các bạn của tôi làm việc trong Hải quân Mỹ không hề lo lắng trước sự kiện này. Theo họ, Trung Quốc đang phí tiền đầu tư vì khi chiến tranh nổ ra, tàu ngầm hạt nhân của Mỹ sẽ dễ dàng “xử lý” các tàu sân bay của Trung Quốc.

Nhưng sự tự tin này không thể làm yên tâm người Nhật. Do Nhật Bản không sở hữu các tàu ngầm hạt nhân, tàu sân bay Trung Quốc sẽ là một hiểm họa lớn khó tiêu diệt. Đây cũng là nỗi lo chung cho các quốc gia láng giềng với Trung Quốc.

Nếu xét trên phương diện chiến thuật, tàu sân bay mới là một lợi thế khắc phục nhược điểm cố hữu của Hải quân Trung Quốc: sự yếu kém trong phòng chống các máy bay tấn công của đối phương. Sự xuất hiện của Thi Lang, máy bay của hải quân Trung Quốc có thể tham chiến trên bầu trời mọi lúc mọi nơi.

Nói chung, dù vẫn còn hạn chế nhưng các tàu sân bay mang lại cho Trung Quốc một lợi thế lớn về mặt chiến thuật quân sự. Do vậy mà quốc gia này không hề dấu diếm dự định thành lập ít nhất 3 nhóm tác chiến tàu sân bay trước năm 2050.

Thay đổi học thuyết hải quân

Chiến lược quân sự của Trung Quốc đã thay đổi từ phòng thủ bờ biển sang phòng thủ thềm lục địa trong những năm 1980. Và lần này, với sự xuất hiện của tàu sân bay, Hải quân Trung Quốc đang hiện thực hóa ước vọng vươn ra vùng biển sâu.

Trong báo cáo “Quốc phòng Trung Quốc” được phát hành vào tháng 3/2011, câu đầu tiên là sự đề cập tới việc Trung Quốc đang hoàn thiện chiến lược “phòng thủ chủ động”. Điều này được dẫn chứng bởi một thay đổi nhỏ nhưng mang ý nghĩa to lớn của hải quân Trung Quốc: cụm từ “chính sách phòng thủ thuần túy” trong văn kiện tương tự vào năm 2008 nay đã được lược bớt từ “thuần túy”.

Những thay đổi mang tính chiến lược này khiến cho Nhật Bản lo ngại. Trung Quốc đã áp đặt quyền sở hữu lên quần đảo Senkaku mà Nhật Bản kiểm soát (Quần đảo Điếu Ngư theo cách gọi của Trung Quốc) trong văn kiện Luật ranh giới trên biển.

Mốc đánh dấu lần đầu tiên Trung Quốc để ý tới cụm đảo nhỏ ở trên biển Hoa Đông này bắt đầu từ năm 1970, ngay sau khi Liên Hợp Quốc công bố khả năng tồn tại tài nguyên dầu mỏ ở khu vực này.

Kể từ đó, các vụ tàu chiến của Trung Quốc quấy rối lực lượng canh phòng bờ biển Nhật Bản tại khu vực đảo Senkaku luôn là điểm nóng trong quan hệ giữa hai quốc gia này.

Vùng biển Đông cũng là trường hợp tương tự. Trung Quốc tuyên bố chủ quyền tại vùng biển này tại văn kiện Luật ranh giới trên biển vào năm 1992. Và tàu sân bay Thi Lang cũng sẽ hoạt động chủ yếu trên vùng biển này trong tương lai.

Trung Quốc luôn tỏ ra rất áp đặt trong những vấn đề liên quan tới biển Đông. Vào năm nay, Việt Nam đã tố cáo Trung Quốc cắt cáp của tàu thăm dò và Philippines cũng phải lên tiếng vì Hải quân Trung Quốc liên tục quấy rối các tàu thăm dò của họ.

Hiện nay, sự căng thẳng đã lắng dịu sau khi Trung Quốc giữ cam kết của Đối thoại Shangri-La về vấn đề biển Đông.

Trung Quốc đang đánh mất mất niềm tin

Vấn đề lớn nhất là cách diễn giải các cam kết này “theo cách rất Trung Quốc”: Họ tự cho phép mình quyền được tổ chức thăm dò biển trong vùng đặc quyền kinh tế của các quốc gia khác, bao gồm cả Nhật Bản nhưng những quốc gia láng riềng thì không được phép làm điều ngược lại.

Điều này tạo ra một viễn cảnh không mấy khả quan cho các quốc gia nằm cạnh Trung Quốc: tiếng tăm của Trung Quốc được tạo dựng bằng sức mạnh. Và các hành động của Trung Quốc đang hiện khiến quốc gia khác mất niềm tin.

Nhật Bản, Mỹ cùng các quốc gia Phương tây cần phải tăng cường khả năng quân sự để kiềm chế tham vọng của Trung Quốc. Đây cũng là điểm chủ đạo trong khái niệm Chiến tranh trên không và trên biển do Trung tâm đánh giá chiến lược và ngân quĩ Nhật phát hành vào năm 2010. Và việc Trung Quốc thử nghiệm tàu sân bay đầu tiên là một dấu hiệu nữa buộc Nhật Bản và Mỹ phải tăng cường quân sự ngay lập tức.

Hữu Nghĩa (theo WSJ)
baodatviet (http://quocphong.baodatviet.vn/Home/QPCN/TSB-Trung-Quoc-duoi-lang-kinh-nguoi-Nhat/20118/161434.datviet)

longtt88
16-08-2011, 07:41 AM
Sau bao sóng gió bão giông, sau bao tai ương bị những kẻ bất lương nơi đảo Hoàng Sa trấn cướp đánh đập thu giữ tàu, “sói biển” Mai Phụng Lưu lại ra khơi trên con tàu mơ ước từ tấm lòng của đồng bào cả nước và các doanh nghiệp.

Trở lại Hoàng Sa lần này, hùng binh Mai Phụng Lưu đã mang theo bao khát vọng tàu đầy tôm cá, được yên bình đánh bắt trên vùng biển quê hương và nguyện làm cột mốc sống chủ quyền nơi đảo Hoàng Sa giữa biển mù khơi....

Con tàu mơ ước

'Sói biển' nhớ lại ngày hai vợ chồng bán nốt những cân tỏi giống cuối cùng trong nhà làm lộ phí dắt díu nhau vào đất liền để làm thủ tục vay ưu đãi 300 triệu đồng từ Ngân hàng Đông Á chi nhánh tại Quảng Ngãi để đóng lại tàu mới tiếp tục ra khơi.

Kể từ giờ phút hai tay run run đón nhận số tiền mặt sau khi hoàn tất các thủ tục vay tại ngân hàng, “sói biển” Mai Phụng Lưu lập tức ôm tiền đi tìm mua ngay con tàu 90 CV và đưa vào xưởng sữa chữa để kịp ngày ra khơi.



http://imgs.vietnamnet.vn/Images/2011/08/11/15/20110811152150_TAU-1.jpg


“Sói biển” Mai Phụng Lưu cầm lái con tàu khát vọng đạp sóng ra lại Hoàng Sa.




Sau hơn 1 tháng, con tàu mơ ước dũng mãnh cùng ông đạp sóng ra khơi. “Đến chừ khi đã ngồi sau bánh lái, được điều khiển con tàu ra lại Hoàng Sa tui cũng không tin nổi mình sắm lại được tàu mới sau 4 lần bị bắt giữ thu tàu....” - hùng binh Mai Phụng Lưu tâm sự.

“Những ngày được Cảnh sát biển Việt Nam đưa tàu ra đón về đất liền, không đêm nào tui ngủ trọn giấc. Bởi cuộc sống quá khó khăn, nợ chất chồng từ những lần bị bắt trước chưa trả được. Vợ con ly tán, nhưng nhờ tấm lòng sẻ chia của đồng bào cả nước, vợ chồng tui đã vượt qua những tháng ngày khó khăn tưởng như không thể vượt qua được...” - ông Mai Phụng Lưu nhớ lại.

Trong từng giấc mơ của mình ông, Lưu kể cho tôi nghe những ớn lạnh của những lần bị bắt giữ, đánh đập và bỏ đói trên đảo Hoàng Sa. Những kẻ bất lương trên đảo mỗi lần bắt giữ tàu, sau khi đánh đập, bỏ đói rồi gọi ông lên với lời khuyên lẫn đe doạ rằng ông đừng bao giờ trở lại Hoàng Sa.

Nhưng ông bảo, sau mỗi trận bắt giữ đánh đập, bị ngất đi và nằm mơ về những con tàu bình yên đánh bắt trên vùng biển quê hương đầy tôm cá đã khiến ông quên đi nỗi hãi hùng và đau đớn.

Biển Hoàng Sa với ông còn thân thuộc hơn căn nhà đang sống. Bởi mỗi năm, có 10 tháng ông sống trên tàu lênh đênh giữa biển bất chấp bão tố, cuồng phong. Ký ức chợt ùa về, ông Lưu nhớ lại: “Nhà nghèo quá, không đủ cơm để nuôi 5 anh em ăn học, thế là tui bỏ trường lên tàu ra Hoàng Sa năm 14 tuổi. Nhờ sức khoẻ và chịu đựng, cũng như tài lặn bắt, chỉ vài năm sau tui rành nghề lặn biển, lại thông thuộc từng con nước, rạn san hô, lặn cả ngày dưới nước ở độ sâu 20 m nước, nên được anh em thợ lặng vùng biển Lý Sơn đặt cho tui biệt danh “sói biển”...



http://imgs.vietnamnet.vn/Images/2011/08/11/15/20110811152150_TAU-3.jpg


Mai Phụng Lưu và khao khát trở lại Hoàng Sa





Dành dụm chắt bóp, con tàu mơ ước đầu tiên tự mình cầm lái ra Hoàng Sa được “sói biển” Mai Phụng Lưu vay mượn đóng mới khi bước sang tuổi 19. Kể từ ngày đó “Sói biển” Mai Phụng Lưu đã là ông chủ tàu tung hoành ngang dọc từ Trường Sa về biển Hoàng Sa quanh năm suốt tháng, nơi đâu cũng thấp thoáng bóng tàu của ông.

Những năm 80 của thế kỷ trước, ra Hoàng Sa, ông và hàng trăm tàu ngư dân khác vẫn bình yên. Đến đầu những năm 2000, tai ương bắt đầu rập rình khi những kẻ bất lương bắt giữ tàu, cướp hải sản và đánh đập đòi tiền chuộc.Khát vọng chủ quyền biển khơi

Bất chấp hiểm nguy chực chờ nơi biển Hoàng Sa, những con tàu của ngư dân miền Trung vẫn mải miết đạp sóng ra khơi. Với mỗi con tàu, mỗi ngư dân như cột mốc sống chủ quyền giữa biển Hoàng Sa - Trường Sa suốt mấy trăm năm nay.



http://imgs.vietnamnet.vn/Images/2011/08/11/15/20110811152150_TAU-5.jpg


Chủ tịch UBND huyện Lý Sơn Trần Ngọc Nguyên thay mặt bạn đọc báo VietNamNet trao tặng dàn máy ICOM và tiền hỗ trợ cho ngư dân tàu Mai Phụng Lưu trở về




Hàng nghìn ngư dân trắng tay lên bờ sau bao bão tố cuồng phong và những kẻ bất lương bắt bớ giam cầm, thu tàu đòi tiền chuộc. Mỗi bận trắng tay lên bờ, họ lại vay mượn, cấm cố nhà, cửa đóng lại tàu mới ra khơi.Trong một chiều đầu tháng 8, ngồi cùng thuyền trưởng Tiêu Viết Là nơi biển Bình Châu, ông dõi cặp mắt nhìn xa xăm về phía biển.

Ông bảo nơi đó là Hoàng Sa, là nơi ông gắn cả cuộc đời với sóng gió. Khát vọng của ông là được đóng lại tàu mới để trở lại Hoàng Sa dù trên thân thể vẫn còn dấu tích của những trận đòn thừa sống thiếu chết của những kẻ bất lương.

Hỏi ông không run sợ sau khi bị đánh, bị giam giữ thu tàu? Đôi mắt ông rực sáng nhìn tôi rồi bảo: Tại sao phải sợ, biển Hoàng Sa là của mình. Mình đánh bắt trên vùng biển quê hương tại sao phải sợ? Phải bám Hoàng Sa để khẳng định chủ quyền của mình. Nếu run sợ, bỏ biển thì có tội với cha ông...

“Phải đóng tàu mới trở lại Hoàng Sa. Không phải riêng tui mà sẽ có rất nhiều ngư dân nơi vùng biển này. Không thể bỏ biển, phải tìm cách...” - thuyền trưởng Tiêu Viết Là thì thầm trước biển như lời nguyện ước.

May mắn hơn ông Là, “sói biển” Mai Phụng Lưu đã đóng được tàu mới và ra lại Hoàng Sa chỉ sau hơn 1 năm nằm bờ.

Tôi vẫn còn nhớ như in, trước khi nhổ neo cho tàu ra Hoàng Sa, “sói biển” kịp điện thoại cho tôi bảo rằng ông lên đường trở lại Hoàng Sa, nguyện làm cột mốc sống chủ quyền.

Ông bảo không phải mình ông, mà trên tàu còn có 9 ngư dân can trường khác và còn có gần 20 tàu khác của ngư dân Lý Sơn, Bình Châu hình thành một đội tàu đánh bắt trên biển Hoàng Sa trong chuyến đi này.

Rồi đây sẽ còn nhiều con tàu mang khát vọng chủ quyền Hoàng Sa - Trường Sa như vậy được đóng mới, cưỡi sóng đạp gió ngày đêm bám biển...

Với nguồn vốn hơn 20 tỷ đồng từ Ngân hàng Đông Á ưu đãi, ngư dân sẽ có 100 chiếc tàu mơ ước. Và còn đó hàng triệu triệu trái tim đất Việt đang hướng về, chung tay góp sức sẽ làm nên những con tàu mang theo bao khát vọng...

Nguồn: VNN (http://vietnamnet.vn/vn/xa-hoi/34957/tro-lai-hoang-sa.html)

longtt88
16-08-2011, 07:49 AM
Trao đổi với 112 thủ khoa tốt nghiệp các trường đại học, học viện Hà Nội, đại tá Đinh Gia Thật, Phó Chủ nhiệm Chính trị quân chủng Hải quân thẳng thắn chia sẻ thông tin về tình hình biển đảo hiện nay.

Ngày 13-14/8, Thành đoàn Hà Nội phối hợp với Bộ Tư lệnh Hải quân tổ chức cho 112 thủ khoa xuất sắc tốt nghiệp các trường đại học, học viện trên địa bàn thành phố Hà Nội năm 2011 đến giao lưu với cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn Công binh 131 Quân chủng Hải quân tại thành phố Hải Phòng, cũng như toạ đàm với cán bộ, chiến sĩ Bộ Tư lệnh Hải quân về biển đảo Tổ quốc. Đoàn thủ khoa Hà Nội cũng làm lễ dâng hương tưởng niệm tại Di tích Bến tàu không số - nơi bắt đầu con đường Hồ Chí Minh trên biển huyền thoại.

Tại buổi giao lưu,đại tá Đinh Gia Thật nhấn mạnh:“Biển Việt Nam nằm trên toàn bộ bờ Tây của Biển Đông, với diện tích trên 1 triệu cây số vuông, gấp 4 lần đất liền, trải dài 3260km từ Bắc xuống Nam, có địa chính trị, địa kinh tế, địa quân sự rất quan trọng, không phải quốc gia nào cũng có”.

“Biển Việt Nam có 5 vùng: trong Vịnh Bắc Bộ, cửa Vịnh Bắc Bộ, thềm lục địa phía Nam, khu vực Trường Sa và biển Tây Nam. Ngoài ra còn có 3.000 hòn đảo lớn nhỏ trải dài từ Bắc xuống Nam, chính là chiến lũy nhiều lớp nhiều tầng bảo vệ toàn bộ vùng phía Đông của Tổ quốc”, đại tá Thật cho biết.



http://imgs.vietnamnet.vn/Images/2011/08/15/08/20110815083053_1.jpg


Ảnh: Duy Hiếu





Trò chuyện với các sinh viên xuất sắc vừa tốt nghiệp, Phó Chủ nhiệm Chính trị quân chủng Hải quân phần nào chia sẻ những thông tin về các hoạt động của hải quân Việt Nam trong bối cảnh Biển Đông đang ngày càng “nóng lên” hiện nay.

“Vùng cửa Vịnh Bắc Bộ rất nhạy cảm, ta và Trung Quốc đang đàm phán đến phiên thứ 5 để phân định, đã đưa ra một đường phân định tạm thời”, đại tá Thật cho biết. “Đây là khu vực chứa nhiều tiềm năng tài nguyên thiên nhiên khoáng sản, đặc biệt là dầu mỏ, hai nước đều đang tiến hành thăm dò, có lúc xảy ra va chạm nhưng hải quân ta vẫn kiên quyết, kiên trì, khôn khéo, không khiêu khích, không mắc mưu khiêu khích và kiềm chế không để xảy ra xung đột, giữ vững chủ quyền vùng biển, bất chấp nhiều hành vi uy hiếp từ phía Trung Quốc”.

“Tại khu vực Trường Sa, gồm 21 đảo (9 đảo nổi, 12 đảo chìm) và 33 điểm đóng quân, cán bộ chiến sĩ hải quân vẫn đang trụ vững nơi đầu sóng ngọn gió, vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, thiếu thốn để bảo vệ vững chắc vùng biển thiêng liêng rộng lớn ở phía Đông của Tổ quốc”, đại tá Đinh Gia Thật khẳng định. “Trong số các bên đang tranh chấp vùng biển này, ta có thế vững chắc nhất và điều kiện tốt nhất”.

“Các nhà giàn ở khu vực thềm lục địa phía Nam, khu vực giàu tiềm năng nhất của Việt Nam, với 10-12 chiến sĩ trên mỗi nhà giàn, cũng đang đối mặt với điều kiện thiếu thốn, thời tiết khắc nghiệt và nhiều sự đe dọa từ phía Trung Quốc”, đại tá Thật nói.

Trước các động thái gia tăng gây hấn của Trung Quốc trên Biển Đông gần đây, đặc biệt là hai vụ việc tàu Bình Minh 02 và tàu Viking II bị tàu hải giám và tàu cá vũ trang của Trung Quốc cắt cáp, đại tá Đinh Gia Thật nhận định: “Hành động của Trung Quốc là ngang ngược xâm lược, xâm phạm vùng biển của chúng ta, muốn khẳng định yêu sách đường lưỡi bò, thể hiện chiến lược kiểm soát, độc chiếm và làm chủ Biển Đông bằng sức mạnh”.

Tuy vậy, ông khẳng định: “Dù lực lượng của Trung Quốc có mạnh và ngang ngược đến mấy, các lực lượng Việt Nam gồm hải quân, cảnh sát biển, biên phòng, đánh cá các địa phương vẫn kiên quyết, kiên trì bảo vệ chủ quyền biển đảo bằng sức mạnh của toàn dân tộc”.

“Chúng ta không sợ vì chúng ta có chính nghĩa, có dư luận quốc tế ủng hộ, có chủ quyền, quan trọng là bảo vệ, đấu tranh như thế nào. Điều này đòi hỏi quan điểm chỉ đạo rất sát sao của Đảng và Nhà nước, kết hợp đấu tranh ngoại giao, chính trị và trên thực địa, nhờ công khai, công luận và công luật”, đại tá Thật nói.

Ông cho biết trong những năm tới, quân chủng hải quân sẽ tiếp tục được đầu tư trang bị những trang thiết bị mới, hiện đại như tàu ngầm, tàu hộ vệ tên lửa, các tổ hợp tên lửa đất đối hải..., nhưng ông cũng khẳng định yếu tố con người, yếu tố tinh thần mới là quyết định.

“Mặc dù trang bị hiện nay mới tương đối hiện đại, nhưng trên đó là ý chí để làm chủ trang bị vũ khí kỹ thuật, đồng thời là tình yêu và trách nhiệm đối với biển đảo, trách nhiệm với Tổ quốc, trách nhiệm trước Đảng, Nhà nước và nhân dân”, đại tá Thật nói.

“Chúng ta không nôn nóng, không để các thể lực thù địch kích động, giữ được quan hệ hòa hiếu với Trung Quốc, nhưng không để Trung Quốc muốn làm gì thì làm”, Phó Chủ nhiệm Chính trị quân chủng Hải quân một lần nữa khẳng định với các tân thủ khoa quyết tâm bảo vệ chủ quyền biển đảo của hải quân Việt Nam.

Nguồn: VNN (http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/35396/hai-quan-quyet-tam-bao-ve-chu-quyen-bien-dao.html)

anh2
18-08-2011, 11:25 AM
'Kiên quyết đấu tranh với các hoạt động vi phạm chủ quyền'

Trước ý kiến của cử tri thành phố Cảng về tình hình biển Đông, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhấn mạnh, Việt Nam kiên quyết đấu tranh với các hoạt động vi phạm chủ quyền và lợi ích chính đáng trên biển.


Ngày 17/8, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và đoàn đại biểu Quốc hội Hải Phòng đã tiếp xúc cử tri tại thành phố Cảng để báo báo kết quả kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XIII.

Cử tri Hải Phòng đề xuất Quốc hội tăng cường giám sát việc thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước tại cơ sở, nhất là về công tác bảo vệ môi trường, cải cách thủ tục hành chính và các chính sách an sinh xã hội. Cử tri cũng đề nghị Chính phủ tiếp tục quan tâm đặc biệt đến giáo dục - đào tạo, xây dựng quy hoạch chung hệ thống cảng biển và sân bay trên địa bàn cả nước, tránh tình trạng đầu tư dàn trải, lãng phí…

Đại diện cử tri doanh nghiệp kiến nghị Chính phủ cần quan tâm tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ về chính sách ưu đãi tín dụng, giãn thuế, ổn định giá thuê đất...


http://vnexpress.net/Files/Subject/3b/a2/da/8b/thu-tuong.jpg


Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng với các cử tri. Ảnh: TTXVN




Đề cập ý kiến của cử tri thành phố về tình hình gần đây trên biển Đông, Thủ tướng nhấn mạnh, chủ quyền là thiêng liêng bất khả xâm phạm, Đảng, Nhà nước đã, đang và sẽ làm hết sức bằng sức mạnh của dân tộc với sức mạnh thời đại để bảo vệ vững chắc chủ quyền của Tổ quốc. Ông khẳng định chủ quyền không thể tranh cãi của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, khẳng định chủ quyền và quyền chủ quyền của Việt Nam đối với các vùng biển, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa theo Công ước Luật Biển năm 1982 của Liên hợp quốc.

Thủ tướng nêu rõ, Việt Nam kiên trì chủ trương giải quyết các tranh chấp ở Biển Đông bằng các biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, nhất là Công ước Luật Biển năm 1982 của Liên hợp quốc; đồng thời phản đối mạnh mẽ và kiên quyết đấu tranh với các hoạt động vi phạm chủ quyền và lợi ích chính đáng trên biển của Việt Nam.

Về vấn đề cụ thể của địa phương, đại diện cử tri Hải Phòng đề nghị Chính phủ tiếp tục quan tâm chỉ đạo nhằm đẩy nhanh tiến độ triển khai các dự án hạ tầng trọng điểm như đường cao tốc Hà Nội - Hải Phòng, cảng nước sâu Lạch Huyện, sân bay Tiên Lãng, đường ôtô ven biển từ Quảng Ninh - Thanh Hóa...

Thay mặt Đoàn đại biểu Quốc hội Hải Phòng, Thủ tướng Dũng đánh giá cao và ghi nhận những ý kiến tâm huyết, xác đáng của cử tri Hải Phòng. Ông khẳng định Đảng, Nhà nước quan tâm và tập trung mọi nguồn lực cho giáo dục đào tạo, trong đó đặc biệt quan tâm nâng cao chất lượng đào tạo ở lĩnh vực đại học, cao đẳng và dạy nghề, đồng thời tiếp tục cải cách giáo dục ở các cấp trung học, tiểu học và mầm non.
theo VNE (http://vnexpress.net/gl/xa-hoi/2011/08/kien-quyet-dau-tranh-voi-cac-hoat-dong-vi-pham-chu-quyen-1/)

longtt88
18-08-2011, 03:18 PM
Giữa ngàn khơi đầy nắng và gió, 21 ngôi nhà hạnh phúc của 21 cặp vợ chồng đang sinh sống trên đảo Trường Sa lớn, Sinh Tồn và Song Tử Tây, không chỉ minh chứng cho sự sinh tồn của một thị tứ, nơi ươm mầm những chiến sĩ hải quân nhí, mà còn là sự tiếp nối thế hệ cho công cuộc bảo vệ chủ quyền Tổ quốc giữa biển Đông. Những phụ nữ theo chồng ra đảo Trường Sa lập nghiệp khẳng định sức mạnh của người phụ nữ Việt Nam hoàn toàn có thể sinh sống và vững vàng cầm súng nơi tuyến đầu Tổ quốc.

Những ai đã đặt chân đến Trường Sa, ngoài cảm phục những chiến sĩ kiên cường nơi tuyến đầu sóng gió, thì không thể không đến những ngôi nhà hạnh phúc của các gia đình đang sinh sống trên đảo. Luôn đầy ắp tiếng cười và ấm hơi người là cảm giác đầu tiên khi bước chân vào căn nhà hạnh phúc của cô giáo Bùi Thị Nhung ở đảo Trường Sa lớn. Cô giáo Nhung cũng có chồng là nhân viên cấp dưỡng ở đảo. Việc cô ra đây dạy chữ cho các em học sinh không chỉ góp công sức của cô dạy các em con chữ ở nơi gian khó này, mà còn chứng minh một điều, giới nữ cũng sẵn sàng làm nhiệm vụ ở nơi đầu sóng khi Tổ quốc cần chứ không chỉ giới “mày râu”.

http://www.nhontrach-dongnai.gov.vn/thongtinkinhtexahoi/mlfolder.2008-07-29.9984687136/anh 1.JPG
Cô giáo Bùi Thị Nhung trong “tổ ấm” của mình đang trao đổi với các nhà báo tại Trường Sa lớn

Bắt đầu từ năm 2005, Trường Sa được thiết kế xây dựng theo mô hình thị tứ, là trung tâm kinh tế xã hội đặc biệt trên quần đảo Trường Sa của Tổ quốc. Song song với xây dựng đảo theo chủ trương “kiên cố, vững chắc, lâu bền”, Quân chủng Hải quân chú trọng đến xây dựng làng quân nhân, trong đó những “tổ ấm” hạnh phúc được quan tâm đặc biệt. Đầu năm 2008 lần đầu tiên 21 cặp vợ chồng ở huyện Cam Lâm tỉnh Khánh Hòa xung phong ra đảo Trường Sa sinh sống theo diện “dân sự hóa chính sách trên đảo”. 21 hộ dân ấy được được phân đều cho 3 đảo là Trường Sa Lớn, Sinh Tồn và Song Tử Tây. Mỗi dãy nhà hạnh phúc có bảy “tổ ấm”.

Ở đảo Trường Sa lớn có 7 cặp vợ chồng và 10 đứa trẻ. Mỗi cặp vợ chồng sống trong một “tổ ấm” trong “dãy tổ ấm” hướng ra biển. Mỗi “tổ ấm” rộng 100m2, 3 phòng: phòng khách, phòng ngủ, phòng bếp và công trình phụ. Phía trước là khoảng vườn nhỏ để trồng rau, nhà nào cũng có cổng xây, mái ngói. Cô giáo Bùi Thị Nhung luôn nở nụ cười trên môi kể cho chúng tôi nghe ngày đầu tiên đặt chân đến “vùng biển bão tố” này. “Vợ chồng em đến Trường Sa sinh sống đầu năm 2008. Nói sao hết những khó khăn, nhất là chưa quen với thời tiết nắng gió ở đảo. Căn nhà này là đảo xây cho đấy, cũng khang trang như đất liền. Khi mới ra, con gái cứ nhớ các bạn và ông bà nội ở đất liền, có bữa nó thơ thẩn dưới gốc bàng nhìn về chân trời, nhìn mà thương con lắm. Lúc ấy em lại động viên cháu noi gương các chú bộ đội. Sống dần cũng quen. Từ ngày có điện bằng nguồn pin năng lượng mặt trời, cuộc sống được cải thiện rất nhiều. Bảo vệ đảo Trường Sa đâu chỉ có giới mày râu”.

Nguồn: http://www.nhontrach-dongnai.gov.vn/thongtinkinhtexahoi/mlfolder.2008-07-29.9984687136/mlnews.2011-08-09.2075464898

longtt88
18-08-2011, 03:22 PM
Giữa ngàn khơi đầy nắng và gió, 21 ngôi nhà hạnh phúc của 21 cặp vợ chồng đang sinh sống trên đảo Trường Sa lớn, Sinh Tồn và Song Tử Tây, không chỉ minh chứng cho sự sinh tồn của một thị tứ, nơi ươm mầm những chiến sĩ hải quân nhí, mà còn là sự tiếp nối thế hệ cho công cuộc bảo vệ chủ quyền Tổ quốc giữa biển Đông. Những phụ nữ theo chồng ra đảo Trường Sa lập nghiệp khẳng định sức mạnh của người phụ nữ Việt Nam hoàn toàn có thể sinh sống và vững vàng cầm súng nơi tuyến đầu Tổ quốc.

Trường Sa gọi là “quần đảo bão tố”. Một năm quân bình có 20 cơn bão đi qua đây hoặc hình thành tại vùng biển này. 21 hộ dân sống được lính trẻ ở 3 đảo Trường Sa lớn, Sinh Tồn, Song Tử Tây goi là “tổ ấm nơi đầu sóng”. Công việc hằng ngày của các “tổ ấm” này là khai thác đánh bắt hải sản, tăng gia sản xuất sinh sống. Mặc dù luôn phải chống chọi với thời tiết khắc nghiệt nhưng các “tổ ấm” luôn đầy ắp niềm vui. Tiếng trẻ bi bô, cười khúc khích và ê a học chữ của trẻ thơ làm xua tan bao nhọc nhằn sau một ngày quăng chài thả lưới. Chị Nguyễn Thị Hạnh cùng chồng là Võ Văn Trường ở đảo Trường Sa lớn tâm sự “Khó có thể nói hết những khó khăn gian khổ ngày đầu ra đảo, nhưng rồi mình cứ nghĩ đến các anh bộ đội đang ngày đêm vững vàng tay súng và chồng con luôn bên cạnh, mình lại thấy yên lòng hơn. Niềm vui nhất của vợ chồng em sau ngày lao động mệt nhọc là được trở về căn nhà thân yêu của mình. Đây chính là điểm tựa để gạt bỏ bao ưu phiền, nỗi nhớ đất liền cũng vơi đi phần nào”.

http://www.nhontrach-dongnai.gov.vn/thongtinkinhtexahoi/mlfolder.2008-07-29.9984687136/anh 2.JPG
Đại tá Trương Công Thế, Chính ủy Vùng 2 hải quân bế em bé con gái chị Nguyễn Thị Thúy tại đảo Song Tử Tây.

7 cặp vợ chồng đang sinh sống ở đảo Trường Sa lớn thì 6 cặp làm nghề chài lưới. Riêng cặp vợ chồng cô giáo Bùi Thị Nhung cùng chồng là Đặng Thanh Chương làm “trái nghề” so với những gia đình khác. Cô giáo Nhung kể, vợ chồng chị ra đảo sinh sống rất tình cờ. Một buổi chiều đi dạy học về, nghe trên loa truyền thanh xã thông báo về việc đi đảo Trường Sa lập nghiệp theo diện chính sách “Dân sự hóa công dân đảo Trường Sa”, chị đã về bàn bạc với chồng ra Trường Sa lập nghiệp. “Được chồng ủng hộ, gia đình hai bên nội ngoại cũng ủng hộ, em đăng ký luôn, vậy là đi. Hôm chia tay ở cảng Cam Ranh, ông bà hai bên nội ngoại khóc, cứ tưởng lúc ấy không đi được vì thương mẹ quá, lại nhớ đất liền nữa, nhưng đã quyết rồi. Chồng em là công nhân lái xe tải ra đây làm cấp dưỡng cho bộ đội. Niềm vui nhất của em sau những giờ lên lớp là được trở về căn nhà của mình. Đây thực sự là tổ ấm vơi đi bao nhọc nhằn và nỗi nhớ đất liền, nhất là những ngày dông bão”.

Ngày 4-4-2011, lần đầu tiên đảo Trường Sa chào đón công dân “nhí” đầu tiên chào đời. Công dân “nhí” ấy là bé gái con chị Nguyễn Thị Thúy hiện ở đảo Song Tử Tây. Việc bé gái ra đời ở Trường Sa là kết quả “mặn nồng” của các “tổ ấm”. Rồi đây, đảo quần đảo Trường Sa không chỉ có 21 hộ gia đình mà còn có nhiều “tổ ấm” mới sẽ được xây dựng trên quần đảo này. Hôm chúng tôi đến đảo Song Tử Tây, chị Nguyễn Thị Thúy bế con gái trên tay không dấu khỏi niềm vui: “Cục cưng của em đấy các bác ạ. Trường Sa sẽ có những chiến sĩ nhí kiên cường cùng với các chú bộ đội bảo vệ đảo”. Đại tá Trương Công Thế, Phó chính ủy Vùng 2 hải quân, bế em bé trên tay nói với đoàn công tác: “Việc em bé chào đời giữa ngàn trùng sóng nước không chỉ là qui luật sinh tồn của những công dân trên đảo, mà còn thể hiện sự tiếp nối cuộc sống của thế hệ người Việt trong bảo vệ giữ gìn quần đảo thiêng liêng của Tổ quốc. Đứa bé này sẽ được nuôi dưỡng tình yêu Tổ quốc, yêu biển đảo ngay từ lúc lọt lòng mẹ. Rồi đây sẽ có những em bé khác ra đời tại Trường Sa. Đảo Trường Sa và có nhiều chiến sĩ hải quân “nhí” lớn lên từ hòn đảo thân yêu này”…

Bên cạnh những “tổ ấm” cho những gia đình đang sinh sống tại đảo, còn có những “tổ ấm” giành riêng cho các cặp vợ chồng quân nhân gặp nhau vào mùa biển lặng tháng 4 hằng năm. Nhiều người vợ trẻ vượt sóng từ đất liền ra thăm chồng đã được ở trong “tổ ấm” ấy. Sau lần “ông ngâu bà ngâu” gặp nhau giữa Trường Sa, người vợ trẻ đã “tuyển được quân” trở về đất liền trong niềm vui khấp khởi. Cũng có chị vợ năm trước ra thăm chồng để “tuyển quân”, lần ra thăm sau hai năm, chị đem theo “chiến sĩ hải quân nhí” cho bố con gặp nhau…

Ngày nay giữa Trường Sa đầy nắng và gió, 21 công dân nữ với tư cách là “nữ chiến sĩ Trường Sa” thực sự là những bông hoa góp phần quan trọng trong việc xây tổ ấm hạnh phúc bền lâu, là điểm tựa vững chắc trong mỗi “tổ ấm”gia đình trên đảo.

Nguồn: http://www.nhontrach-dongnai.gov.vn/thongtinkinhtexahoi/mlfolder.2008-07-29.9984687136/mlnews.2011-08-09.4012812020

Sat That
19-08-2011, 04:44 PM
Biển Đông là nơi nguy hiểm với tàu sân bay TQ

Cập nhật lúc :2:41 PM, 19/08/2011



Tàu sân bay sẽ không giúp Trung Quốc giải quyết được các vấn đề tranh chấp trên biển Đông, thậm chí sẽ là cửa tử đối với tàu sân bay này.

Trang tin Asia Times Online của Hong Kong ngày 17/8 trích đăng bài viết của nhà chiến lược hải quân Australia Phil Radford. Ông cho rằng, việc sở hữu tàu sân bay không giúp Trung Quốc duy trì lợi thế trong các vấn đề tranh chấp trên biển Đông.

Dưới đây là nội dung những phân tích của ông Phil Radford:

Tàu sân bay này không phải là công cụ để giải quyết các tranh chấp hiện nay, vấn đề biển Đông đang là vấn đề đau đầu nhất đối với Trung Quốc. Tàu sân bay có ý nghĩa ngoại giao nhiều hơn là một cỗ máy quân sự.

Trung Quốc đã tiến hành công tác thử nghiệm đầu tiên đối với tàu sân bay Thi Lang sau thời gian dài cải tạo. (>> chi tiết (http://quocphong.baodatviet.vn/dv/search.aspx?KeyWord=T%C3%A0u%20s%C3%A2n%20bay%20Th i%20Lang%20Trung%20Qu%E1%BB%91c)) Một khi tàu sân bày này được hoàn thiện, nó sẽ có khả năng mang theo 40 máy bay tiêm kích trên hạm J-15, khoảng 20 chiếc trực thăng bao gồm các trực thăng chống ngầm Ka-28 của Nga hoặc một loại trực thăng nội địa do Trung Quốc sản xuất.

Việc sở hữu tàu sân bay và hình thành nhóm tác chiến tàu sân bay có thể làm thay đổi mạnh mẽ cán cân quyền lực trên biển Đông. Tàu sân bay Thi Lang sẽ giải quyết được các vấn đề chiến lược nhất định, cho phép Trung Quốc vươn xa hơn trong chiến lược hướng ra biển lớn, bảo vệ "lợi ích cốt lõi" tại biển Đông. Tuy nhiên, lợi thế này không thấm vào đâu so với các khó khăn mà tàu sân bay này phải đối mặt.




http://quocphong.baodatviet.vn/Uploaded_CDCA/thuctap_qpcn/20110819/qp_viet_k300p.jpg


Sự xuất hiện của tàu sân bay Thi Lang kéo theo sự xuất hiện của hàng loạt tên lửa chống hạm tối tân tại ĐNA, trong ảnh hệ thống tên lửa chống hạm siêu âm K-300P Bastion.



Theo ông Phil Radford, việc Trung Quốc sở hữu tàu sân bay đã vô tình tạo ra một cuộc chạy đua vũ trang ngầm tại khu vực ASEAN. Ngay từ khi Trung Quốc tiến hành cải tạo tàu sân bay Varyag các nước trong khu vực đã rục rịch chuẩn bị các biện pháp đối phó.

Ngoài hạm đội 6 tàu ngầm của Việt Nam, tàu sân bay Thi Lang sẽ phải đối đầu với các hạm đội tàu ngầm khác không kém phần tối tân. Tàu sân bay Thi Lang sẽ phải đối đầu với các tàu ngầm lớp Scorpene của Hải quân Hoàng gia Malaysia, tàu ngầm lớp Archer của Hải quân Singapone, có thể là cả tàu ngầm lớp Kilo trong biên chế của Hải quân Indonesia.

Song nguy hiểm hơn cả đối với tàu sân bay Thi Lang đến từ các hệ thống tên lửa chống hạm tối tân đang và sẽ xuất hiện tại Đông Nam Á trong thời gian tới. Việt Nam cùng với Indonesia là hai quốc gia đầu tiên ngoài Nga sở hữu hệ thống tên lửa chống hạm siêu âm P-800 Yakhont.



http://quocphong.baodatviet.vn/Uploaded_CDCA/thuctap_qpcn/20110819/qp_viet_brahmos_3.jpg


Tên lửa chống hạm siêu thanh BrahMos là mối đe dọa quá lớn đối với tàu sân bay Thi Lang.


Trang tin De Volkskrant của Hà Lan cho biết, Việt Nam đang tiến rất gần tới việc sở hữu hệ thống tên lửa chống hạm siêu thanh BrahMos. Việc mua tên lửa chống hạm này cần phải có được sự đồng ý của cả Nga và Ấn Độ.

Tuy nhiên đây không phải là vấn đề quá lớn, hiện tại quan hệ giữa Việt Nam với Ấn Độ và Nga đều ở tầm đối tác chiến lược. Ấn Độ đang thể hiện nỗ lực hướng Đông nhằm giải tỏa áp lực của Trung Quốc tại Ấn Độ Dương.

Việc bán hệ thống tên lửa chống hạm tối tân này cho Việt Nam là điều hoàn toàn có khả năng xảy ra. Ấn Độ cũng đã cam kết giúp Việt Nam hiện đại hóa hải quân, chia sẽ kinh nghiệm xây dựng và vận hành hạm đội tàu ngầm. (>> chi tiết (http://quocphong.baodatviet.vn/Home/QPCN/An-Do-giup-VN-xay-dung-ham-doi-tau-ngam/20118/160401.datviet))

BrahMos là loại tên lửa chống hạm nhanh nhất thế giới hiện nay, với tốc độ Mach-3 và tầm bắn 300km, BrahMos thực sự là một mối đe dọa chết người đối với bất kỳ tàu chiến nào.

Biển Đông là "cửa tử"

Ông Phil Radford nhận định ngay cả khi hình thành đầy đủ nhóm tác chiến tàu sân bay, lực lượng này vẫn quá mỏng manh để tạo ra một lợi thế lớn nếu có một cuộc xung đột xảy ra.

Tàu sân bay Thi Lang không có khả năng triển khai hoạt động máy bay chỉ huy và cảnh báo sớm trên không. Điều này có nghĩa là tàu sân bay cùng nhóm tác chiến gặp nhiều hạn chế trong việc phát hiện các mối đe dọa từ đường chân trời.

Sẽ là thách thức lớn với hệ thống radar do Trung Quốc sản xuất để dẫn đường cho tên lửa hạm đối không HHQ-9 (>> chi tiết (http://quocphong.baodatviet.vn/Home/QPCN/toancanh/Tim-hieu-dua-con-lai-Nga--My-cua-phong-khong-Trung-Quoc/201010/114385.datviet)) đánh chặn các tên lửa chống hạm siêu âm. Đây là bài toán khó đối với cả hệ thống đánh chặn siêu hạng Aegis của Mỹ.

Hệ thống bảo vệ dưới nước cho tàu sân bay cũng không thực sự an toàn, năng lực tác chiến chống ngầm của Trung Quốc rất hạn chế. Hệ thống thông tin liên lạc phối hợp tác chiến giữa tàu ngầm và tàu chiến mặt nước không thực sự tốt. (>> chi tiết (http://quocphong.baodatviet.vn/Home/QPCN/Got-chan-Asin-cua-Hai-quan-Trung-Quoc/20118/159244.datviet))

Ngay cả khi năng lực này được cải thiện, vẫn không thể đảm bảo được sự an toàn cho tàu sân bay Thi Lang khi hoạt động trên biển Đông. Một cuộc đột kích bằng tên lửa từ trên không sẽ là thảm họa đối với tàu sân bay Thi Lang.

Trung Quốc khó lòng mà sử dụng tàu sân bay Thi Lang trên biển Đông như là một công cụ để gây áp lực lên các vấn đề tranh chấp trên biển Đông. Kết thúc bài viết ông Phil Radford kết luận “Biển Đông sẽ là nơi nguy hiểm nhất đối với tàu sân bay Thi Lang”.

>> Chuyên đề: Tàu sân bay Trung Quốc (http://quocphong.baodatviet.vn/dv/search.aspx?KeyWord=T%C3%A0u%20s%C3%A2n%20bay%20Th i%20Lang%20Trung%20Qu%E1%BB%91c) Tag: Tàu sân bay Thi Lang Trung Quốc
Quốc Việt (theo Asia Times, De Volkskrant)
Nguồn www.baodatviet.vn

Sat That
20-08-2011, 05:19 PM
'Biển Đông - điểm nóng của thế giới tương lai?

Cập nhật lúc :1:40 PM, 20/08/2011



Tạp chí Chính sách Ngoại giao (Foreign Policy) vừa qua đã đăng bài phân tích với nhan đề "Biển Đông - xung đột của tương lai" của học giả Robert D. Kaplan, chuyên gia cao cấp thuộc Trung tâm An ninh Mỹ Mới, đồng thời là thành viên của Ủy ban Chính sách Quốc phòng thuộc Bộ Quốc phòng Mỹ.


Mở đầu bài phân tích, R. D. Kaplan cho rằng, trong thế kỷ 20, thế giới thường xuyên chứng kiến các cuộc tranh chấp diễn ra trên đất liền, đặc biệt là ở Châu Âu. Tuy nhiên sang thế kỷ 21, trọng tâm dân số và kinh tế đã dần có sự dịch chuyển sang Đông Á, nơi mà các trung tâm lớn của khu vực phần lớn được ngăn cách bởi các vùng lãnh hải. Đặc điểm địa hình này của Đông Á là điều có thể dự báo trước về 1 kỷ nguyên của hải quân – được hiểu theo nghĩa rộng là bao gồm các thế trận trên biển và trên không đang có những diễn biến ngày càng căng thẳng.

Kaplan cho rằng, nguyên nhân lý giải cho tình trạng căng thẳng trên là vì Trung Quốc, đất nước có vùng biên giới đất liền được xem là an toàn nhất kể từ triều nhà Thanh vào cuối thế kỷ 18 đến nay, đang không ngừng mở rộng các hoạt động hải quân của mình. Thông qua quyền lực biển đó, Trung Quốc dường như muốn xóa bỏ hai thế kỷ xâm lấn của các thế lực bên ngoài đối với lãnh thổ của mình – khiến các nước láng giềng phải phản ứng.

Đông Á, hay chính xác hơn là Tây Thái Bình Dương, khu vực đang nhanh chóng trở thành trung tâm mới của các hoạt động hải quân, cho thấy trước một động cơ thực sự khác biệt. Cuộc đấu tranh giành ưu thế ở Tây Thái Bình Dương không nhất thiết cần tới vũ trang mà gần như sẽ diễn ra một cách thầm lặng trên những vùng biển trống, chấp nhận sức mạnh kinh tế và quân sự tăng chậm nhưng chắc mà các nhà nước có được trong suốt quá trình lịch sử.

Kaplan nhận định, không giống như đất liền, vùng biển tạo ra các đường biên giới rõ ràng, giúp giảm khả năng xung đột. Vùng biển rộng lớn cũng là rào cản đối với các cuộc chiến, khi mà những con tàu chiến nhanh nhất cũng chỉ đạt 35 hải lý. Chính những vùng biển xung quanh Đông Á – một trung tâm sản xuất cũng như mua bán khí tài quân sự mới nổi của thế giới – sẽ giúp cho thế kỷ 21 có nhiều cơ hội tránh được các đại chiến so với thế kỷ 20.




http://media.baodatviet.vn/Uploaded_CDCA/hoangthuy/20110819/ctxhbiendong.jpg


Biển Đông là xung đột trong tương lai.



Tất nhiên, vùng biển mênh mông không ngăn được nhiều cuộc đại chiến diễn ra ở Đông Á vào thế kỷ 20. Chẳng hạn như chiến tranh Nga – Nhật, cuộc nội chiến kéo dài nửa thế kỷ ở Trung Quốc, các cuộc xâm chiếm của Nhật Hoàng, thế chiến thứ hai ở Thái Bình Dương, chiến tranh Triều Tiên, hay các cuộc chiến ở Lào, Campuchia và Việt Nam. Nhưng thời kỳ đấu tranh để giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước đã lùi lại phía sau. Cái mà quân đội Đông Á đang hướng tới là lực lượng hải quân và không quân công nghệ cao theo hướng hướng ngoại, hơn là hướng nội công nghệ thấp.

Vì sao Biển Đông là “ngòi nổ” tranh chấp?

Kaplan đưa ra nhận định, Biển Đông nối liền Đông Nam Á với Tây Thái Bình Dương, có chức năng như tuyến đường biển trọng yếu của toàn cầu. Đây là trung tâm của vùng biển Á Âu, ngăn cách bởi các Eo biển Malacca, Sunda, Lombok, và Makassar. Hơn một nửa lượng hàng hóa được chuyên chở bằng đường biển đi qua vùng biển này, và cũng chiếm tới 1/3 giao thông đường thủy của thế giới. Lượng dầu mỏ được chuyên chở từ Ấn Độ Dương qua Eo biển Malacca, đến Đông Á qua Biển Đông, được cho là nhiều gấp 6 lần lượng dầu được vận chuyển qua kênh đào Suez và 17 lần lượng dầu chuyển qua Kênh đào Panama. Trong khi đó, 2/3 nguồn cung cấp năng lượng của Hàn Quốc, gần 60% của Nhật Bản và Đài Loan, và khoảng 80% lượng dầu thô nhập khẩu của Trung Quốc đi qua Biển Đông. Thêm nữa, Biển Đông còn chứa nguồn tài nguyên dồi dào, trong đó có nguồn dầu dự trữ lên tới 7 tỷ thùng và 900 nghìn tỷ m3 khí gas tự nhiên.

Nhiều cuộc tranh chấp đã diễn ra ở Biển Đông không chỉ bởi vị thế và trữ lượng tài nguyên mà còn vì chủ quyền lãnh hải, trong đó có những tranh chấp liên quan đến Quần đảo Trường Sa. Trong đó, Bắc Kinh đòi chủ quyền “đường lưỡi bò” trải dài từ Đảo Hải Nam của Trung Quốc xuống gần Singapore và Malaysia. Điều này khiến cho 9 nước giáp Biển Đông gần như đã đứng về một phía để phản đối Trung Quốc.

Thực tế, Biển Đông đang trở thành một căn cứ quân sự, nơi mà mỗi nước xây dựng và hiện đại hóa lực lượng hải quân của mình. Thậm chí, khi mà sự tranh chấp chủ quyền hai hòn đảo những thập niên gần đây hầu như không còn. Trung Quốc chiếm đóng bằng quân sự 8 đảo nhỏ trên biển Đông, Việt Nam 25 đảo, Philippin 8 đảo, Malaysia 5 đảo và Đài Loan 1 đảo.

Căn nguyên Trung Quốc muốn lấn chiếm

Ông Kaplan so sánh vị trí của Trung Quốc ở Biển Đông giống với vị trí của Mỹ ở vùng Biển Caribe hồi thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20. Khi đó, dù Mỹ nhận ra sự hiện diện và khẳng định chủ quyền của các thế lực Châu Âu ở Caribe, nhưng nước này vẫn tìm cách để thống trị vùng biển này. Cuộc chiến tranh giữa Mỹ và Tây Ban Nha vào năm 1898 và việc xây dựng kênh đào Panama từ năm 1904 - 1914 đã cho phép Mỹ kiểm soát hiệu quả Tây Bán cầu và qua đó gây ảnh hưởng tới cán cân lực lượng ở Đông Bán cầu. Ngày nay, Trung Quốc tự thấy mình đang ở vị thế tương tự trên Biển Đông, nơi Trung Quốc cũng muốn có sự hiện diện của hải quân để bảo vệ đường vận chuyển nhiên liệu từ Trung Đông.

Nhưng dường như nguyên nhân sâu xa khiến Trung Quốc tiến sâu vào vùng Biển Đông và xa hơn nữa là Thái Bình Dương có lẽ là vì Trung Quốc đã từng bị các cường quốc phương Tây gồm Anh, Pháp, Nhật và Nga xâm chiếm lãnh thổ và chia rẽ đất nước sau một thiên niên kỷ từng ở vị trí siêu cường và một nền văn minh của thế giới. Sự hối hả bành trướng của Trung Quốc là một lời tuyên bố rằng họ không bao giờ muốn để cho người nước ngoài lợi dụng mình một lần nữa. Kaplan nhận định mặc dù không tuyên bố, nhưng Trung Quốc sẽ theo phương châm “Kẻ mạnh làm những gì họ đủ sức làm và kẻ yếu phải hứng chịu những gì họ phải hứng chịu”.
Các nước bảo vệ tự do
Không chỉ Trung Quốc vội vàng xây dựng lực lượng quân sự của mình, các nước Đông Nam Á cũng đang làm vậy. Ngân sách quốc phòng của các nước này đã tăng khoảng 1/3 trong thập kỷ qua, thậm chí khi các nước Châu Âu còn đang giảm chi tiêu quân sự. Nếu tính từ năm 2000, nhập khẩu vũ khí của Indonesia, Singapore, và Malaysia đã lần lượt tăng 84%, 146 %, và 722 %. Ngoài ra, Malaysia cũng mới mở căn cứ tàu ngầm ở đảo Borneo, thuộc Đông Nam A, trong khi Việt Nam gần đây mua 6 tàu ngầm lớp Kilo và chiến hạm của Nga.
Ông Kaplan còn cho rằng, sự hiện diện của Mỹ vẫn giúp đảm bảo hiện trạng “không dễ dàng” ở Biển Đông và hạn chế sự hung hăng của Trung Quốc, cùng với đó là đóng vai trò giám sát ngoại giao và hải quân Trung Quốc. Sự cân bằng quyền lực giữa Mỹ và Trung Quốc có thể sẽ giúp Việt Nam, Đài Loan, Philippines, Singapore, Indonesia và Malaysia “thoải mái hơn”, nhưng cũng có thể khiến hai siêu cường này xung đột với nhau.
Kaplan cũng trích nghiên cứu của ông Hugh White, giáo sư nghiên cứu về chiến lược tại Đại học Quốc gia Australia, nói rằng sức mạnh ngày càng tăng của Trung Quốc và sự thống trị của Mỹ ở Châu Á lại có thể là nguồn gốc gây bất ổn khi hai siêu cường này có xung đột về lợi ích.
Theo Kaplan, chính Mỹ chứ không phải Trung Quốc mới là vấn đề trong tương lai. Bởi lẽ thực chất, Mỹ tìm cách hạn chế quyền lực của nước này. Ông khuyến cáo Mỹ nên hướng vai trò của họ ở Châu Á tới sự cân bằng, thay vì thống trị; và bởi lẽ quyền lực cứng sẽ vẫn là chìa khóa cho các mối quan hệ quốc tế, do đó Mỹ cần xem xét việc áp dụng nó đối với Trung Quốc. Mỹ không cần tăng cường sức mạnh hải quân ở Tây Thái Bình Dương, nhưng cũng không thể giảm đáng kể sự hiện diện của lực lượng này ở đây.

Minh Khuê
Nguồn www.baodatviet.vn

HQ0909
21-08-2011, 09:10 PM
Ông James G.Zumwalt - tác giả quyển sách Chân trần chí thép (Bare feet iron will) - vừa cho biết sẽ tặng 500 quyển sách này cho bộ đội Trường Sa và bộ đội biên phòng 6 tỉnh biên giới phía Bắc Việt Nam.

Thông tin này được Công ty Trí Việt - First News vừa công bố. Đơn vị này là chủ đầu tư trong việc chuyển ngữ, liên kết xuất bản và phát hành bản sách trên tại Việt Nam. Theo đó, Trí Việt - First News được ủy quyền từ tác giả Zumwalt đã làm việc với Bộ Quốc phòng Việt Nam để trực tiếp chuyển sách tặng đến hai địa điểm nói trên vào cuối tháng 8.

Nói về lý do của nghĩa cử này, ông James G.Zumwalt trả lời qua điện thoại: “Những ngày qua theo dõi tin tức, tôi rất quan tâm và hiểu tình hình ở quần đảo Trường Sa, tôi muốn gửi tặng món quà tinh thần này cho những người lính đang bảo vệ đất nước Việt Nam. Những người lính Việt Nam với tinh thần “chân trần chí thép” đã chiến thắng Hợp chủng quốc Hoa Kỳ trong cuộc chiến tranh Việt Nam hơn 35 năm trước.
Với tinh thần đó hiện nay, chắc chắn những người lính Việt Nam sẽ có thêm sức mạnh và dũng khí để bảo vệ biên cương hải đảo của mình”.

Nhân dịp này, anh Nguyễn Văn Phú - em kết nghĩa của James và là người đi cùng, phiên dịch cho James G.Zumwalt trong những lần sang Việt Nam - cũng gửi tặng 500 cuốn Chân trần chí thép cho chiến sĩ Trường Sa.
LAM ĐIỀN
http://tuoitre.vn/Ban-doc/452130/Them-tai-them-mat-cho-chien-si-DK1.html

anh2
25-08-2011, 11:30 AM
Báo chí Bắc Kinh tiếp tục các lập luận là chính phủ Việt Nam từ 1954-1975 nhiều lần công nhận chủ quyền của Trung Quốc ở Hoàng Sa Trường Sa và kèm thêm hai tài liệu mới. http://www.rfa.org/vietnamese/programs/ReviewOnlineDomesticPress/copy_of_echo-secur-schsea-forum-06242011084754.html/bien-dong-uschina-institude-305.jpg Source uschina-institude
Các quốc gia có phần nào quyền lợi ở Biển Đông. Source uschina-institude

Chiến dịch truyền thông



Truyền thông Trung Quốc tận dụng công hàm Phạm Văn Đồng 1958 với cách giải thích là Việt Nam từng công nhận chủ quyền Trung Quốc ở Hoàng Sa Trường Sa.





Mới đây Bắc Kinh Tuần báo có bài của học giả Lý Kim Minh, giáo sư học viện Nghiên cứu Đông Nam Á thuộc Đại học Hạ Môn tỉnh Phúc Kiến, trích dẫn hai tài liệu khác chưa từng được nói tới.




Ở góc độ Nhà nước chúng tôi bao giờ cũng thể hiện Hoàng Sa, Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam. Ở cương vị chúng tôi bao giờ cũng thể hiện và ghi rõ Hoàng Sa Trường Sa là của Việt Nam.Cục trưởng Nguyễn Tuấn HùngTheo đó bản đồ thế giới do Bộ Tổng tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam xuất bản năm 1960, quần đảo Nam Sa (Trường Sa) được ghi chú là lãnh thổ Trung Quốc.






Học giả này còn nhắc tới một bản đồ khác được cho là do Cục Bản đồ của chính phủ Việt Nam xuất bản năm 1972, trong đó chú thích quần đảo Nam Sa (Trường Sa) bằng tiếng Hoa, thay vì bằng tiếng Việt hay Anh, Pháp.


Trong trao đổi nhanh với chúng tôi, tối 3/8 ông Nguyễn Tuấn Hùng Cục trưởng Cục Đo Đạc và Bản đồ từ Hà Nội phát biểu:

“Đấy là do Trung Quốc thôi, chứ còn Việt Nam ở góc độ Nhà nước chúng tôi bao giờ cũng thể hiện Hoàng Sa, Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam. Ở cương vị chúng tôi bao giờ cũng thể hiện và ghi rõ Hoàng Sa Trường Sa là của Việt Nam.”





Trả lời Nam Nguyên, Thạc sĩ Hoàng Việt giảng viên Luật Quốc tế trường Đại học Luật TP.HCM không loại trừ sự kiện Trung Quốc từng giúp đỡ Việt Nam trước kia về in ấn nên có thể đã ngụy tạo:





“Thực chất thời kỳ đó, chính là khi chúng ta nhờ Trung Quốc in ấn sách giáo khoa, họ đã đưa những bản đồ đó vào và chúng ta đã không để ý. Nhất là trong thời kỳ tình cảm, như công hàm Phạm Văn Đồng đã không để ý tới.





Thứ hai, giá trị pháp lý bản đồ như thế nào trong tranh chấp lãnh thổ thì có một số vấn đề: bản thân bản đồ đã là bằng chứng pháp lý chưa? thì nó chưa hẳn như thế. Bởi vì một bản đồ phải kèm theo một hiệp định ký bởi hai quốc gia về vấn đề lãnh thổ thì mới được coi là hoàn toàn có hiệu lực, đó là một bằng chứng pháp lý rất lớn.




Bằng chứng bản đồ do một bên đưa ra mà không liên quan gì tới các hiệp định hiệp ước chính thức mà quốc gia đó đã ký kết thì giá trị pháp lý về bản đồ nó không nhiều lắm thậm chí là không có gì.Thạc sĩ Hoàng Việt
Còn thông thường bản đồ của một phía đưa ra thì nó đã sai sót rất nhiều và bằng chứng pháp lý của bản đồ bị hạn chế rất nhiều, chưa kể bản đồ đó được nơi nào xuất bản, phương tiện kỹ thuật được cung cấp như thế nào.





Nói chung dựa trên bằng chứng bản đồ do một bên đưa ra mà không liên quan gì tới các hiệp định hiệp ước chính thức mà quốc gia đó đã ký kết thì giá trị pháp lý về bản đồ nó không nhiều lắm thậm chí là không có gì.”


Việt Nam phản bác



Học giả Trung Quốc Lý Kim Minh sử dụng hai tài liệu về bản đồ như hai bằng chứng để làm mạnh hơn bằng chứng thứ nhất là công hàm Phạm Văn Đồng 1958, theo đó Việt Nam tán thành chủ quyền lãnh hải 12 hải lý tính từ đất liền Trung Quốc kể cả các quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa) và Nam Sa (Trường Sa).




http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/online-domes-rev-0722-nn-07222011131052.html/1958_diplomatic_note_from_phamvandong_to_zhouenlai 200.jpg
Công hàm 1958 của thủ tướng Phạm Văn Đồng. File Photo.

Phía Trung Quốc viện dẫn nguyên tắc Estoppel trong luật học để nói rằng Việt Nam không thể từ bỏ những gì đã được công hàm Phạm Văn Đồng công nhận trước đó.




Thạc sĩ Hoàng Việt một lần nữa phản bác lập luận của phía Trung Quốc:



"Nguyên tắc estoppel nói về mặt kỹ thuật thì quá ư phức tạp. Estoppel phải cấu thành một số điều kiện và thỏa mãn những điều kiện ấy thì mới cấu thành được. Tuyên bố của ông Phạm Văn Đồng nó đã cấu thành sự thừa nhận chưa? nếu cấu thành rồi thì phải xem xét hoàn cảnh điều kiện cấu thành như thế nào, cái ý chí và nguyện vọng của quốc gia đó ra sao có được phản ánh hay không, thực sự là không phản ánh. Tất cả những điều này phải được đặt trong bối cảnh chung thì mới xem xét được estoppel.”




Trong cuộc phỏng vấn của chúng tôi Sử gia Dương Trung Quốc, Đại biểu Quốc từng nhận định về bối cảnh lịch sử của công hàm Phạm Văn Đồng:




"Về mặt pháp lý quốc tế thì cách đây hơn 50 năm theo tinh thần hiệp định Geneve thì ở phía Nam vĩ tuyến 17 là thuộc chủ quyền của chính phủ VNCH, cho dù lúc đó Việt Nam Dân Chủ Công Hòa và Việt Nam Cộng Hòa đang xung đột đi chăng nữa. Như thế không gian liên quan đến Hoàng Sa Trường Sa nằm trong không gian thuộc chủ quyền VNCH. Tuyên bố của ông Phạm Văn Đồng đề cập tới Hoàng Sa Trường Sa về nguyên tắc mà nói chủ quyền và tuyên bố có giá trị pháp lý là không phải của Hà Nội mà là của Saigon.”


Về mặt chính thức Nhà nước Việt Nam không công khai giải thích công hàm Phạm Văn Đồng 1958 và Trung Quốc đã có cơ hội thao túng vấn đề này.



Mới đây về phía báo chí Việt Nam có tờ Đại Đoàn Kết lên tiếng đả kích Trung Quốc là xuyên tạc nội dung ý nghĩa bản công hàm 1958 và lập luận rằng, công hàm 1958 chỉ là sự thể hiện một thái độ chính trị, một cử chỉ hữu nghị với tuyên bố giới hạn lãnh hải 12 hải lý của Trung Quốc để tranh thủ sự ủng hộ của Trung Quốc vào giai đoạn lịch sử đó.

theo RFA (http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/Sovereignty-verbal-battle-nn-08032011230736.html)

congbac
26-08-2011, 09:24 AM
Đề nghị Trung Quốc trả tự do cho ngư dân Quảng Bình

Cập nhật lúc 25/08/2011 06:36:47 PM (GMT+7)
http://img.vietnamnet.vn/logo.gif- Tại họp báo thường kỳ Bộ Ngoại giao hôm nay (25/8), người phát ngôn Nguyễn Phương Nga cho biết đã đề nghị các cơ quan chức năng Trung Quốc xem xét sớm trả tự do cho ngư dân và tàu cá Việt Nam.Theo yêu cầu của báo Sài Gòn Tiếp thị, bà Nga xác nhận thông tin tàu cá Quảng Bình bị phía Trung Quốc bắt giữ. Theo thông tin từ Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng và Sở Ngoại vụ UBND tỉnh Quảng Bình, ngày 8/8, tàu cá Quảng Bình mang số hiệu QB1825TS cùng 5 ngư dân đã bị cơ quan chức năng của Trung Quốc bắt giữ tại khu vực có toạ độ 17độ40 Bắc, 109độ20 Đông thuộc vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ, cách đảo Hải Nam 35 hải lý và cách Đà Nẵng 109 hải lý.Ngay sau khi nhận được thông tin, Cục Lãnh sự Bộ Ngoại giao đã liên hệ với Đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội đề nghị các cơ quan chức năng Trung Quốc xem xét sớm trả tự do cho ngư dân và tàu cá của Việt Nam trên tinh thần hữu nghị và nhân đạo, phù hợp với quan hệ hai nước.

http://imgs.vietnamnet.vn/Images/2011/08/25/18/20110825183719_nga.JPG



Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Nguyễn Phương Nga.
Ảnh: Trường Sơn



Tụ tập trái pháp luật phải xử lý theo quy định phát luậtTrả lời yêu cầu cho biết phản ứng của Việt Nam về phát biểu của một người phát ngôn Đại sứ quán Hoa Kỳ bày tỏ lo ngại về việc Việt Nam tạm giữ một số người vào ngày Chủ nhật 21/8 vừa qua, bà Nguyễn Phương Nga nhấn mạnh: "Đây là phát biểu sai trái, không phù hợp"."Cần khẳng định rằng ở Việt Nam, các quyền tự do cơ bản của công dân được quy định rõ trong hiến pháp và pháp luật và được bảo đảm thực hiện trên thực tế. Cũng như tất cả các nhà nước pháp quyền khác trên thế giới, việc thực hiện các quyền tự do dân chủ của công dân phải tuân thủ các quy định của pháp luật, điều này đã được quy định rõ tại Điều 9 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị. Các cơ quan chức năng của Việt Nam đã xử lý những người có hành vi tụ tập trái pháp luật, gây rối trật tự công cộng. Việc làm này là theo đúng các quy định của pháp luật để bảo đảm trật tự an toàn xã hội", người phát ngôn Bộ Ngoại giao nói.Bà Nga cũng cung cấp thêm thông tin từ Công an Hà Nội, ngày 21/8, khoảng trên 50 người đã tụ tập trái pháp luật, gây rối trật tự công cộng ở khu vực Tượng đài Lý Thái Tổ nơi đang diễn ra các hoạt động biểu diễn nghệ thuật chào mừng 66 năm Cách mạng Tháng 8 và Quốc khánh 2/9."Lực lượng làm nhiệm vụ đã kiên trì vận động, giải thích yêu cầu mọi người thực hiện đúng các quy định của pháp luật để bảo đảm trật tự công cộng theo tinh thần Nghị định 38/2005-NĐCP ngày 18/3/2005 của Chính phủ quy định một số biện pháp bảo đảm trật tự công cộng và nội dung thông báo của UBND Hà Nội", bà Nga nói. "Tuy nhiên những người nói trên đã không chấp hành, có lời lẽ lăng mạ, gây mất trật tự công cộng, chống người thi hành công vụ".Để thiết lập trật tự an ninh tại khu vực bảo vệ, lực lượng làm nhiệm vụ đã áp dụng những biện pháp cần thiết để bảo vệ trật tự công cộng theo quy định tại Điều 9 Nghị định 38/2005-NĐCP, đưa những người này về trụ sở tiếp dân của thành phố. Tại đây, những người trên tiếp tục có hành vi hò hét, gây rối trật tự an ninh, buộc lực lượng làm nhiệm vụ phải tiếp tục đưa về đồn Công an Mỹ Đình, Từ Liêm để phân loại xử lý, bà Nga dẫn lại thông tin từ Công an Hà Nội.Cơ quan chức năng đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với một số trường hợp, và đã cho một số trường hợp về ngay trong ngày 21/8. Đối với 3 đối tượng có hành vi quá khích, lăng mạ, gây rối trật tự công cộng, cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Hoàn Kiếm tạm giữ hình sự để tiếp tục điều tra làm rõ. Trong thời gian xử lý những người có hành vi vi phạm những quy định của pháp luật tại đồn công an Mỹ Đình, Công an huyện Từ Liêm đã tạm giữ 3 đối tượng đã tới trụ sở công an, có hành vi gây rối an ninh trật tự, lăng mạ, chống người thi hành công vụ.Theo thông tin mới nhất từ Giám đốc Công an Hà Nội, người phát ngôn Bộ Ngoại giao cho biết, dự kiến cuối buổi chiều hôm nay (25/8), các đối tượng trên sẽ tạm thời được tại ngoại để xem xét xử lý sau.Trước câu hỏi của hãng thông tấn AFP về sự việc này, bà Nguyễn Phương Nga nhấn mạnh lại chủ trương của thành phố Hà Nội và các cơ quan chức năng là kiên trì vận động, giải thích để người dân hiểu và tuân thủ các quy định của pháp luật."Việt Nam là một nhà nước pháp quyền, các hành vi tụ tập trái pháp luật, gây rối trật tự công cộng phải được xử lý theo đúng quy định của pháp luật", bà Nga nói.

Trước thông tin Lào sẽ thuê Thuỵ Sĩ nghiên cứu đánh giá tác động môi trường đối với đập thuỷ điện Xayaburi, trong câu hỏi của báo Sài Gòn tiếp thị, người phát ngôn Bộ Ngoại giao cho biết: "Việt Nam hoan nghênh quyết định của Chính phủ Lào dừng dự án xây dựng đập thuỷ điện Xayaburi. Tại cuộc gặp bên lề Hội nghị cấp cao ASEAN 18 tại Jakarta, Indonesia, thủ tướng hai nước đã thống nhất chỉ đạo các cơ quan liên quan của hai bên phối hợp nghiên cứu chung, thúc đẩy nghiên cứu trong khuôn khổ Uỷ hội sông Mekong (MRC) về tác động của các công trình thuỷ điện đối với dòng sông Mekong để có đủ cơ sở khoa học vững chắc làm căn cứ cho những quyết định tiếp theo"."Hai bên sẽ cùng tích cực phối hợp để triển khai thoả thuận cấp cao này", bà Nguyễn Phương Nga nhấn mạnh.



Chung Hoàng

anh2
26-08-2011, 11:02 AM
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trực tiếp chỉ đạo, điều hành chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội cả nước và các vùng; chính sách tài chính, tín dụng, tiền tệ quốc gia; kế hoạch cung ứng tiền... cùng công tác biên giới và các vấn đề biển Đông - Hải đảo.
Ba tuần sau khi Quốc hội phê chuẩn việc bổ nhiệm, chiều 25/8, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ký quyết định phân công công tác của Thủ tướng và các Phó thủ tướng Chính phủ.
Theo đó, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng lãnh đạo, quản lý mọi hoạt động thuộc chức năng, nhiệm vụ, quyền hạncủa Chính phủ. Ông trực tiếp chỉ đạo, điều hành chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội cả nước và các vùng (gồm cả quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất); chiến lược ứng phó với biến đổi khí hậu; chiến lược, chính sách tài chính, tín dụng, tiền tệ quốc gia; chi ngân sách nhà nước hàng năm (cả trái phiếu Chính phủ); sử dụng Quỹ dự trữ ngoại hối Nhà nước; phát hành công trái, trái phiếu Chính phủ; kế hoạch cung ứng tiền hàng năm.
Người đứng đầu Chính phủ cũng chỉ đạo, điều hành công tác bảo đảm quốc phòng và an ninh; công tác đối ngoại của Chính phủ; công tác biên giới và các vấn đề Biển Đông - Hải đảo; những vấn đề chung về công tác dân tộc, tôn giáo và thi đua, khen thưởng; quan hệ phối hợp giữa Chính phủ với các cơ quan Đảng, Quốc hội, Chủ tịch nước, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội...
Ngoài ra, Thủ tướng còn theo dõi và chỉ đạo Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Ngoại giao, Thông tấn xã Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam; Và trực tiếp làm Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng; Chủ tịch Hội đồng Thi đua - Khen thưởng Trung ương; Chủ tịch Hội đồng quốc gia giáo dục và Chủ tịch một số Hội đồng, Ủy ban quốc gia và Trưởng một số Ban Chỉ đạo quan trọng khác.
theo VNE (http://vnexpress.net/gl/xa-hoi/2011/08/thu-tuong-truc-tiep-chi-dao-cac-van-de-bien-dong/)

bách tường
26-08-2011, 12:27 PM
Là một lão tướng quân đội, lại từng là ĐBQH nhiều khóa, ông có lời động viên hay nhắn nhủ nào tới Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh?

Trách nhiệm của quốc phòng hiện nay rất nặng nề, đặc biệt là trách nhiệm của lực lượng hải quân trên Biển Đông cực kỳ nặng nề khi được Bộ Quốc phòng giao trọng trách bảo vệ gần 1.000.000 km2 biển, bằng ¾ lãnh thổ. Như vậy riêng hải quân đã gánh trách nhiệm gấp ba trong việc bảo vệ lãnh thổ.

Cho nên, Bộ Quốc phòng phải hết sức chú trọng đầu tư tiềm lực để bảo vệ chủ quyền biển. Với chức danh là người đứng đầu Bộ Quốc phòng, chịu trách nhiệm trước toàn dân về nhiệm vụ quốc phòng, tôi mong Bộ trưởng đặc biệt quan tâm đến an ninh biển.
Không chi thế, Bộ Quốc phòng và người đứng đầu bộ phải kéo bằng được sự quan tâm của cả hệ thống chính trị - xã hội, bộ máy Nhà nước, Chính quyền cũng như bộ máy Đảng và 84 triệu người dân ủng hộ quân đội tạo nên sức mạnh tổng hợp cùng xây dựng, bảo vệ biển đảo.

Riêng hải quân và quân đội là nòng cốt trong sức mạnh tổng hợp đó, chứ nếu đơn thương độc mã thì không chỉ trên biển, mà ngay trên đất liền lực lượng này sẽ không thể bảo vệ được đất nước. Bài học đó chúng ta đã quá biết qua bao cuộc chiến chống xâm lược trong quá khứ.

Bảo vệ biển không phải chúng ta chuẩn bị gì đó cho sự đụng độ vũ trang, đó không bao giờ là lựa chọn của một quốc gia hòa bình. Sức mạnh ở đây là tổng hòa của kinh tế, chính trị, ngoại giao và các phát triển khác.

Khi sự việc cắt cáp tàu Bình Minh xảy ra, nhiều người hỏi tôi sao Bộ quốc phòng không đưa lực lượng hải quân ra. Tôi cho rằng họ không hiểu: một dân tộc đã chịu nhiều đau khổ vì chiến tranh như Việt Nam lúc nào cũng chỉ muốn hòa bình.

Chúng ta không gây hấn với ai cả, nhưng nếu ai cố tình xâm phạm thì chúng ta quyết chống để bảo vệ đất nước.

Chúng ta yêu hòa bình, quyết giữ hòa bình, nhưng chỉ có thể gọi là hòa bình khi chúng ta giữ được toàn vẹn lãnh thổ mà không xảy ra đụng độ, xung đột. Còn nếu phải đánh đổi mất đất, mất biển để lấy một cái hòa bình con con của vài người thì hoàn toàn vô nghĩa.

Chúng ta hãy nhớ bài học chống Mỹ: người Mỹ thua Việt Nam ngay trên đất Mỹ khi hàng triệu người Mỹ yêu hòa bình đã phản đối chính phủ Mỹ gây chiến tranh xâm lược Việt Nam. Tôi tin 1,3 tỷ người dân Trung Quốc không phải ai cũng hung hăng đòi ‘nuốt’ Việt Nam. Chúng ta cũng phải làm thế nào để những người dân Trung Quốc bình thường, nhân ái, yêu hòa bình ủng hộ chúng ta.
Xin cảm ơn ông!
Hoàng Hường
phỏng vấn Trung tướng Nguyễn Quốc Thước, đại biểu Quốc hội khóa IX, X, XI (http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/37405/-dung-khi-tren-nghi-truong-kho-hon-tren-chien-truong-.html)

anh2
30-08-2011, 11:41 AM
“Có một thực tế là Trung Quốc cam kết không lấy đất, lấy biển của Việt Nam và Việt Nam cũng không bao giờ nhượng bộ vô nguyên tắc về chủ quyền. Và Việt Nam cũng không bao giờ dựa vào bất kỳ một nước nào để chống Trung Quốc" - Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam nói với người đồng cấp Trung Quốc tại cuộc đối thoại ngày 29/8 tại Bắc Kinh.

Đối thoại chiến lược quốc phòng - an ninh Việt - Trung cấp thứ trưởng lần thứ hai đã diễn ra ngày 29/8 tại Bắc Kinh, dưới sự đồng chủ trì của Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam và Thượng tướng Mã Hiểu Thiên, Phó tổng tham mưu trưởng Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc.

Những vấn đề còn khác biệt trong quan hệ hai nước, trong đó điểm bất đồng và nhạy cảm nhất là tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông đã được hai bên thảo luận thẳng thắn.

'Cùng thắng'

Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh và Thượng tướng Mã Hiểu Thiên đã thẳng thắn trao đổi những vấn đề còn khác biệt trong quan hệ hai nước. Theo Thượng tướng Mã Hiểu Thiên, hiện nay điểm bất đồng và nhạy cảm nhất trong quan hệ hai nước là tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông, hai nước cần xử lý thỏa đáng vấn đề này vì đại cục quan hệ Việt - Trung và ổn định khu vực.



http://imgs.vietnamnet.vn/Images/2011/08/30/09/20110830092323_0.jpg


Đoàn đại biểu quân sự cấp cao Việt Nam và Bộ trưởng Quốc phòng TQ Lương Quang Liệt



"Hòa bình hai bên đều có lợi, đối đầu hai bên đều thiệt hại", Thượng tướng Mã Hiểu Thiên nói.

Khẳng định Việt Nam luôn coi trọng quan hệ đại cục với Trung Quốc và mong muốn tìm được giải pháp “cùng thắng”, Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh đã nêu rõ vấn đề Biển Đông có ba khía cạnh khác nhau nhưng liên quan mật thiết.

Đó là Tuyên bố chủ quyền của các nước liên quan; xử lý mối quan hệ giữa Việt Nam - Trung Quốc; xử lý trên các diễn đàn đa phương. Việt Nam và Trung Quốc có nhiều tuyên bố chủ quyền vào nhiều thời điểm, nội dung và phạm vi khác nhau. Giải quyết vấn đề phải tôn trọng lịch sử nhưng dù thế nào đi chăng nữa cũng phải tuân thủ luật pháp quốc tế.

Thứ trưởng Nguyễn Chí Vịnh cho rằng, các vấn đề trên Biển Đông cần được xử lý theo luật pháp quốc tế. Đó là, những vấn đề mang tính quốc tế theo Luật Biển phải giải quyết trên bình diện quốc tế, những vấn đề liên quan đến nhiều nước cần phải giải quyết giữa những nước liên quan, những vấn đề liên quan đến hai nước cần giải quyết song phương.

Những tranh chấp chủ quyền giữa Việt Nam - Trung Quốc, rõ ràng cần giải quyết hai nước với nhau, theo luật pháp quốc tế và công khai minh bạch.

"Việt Nam không có ý định quốc tế hóa các vấn đề giữa Việt Nam và Trung Quốc vì chính lợi ích của chúng tôi", Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh nói.

Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh cũng chia sẻ rằng, để bảo vệ và xây dựng đất nước chỉ có một con đường là giữ gìn độc lập tự chủ, chủ quyền lãnh thổ và quan hệ tốt với cộng đồng thế giới, không thể có những điều đó nếu dựa vào nước này để chống nước kia.

"Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy với tất cả các quốc gia trên thế giới. Nhưng nếu Việt Nam cần sự ủng hộ, đồng cảm, hợp tác và phát triển thì còn có ai hơn một nước Trung Quốc xã hội chủ nghĩa láng giềng, với hơn 1 tỷ 350 triệu dân, đang phát triển, có vị thế và uy tín ngày càng cao trên thế giới, một khi các đồng chí tôn trọng độc lập chủ quyền của Việt Nam và mong muốn Việt Nam cùng phát triển?".

Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh cũng nêu bật việc cần phải công khai, minh bạch trên các diễn đàn để nhân dân hai nước và cộng đồng quốc tế hiểu rõ bản chất vấn đề Biển Đông trong mối quan hệ hữu nghị tổng thể giữa hai nước.

"Có thông tin đầy đủ và chính xác là nhu cầu của hơn 80 triệu người dân Việt Nam và hơn 1 tỷ 350 triệu người dân Trung Quốc".

Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam cũng cho hay: "Các thế lực thù địch hiện có hai luận điệu chống phá. Thứ nhất, là Việt Nam dựa vào Mỹ để chống Trung Quốc. Thứ hai, là Việt Nam nhượng bộ để Trung Quốc lấy đất, lấy biển Việt Nam. Đây là các luận điệu bất lợi cho Đảng và Nhà nước Việt Nam cũng như quan hệ Việt Nam - Trung Quốc.

Chúng ta cần làm cho nhân dân hai nước hiểu rõ, giữa Việt Nam và Trung Quốc còn tồn tại vấn đề nhưng hai Đảng, hai Nhà nước đã cam kết xử lý bằng biện pháp hòa bình, theo luật pháp quốc tế, với giải pháp hai bên cùng có thể chấp nhận được".

Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh phát biểu và nhấn mạnh thêm: "Có một thực tế là Trung Quốc cam kết không lấy đất, lấy biển của Việt Nam và Việt Nam cũng không bao giờ nhượng bộ vô nguyên tắc về chủ quyền. Và Việt Nam cũng không bao giờ dựa vào bất kỳ một nước nào để chống Trung Quốc".

Việt Nam sẵn sàng hợp tác cùng phát triển với Trung Quốc ở những khu vực thực sự có tranh chấp theo luật pháp quốc tế quy định và về lâu dài sẽ tìm giải pháp xử lý mà hai bên có thể chấp nhận được, nhưng "trong lúc chưa phân định được, hai bên tuyệt đối không được sử dụng vũ lực và thậm chí cũng không được nghĩ đến việc sử dụng vũ lực".

Sớm có đường dây nóng

Tại cuộc đối thoại, hai bên thống nhất tiếp tục đẩy mạnh hợp tác trong nhiều lĩnh vực như tăng cường trao đổi đoàn, sớm hoàn thành đường dây nóng giữa hai Bộ Quốc phòng, mở rộng trao đổi đào tạo học viên quân sự dài hạn và ngắn hạn.

Trung Quốc nhất trí chia sẻ kinh nghiệm với Việt Nam trong việc tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc... Hai bên cũng cho rằng cần đẩy mạnh thông tin tuyên truyền để chiến sĩ và nhân dân Việt - Trung hiểu rõ mối quan hệ hữu nghị truyền thống, hợp tác thiết thực và cùng có lợi giữa quân đội và nhân dân hai nước.

Tại cuộc đối thoại, hai bên cũng dành thời gian trao đổi về tình hình Trung Đông - Bắc Phi và đặc biệt là việc đẩy mạnh can dự của các nước lớn vào khu vực châu Á - Thái Bình Dương.


"Chúng ta cần nghiên cứu kỹ hệ lụy của sự can dự này để xây dựng một khu vực hòa bình, ổn định và không bị bất ngờ" , Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh nói, tuy nhiên, ông cho rằng: "Nguyên nhân quan trọng nhất dẫn đến sự can dự này là do các nước nội bộ khu vực phát sinh vấn đề với nhau".

Tiếp đoàn đại biểu quân sự cấp cao Việt Nam nhân dịp đối thoại lược quốc phòng - an ninh Việt - Trung, Thượng tướng Lương Quang Liệt, Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc khẳng định lại mong muốn giải quyết những vấn đề còn tồn tại giữa hai nước ở Biển Đông bằng biện pháp hòa bình.
Theo Quân đội nhân dân

theo VNN (http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/37476/tuong-vinh--vn-khong-nhuong-bo-vo-nguyen-tac-ve-chu-quyen.html)

longtt88
30-08-2011, 12:05 PM
“Trường Sa”, tiếng gọi thân thương đã khắc sâu trong lòng tôi. Ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường, tôi đã được tham gia những hoạt động dù rất nhỏ nhưng ý nghĩa do Đoàn, Đội phát động.

Đó là ủng hộ quỹ nghĩa tình biên giới hải đảo. Và thật không ngờ rằng sau này tôi lại ra công tác tại Trường Sa, mảnh đất tiền tiêu của Tổ quốc.

Có lẽ cũng khá đắn đo, suy nghĩ khi ra nhận công tác tại một nơi thật đặc biệt như thế trong khi bản thân vẫn còn khá trẻ. Ra trường ai cũng muốn có một công việc thật ổn định, có thể là ở thành phố lớn, hay địa phương gần nhà, nhưng rồi cùng với suy nghĩ của bản thân và sự động viên của gia đình, người thân, tôi đã quyết định chọn Trường Sa là nơi khởi đầu.

Những ngày cuối tháng 12/2008, tôi ra nhận công tác tại Trạm khí tượng Hải văn Trường Sa. Mùa cuối năm thời tiết xấu, sóng to do ảnh hưởng của gió mùa đông bắc thổi về, con tàu chao lắc mạnh, khá nhiều người bị say sóng.



http://quocphong.baodatviet.vn/Uploaded_CDCA/thuctap_qpcn/20110822/qp_nam_thoitiet_02.jpg



Toàn cảnh Trạm Khí tượng Hải văn Trường Sa.




Sau một ngày lắc lư trên biển, chúng tôi đến với Trường Sa, nơi mệnh danh là thủ phủ của quần đảo. Và thật ấm áp biết bao khi được anh em ở cùng Trạm ra đón tận cầu cảng. Trạm khí tượng Hải văn Trường Sa trở thành mái nhà mới của tôi, là nơi ngày ngày tôi sum vầy bên các đồng nghiệp, cùng nhau chia ngọt sẻ bùi.

Thời tiết mùa này khắc nghiệt. Gió to, những cơn gió mà tôi chỉ gặp khi có những cơn bão đổ bộ vào đất liền. Thời tiết xấu nên không trồng được rau xanh, chủ yếu ăn đồ hộp là chính. Vất vả nhưng phải cố gắng.

Tôi đã nhận nhiệm vụ mới ở một nơi như thế. Ra nhận công tác ở một nơi xa xôi, lại có nhiều bỡ ngỡ, lạ lẫm nhưng nhận được sự chia sẻ, giúp đỡ tận tình của các đàn anh nên tôi cũng dần quen với cuộc sống và công việc ở đây. Tôi luôn tâm niệm: Thu thập và báo cáo số liệu khí tượng không chỉ là công việc chuyên môn mà còn là gián tiếp thực thi xác lập chủ quyền Tổ quốc trên biển Đông.



http://quocphong.baodatviet.vn/Uploaded_CDCA/thuctap_qpcn/20110822/qp_nam_thoitiet_01.jpg



Tác giả đang kiểm tra trạm khí tượng đặt ngoài trời.




Vì vậy, không ngại mưa gió, cả trạm ngày đêm theo dõi, ghi chép số liệu từ các trạm đặt ngoài trời. Những lúc mưa thuận gió hòa, chúng tôi chỉ cần thu thập số liệu đều đặn 8 lần mỗi ngày.

Nhưng mỗi khi biển động, trên biển có áp thấp nhiệt đới hay bão, thì dù bão lớn cấp mấy, gió giật thế nào, cán bộ, nhân viên trạm khí tượng vẫn phải đảm bảo tăng tần suất thu thập số liệu gấp 3-6 lần ngày thường. Hơn 2 năm đã trôi qua, tôi thật hạnh phúc khi đang sống và làm việc ở nơi đây.

Dù sau này có rời xa, tôi cũng sẽ mãi mãi không quên Trường Sa, nơi ghi dấu những ngày tháng tuổi trẻ sôi nổi, đầy nhiệt huyết và đáng nhớ của tôi cùng anh em trạm khí tượng.
Hoàng Văn Minh (Trạm khí tượng thủy văn Trường Sa)


Nguồn: ĐVO (http://quocphong.baodatviet.vn/Home/QPCN/Tam-su-nguoi-tram-truong-tre-tuoi-o-Truong-Sa/20118/164473.datviet)

kientap
30-08-2011, 02:51 PM
Tướng Vịnh: Giải quyết vấn đề Biển Đông công khai minh bạch30/08/2011 10:43:39
- Đối thoại chiến lược quốc phòng-an ninh Việt - Trung cấp Thứ trưởng lần thứ hai ngày 28/8 đã khẳng định Việt Nam và Trung Quốc cam kết giải quyết các tranh chấp trên Biển Đông thông qua tham vấn và đối thoại và hướng tới giải pháp hai bên cùng có lợi.

Giải quyết tranh chấp Biển Đông thông qua tham vấn và đối thoại

Việt Nam và Trung Quốc cam kết giải quyết các tranh chấp trên Biển Đông thông qua tham vấn và đối thoại. Đó là cam kết được đưa ra sau cuộc hội đàm giữa Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Lương Quang Liệt và Thứ trưởng Bộ Quốc Phòng Việt Nam, Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh.

“Trung Quốc sẵn sàng hợp tác với Việt Nam để bảo vệ vững chắc các lợi ích chiến lược chung, quan hệ toàn cục giữa hai nước cũng như hòa bình và ổn định trên Biển Đông bằng việc đẩy mạnh trao đổi thông tin, tham vấn và ngăn ngừa các kích động bên ngoài làm tổn hại đến quan hệ giữa hai quốc gia” - Bộ trưởng Lương Quang Liệt cho biết.



7031


Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam, Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Trung Quốc, Thượng tướng Lương Quang Liệt. Ảnh: VOV News


“Trung Quốc kiên trì giải quyết các tranh chấp thông qua các tham vấn và đối thoại. Hiện tại cả hai quốc gia nên nỗ lực để chủ động thúc đẩy phát triển chung, tin tưởng lẫn nhau và đẩy mạnh sự ổn định thông qua hợp tác” - ông Lương Quang Liệt nói.

Về phía Việt Nam, Thứ trưởng Nguyễn Chí Vịnh cho biết Việt Nam coi trọng phát triển quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với Trung Quốc cùng Trung Quốc đẩy mạnh trao đổi thông tin, hợp tác trên tất cả các lĩnh vực giữa hai quốc gia, hai quân đội nhằm bảo vệ vững chắc hòa bình và ổn định trong khu vực.

Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh cũng nhấn mạnh, hai quốc gia nên giải quyết các tranh chấp trên Biển Đông thông qua các tham vấn thân thiện và tin tưởng lẫn nhau, không để bất cứ lực lượng bên ngoài nào làm tổn hại đến các quan hệ Việt Nam – Trung Quốc.

Hướng tới giải pháp hai bên cùng có lợi

Trong Đối thoại chiến lược quốc phòng-an ninh Việt - Trung cấp Thứ trưởng lần thứ hai ngày 28/8 tại Bắc Kinh - Trung Quốc, dưới sự đồng chủ trì của Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam và Thượng tướng Mã Hiểu Thiên, Phó Tổng tham mưu trưởng Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc, hai bên đã nhất trí nhiều biện pháp thúc đẩy hợp tác quốc phòng song phương và đạt được nhận thức chung trong nhiều vấn đề, góp phần tăng quan hệ hữu nghị Việt - Trung.

Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh và Thượng tướng Mã Hiểu Thiên đã thẳng thắn trao đổi những vấn đề còn khác biệt trong quan hệ hai nước. Theo Thượng tướng Mã Hiểu Thiên, hiện nay điểm bất đồng và nhạy cảm nhất trong quan hệ hai nước là tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông, hai nước cần xử lý thỏa đáng vấn đề này vì đại cục quan hệ Việt - Trung và ổn định khu vực.

“Hòa bình hai bên đều có lợi. Đối đầu hai bên đều thiệt hại”, Thượng tướng Mã Hiểu Thiên nói.

Khẳng định Việt Nam luôn coi trọng quan hệ đại cục với Trung Quốc và mong muốn tìm được giải pháp hai bên cùng có lợi, Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh đã nêu rõ vấn đề Biển Đông có ba khía cạnh khác nhau nhưng liên quan mật thiết, đó là Tuyên bố chủ quyền của các nước liên quan; Xử lý mối quan hệ giữa Việt Nam - Trung Quốc; Xử lý trên các diễn đàn đa phương. Việt Nam và Trung Quốc có nhiều tuyên bố chủ quyền vào nhiều thời điểm, nội dung và phạm vi khác nhau. Giải quyết vấn đề phải tôn trọng lịch sử nhưng dù thế nào đi chăng nữa cũng phải tuân thủ luật pháp quốc tế.

Thứ trưởng Quốc phòng Việt Nam cho rằng, các vấn đề trên Biển Đông cần được xử lý theo luật pháp quốc tế - đó là, những vấn đề mang tính quốc tế theo Luật Biển phải giải quyết trên bình diện quốc tế, những vấn đề liên quan đến nhiều nước cần phải giải quyết giữa những nước liên quan, những vấn đề liên quan đến hai nước cần giải quyết song phương.

Những tranh chấp chủ quyền giữa Việt Nam - Trung Quốc, rõ ràng cần giải quyết hai nước với nhau, theo luật pháp quốc tế và công khai minh bạch: “Việt Nam không có ý định quốc tế hóa các vấn đề giữa Việt Nam và Trung Quốc vì chính lợi ích của chúng tôi”, Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh nói.

Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh cũng chia sẻ, để bảo vệ và xây dựng đất nước chỉ có một con đường là giữ gìn độc lập tự chủ, chủ quyền lãnh thổ và quan hệ tốt với cộng đồng thế giới, không thể có những điều đó nếu dựa vào nước này để chống nước kia.

Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh nêu bật việc cần phải công khai, minh bạch trên các diễn đàn để nhân dân hai nước và cộng đồng quốc tế hiểu rõ bản chất vấn đề Biển Đông trong mối quan hệ hữu nghị tổng thể giữa hai nước.

“Có thông tin đầy đủ và chính xác là nhu cầu của hơn 80 triệu người dân Việt Nam và hơn 1 tỷ 350 triệu người dân Trung Quốc". Thứ trưởng Quốc phòng Việt Nam cũng thông báo chủ trương kiên quyết xử lý vấn đề tụ tập đông người ở Việt Nam với tinh thần không để sự việc tái diễn.

Theo Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh: "Chúng ta cần làm cho nhân dân hai nước hiểu rõ, giữa Việt Nam và Trung Quốc còn tồn tại vấn đề nhưng hai Đảng, hai Nhà nước đã cam kết xử lý bằng biện pháp hòa bình, theo luật pháp quốc tế, với giải pháp hai bên cùng có thể chấp nhận được”.

Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh nhấn mạnh thêm: “Một thực tế hiển nhiên là Trung Quốc cam kết không lấy đất, lấy biển của Việt Nam, và Việt Nam cũng không bao giờ nhượng bộ vô nguyên tắc về chủ quyền. Việt Nam sẵn sàng hợp tác cùng phát triển với Trung Quốc ở những khu vực thực sự có tranh chấp theo luật pháp quốc tế quy định, và về lâu dài sẽ tìm giải pháp xử lý mà hai bên có thể chấp nhận được, nhưng “trong lúc chưa phân định được, hai bên tuyệt đối không được sử dụng vũ lực và thậm chí cũng không được nghĩ đến việc sử dụng vũ lực”.
http://bee.net.vn/channel/1983/201108/Tuong-Vinh-Giai-quyet-van-de-Bien-dong-cong-khai-minh-bach-1810202/
Minh Phạm (Tổng hợp từ Xinhua, VOV News)

kientap
30-08-2011, 03:26 PM
Theo Thượng tướng Mã Hiểu Thiên, hiện nay điểm bất đồng và nhạy cảm nhất trong quan hệ hai nước là tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông, hai nước cần xử lý thỏa đáng vấn đề này vì đại cục quan hệ Việt - Trung và ổn định khu vực.


TQ luôn lấy "vì đại cục quan hệ Viêt - Trung" (hay "vì đại cục quan hệ Trung - Phi") giống như "củ cà rốt treo trước mũi con lừa" để dẫn dắt các nước có tranh chấp theo ý đồ của mình, mà kết quả là TQ đạt được mục đích (khai thác tài nguyên, xâm lấn chủ quyền...) còn các nước khác chẳng được gì ngoài những lời nói miệng của TQ, và phải chịu thiệt thòi về lâu dài đối với những quyền lợi hợp pháp cũng như quyền chủ quyền của mình tại Biển Đông. Tuy nhiên, chỉ có Philippip mới bị mắc vào cái bẫy đầy "cám dỗ" và "đe dọa" này của Trung Quốc.

Việt Nam ta vẫn luôn giữ được sự sáng suốt trong các hành xử của mình đối với TQ:

Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh nhấn mạnh thêm: “Một thực tế hiển nhiên là Trung Quốc cam kết không lấy đất, lấy biển của Việt Nam, và Việt Nam cũng không bao giờ nhượng bộ vô nguyên tắc về chủ quyền. Việt Nam sẵn sàng hợp tác cùng phát triển với Trung Quốc ở những khu vực thực sự có tranh chấp theo luật pháp quốc tế quy định, và về lâu dài sẽ tìm giải pháp xử lý mà hai bên có thể chấp nhận được, nhưng “trong lúc chưa phân định được, hai bên tuyệt đối không được sử dụng vũ lực và thậm chí cũng không được nghĩ đến việc sử dụng vũ lực”.

Có được tiếng nói như vậy là nhờ vào vị thế của VN so với TQ và với bất kỳ quốc gia nào trên thế giới, VN luôn tôn trọng các quốc gia khác và không bao giờ run sợ trước bất kỳ một nước lớn nào!

vaputin
31-08-2011, 01:29 PM
Trò chuyện với người điều hành Trung tâm Dữ liệu Hoàng Sa Tôi ngộ ra một điều: Lý thuyết chỉ mãi là lý thuyết, chỉ khi nào mình có trải nghiệm thực tế, khi đó nó mới trở thành kiến thức của mình!

Đúng vào ngày kỷ niệm 66 năm ngày thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, tại Đà Nẵng sẽ diễn ra cuộc gặp mặt lần đầu tiên của những người lính hải quân còn sống trong trận hải chiến Trường Sa năm 1988. Ngoài ra, còn có các nhân chứng Hoàng Sa là những nhân viên khí tượng thuỷ văn đã ra Hoàng Sa làm việc trước thời điểm hải quân Trung Quốc đánh chiếm phần còn lại của quần đảo này, cũng như thân nhân của một số liệt sĩ đã hy sinh trong sự kiện bi hùng đó.
Đặc biệt, sự kiện còn có sự tham dự của Giám đốc Sở Nội vụ Đà Nẵng Đặng Công Ngữ, người đồng thời là Chủ tịch huyện đảo Hoàng Sa, và một nhà nghiên cứu Biển Đông - ThS Hoàng Việt. Cuộc gặp mặt mang tên “Vòng tròn bất tử - Vòng tay đồng đội” này, theo ban tổ chức thuộc chuỗi chương trình “Vòng tròn bất tử - Tri ân chiến sĩ”do Trung tâm Dữ liệu Hoàng Sa (http://www.mediafire.com/?lkskrhjvq6lk6k2) tổ chức từ tháng 7.2009 tới nay.
Trong Năm thanh niên hướng về biển đảo Tổ quốc, TTDL Hoàng Sa hi vọng rằng chương trình có thể truyền tải được sự quan tâm, lo lắng của thế hệ trẻ đối với chủ quyền đất nước, tiếp bước cha anh gìn giữ toàn vẹn non sông.
Nhân dịp sự kiện quan trọng này, Tuần Việt Nam xin được giới thiệu cuộc trao đổi với nhân vật chủ chốt đứng đằng sau sự kiện này – cô sinh viên 20 tuổi Nguyễn Thị Đài Trang của Trường Tài chính – Marketing, người điều hành chính của Trung tâm Dữ liệu Hoàng Sa từ hơn 2 năm nay. Một khuôn mặt còn bấm ra sữa.
Cuộc trò chuyện này được phóng viên Huỳnh Phan thực hiện tại Cam Ranh, trong chuyến đi đưa tin về chuyến biểu diễn phục vụ sĩ quan và chiến sĩ vùng 4 Hải Quân của Nhóm Công tác Trường Sa và Nhà hát Tuổi Trẻ từ 10.8 đến 13.8 vừa rồi.

Tuổi trẻ rất cần trải nghiệm
Website Tư liệu Hoàng Sa hình thành được bao lâu rồi?
Nó được thành lập sau sự kiện Tam Sa (Nhà cầm quyền Trung Quốc quyết định thành lập đơn vị hành chính Tam Sa, bao gồm cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam - TG), vào tháng 12 năm 2007.
Hình thức ban đầu là một trang blog cá nhân. Sau đó, do nhu cầu phát triển mạnh hơn, một website đã ra đời. Đầu tiên, nó chỉ là một diễn đàn đơn thuần giữa những người trẻ cùng mối quan tâm đến Hoàng Sa, Trường Sa.



http://imgs.vietnamnet.vn/Images/2011/08/31/09/20110831093712_ts.jpg


Thay mặt TS Nguyễn Nhã trao cho đại diện Nhà giàn Phúc Tần "An Nam Đại Quốc Hoạ Đồ




Nhưng với sự tham gia của TS Nguyễn Nhã và ThS Hoàng Việt, với vai trò cố vấn, chúng tôi thành lập thêm một tủ sách trực tuyến Hoàng Sa – Trường Sa. Chúng tôi số hoá, hoặc scan, tất cả những cuốn sách mà TS Nguyễn Nhã có. Tủ sách hoàn toàn có thể tải miễn phí về đọc.
Lúc đầu chỉ có những sách tiếng Việt, sau đó có cả sách tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Tây Ban nha, tiếng Ý…
Nguồn tư liệu tiếng nước ngoài mình kiếm đâu ra?
Những cuốn sách tiếng nước ngoài chúng tôi tìm trên google, hoặc do các cộng tác viên là du học sinh sao chụp trong các thư viện ở Ý, hoặc các nước khác, gửi về.
Trong thời gian qua Mỹ dự hội thảo về Biển Đông vừa rồi, TS Nguyễn Nhã đã thu thập được một đĩa DVD về chủ đề chủ quyền của VN tại Hoàng Sa, qua các sách do Pháp xuất bản.
Cho đến nay có nhiều người truy cập không?
Trong một ngày khoảng 30 ngàn. Đó là giảm nhiều so với trước đây, vì một số lý do khác nhau.
Đó là những lý do gì?
(Cười) Thôi. 30 ngàn/ngày cũng là quá quý rồi.
Nhóm điều hành gồm những ai?
Toàn những người trẻ, thuộc thế hệ 8X và cả 9X, như tôi. Người chịu trách nhiệm về tư cách pháp nhân là nhà nghiên cứu Phạm Thu Xuân – thành viên của Quỹ Nghiên cứu Biển Đông.
Nhóm điều hành gồm khoảng 20 người, làm part-time cũng như tôi, hoạt động theo nhóm, tuỳ từng mảng phụ trách. Tôi phụ trách chung, quản lý mạng, tài chính và truyền thông.
Còn về học thuật?
Bên cạnh chúng tôi có ban cố vấn gồm nhà nghiên cứu Đinh Kim Phúc phụ trách chung về lịch sử Đông Nam Á, nhà nghiên cứu Phạm Hoàng Quân phụ trách về cổ sử Việt Nam và Trung Quốc, ThS Hoàng Việt về luật pháp quốc tế, TS Nguyễn Nhã về sử học, về lịch sử chủ quyền và quá trình thực thi chủ quyền.
Ý tưởng này xuất phát từ đâu?
Do hai anh là sinh viên Đại học Quốc Gia TP HCM. Sau sự kiện Tam Sa, họ gặp nhau trên mạng, họ thấy cùng lý tưởng và hợp tác, xây dựng diễn đàn. Và tiếp tục có những người cùng ý tưởng, và họ định hướng cho một diễn đàn rộng hơn.
Tôi mới tham gia từ tháng 3.2009, khi đang học lớp 12. Chính thức quản lý từ tháng 4.2009.
Lý do?
Tôi gặp một anh đồng hương Nam Định, người vẫn tham gia quản trị diễn đàn, nghe thấy thích và quyết định tham gia. Ban đầu, tôi chỉ cộng tác làm chương trình tri ân thôi. Bởi tôi có biết một chiến sĩ CQ88.
Sau đó, khi tìm được chiến sĩ đó mới tìm tiếp được thông tin của 9 chiến sĩ bị Trung Quốc bắt giữ và trả về. 3 chú ở Quảng Bình mà Tuần Việt Nam đã viết nhân 27.7 vừa rồi, một chú ở Nam Định, một chú ở Đắc Lắc, một chú ở Qui Nhơn, một chú ở Quảng Trị, và một chú nữa ở Thanh Hoá và hình như đã mất, nghe đồn là vậy.
Nhưng công việc liên quan đến điều hành mạng, hay làm những chương trình tri ân có ảnh hưởng tới công việc học của Đài Trang không?
Không. Quan trọng là mình biết sắp xếp thời gian thế nào. Tôi đi học thì tuỳ thời gian biểu của từng kỳ học mà bố trí công việc cho phù hợp không chông chéo lên nhau. Khi rảnh thì dành thời gian cho diễn đàn. Sinh viên cũng hay đi làm tình nguyện, và tôi cũng coi hoạt động cho diễn đàn là một hoạt động tương tự như vậy.
Hơn nữa, không phải lúc nào cũng bận. Chỉ những lúc tổ chức chương trình như thế này mới bận, bởi phải lo liên hệ, thực hiện các thủ tục, rồi kêu gọi tài trợ. Cũng may là đang nghỉ hè.
Kết quả học tập của Đài Trang thế nào?
Trung bình khoảng 7,5-7,6. Cũng khá thôi.
Nhưng bù lại, do tiếp xúc với nhiều người nên mình cũng có những trải nghiệm khác, kiến thức khác. Trong đó, có những thứ đằng nào ra đi làm mình vẫn phải học, phải trải nghiệm. Bởi vậy trải nghiệm trước vẫn có lợi thế hơn.
Đài Trang có phải làm thêm để kiếm sống không?
Có chứ. Mẹ gửi đủ khoảng 60-70% tổng chi tiêu, phần còn lại tôi tự kiếm thêm.
Tôi có cộng tác báo chí. Nhưng không cố định với báo nào cả, bởi tuỳ chủ đề mà gửi cho tờ phù hợp. Tôi đã có hai bài đăng trên Tuần Việt Nam vào 20.10 năm ngoái, và 21.6 vừa rồi (Phía sau những người đã ngã xuống ở Trường Sa - TG).


http://imgs.vietnamnet.vn/Images/2011/08/31/09/20110831093712_ts1.jpg


Với chiến sĩ Trường Sa




Ngoài ra, tôi còn làm thêm một số công việc khác phụ thêm vào tiền chi tiêu nọ kia. Điều tra thị trường, chẳng hạn. Nghề tôi đang học mà.
Vả lại, tôi quan niệm rằng khi đi làm từ thiện, tốt nhất là bằng đồng tiền mình làm ra chứ không phải đi xin của mẹ.
Tức là không muốn “của người phúc ta”?
(Cười) Đúng vậy.
Trước khi tham gia diễn đàn này, Đài Trang hiểu gì về Hoàng Sa – Trường Sa?
Sau sự kiện Tam Sa, tôi chỉ biết là Hoàng Sa-Trường Sa là của Việt Nam, nhưng tôi cũng không quan tâm lắm. Lúc đó còn nhỏ quá.
Tới năm lớp 12, tôi mới tìm hiểu sâu hơn sự kiện Tam Sa thực chất là cái gì, và lịch sử chủ quyền của Việt Nam.
Tại sao tự nhiên Đài Trang lại quan tâm đến chủ đề này?
Do tác động của truyền thông.
Lý lẽ nào của anh đồng hương đã thuyết phục Đài Trang quyết định tham gia điều hành diễn đàn?
Có lẽ, lúc đó mong muốn tham gia của tôi lớn hơn khả năng thuyết phục của anh đó.
Sau này ra trường, Đài Trang có tiếp tục làm một công việc liên quan tới những gì đang làm không?
Tôi không nghĩ vậy. Tôi học kinh tế, và, tôi nghĩ, thật là phí nếu không làm nghề gì đó liên quan đến ngành mình học. Còn những gì tôi đang làm hiện này sẽ giúp cho tôi có được những trải nghiệm, như tôi đã nói. Và tôi nghĩ, khi đi làm rồi, bận bịu công việc, rồi gia đình, chẳng hạn, cơ hội để có những trải nghiệm như thế này là rất khó.
Diễn đàn giúp giới trẻ bớt mơ hồ, hay bàng quan với biển đảo
Hoạt động của diễn đàn nhờ vào nguồn ngân sách nào?
Nhờ vào sự trợ giúp tài chính của bạn đọc, hoặc chúng tôi tự đi quyên góp tiền. Quỹ hoạt động bao gồm quỹ duy trì website, quỹ duy trì các chương trình, chi phí số hoá và scan sách.
Đặc biệt, chương trình tri ân mang tên “Vòng tròn bất tử” đã nhận được sự đóng góp của người Việt ở cả trong và ngoài nước.
Trong năm 2010, chúng tôi có chương trình hướng về Lý Sơn, được sự hưởng ứng khá mạnh mẽ của người dân. Chẳng hạn, vào tháng 9.2010, chúng tôi đã cho đấu giá một bức hình về Hải đội Hoàng Sa, chụp lại được trong một lần chúng tôi ra Hoàng Sa thực hiện chương trình. Chúng tôi thu thập chữ ký của 15 học giả, trong đó có nhà sử học Dương Trung Quốc, TS Nguyễn Nhã, nhà nghiên cứu bản đồ cổ Nguyễn Đình Đầu, nhà nghiên cứu Đông Nam Á Đinh Xuân Phúc, TS Nguyễn Quang A…
Bức hình đó đấu giá được 13 triệu đồng.
13 triệu đồng?
Vâng, về giá trị tuyệt đối nó có thể rất khiêm tốn so với những cuộc đấu giá được báo chí đăng tải, với những thứ được trả giá tới hàng trăm triệu đồng, hoặc cả chục tỷ đồng. Nhưng với chúng tôi đó vẫn là một thành công lớn.
Tại sao?
Trước đây, sự đóng góp chủ yếu là của độc giả nên chúng tôi cũng không biết họ làm nghề gì. Nhưng qua lần đấu giá, chúng tôi nghĩ là đã có thành công bước đầu trong việc thu hút được sự chú ý của giới doanh nhân.
Tôi nghĩ doanh nhân không phải không yêu nước, nhưng họ chưa biết cách thể hiện thế nào. Hoặc giả, họ vẫn còn đang e ngại điều gì đó.
Thế năm nay, các bạn có tiếp tục phát động chương trình nào để ủng hộ ngư dân Lý Sơn không?
Có. Chúng tôi có phát động tiếp tục phong trào ủng hộ ngư dân Lý Sơn. Nhưng do Báo Thanh Niên và Báo Sài Gòn Tiếp Thị cũng phát động phong trào này nên chúng tôi quyết định tạm ngừng.
Ngại “đụng hàng”?
Thứ nhất, chúng tôi còn trẻ nên không làm hiệu quả bằng những tờ báo rất chuyên nghiệp này. Thứ hai, cũng là làm việc nghĩa, nhưng không thể mỗi nhóm làm một phách, khiến nguồn lực và sự chú ý dễ bị phân tán. Như vậy, sẽ ít hiệu quả.


http://imgs.vietnamnet.vn/Images/2011/08/31/09/20110831093712_ts2.jpg


Tìm kiếm tư liệu mới cho Trung tâm dữ liệu




Vì vậy, chúng tôi tập trung vào chương trình tri ân cho những người còn sống trong CQ88 (Trận hải chiến ở Trường Sa năm 1988 – TG) mà chúng tôi còn giữ liên lạc, gia đình, thân nhân liệt sĩ CQ 88 và các nhân chứng Hoàng Sa.
Việc tổ chức có trở ngại gì không?
Rất may là ý tưởng của chúng tôi đã nhận được sự ủng hộ nhiệt tình của cộng đồng. Khu Du lịch Suối Lương đã nhận là nhà tài trợ chính cho chương trình.
Các chú trong CQ88, trong khi trao đổi với chúng tôi, cũng bày tỏ mong muốn được gặp lại đồng đội. Bởi họ nay ở mỗi người một nơi, và cuộc sống cũng chẳng dư dả gì để có cơ hội gặp nhau.
Hay anh Vũ Xuân Khoa, con trai thuyền trưởng, anh hùng – liệt sĩ Vũ Phi Trừ của tàu 604, rất muốn gặp lại những đồng đội của cha mình, thuộc Lữ đoàn 125, để hỏi về ông.
Với anh Khoa, sự tìm kiếm, cho tới thời điểm này, nhiều khi vô vọng. Bởi, chẳng hạn, trong chuyến đi Cam Ranh vừa rồi, anh hỏi nhiều người ở Lữ đoàn 125, nhưng ít người biết rõ về cha của anh, dù ai cũng biết tên thuyền trưởng Vũ Phi Trừ và sự hy sinh anh dũng của ông.
Hay chị Thuỷ, con gái của Liệt sĩ Trần Văn Phương, thậm chí còn không biết mặt cha mình. Bởi khi chị chào đời cũng là lúc cha hy sinh.
Rất may, nguyện vọng của chị quay về làm việc tại đơn vị cũ của cha chị đã toại nguyện. Hơn nữa, chồng chị Thuỷ cũng là hải quân, cùng đơn vị.
Tôi nghĩ, nếu đến năm 2015, Việt Nam hoàn thành đề án du lịch Trường Sa, chị Thuỷ có thể đóng góp được vì đó là ngành học của chị. Chị Thuỷ tốt nghiệp ngành Việt Nam học ở Đại học Quảng Bình.
Cho đến nay Trang thấy hiệu quả của những gì mà Trang và các bạn đã làm?
Tôi nghĩ khó có thể nhanh chóng thay đổi được thực tại, vì điều đó quá phức tạp, và phụ thuộc vào quá nhiều yếu tố.
Về phần mình, chúng tôi chỉ mong muốn tri ân những người con đã ngã xuống vì Tổ Quốc. Hơn nữa, nếu những người thuộc thế hệ chúng tôi còn mơ hồ về câu chuyện đấu tranh vì chủ quyền biển đảo, thì mạng của chúng tôi sẽ giúp họ thay đổi nhận thức. Chí ít là họ bớt mơ hồ và bàng quan đi.
Tức là…
Mỗi người, qua nhận thức của mình, phải đóng góp một cách thiết thực vào sự nghiệp chung của cả dân tộc, thay vì coi đó là công việc của riêng Đảng và Nhà nước. Còn mình cứ lo “tiến thân”, “làm giàu”, hay lo “ăn chơi nhảy múa”.
Hay nói cách khác, bên cạnh ngoại giao nhà nước, còn có ngoại giao nhân dân. Chúng tôi đang góp phần vào công tác ngoại giao nhân dân đó.
Khi các cộng tác viên tham gia chương trình, họ được nghe câu chuyện của những người trong cuộc, những nhân chứng sống, hay cảm thấy được bối cảnh của câu chuyện. Chúng tôi hy vọng sẽ thúc đẩy họ tìm hiểu sâu hơn, nắm vững được hơn về lịch sử Việt Nam.
Ra Trường Sa mới hình dung rõ ràng về thềm lục địa
Đài Trang có thấy hài lòng về quyết định của mình tham gia diễn đàn không?
Tôi hoàn toàn không có gì phải ân hận cả.
Đa phần những người tôi gặp khi đi làm chương trình này họ rất tốt, và bạn bè đối xử với nhau rất hết lòng, không tiếc nhau bất cứ cái gì cả. Đôi khi cảm giác như anh chị em một nhà ấy. Có thể hoàn toàn tin ở họ.
Chẳng hạn, sau chuyến đi Trường Sa về, tôi có thêm hai người bạn lớn là nguyên Tổng Giám đốc FPT Nguyễn Thành Nam, và đặc biệt là Phó Chủ tịch HĐQT FPT Hoàng Minh Châu. Trong những trao đổi với họ tôi học được nhiều điều.
Tôi cũng coi việc quan tâm đến diễn đàn Hoàng Sa – Trường Sa là một cơ duyên lớn. Bởi, nhờ đó, tôi mới tìm hiểu nhiều về Hoàng Sa – Trường Sa. Và, vì vậy, tôi mới có chuyến đi Trường Sa, và gặp những người bạn tuyệt vời trong chuyến đi đó.
Hôm ở sàn nhảy Sailing Driver tại Nha Trang, tôi có thấy, trong khi mọi người đang say sưa nhảy, Đài Trang ngồi nói chuyện khá lâu, và có vẻ khá nghiêm túc, với GS Cù Trọng Xoay, mặc dù tiếng nhạc khi đó rất ồn.
Hai người tranh luận những gì, nếu không phải là “mật”? Chắc không phải tập dượt cho một dạng “Hỏi xoáy – đáp xoay” có liên quan đến Hoàng Sa – Trường Sa chứ?
Hổng dám đâu. GS Xoay nói mình làm truyền thông mình phải có cách tiếp cận nào đó để đến được với tất cả các đối tượng, và, quan trọng hơn, được họ chấp nhận.
GS Xoay có nói một câu rất ấn tượng: “Khi làm việc này, em phải học cách nói chuyện với những thằng cha nông dân.”
Đài Trang có đồng ý không?
Có. Tôi cũng nghĩ đó là cái khó khăn nhất. Mình cảm nhận như thế, nhưng mình làm thế nào để người ta cũng cảm nhận như thế mới quan trọng.
Tức là giáo sư chỉ nói về phương pháp tiếp cận?
Đúng vậy. Giáo sư chỉ cảnh tỉnh thôi, chứ không gợi ý một phương pháp cụ thể nào. Tôi nghĩ đó là một lời khuyên thông minh.
Lý do Đài Trang đi Trường Sa?
Do họ không đủ người nên mới chuyển thành đoàn “FPT và những người bạn”. Tôi được một người bạn của FPT giới thiệu. Nhưng sau khi đi về, tôi nghĩ tôi đã trở thành người bạn của FPT.
Có điều gì trong chuyến đi khiến Đài Trang thấy ấn tượng nhất?
Chuyến đi nay mang tinh thần dân tộc rất là lớn, và đó là điểm chung để gắn kết mọi người, với nhiều thành phần xã hội, nghề nghiệp, lứa tuổi, tính cách khác nhau, lại với nhau. Tôi nghĩ, nói chung, không có gì ngoài một tinh thần dân tộc, tinh thần yêu nước có thể gắn kết mọi người Việt Nam lại được.
Có một anh đã nói rằng trước khi đi, mọi thứ vẫn mơ hồ, nhưng khi đến Cô Lin và nhìn sang Gạc Ma, tự nhiên thấy tinh thần dân tộc của mình bốc lên mạnh mẽ.
Còn chị Đinh Thị Hoa của Thiên Ngân thì chép miệng nói rằng chắc tinh thần này kéo dài không quá 2 tuần. Nhưng thực tế cho thấy đã 4 tháng rồi mà mọi người vẫn gắn kết với nhau. Hàng tuần, hàng tháng, từng nhóm vẫn gặp nhau.
Giáo sư Xoay, khi chia sẻ trên facebook, có nói rằng phát hiện lớn nhất của ông là “Ánh mắt trên đảo Cô lin”. Đài Trang có phát hiện gì không?
Năm 2009 tôi có tham dự hội thảo về Biển Đông do CLB Phao lồ Nguyễn Văn Bình tổ chức. Tôi còn nhớ có ai đó nói một câu là “trước khi tôi đi Trường Sa, tôi không biết thế nào là thềm lục địa”.
Tôi cũng không biết thế nào là thềm lục địa. Mặc dù, tôi làm công tác truyền thông về Hoàng Sa – Trường Sa, và vẫn cứ nói rằng theo công ước quốc tế thềm lục địa là thế này, thế kia.
Tôi vẫn cứ hình dung thềm lục địa là san hô, đá, và mình bước chân xuống thềm lục địa là mình bước xuống một tảng đá nào đó.
Nhưng khi ra giữa mênh mông sóng nước như thế, tôi mới cảm nhận đầy đủ. Bao la bát ngát một màu xanh, xanh mặn của nước biển, tôi mới hình dung thềm lục địa bao la rộng lớn đến mức nào, sự nguy hiểm tiềm ẩn cũng lớn ra sao.
Và tôi ngộ ra một điều: Lý thuyết chỉ mãi là lý thuyết, chỉ khi nào mình có trải nghiệm thực tế, khi đó nó mới trở thành kiến thức của mình!
Xin cảm ơn Đài Trang, và hẹn gặp lại ở Đà Nẵng!
Huỳnh Phan

scorpion_king84
31-08-2011, 02:09 PM
Thềm lục địa và quan điểm giải quyết phân định Biển Đông của Việt Nam
(Cập nhật lúc 9:55' 31/8/2011)
+ Thềm lục địa Việt Nam: là một quốc gia có cấu tạo thềm lục địa đa dạng, Việt Nam thể hiện rõ quan điểm ủng hộ dành cho quốc gia ven biển một thềm lục địa rộng ít nhất 200 hải lý. Tuyên bố các vùng biển năm 1977 quy định: thềm lục địa của Việt Nam bao gồm đáy biển và lòng đất dưới đáy biển thuộc phần kéo dài tự nhiên của lục địa Việt Nam, mở rộng ra ngoài lãnh hải Việt Nam cho đến mép ngoài của rìa lục địa; nơi nào bờ ngoài của rìa lục địa cách đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam không đến 200 hải lý thì thềm lục địa nơi ấy mở rộng ra 200 hải lý kể từ đường cơ sở đó. Nhà nước Việt Nam có chủ quyền hoàn toàn về mặt thăm dò, khai thác, bảo vệ và quản lý tất cả các tài nguyên thiên nhiên ở thềm lục địa. Các đảo, các quần đảo xa bờ thuộc chủ quyền Việt Nam đều có lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa riêng.

Sau Tuyên bố năm 1977, việc xác định các vùng biển Việt Nam có thêm bước đi cụ thể khi Tuyên bố của Chính phủ nước ta về đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam vào ngày 12/11/1982 được công bố. Hai tuyên bố này cho phép xác lập bề rộng các vùng biển cũng như các khu vực chồng lấn danh nghĩa Việt Nam và các nước láng giềng đòi hỏi đàm phán phân định.


+ Phân định biển Việt Nam: Với khái niệm thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế làm cho nhiều nước trước kia không có chung biên giới nay trở thành các nước láng giềng trên biển, có các đường ranh giới trên biển cần được phân định. Vì vậy, nước ta có ranh giới biển cần phân định với hàng loạt các nước trong khu vực như Trung Quốc (vịnh Bắc Bộ), Thái Lan (vịnh Thái Lan), Malaixia, Campuchia, Inđonexia, tranh chấp chủ quyền quần đảo Hoàng Sa với Trung Quốc, trên quần đảo Trường Sa với Trung Quốc, Philippin, Malaixia, Đài Loan và phân định biển trong Biển Đông, nơi bị bao phủ hết bởi các vùng biển và thềm lục địa thuộc chủ quyền và quyền tài phán của các quốc gia ven biển.


Tuy vậy, là quốc gia yêu chuộng hoà bình, Việt Nam chủ trương giải quyết mọi tranh chấp quốc tế một cách hoà bình, trong đó có việc giải quyết các tranh chấp trên biển, giải quyết vấn đề hoạch định ranh giới biển liên quan với các nước láng giềng. Trong Tuyên bố 1977 của Chính phủ Việt Nam về lãnh hải, vùng tiếp giáp..., Khoản 6 đã công khai: "Việt Nam cùng các nước liên quan, thông qua thương lượng trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền của nhau, phù hợp luật pháp và tập quán quốc tế...". Nghị quyết năm 1994 của Quốc hội phê chuẩn Công ước 1982 cũng nêu rõ: "... giải quyết các tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ cũng như các bất đồng khác liên quan đến Biển Đông thông qua thương lượng hoà bình trên tinh thần bình đẳng, hiểu biết, tôn trọng lẫn nhau, tôn trọng luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982, tôn trọng chủ quyền và quyền tài phán của các nước ven biển đối với vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa..."

Thềm lục địa và quan điểm giải quyết phân định Biển Đông của Việt Nam
(Cập nhật lúc 9:55' 31/8/2011)
+ Thềm lục địa Việt Nam: là một quốc gia có cấu tạo thềm lục địa đa dạng, Việt Nam thể hiện rõ quan điểm ủng hộ dành cho quốc gia ven biển một thềm lục địa rộng ít nhất 200 hải lý. Tuyên bố các vùng biển năm 1977 quy định: thềm lục địa của Việt Nam bao gồm đáy biển và lòng đất dưới đáy biển thuộc phần kéo dài tự nhiên của lục địa Việt Nam, mở rộng ra ngoài lãnh hải Việt Nam cho đến mép ngoài của rìa lục địa; nơi nào bờ ngoài của rìa lục địa cách đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam không đến 200 hải lý thì thềm lục địa nơi ấy mở rộng ra 200 hải lý kể từ đường cơ sở đó. Nhà nước Việt Nam có chủ quyền hoàn toàn về mặt thăm dò, khai thác, bảo vệ và quản lý tất cả các tài nguyên thiên nhiên ở thềm lục địa. Các đảo, các quần đảo xa bờ thuộc chủ quyền Việt Nam đều có lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa riêng.

Sau Tuyên bố năm 1977, việc xác định các vùng biển Việt Nam có thêm bước đi cụ thể khi Tuyên bố của Chính phủ nước ta về đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam vào ngày 12/11/1982 được công bố. Hai tuyên bố này cho phép xác lập bề rộng các vùng biển cũng như các khu vực chồng lấn danh nghĩa Việt Nam và các nước láng giềng đòi hỏi đàm phán phân định.


+ Phân định biển Việt Nam: Với khái niệm thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế làm cho nhiều nước trước kia không có chung biên giới nay trở thành các nước láng giềng trên biển, có các đường ranh giới trên biển cần được phân định. Vì vậy, nước ta có ranh giới biển cần phân định với hàng loạt các nước trong khu vực như Trung Quốc (vịnh Bắc Bộ), Thái Lan (vịnh Thái Lan), Malaixia, Campuchia, Inđonexia, tranh chấp chủ quyền quần đảo Hoàng Sa với Trung Quốc, trên quần đảo Trường Sa với Trung Quốc, Philippin, Malaixia, Đài Loan và phân định biển trong Biển Đông, nơi bị bao phủ hết bởi các vùng biển và thềm lục địa thuộc chủ quyền và quyền tài phán của các quốc gia ven biển.


Tuy vậy, là quốc gia yêu chuộng hoà bình, Việt Nam chủ trương giải quyết mọi tranh chấp quốc tế một cách hoà bình, trong đó có việc giải quyết các tranh chấp trên biển, giải quyết vấn đề hoạch định ranh giới biển liên quan với các nước láng giềng. Trong Tuyên bố 1977 của Chính phủ Việt Nam về lãnh hải, vùng tiếp giáp..., Khoản 6 đã công khai: "Việt Nam cùng các nước liên quan, thông qua thương lượng trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền của nhau, phù hợp luật pháp và tập quán quốc tế...". Nghị quyết năm 1994 của Quốc hội phê chuẩn Công ước 1982 cũng nêu rõ: "... giải quyết các tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ cũng như các bất đồng khác liên quan đến Biển Đông thông qua thương lượng hoà bình trên tinh thần bình đẳng, hiểu biết, tôn trọng lẫn nhau, tôn trọng luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982, tôn trọng chủ quyền và quyền tài phán của các nước ven biển đối với vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa..."


http://baonghean.vn/news_detail.asp?newsid=76680&CatID=90

kientap
01-09-2011, 09:51 AM
Trung Quốc, Philippines “giảm tranh cãi, tập trung hợp tác kinh tế”
(Dân trí) - Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào và người đồng cấp Philippines Benigno Aquino III đã đồng ý tăng cường hợp tác kinh tế và thương mại trong khi giảm thiểu tác động của tranh chấp lãnh thổ trên Biển Đông.


http://dantri4.vcmedia.vn/R3Q4O5ZByYfaYuux8wVI/Image/2011/07/0109phi_dfc6f.jpg
Đây là chuyến thăm Trung Quốc đầu tiên trên cương vị Tổng thống của ông Aquino kể từ khi ông nhậm chức.
Trong buổi tiếp Tổng thống Aquino đang ở thăm Bắc Kinh, Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đảo cho rằng trước khi những bất đồng được giải quyết, “các nước liên quan có thể gác lại tranh chấp, tích cực tìm tòi thảo luận về cùng nhau khai thác vùng biển liên quan, điều này phù hợp lợi ích chung của các nước liên quan”.
Ông Hồ Cẩm Đào cũng nhắc lại lập trường và đề xuất của Trung Quốc về vấn đề Biển Đông (Trung Quốc gọi là Hoa Nam) là “nhất quán và rõ ràng”.
“Tranh chấp trên biển Hoa Nam phải được giải quyết một cách hoà bình thông qua tham vấn và thương lượng giữa hai nước liên quan”, ông Hồ Cẩm Đào nói.
“Trung Quốc sẵn sàng cùng với các nước ASEAN, trong đó có Philippines, tích cực thực hiện ‘Tuyên bố về ứng xử của các bên trên Nam Hải’, cùng nhau xây dựng Nam Hải thành vùng biển hoà bình, hữu nghị và hợp tác”.
Tại cuộc hội đàm, Chủ tịch Hồ Cẩm Đào bày tỏ tin tưởng chuyến thăm của Tổng thống Aquino tới Trung Quốc sẽ thúc đẩy sự hợp tác thực chất và hữu nghị truyền thống, đồng thời nâng mối quan hệ chiến lược song phương lên một tầm cao mới.
Về phần mình, Tổng thống Aquino cho biết Philippines tái khẳng định dốc sức giữ gìn hoà bình và ổn định của khu vực, dốc sức thực hiện Tuyên bố về ứng xử của các bên về Biển Đông (Philippines gọi là Biển Tây Philippines); Vấn đề Biển Đông không phải là toàn bộ của quan hệ Philippines - Trung Quốc, không nên ảnh hưởng sự phát triển quan hệ song phương, ảnh hưởng quan hệ hữu nghị và hợp tác trong các lĩnh vực giữa hai nước.
Ông Aquino cũng cho rằng chuyến thăm sẽ tạo thêm cơ hội cho hai nước mở rộng và làm sâu sắc quan hệ song phương được xây dựng từ nhiều thế kỷ qua.


Đây là chuyến thăm Trung Quốc đầu tiên trên cương vị Tổng thống của ông Aquino kể từ khi ông nhậm chức hồi tháng 6/2010.
Sau cuộc hội đàm chính thức, hai nhà lãnh đạo đã chứng kiến lễ ký 9 thoả thuận hợp tác trên một loạt lĩnh vực, trong đó có kế hoạch hợp tác thương mại 5 năm.
Hai bên cam kết tăng kim ngạch thương mại song phương lên 60 tỷ USD trong 5 năm tới, từ mức 27,7 tỷ USD năm 2010.
Theo báo chí khu vực, Tổng thống Philippines đang tìm cách thúc đẩy các nguồn đầu tư của Trung Quốc vào Philippines với lời cam kết rằng chính phủ Manila sẽ vận hành “trong một nền văn hóa minh bạch”.

Ông Aquino dẫn đầu một phái đoàn gồm 300 lãnh đạo doanh nghiệp Philippines trong chuyến công du Trung Quốc 5 ngày. Đây là phái đoàn doanh nghiệp lớn nhất từ trước đến nay của Philippines trong một chuyến thăm cấp nhà nước.

Dự kiến, ngoài Bắc Kinh, ông Aquino sẽ thăm thành phố Thượng Hải và tỉnh Phúc Kiến ở đông nam Trung Quốc.
http://dantri.com.vn/c36/s36-513693/trung-quoc-philippines-giam-tranh-cai-tap-trung-hop-tac-kinh-te.htm

Việt Hà
Theo Xinhua, AP

longtt88
03-09-2011, 05:02 PM
Sáng qua, các trận chung kết bóng chuyền chào mừng Quốc khánh 2/9 đã đồng loạt diễn ra trên khắp quần đảo Trường Sa.

Từ đảo nhỏ đến đảo to, đảo cấp 3 đến đảo cấp 1, đâu đâu cũng rộn rã những tràng pháo tay cổ vũ của khán giả dành cho các cầu thủ của mình.

“Mấy hôm nay, bạn mà đến Trường Sa thì thấy không khí trên toàn đảo giống như tháng 3 tháng 4, mùa mà các đoàn ra thăm đảo. Vui lắm cơ!”, anh Hoàng Văn Minh, Trạm trưởng trạm khí tượng hải văn của đảo hào hứng nói.

Còn chị Trương Thị Liền, cư dân của đảo Song Tử Tây cho biết cả tuần diễn ra thi đấu bóng chuyền, các bé thích lắm, cứ đòi ra sân bóng cổ vũ cho các chú thôi.

Tuần cuối cùng của tháng Tám ở Trường Sa được đánh dấu bằng một đợt nắng nóng khá gay gắt. Tuy nhiên, cái nóng của thiên nhiên không so được với sức nóng của các trận đấu tăng lên theo từng điểm số.




http://quocphong.baodatviet.vn/Uploaded_CDCA/tuanlinh/20110903/qp-thao-bongchuyen-450.jpg


Thi đấu bóng chuyền trên quần đảo Trường Sa. Ảnh: Trung Kiên




Hưởng ứng cùng cả nước, Trường Sa cũng đang chào mừng Cách mạng Tháng 8 và Quốc khánh 2/9 bằng cách riêng của mình. Nào là tổ chức các buổi sinh hoạt truyền thống (đảo An Bang, Cô Lin, Đá Lát, Đá Lớn…), hát karaoke (đảo Song Tử Tây), trồng cây (đảo Sơn Ca), hội diễn văn nghệ (đảo Trường Sa Lớn), thi đấu bóng chuyền (đảo Song Tử Tây, Trường Sa Lớn, Sơn Ca…).

“Mỗi đơn vị tham gia từ 2 đến 3 tiết mục. Đơn vị Trạm Khí tượng chúng tôi cùng 2 đơn vị nữa lập thành 1 đội đang ráo riết tập luyện hưởng ứng cùng đảo và sẵn sàng cho ngày hội diễn. Đúng là ngày vui đến làm cho không khí nơi đảo xa cũng gần hơn với đất liền”, anh Minh tâm sự.

Hoạt động tưng bừng nhất là thi đấu bóng chuyền. Đảo Trường Sa Lớn có 9 đội, Song Tử Tây có 12 đội. Các đội chia làm 2 bảng thi đấu vòng tròn tính điểm, rồi chọn 2 đội nhất nhì bảng vào bán kết.

Ở đảo Sơn Ca, dù chỉ có 4 đội bóng chuyền, nhưng sự sôi nổi thì cũng không kém gì hai đảo trên. Đến giờ thi đấu, cả đảo đều tập trung về sân, mọi cặp mắt đều đổ dồn theo từng cú đệm bóng. Phần thưởng cho đội vô địch là một thùng nước ngọt. Vậy mà vẫn vui hết ga.



http://quocphong.baodatviet.vn/Uploaded_CDCA/tuanlinh/20110903/qp-truongsa-chaoco-450.jpg


Cán bộ chiến sĩ trên quần đảo Trường Sa thực hiện nghi lễ chào cờ.




Không kém cạnh các đảo, tại khu vực nhà giàn DK1, không khí Tết Độc lập cũng rộn ràng và đậm chất lính biển. “Trời nắng nhưng sóng gió khá to bạn ạ.

Dù vậy, chúng tôi vẫn tạo sân chơi cho anh em. Thi đấu cờ vua, cờ tướng, hái hoa dân chủ này. Tàu còn cử một tổ lên giao lưu với các chiến sĩ nhà giàn nữa đấy.

Các cán bộ chiến sĩ vừa vui chơi giải trí vừa hoàn thành nhiệm vụ”, thuyền trưởng tàu HQ..., trực cụm nhà giàn Ba Kè và Phúc Tần, thượng úy Vũ Chí Công tự hào cho biết.

Sáng nay, bên cột mốc chủ quyền các đảo, những lá cờ Tổ quốc đỏ thắm kiêu hãnh tung bay trong nắng sớm, hòa cùng màu xanh của biển đảo, của những nụ cười giòn tan của dân quân Trường Sa. Tết Độc lập ở Trường Sa thật đặc biệt và thiêng liêng. Trường Sa luôn ở trong lòng Tổ quốc như thế đó.

Nguồn: ĐVO (http://quocphong.baodatviet.vn/Home/QPCN/Tet-Doc-lap-o-Truong-Sa/20119/165356.datviet)

anh2
06-09-2011, 04:01 PM
TT - Ngày 4-9, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã thăm và làm việc ở tỉnh Quảng Bình.
Tại buổi làm việc với Tỉnh ủy và UBND tỉnh, Thủ tướng nói Quảng Bình là tỉnh có diện tích rừng lớn với độ che phủ 65-67% nên phải tìm cách tăng thu nhập và nâng cao đời sống người dân từ rừng. Muốn cải thiện đời sống, xóa đói giảm nghèo cho dân cũng phải nâng cao thu nhập từ rừng.
Thủ tướng đồng ý và ủng hộ cho tỉnh xây dựng cầu Nhật Lệ 2 nối với đường Hồ Chí Minh (nhánh đông), nhất trí cho làm sớm hệ thống tín hiệu dẫn đường máy bay tự động tại sân bay Đồng Hới...
Trước đó chiều 3-9, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã tới dâng hương, tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ tại đền thờ các anh hùng liệt sĩ đường 20 - Quyết Thắng (xã Tân Trạch, huyện Bố Trạch) và tại nghĩa trang liệt sĩ B67 Thọ Lộc (xã Vạn Trạch, huyện Bố Trạch).
Sáng 3-9, nói chuyện thân mật với cán bộ, nhân dân Quảng Trị tại thành cổ Quảng Trị, Thủ tướng đã ôn lại những dấu mốc lịch sử chói lọi trong sự nghiệp đấu tranh chống kẻ thù xâm lược, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhấn mạnh trong ngày vui của Tết độc lập, chúng ta đời đời ghi nhớ sự hi sinh anh dũng của các anh hùng liệt sĩ, những người đã không tiếc máu xương chiến đấu, hi sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, vì nền độc lập tự do của Tổ quốc, vì cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân.
Trước anh linh các anh hùng liệt sĩ, toàn Đảng, toàn quân và toàn dân nguyện sẽ đem hết sức mình bảo vệ vững chắc nền độc lập tự do, chủ quyền lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc, tiếp tục đưa đất nước vững bước đi lên trên con đường mà Đảng và Bác Hồ kính yêu đã lựa chọn để xứng đáng với sự hi sinh xương máu của những người con đã ngã xuống vì Tổ quốc.

theo TTO (http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/454422/Quyet-dem-het-suc-bao-ve-chu-quyen-lanh-tho.html)

longtt88
06-09-2011, 04:10 PM
Sẽ không còn cảnh những lá thư viết tay lênh đênh trên biển hàng tháng trời mới đến tay người nhận nơi đảo xa, và cảnh những chuyến tàu của ngư dân bật vô âm tín vì mất liên lạc với đất liền… bởi “cánh sóng” viễn thông Việt Nam hôm nay đã vươn xa phủ khắp các vùng biển đảo, phục vụ đặc lực cho công cuộc chinh phục đại dương, phát triển kinh tế và bảo vệ vững chắc chủ quyền biển đảo thiêng liêng của tổ quốc.
“CÁNH SÓNG” GIỮA TRÙNG KHƠI

Vào những ngày trung tuần tháng 6 năm 2011, chúng tôi cùng với đoàn thân nhân của các cán bộ, chiến sĩ đang làm nhiệm vụ ở quần đảo Trường Sa đã lên tàu HQ 996 thực hiện chuyến hải trình dài ra thăm quần đảo Trường Sa thân yêu của Tổ quốc.

Trong chuyến đi ấy, tàu chúng tôi đã đi qua nhiều điểm đảo thuộc quần đảo Trường Sa như: Trường Sa Lớn, Trường Sa Đông, Đá Tây, An Bang và Phan Vinh... Qua đảo nào, dù là đảo nổi hay đảo chìm, hình ảnh đầu tiên đập vào mắt chúng tôi là những cột phát sóng viễn thông nổi bật trên đảo. Có lẽ nhờ thế mà suốt cả chuyến đi, hệ thống thông tin bằng điện thoại di động và internet của chúng tôi luôn hoạt động tốt, đảm bảo nhu cầu thông tin liên lạc kịp thời và thông suốt với đất liền. Việc sóng di động xuất hiện giữa trùng khơi không chỉ giúp cho chúng tôi vơi đi nỗi nhớ đất liền mà còn trở thành một đề tài khám phá đầy thú vị.



http://imagevietnam.vnanet.vn/ImageHandler//Upload//2011/8/3/8-2011TD03763.jpg
Niềm vui của người lính trẻ Nguyễn Đình Kiên và Bùi Văn Giáp khi gọi điện cho người thân tại đảo Trường Sa Lớn.
http://imagevietnam.vnanet.vn/ImageHandler//Upload//2011/8/3/8-2011TD18588.jpg
Chảo vệ tinh Vinasat đặt tại đảo Phan Vinh. Ảnh: Trần Thanh Giang.
http://imagevietnam.vnanet.vn/ImageHandler//Upload//2011/8/3/8-2011TD04903.jpg
Chiến sĩ đảo Trường Sa Lớn xem tivi được thu qua sóng vệ tinh. Ảnh: Hoàng Quang Hà.
http://imagevietnam.vnanet.vn/ImageHandler//Upload//2011/8/3/8-2011TD19760.jpg
Anh Nguyễn Tấn Thi, một cư dân tại đảo Trường Sa Lớn và con gái đang gọi điện về đất liền cho gia đình.
Ảnh: Trần Thanh Giang.
http://imagevietnam.vnanet.vn/ImageHandler//Upload//2011/8/3/8-2011TD09512.jpg
Khi tàu HQ 996 vừa cập cảng Cam Ranh, thuyền trưởng Vũ Khánh liên lạc với đảo xa
để thông tin tàu đã về đất liền an toàn. Ảnh: Trần Thanh Giang.
http://imagevietnam.vnanet.vn/ImageHandler//Upload//2011/8/3/8-2011TD16401.jpg
Đảo Phan Vinh trên quần đảo Trường Sa. Ảnh: Trần Thanh Giang.
http://imagevietnam.vnanet.vn/ImageHandler//Upload//2011/8/3/8-2011TD11761.jpg
Ngư dân đánh bắt xa bờ truy cập internet về thông tin thời tiết và tình hình đất liền. Ảnh: Trần Thanh Giang.
http://imagevietnam.vnanet.vn/ImageHandler//Upload//2011/8/3/8-2011TD0528.jpg
Hệ thống viễn thông biển đảo đã giúp cho ngư dân Việt Nam bám biển dài ngày,
phát triển kinh tế và bảo vệ chủ quyền biển đảo quốc gia. Ảnh: Minh Quốc.
http://imagevietnam.vnanet.vn/ImageHandler//Upload//2011/8/3/8-2011TD02622.jpg
Hệ thống Radio liên lạc được trang bị cho các tàu đánh cá. Ảnh: Trần Thanh Giang.



Ông Nguyễn Văn Mưng, một ngư dân của tỉnh Quảng Ngãi, miệng lúc nào cũng nở nụ cười tươi đầy phấn khởi vì sắp được gặp cậu con trai út đang làm nhiệm vụ tại đảo An Bang. Ông kể, nghề đi biển lắm hiểm nguy rình rập, nếu không có sóng di động vươn ra tới những vùng biển xa, chắc ông đã nhiều lần bỏ mạng giữa trùng khơi. Có lần gặp bão, thuyền trôi dạt cả tuần trên biển, những tưởng chuyến ấy không còn có cơ hội trở về với vợ con. May sao, mấy hôm sau, thuyền trôi vào vùng có sóng của Viettel nên ông đã liên lạc được với tàu bạn đến cứu. Người đàn ông vùng biển, nước da đen giòn, cười bộc bạch: “Ra biển có sóng di động, tôi như có thêm niềm tin và sức mạnh để vượt qua bão táp phong ba”.



Việt Nam có bờ biển dài khoảng 3.260 km kéo dài từ Bắc
xuống Nam, chiếm tỉ lệ khoảng 100km2 đất liền/1km bờ biển
(mức trung bình trên thế giới là 600km2 đất liền/1km bờ biển) và hơn 3000 hòn đảo, trong đó có quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Hoàng Sa và Trường Sa là hai quần đảo ở ngoài khơi Việt Nam.
Quần đảo Hoàng Sa chỗ gần nhất cách đảo Ré, một đảo ven bờ
của Việt Nam, khoảng 120 hải lí; cách Đà Nẵng khoảng 120 hải lí
về phía Đông. Quần đảo Trường Sa chỗ gần nhất cách
vịnh Cam Ranh khoảng 250 hải lí về phía Đông.
(Nguồn: Ủy ban Biên giới Quốc gia).


Không giống như ông Mưng, chị Hoàng Thị Thanh (50 tuổi) không làm nghề đi biển nhưng có chồng đang làm nhiệm vụ ở đảo Trường Sa Lớn. Chị tâm sự: “Hồi trước anh làm nhiệm vụ ở đảo Thuyền Chài (thuộc quần đảo Trường Sa - PV), 6 tháng mới nhận được một lá thư. Có lúc thư về đến nhà thì chồng cũng vừa về tới đất liền, nên lúc nào cũng thấy nhớ chồng da diết”. Dạo này nhờ có sóng di động phủ ra tới tận Trường Sa, nên anh chị không còn phải chịu cảnh ngóng thư nhau như trước nữa, và cũng nhờ đó mà cảm giác mong chờ cũng vơi đi bớt phần nào.

Lần đầu đến với đảo Trường Sa Lớn, nơi được mệnh danh là “thủ đô” của huyện đảo Trường Sa, chúng tôi mới thấy được hết vẻ đẹp kiêu hùng của mảnh đất thiêng liêng nơi đầu sóng ngọn gió. Từ xa, những cột điện năng lượng mặt trời, cột thu phát sóng viễn thông vươn cao trong nắng. Trường Sa Lớn hôm nay không chỉ có cột mốc chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc Việt Nam mà còn có cả một hệ thống cơ sở hạ tầng vững chắc gồm nhà khách, chùa, khu dân cư, nhà tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Ghé thăm nhà dân trên đảo thấy nhà nào cũng khang trang, sạch đẹp, cũng có sẵn máy điện thoại để liên lạc với đất liền. Nhờ có hệ thống vệ tinh Vinasat, trạm trung chuyển thu và phát sóng điện thoại di động (BTS) của Viettel nên không chỉ tại đảo Trường Sa Lớn mà các đảo khác trong quần đảo Trường Sa như Đá Tây, An Bang, Phan Vinh, Song Tử Tây, Nam Yết, Sơn Ca... “cánh sóng” viễn thông cũng đã vươn tới nơi. Nhờ đó mà quân và dân Trường Sa giờ đã có thể sử dụng điện thoại di động, xem tivi, truy cập internet… Không những thế, nhiều chương trình cầu truyền hình trực tiếp giữa Trường Sa Lớn với đất liền cũng đã được thực hiện. Nhờ đó mà người dân cả nước và kiều bào ở nước ngoài đã nắm bắt được hầu hết mọi tình hình của Trường Sa.

Ông Nguyễn Hữu Lục, Đảo trưởng đảo Trường Sa Lớn, cho biết: “Hệ thống viễn thông tại Trường Sa Lớn không chỉ đáp ứng nhu cầu thông tin giữa đảo với đất liền mà còn giúp bộ đội ứng cứu kịp thời nhiều trường hợp tàu thuyền của ngư dân gặp nạn, gặp bão khi tham gia đánh bắt cá trên vùng biển Trường Sa”.

Có thể nói, với nhiều điểm đảo có cơ sở hạ tầng vững chắc cùng với hệ thống thông tin liên lạc thuận tiện và thông suốt, quân và dân trên quần đảo Trường Sa có thể hoàn toàn yên tâm bám biển để phát triển kinh tế và bảo vệ vững chắc chủ quyền biển đảo của quốc gia.

CHUYỆN NHỮNG NGƯỜI ĐI “MỞ SÓNG”

Để có được những “cánh sóng” viễn thông vươn dài ra biển lớn phải kể đến công lao của lớp lớp cán bộ, kĩ sư ngành viễn thông Việt Nam nói chung và của Tập đoàn Viễn thông Quân đội (Viettel) nói riêng.

Công cuộc “mở sóng” chinh phục Biển Đông của họ là một kì tích vĩ đại. Kì tích ấy không chỉ thể hiện qua sự vượt khó chinh phục biển khơi để phục vụ phát triển kinh tế biển và bảo vệ chủ quyền biển đảo của quốc gia, mà còn là một quá trình phát triển vượt bậc về mặt khoa học kĩ thuật của ngành viễn thông Việt Nam.

Trong những ngày ở Cam Ranh, theo chân những kĩ sư làm nhiệm vụ bảo dưỡng kĩ thuật tại các trạm thu phát sóng vùng biển của Viettel, chúng tôi mới cảm nhận được hết sự vất vả và tinh thần làm việc say mê của họ.



http://imagevietnam.vnanet.vn/ImageHandler//Upload//2011/8/3/8-2011TD10621.jpg
Cột thu phát sóng viễn thông đặt tại đảo Đá Tây trên vùng quần đảo Trường Sa, giúp thông tin thông suốt hàng ngày.
Ảnh: Trần Thanh Giang.
http://imagevietnam.vnanet.vn/ImageHandler//Upload//2011/8/3/8-2011TD08387.jpg
Đại tá Tống Thành Đại (bên trái) và Đại tá Nguyễn Đình Trụ là những người đầu tiên tham gia dự án
đưa sóng viễn thông đến với quần đảo Trường Sa. Ảnh: Trần Thanh Giang.
http://imagevietnam.vnanet.vn/ImageHandler//Upload//2011/8/3/8-2011TD06137.jpg
Phòng điều hành của tập đoàn Viettel luôn hoạt động 24/24h để đảm bảo hệ thống mạng viễn thông
trên toàn quốc được hoạt động ổn định và thông suốt. Ảnh: Trần Thanh Giang.
http://imagevietnam.vnanet.vn/ImageHandler//Upload//2011/8/3/8-2011TD07262.jpg
Cán bộ kĩ thuật của Viettel theo dõi hệ thống viễn thông vùng biển đảo. Ảnh: Trần Thanh Giang.
http://imagevietnam.vnanet.vn/ImageHandler//Upload//2011/8/3/8-2011TD12902.jpg
Phát cây mở đường lên trạm 259 ở Cam Ranh - Khánh Hòa. Ảnh: Trần Thanh Giang.
http://imagevietnam.vnanet.vn/ImageHandler//Upload//2011/8/3/8-2011TD14136.jpg
Phút nghỉ giải lao trên đỉnh núi của các kĩ sư Viettel. Ảnh: Trần Thanh Giang.
http://imagevietnam.vnanet.vn/ImageHandler//Upload//2011/8/3/8-2011TD15276.jpg
Các kĩ sư Viettel làm công tác duy tu bảo dưỡng trên cột thu phát sóng di động vùng biển. Ảnh: Trần Thanh Giang.
http://imagevietnam.vnanet.vn/ImageHandler//Upload//2011/8/3/8-2011TD1311.jpg
Nhân viên kĩ thuật Viettel kiểm tra kỹ thuật tại trạm phát sóng. Ảnh: Trần Thanh Giang.



Tại Cam Ranh hiện có 7 trạm thu phát sóng di động hoạt động 24/24 giờ, với tầm phủ sóng xa bờ tới hơn 100 km, sẵn sàng giúp ngư dân liên lạc với đất liền và đảm bảo an ninh quốc phòng.



Viettel hiện có 220 trạm BTS 2G và
trên 100 trạm BTS 3G phủ sóng toàn bộ vùng
bờ biển dài hơn 3000 km và
nhiều vùng biển đảo xa bờ khác của Việt Nam.


Để lên được trạm thu phát sóng 259, trạm lớn nhất ở Cam Ranh - Khánh Hòa, chúng tôi và các kĩ sư của Viettel phải khởi hành từ 3 giờ sáng. Đường núi ven biển cheo leo, anh em vừa đi vừa phát cây mở đường vượt qua quãng đường bộ chừng 7km, lên đến nơi thì trời cũng vừa sáng tỏ. Tuy là đợt kiểm tra bảo dưỡng định kì nhưng công việc cũng kéo dài tới tận trưa mới xong. Mặc cho cái nắng như thiêu như đốt, anh Bùi Quốc Trầm, Phó trưởng Trung tâm Viễn thông Viettel Cam Ranh và một kĩ sư nữa vẫn trèo lên cột thu phát sóng để thực hiện công việc duy tu bảo dưỡng. Nhìn các kĩ sư của Viettel treo mình lơ lửng trên không trung mặc cho cái gió ào ạt của biển khơi và cái nắng như thiêu như đốt của đất trời vùng Nam Trung Bộ, mới thấy thấm thía cái công sức và nỗ lực của những người đi “mở sóng” ra Biển Đông.

Hiện nay, Viettel là đơn vị sở hữu mạng lưới viễn thông phục vụ biển đảo lớn nhất Việt Nam với hơn 1.400 trạm BTS dọc bờ biển và ngoài khơi. Hệ thống này bao gồm các trạm phát sóng tầm xa, có thể phủ sóng di động lên toàn bộ vùng bờ biển dài hơn 3000 km của Việt Nam với phạm vi phủ sóng cách bờ từ 70 - 90 km, cá biệt có nơi lên tới hơn 200 km. Nhờ đó ngư dân đánh bắt xa bờ tại nhiều vùng biển có thể sử dụng điện thoại di động để liên lạc với đất liền. Ngoài ra, người dùng có thể truy cập internet qua GPRS/EDGE để đọc tin tức, cập nhật giá cả, thời tiết… ngay giữa biển khơi.

Để làm được điều này, Viettel đã áp dụng công nghệ phủ xa, nâng tầm phát sóng lên gấp 2 đến 3 lần so với thiết kế cơ bản của công nghệ GSM và kết hợp với cách chọn địa điểm đặt trạm tối ưu, nên mỗi trạm phát sóng ra biển của Viettel có tầm thu phát sóng lên tới gần 200km, vượt xa giới hạn tiêu chuẩn 35 km đối với trạm BTS của công nghệ GSM. Đây là một thành tựu hiếm thấy trong lĩnh vực viễn thông trên thế giới.

Với mục tiêu nâng cao chất lượng và mở rộng vùng phủ sóng trên biển phục vụ đông đảo ngư dân, đảm bảo thông tin liên lạc trong mùa mưa bão, trong quý III năm 2011, Viettel sẽ tiến hành nâng cấp 15 trạm phát sóng trên quần đảo Trường Sa và 9 trạm nhà giàn trên biển. Ngoài ra, 32 vị trí khác sẽ được lắp thiết bị khuếch đại tín hiệu (booster).

Nhớ lại những ngày đầu đi “mở sóng” ra Biển Đông, đại tá Tống Thành Đại, nguyên Phó Tổng Giám đốc Tập đoàn Viễn thông Quân đội (Viettel), người đầu tiên tham gia dự án đưa sóng viễn thông ra quần đảo Trường Sa, bồi hồi kể lại: “Lần đầu tiên, khi đồng đội từ ngoài Trường Sa gọi điện về báo tin sóng đã hoạt động, thấy tiếng đồng đội bên tai, sao giây phút đó tôi thấy thiêng liêng đến thế!

Đại tá Nguyễn Đình Trụ, nguyên Giám đốc Công ty Tư vấn Thiết kế Viettel, cũng là người đầu tiên tham gia các dự án phủ sóng biển đảo của Việt Nam, cho biết: “Khi Viettel mang sóng ra biển lớn, tâm huyết lớn nhất của chúng tôi là mong muốn Trường Sa gần lại với mỗi người, nối tình cảm chiến sĩ với hậu phương, tiếp thêm sức mạnh động viên cho bộ đội làm nhiệm vụ nơi đảo xa”.

Hôm nay đây, ước mơ của những người lính Viettel không chỉ đã trở thành hiện thực mà còn vượt xa cả niềm ao ước ban đầu của họ. Những “cánh sóng” của Viettel giờ đã có mặt trên mọi vùng biển đảo của quê hương. Những “cánh sóng” ấy luôn đồng hành theo mỗi chuyến ra khơi của ngư dân và luôn bên cạnh những người lính đang ngày đêm chắc tay súng giữ vững biển trời của Tổ quốc./.


Bài: Bích Vân - Ảnh: Trần Thanh Giang, Hoàng Quang Hà, Minh Quốc.




Nguồn: VNP (http://vietnam.vnanet.vn/vnp/vi-vn/13/1/1/24902/default.aspx)

anh2
06-09-2011, 04:29 PM
Nhân kỷ niệm 66 năm Quốc khánh nước Cộng hòa XHCN Việt Nam và chuẩn bị diễn ra hội nghị lần thứ 5 Ủy ban Chỉ đạo hợp tác song phương Việt Nam - Trung Quốc tại Hà Nội,
Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Việt Nam tại Trung Quốc Nguyễn Văn Thơ đã trả lời phỏng vấn của Tân Hoa xã và Đài truyền hình Trung ương Trung Quốc (CCTV).
Đại sứ Nguyễn Văn Thơ đã giới thiệu chặng đường lịch sử khó khăn nhưng vô cùng vẻ vang trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội, đặc biệt sau 25 năm tiến hành công cuộc Đổi mới của Việt Nam. Đại sứ cho biết Đại hội lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định sẽ tiếp tục nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, hòa bình, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. Đại sứ nhấn mạnh quan hệ Việt Nam - Trung Quốc trong thời gian qua phát triển tốt đẹp, lấy hợp tác là xu hướng chính. Tình hữu nghị Việt-Trung được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch Mao Trạch Đông gầy dựng, được nhiều thế hệ lãnh đạo và nhân dân hai nước dày công vun đắp, là tài sản quý báu của hai Đảng, hai nước và nhân dân hai nước, cần phải hết sức được giữ gìn. Đảng, Chính phủ và nhân dân Việt Nam trước sau như một hết sức coi trọng quan hệ láng giềng hữu nghị và hợp tác toàn diện với Đảng, Chính phủ và nhân dân Trung Quốc, coi đây là ưu tiên hàng đầu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam. Đại sứ cho rằng để quan hệ hai nước tiếp tục phát triển ổn định, cần phải có nỗ lực chung của cả hai bên trên cơ sở nhận thức chung giữa lãnh đạo cấp cao hai nước về xây dựng quan hệ đối tác hợp tác phát triển toàn diện Việt Nam - Trung Quốc; nâng cao lòng tin lẫn nhau về chính trị; tìm hướng tiếp cận mới để giải quyết những bất đồng tồn tại cũng như mới nảy sinh trong quan hệ hai nước… Đại sứ nhấn mạnh: Quan hệ hai nước tuy tồn tại những bất đồng do lịch sử để lại như vấn đề biển Đông nhưng đó không phải là tất cả trong quan hệ Việt-Trung. Kết quả và những kinh nghiệm quý báu trong việc phân định vịnh Bắc Bộ và biên giới trên bộ sẽ là tiền đề quan trọng để hai bên tiếp tục bàn bạc, giải quyết vấn đề biển Đông.
Trước đó, trả lời TTXVN nhân dịp nhận nhiệm vụ công tác tại Việt Nam, Đại sứ Đặc mệnh toàn quyền CHND Trung Hoa Khổng Huyền Hựu cho biết với phương châm 16 chữ “Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai”, quan hệ Việt-Trung đã phát triển một cách toàn diện và sâu rộng.
Đại sứ Khổng Huyền Hựu nhìn nhận: “Giữa Việt Nam và Trung Quốc vẫn tồn tại vấn đề bất đồng trên biển”. Ông cho rằng để giải quyết bất đồng, hai bên cần phải xuất phát từ đại cục, thông qua hiệp thương hữu nghị để tìm ra giải pháp mà hai bên đều có thể chấp nhận được. Đại sứ nhấn mạnh những nhận thức chung quan trọng của lãnh đạo hai nước có ý nghĩa chỉ đạo rất quan trọng để giải quyết những tranh chấp, bất đồng đang tồn tại giữa hai nước, có lợi cho sự ổn định của hai nước và cho hòa bình, ổn định và phát triển của khu vực. Do đó, hai bên đã thành lập cơ chế bàn bạc cấp Chính phủ và cấp chuyên gia giải quyết vấn đề trên biển. Hiện nay hai bên đang tiến hành thương lượng về “Thỏa thuận các nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển” và đã có những tiến triển tích cực.
Cũng theo Đại sứ Khổng Huyền Hựu, việc xử lý một cách thỏa đáng bất đồng giữa hai nước sẽ củng cố thêm tình hữu nghị Việt-Trung, tăng cường hợp tác cùng có lợi, phù hợp với lợi ích căn bản của hai nước và nhân dân hai nước, cũng như có lợi cho hòa bình, ổn định và phồn vinh ở khu vực. Hai bên cần giải quyết một cách thỏa đáng những vấn đề do lịch sử để lại để bảo đảm cho quan hệ hai nước phát triển lành mạnh.
theo PLO (http://phapluattp.vn/20110904115632109p0c1013/viet-nam-trung-quoc-tim-huong-tiep-can-moi-de-giai-quyet-bat-dong.htm)

scorpion_king84
06-09-2011, 04:50 PM
Quá trình đàm phán phân định biển và hợp tác nghề cá trong Vịnh Bắc bộ

Baonghean) - Vịnh Bắc bộ là một trong những vịnh lớn ở Đông Nam Á và thế giới, diện tích khoảng 12,25 ngàn km2, chiều ngang nơi rộng nhất là 310 km. Vịnh do bờ biển của 2 nước bao bọc gồm bờ biển Đông Bắc Việt Nam và bờ biển phía Nam tỉnh Quảng Tây, bán đảo Lôi Châu và đảo Hải Nam của Trung Quốc. Vịnh có 2 cửa là eo biển Quỳnh Châu bề rộng 12 hải lý và cửa chính của Vịnh từ đảo Cồn Cỏ (Việt Nam) tới mũi Oanh Ca (đảo Hải Nam). Chiều dài bờ biển phía Việt Nam khoảng 763 km, phía Trung Quốc khoảng 695 km, phần Vịnh phía Việt Nam có khoảng 2.300 đảo, đá ven bờ, đặc biệt có đảo Bạch Long Vĩ nằm cách đất liền Việt Nam khoảng 110 km, cách đảo Hải Nam khoảng 130 km.

Với đặc điểm cấu tạo như trên, vịnh là một vùng biển tranh chấp khi Công ước 1982 cho phép quốc gia ven bờ vịnh mở rộng vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý và thềm lục địa. Vịnh cũng đồng thời là biển nửa kín, tại đó Việt Nam và Trung Quốc, các quốc gia là thành viên Công ước có nghĩa vụ hợp tác với nhau. Với tiềm năng lớn về tài nguyên, nhất là hải sản và dầu khí, Vịnh Bắc bộ có vị trí chiến lược quan trọng đối với Việt Nam và Trung Quốc cả về kinh tế và quốc phòng.

Năm 1974, các cuộc đàm phán phân định Vịnh Bắc bộ bắt đầu và năm 1977-1978 nhưng không đi đến kết quả vì lập trường 2 bên cách xa nhau. Việt Nam đề nghị kéo dài đường kinh tuyến 108o03'13''E đã được quy định trong Công ước hoạch định biên giới Pháp - Thanh năm 1887 làm đường biên giới biển trong vịnh, chế độ pháp lý theo chế độ nội thuỷ. Phía Trung Quốc yêu cầu coi Vịnh Bắc bộ là vịnh chung của 2 nước và 2 bên cần đàm phán giải quyết hoạch định biên giới biển giữa 2 nước trong Vịnh.

Sau khi bình thường hoá quan hệ vào năm 1991, ngày 19/10/1993 hai nước ký "Thoả thuận về những nguyên tắc cơ bản giải quyết các vấn đề biên giới lãnh thổ giữa Việt Nam và Trung Quốc" trong đó quy định: 2 bên sẽ áp dụng luật quốc tế và tham khảo thực tiễn quốc tế theo nguyên tắc công bằng và tính đến mọi hoàn cảnh hữu quan trong vịnh để đi đến một giải pháp công bằng. Việt Nam đề nghị lấy Công ước 1982 làm cơ sở pháp lý phân định nhưng phải tới năm 1996 khi 2 nước là thành viên chính thức Công ước 1982 thì Công ước mới trở thành cơ sở pháp lý chung để giải quyết các vấn đề liên quan đến vịnh Bắc bộ.

Trong 10 năm (1991-2000), 2 bên đã tiến hành đàm phán 3 vòng cấp Chính phủ, 3 cuộc gặp không chính thức cấp Trưởng đoàn đàm phán cấp Chính phủ, 18 vòng cấp chuyên viên, 9 vòng họp không chính thức, 10 vòng họp tổ chuyên gia... cuối cùng đã xác định phạm vi phân định Vịnh Bắc bộ mới chính thức được 2 bên ký kết, theo đó Việt Nam có phần diện tích lớn hơn Trung Quốc khoảng 8.205 km2 (tỷ lệ Việt Nam 53,23/Trung Quốc 46,77). Cùng với Hiệp định phân định Vịnh Bắc bộ, 2 bên đã ký kết Hiệp định hợp tác Nghề cá Việt - Trung vào ngày 25/12/2000, sau khi hoàn tất thủ tục trao đổi công hàm phê chuẩn chính thức có hiệu lực từ ngày 30/6/2004
http://baonghean.vn/news_detail.asp?newsid=76767&CatID=90

scorpion_king84
06-09-2011, 04:57 PM
Vũ Thanh Quỳnh, SN 1987, một trong 112 thủ khoa ĐH ở Hà Nội, vừa được tuyên dương, đang nung nấu kế hoạch ra Trường Sa trồng rau xanh cho chiến sĩ.
http://nld.vcmedia.vn/Images/Uploaded/Share/2011/08/23/thukhoa.jpg
Vũ Thanh Quỳnh mong muốn được ra Trường Sa trồng rau xanh cho lính đảo

Quỳnh vừa tốt nghiệp xuất sắc khoa Nông học, Trường ĐH Nông nghiệp Hà Nội với đề tài nghiên cứu phương pháp trồng rau bằng dung dịch thủy sinh tuần hoàn có thể áp dụng ở Trường Sa, trong điều kiện thiếu đất, thiếu nước, khí hậu khắc nghiệt.

Từng tham dự cuộc thi tìm hiểu và viết thư cho chiến sỹ Trường Sa, Quỳnh thấu hiểu cuộc sống khó khăn của lính đảo, đặc biệt là những bữa cơm thiếu rau xanh. Từ đó, nữ sinh nông học quê gốc Hải Dương luôn ấp ủ kế hoạch sẽ nghiên cứu phương pháp trồng rau thích hợp với khí hậu khắc nghiệt trên đảo. Sau nhiều tháng mày mò nghiên cứu, Quỳnh và nhóm bạn mua ống nhựa, dung dịch, các vật tư thiết bị về trồng thử nghiệm và đã thành công.

Quỳnh cho biết rau trồng theo phương pháp thủy canh tuần hoàn này được nuôi trong nhà kính, nhà lưới, nên rất ít khi xuất hiện sâu bệnh và có thể phun thuốc lên tường nhà để trừ mầm bệnh ngay từ đầu. Cũng theo thử nghiệm của Quỳnh, rau được trồng bằng hệ thống này phát triển tốt, rút ngắn được quá trình sinh trưởng từ 5 - 10 ngày.

Trong quá trình nghiên cứu, Quỳnh và nhóm bạn cũng thử nghiệm các loại dung dịch thủy sinh khác nhau. Một bên là các hóa chất vô cơ hòa theo tỉ lệ riêng, một bên là các dung dịch hữu cơ làm từ các sản phẩm thừa như lòng heo, ruột, đầu cá… “Dung dịch thủy sinh hữu cơ do thầy giáo mình nghiên cứu, sáng tạo, đã thử nghiệm thành công ở thủy canh tĩnh (trồng rau trên hộp xốp), nên hoàn toàn có thể sử dụng cho hệ thống thủy canh tuần hoàn”, Quỳnh nói.

Quỳnh đang mơ ước trong tương lai sẽ mở công ty cung ứng tất cả vật tư, thiết bị cho mô hình sản xuất rau xanh theo phương pháp thủy canh tuần hoàn. Hơn nữa, khi có công ty cung ứng, Quỳnh có điều kiện ra Trường Sa để trực tiếp trồng rau cho các chiến sỹ, sau đó chuyển giao công nghệ.

Bố mất khi vừa bước chân vào ĐH nên vừa tốt nghiệp, Quỳnh đã là trụ cột trong gia đình. Hiện Quỳnh làm việc hợp đồng cho chương trình liên kết phát triển nông nghiệp giữa Nhật Bản, Việt Nam và Mozambique với đồng lương hạn hẹp để lo cho mẹ già và em gái (đang học lớp 12).

Cũng vì sự khó khăn này, Quỳnh dự định sẽ tạm gác việc học cao lên như nhiều thủ khoa khác để lo cho gia đình. Tuy nhiên, Quỳnh vẫn hy vọng, sau chương trình tuyên dương thủ khoa, sẽ tìm được một việc làm đúng chuyên ngành, có thu nhập ổn định để tiếp tục nghiên cứu sáng tạo, hướng về Trường Sa.


Theo Trường Phong (Tiền Phong)


http://nld.com.vn/20110823094534281p0c1017/nu-thu-khoa-muon-trong-rau-o-truong-sa.htm

longtt88
08-09-2011, 03:28 PM
Sóng, gió và hơi mặn quanh năm tưởng như không có loài thực vật nào có thể tồn tại. Nhưng với ý chí và nghị lực, những cán bộ, chiến sĩ Đoàn Trường Sa (Vùng D Hải quân) đã có nhiều sáng kiến đưa các loại vật nuôi, cây trồng từ đất liền ra đảo… Những nỗ lực của họ đã tạo ra nguồn thực phẩm tại chỗ dồi dào, góp phần bảo đảm nhu cầu lương thực thường xuyên của bộ đội.

Rau “treo”

Sau những ngày lênh đênh trên biển, “lắc lư” theo nhịp sóng cấp 7, cấp 8, nhưng khi nhìn thấy đảo Song Tử Tây, dường như sự mệt mỏi tan biến mất bởi trước mắt chúng tôi là hòn đảo được phủ màu xanh rất thơ mộng. Bước chân lên đảo, chúng tôi không khỏi ngỡ ngàng trước vẻ đẹp của các loài cây phong ba, bão táp… và càng khâm phục hơn vì những sản phẩm tăng gia của bộ đội Hải quân được “quy hoạch” gieo trồng rất công phu ở mọi vị trí có thể. Ấn tượng nhất là những cây rau muống, mồng tơi, rau thơm…được trồng trong chậu, hộp xốp mập mạp, xanh mướt treo bên hiên nhà ở của bộ đội. Trên đường đến khu vực tăng gia tập trung, Thượng tá Hồ Quốc Ánh, Chính trị viên Đảo Song Tử Tây, phấn khởi giới thiệu: “Cơ bản các loại rau ở đất liền đã được đưa ra trồng ở đây. Sự phát triển đa dạng và chất lượng của mặt hàng được coi là “xa xỉ” này đã góp phần nâng cao chất lượng đời sống bộ đội”.



http://image.qdnd.vn/Upload//phucthang/2011/9/7/07092011tcq13110652937.jpg


Nhờ có nhiều biện pháp trong ươm trồng, chăm sóc nên cán bộ, chiến sĩ đảo Sơn Ca luôn bảo đảm tự túc nhu cầu rau xanh quanh năm.



Bên giàn bí xanh trĩu quả, Thiếu úy QNCN Lê Văn Chinh, nhân viên hậu cần đảo Song Tử Tây đang cùng mấy anh em trong đơn vị chằng buộc để quả khỏi xệ xuống đất. “Ở đảo Song Tử Tây, diện tích đất rộng nên việc trồng cấy các loại rau, củ, quả thuận lợi hơn các đảo khác. Ngoài việc tích cực trồng các loại rau ngắn ngày thì đơn vị còn trồng bí xanh, bí ngô. Đây là loại rau chiến lược nhằm dự trữ để lúc giáp hạt sử dụng. Do đó, các cụm chiến đấu đều có từ 2 đến 3 giàn bầu, bí”, Lê Văn Chinh chia sẻ.

Đảo Sơn Ca không được rộng như Song Tử Tây, nhưng với tinh thần tự cung tự cấp, cán bộ, chiến sĩ đảo Sơn Ca đã phát huy tốt lợi thế tự nhiên để tổ chức tăng gia, sản xuất. Trung tá Lê Đình Hải, Đảo trưởng đảo Sơn Ca cho biết: “Xa đất liền, nên rau xanh đơn vị phải tự túc. Ý thức được tầm quan trọng của món xanh không thể thiếu trong mỗi bữa ăn, cán bộ, chiến sĩ đơn vị đã chủ động mang đất mùn từ đất liền ra, tận dụng tối đa diện tích để làm mới và nâng cấp hệ thống vườn, chậu, hộp rau”.

Diện tích đất hẹp, khô cằn, điều kiện thời tiết khắc nghiệt khiến cho việc gieo trồng các loại rau, củ quả của bộ đội gặp rất nhiều khó khăn. Song, những người lính đảo đã có nhiều sáng kiến ươm trồng, che chắn để các loại rau, củ, quả quanh năm vẫn xanh tốt. Theo anh Hải, trước khi ươm trồng cán bộ, chiến sĩ đơn vị đã phải tham khảo nhiều sách báo, tài liệu để tìm hiểu về đặc điểm sống từng loại rau để gieo trồng cho phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng ở đảo mình. Đơn cử như: Rau muống, bí xanh, đu đủ…thì trồng tập trung ở ngoài vườn; rau mầm, mồng tơi, rau thơm…thì trồng ở vị trí tiện di chuyển. Cùng với việc tận dụng nước đã qua sử dụng để tưới, việc che chắn cho rau luôn phải tuân thủ nghiêm túc. Chỉ một lần quên không che đậy hoặc đưa rau vào chỗ kín thì cả vườn rau, chậu rau sẽ bị mưa, gió biển táp hỏng.

Ở phía Bắc quần đảo Trường Sa, các đảo chìm (Đá Nam, Đá Thị) là những đảo gặp khó khăn nhất vì diện tích nổi rất khiêm tốn. Trong điều kiện không gian hẹp, sóng, gió và hơi mặn quanh năm tưởng chừng như không có loài thực vật nào có thể tồn tại được. Song với những người lính đảo, sự khắc nghiệt của thời tiết dường như chỉ là những “chướng ngại vật” để họ thử sức và khám phá khả năng của mình. Trên nóc bếp, bên hiên nhà, trong những hộp xốp và bất cứ nơi nào có thể, rau xanh với nhiều chủng loại được cán bộ, chiến sĩ ươm trồng cẩn thận. Những luống rau muống, rau cải, rau húng, lá mơ…xanh mơn mởn được che chắn cẩn thận bằng những miếng gỗ ép, tận dụng từ các thùng hàng và vỏ bao tải. Thượng úy Kiều Việt Phong, Đảo trưởng đảo Đá Nam, cho biết: “Là đơn vị độc lập, nếu không chủ động tăng gia sản xuất thì sẽ không đáp ứng được nhu cầu rau xanh cho bộ đội. Thiếu thịt, cá còn chịu được nhưng thiếu rau thì bữa cơm kém ngon. Chính vì thế từ chỉ huy đảo đến từng chiến sĩ luôn tích cực, hăng hái tăng gia sản xuất để cải thiện đời sống”.

Mặc dù mới ra đảo làm nhiệm được nửa năm nhưng Trung sĩ Bùi Thanh Điền tỏ ra rất có kinh nghiệm về việc ươm trồng, chăm sóc các loại rau xanh trên đảo. Chàng trai quê Đồng Nai, tâm sự: “Ở nhà em chưa trồng rau bao giờ. Khi ra đây được các anh cán bộ, đồng đội đi trước hướng dẫn, dần dần em đã biết cách chăm sóc, che chắn cho rau theo từng mùa. Ở ngoài này trồng được cây rau đến ngày thu hoạch vất vả lắm. Chỉ cần lơ là, không kịp che đậy là cả vườn rau bị hỏng vì hơi mặn của nước biển. Vất vả đấy, nhưng ai cũng cảm thấy vui và cảm giác mình như đang ở đất liền vì sau những giờ huấn luyện anh em lại cùng vun trồng, ngắm những cây rau, chăm sóc đàn gia súc, gia cầm”.

Bò ở Song Tử Tây

Hiện nay hầu hết các đảo trên quần đảo Trường Sa đã nuôi và phát triển tốt đàn gia súc, gia cầm. Không phụ công người chăm sóc, đàn lợn, , gà, ngan, vịt con nào con ấy lông mượt, lớn nhanh như thổi. Ngay như ở đảo Đá Thị thường xuyên có hơn 40 con gà, 30 con vịt đẻ trứng và hai con lợn trên 80 ki-lô-gam. Là đảo chìm, bốn bề là nước nên việc làm chuồng cho ngan, vịt, gà, lợn cũng không phải cầu kỳ. Để nuôi các loại gia súc, gia cầm trên đảo ngoài cơm thừa canh cận thì nguồn thực phẩm chủ yếu vẫn là cá đánh bắt từ biển-Đại úy Bùi Phi Long chia sẻ.



http://image.qdnd.vn/Upload//phucthang/2011/9/7/07092011tcq12110647859.jpg


Rau xanh ở đảo Đá Thị.



Hầu hết các loại gia súc, gia cầm trên đất liền đã được cán bộ, chiến sĩ đem ra nuôi và mang lại hiệu quả tốt. Tuy nhiên, do điều kiện khí hậu, nguồn thực phẩm nên không phải loại nào cũng có thể nuôi được. Hiện nay, chỉ có đảo Trường Sa Lớn và Song Tử Tây là nuôi được bò. Ở đảo Song Tử Tây hiện có hơn 10 con bò và bê. Thiếu úy QNCN Lê Văn Chinh, nhân viên hậu cần đảo Song Tử Tây, kiêm chăm sóc đàn bò cho hay: “Ngày đầu mang ra đây chỉ có một cặp. Nhờ có sự chăm sóc khoa học nên đàn bò đã phát triển nhanh và sinh sản tốt. Mỗi năm đàn bò tăng từ 2 đến 3 con”.

“Bò phát triển tốt sao đơn vị không nuôi nhiều hơn? Tôi hỏi. Anh Chinh giải thích: “Diện tích đảo hẹp, nuôi nhiều thì thức ăn sẽ không đủ. Để bảo đảm cân bằng sinh thái và cải thiện bữa ăn bộ đội, mỗi dịp lễ, Tết đơn vị lại tổ chức giết thịt 2-3 con. Việc duy trì và phát triển đàn bò, đàn lợn trên đảo không chỉ cung cấp nguồn thực phẩm bổ dưỡng mà còn giúp cho đơn vị có lượng phân dồi dào để cải tạo đất, chăm bón cho rau”.

“Lộc” của biển

Dù đã được nghe đồng đội kể rất nhiều về chuyện câu cá ở Trường Sa, nhưng đến khi tự tay mắc mồi, thả câu và “kéo co” với những chú cá giữa biển khơi mênh mông thì cảm giác thú vị tăng gấp bội.

Chuyến công tác của chúng tôi ở Trường Sa vào đúng dịp biển động liên tục, sóng to gió lớn. Sau những ngày say sóng, ai nấy đều mệt mỏi, nhưng mỗi khi tàu neo đậu mọi người lại ùa ra lan can, boong tàu hướng mắt xuống mặt nước, háo hức đợi chờ và hy vọng ở những tay câu. Sóng vỗ vào mạn tàu “ì oạp”, dây cước đang lay động theo nhịp nước cuồn cuộn bỗng căng đét, ngược dòng. Không để mất thời cơ nhanh như cắt, Đại úy QNCN Nguyễn Đình Huyên, thủy thủ tàu HQ-996 thuộc Hải đội 411, Vùng D Hải quân giật mạnh dây cước. Bị mắc câu, chú cá dưới biển ra sức vùng vẫy, khiến dây cước căng, vun vút rẽ nước, anh Huyên bình thản nới cước chờ cho cá mệt mới dùng giẻ để lót khỏi bị đứt tay khi kéo dây. Sau một hồi vùng vẫy, cuối cùng chú cá mú nặng trên 10kg cũng phải khuất phục trước chiến thuật “căng khi cá mệt, chùng khi cá cương” của người thủy thủ có thâm niên trên 20 năm gắn bó với biển khơi. Theo anh Huyên, trên biển có rất nhiều loại cá. Để câu cá thì phải biết được đặc điểm cư trú, tâm lý ăn mồi từng loại. Chọn thời điểm câu và vị trí cũng rất quan trọng, vì cá thường tập trung hàng đàn ăn theo luồng khi thủy triều lên xuống và những nơi có san hô…

Trong suốt hành trình hơn một tháng trên biển, chúng tôi còn được chứng kiến rất nhiều những pha câu cá rất “nghệ” của cán bộ, chiến sĩ Hải quân. Mỗi lần cá cắn câu dù to hay nhỏ, mọi người cùng reo hò, phấn khởi vì sự hy vọng và chờ đợi thật ý nghĩa và thú vị.

Thiếu tá Lương Quốc Anh, Đảo phó Tham mưu trưởng đảo Sinh Tồn Đông, chia sẻ: “Có những lần anh em ngâm câu, buộc đầu dây vào gốc cột điện hoặc vào xô vừa xem ti vi cũng câu được cá ngừ, cá mú, cá mập nặng trên một tạ. Những ngày biển lặng, đơn vị tổ chức đánh lưới. Quá trình đánh bắt, đơn vị cắt cử lực lượng quan sát, lực lượng cứu hộ… cụ thể để khi có tình huống ngoài ý muốn kịp thời xử lý. Có lần quây lưới ven đảo được hơn 3 tạ cá bò sừng. Đánh được cá, đơn cả đơn vị tổ chức liên hoan, số còn lại ướp lạnh hoặc phơi khô để ăn dần. Mỗi lần như vậy giúp cho tình đồng đội thêm gắn bó hơn và anh em rèn luyện đức tính kiên trì, nhẫn nại…”.

Được “thử trí và sức” cũng như được thưởng thức “lộc” của biển-vị thơm ngon của cá bò sừng, cá mú đỏ, cá ngừ đại dương… khiến ai đã từng ra nơi đây dù chỉ một lần càng thêm nhớ và yêu biển, yêu Trường Sa hơn-vùng biển, đảo chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc.

Nhờ tích cực chủ động tăng gia sản xuất nên đời sống của bộ đội đảo ngày càng được nâng lên. Đây chính là yếu tố quan trọng góp phần để cán bộ, chiến sĩ yên tâm, gắn bó với đảo và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ”.

Nguồn: QĐND Online (http://www.qdnd.vn/qdndsite/vi-VN/61/43/56/57/57/159749/Default.aspx)

anh2
10-09-2011, 12:27 PM
Ông David Shear đã có buổi họp báo đầu tiên chiều 9/9 ở Hà Nội trên cương vị Đại sứ Mỹ tại Việt Nam.

Xin ông cho biết quan điểm về vụ việc một tàu của Trung Quốc gửi tín hiệu cảnh báo một tàu của Ấn Độ?
Tôi muốn nhắc lại rõ quan điểm của Bộ Ngoại giao Mỹ. Chúng tôi ủng hộ nỗ lực cũng như quá trình thực hiện chính sách ngoại giao hợp tác của tất cả những nước tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông để giải quyết những tranh chấp mà không có sự cưỡng ép bắt buộc. Chúng tôi phản đối việc sử dụng, đe dọa sử dụng vũ lực của bất cứ nước nào tuyên bố chủ quyền để thúc đẩy tuyên bố chủ quyền của mình.
Mỹ chia sẻ một số lợi ích quốc gia với cộng đồng quốc tế ở khu vực Biển Đông. Bất cứ sự cố nào gây ra cho an ninh hàng hải đáng kể, trong đó có quyền tự do đi lại, việc tôn trọng luật pháp quốc tế, việc phát triển kinh tế, thượng mại không bị cản trở ở khu vực Biển Đông.
Mỹ ủng hộ tuyên bố của ASEAN và Trung Quốc về cách ứng xử của các bên liên quan trên Biển Đông (DOC), khuyến khích các bên đạt được bộ quy tắc ứng xử đầy đủ. Hoa Kỳ không có quan điểm về những lời tuyên bố chủ quyền ở những vùng liên quan đến Biển Đông. Tuy nhiên, chúng tôi kêu gọi tất cả các bên có tuyên bố chủ quyền tuân thủ luật pháp quốc tế, những điều khoản quy định trong Công ước Luật Biển.

Theo VNN (http://m.vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/38863/my-uu-tien-xay-dung-doi-tac-chien-luoc-voi-viet-nam.html)

Big*Zero
10-09-2011, 12:32 PM
Mỗi tin nhắn - một viên đá xây Trường Sa
TT - Từ hôm nay, chỉ cần một thao tác đơn giản, ở bất cứ nơi đâu bạn đọc cũng có thể dễ dàng góp sức, góp phần xây Trường Sa vững mạnh hơn.
Nói về chương trình này ông Lê Thế Chữ - phó tổng biên tập báo Tuổi Trẻ - chia sẻ: “Khi chương trình Góp đá xây Trường Sa triển khai được nửa tháng, rất nhiều email của bạn đọc gửi về tha thiết được chia sẻ, góp sức, gửi chút tấm lòng đến chiến sĩ, nhân dân Trường Sa qua tin nhắn do ở quá xa không thể trực tiếp đến đóng góp hoặc điều kiện kinh tế không thể góp nhiều.


http://images1.tuoitre.vn/tianyon/ImageView.aspx?ThumbnailID=518642


Để đóng góp, bạn đọc soạn tin nhắn theo cú pháp: TRUONGSA gửi 1408. Mỗi tin nhắn gửi đến tổng đài, bạn đọc đã đóng góp 16.000 đồng vào chương trình “Góp đá xây Trường Sa”.








Xem video clip


Bạn đọc muốn Tuổi Trẻ phải có một tổng đài tin nhắn. Đó là sự thôi thúc rất đáng trân trọng từ bạn đọc. Từ hôm nay, chỉ cần một thao tác đơn giản, ở bất cứ nơi đâu bạn đọc cũng có thể dễ dàng góp sức, góp phần xây Trường Sa vững mạnh hơn. Chúng tôi muốn nhấn mạnh thông điệp của chương trình này: Mỗi tin nhắn - một viên đá xây Trường Sa. Hãy kết nối những vòng tay vững chắc hơn nữa, dài rộng hơn nữa. Với tình cảm cùng sự đồng lòng chung sức của bạn đọc và nhân dân cả nước, chúng ta tin rằng Trường Sa, biển đảo của VN ngày càng vững mạnh hơn, giàu đẹp hơn”.
Đồng tình với ông Chữ, ông Trần Duy Phương - phó tổng giám đốc VTC - nói: “Ý nghĩa của chương trình Góp đá xây Trường Sa thật sự sâu sắc, VTC đã tham gia tổ chức nhiều sự kiện truyền thông - xã hội, tuy nhiên đây là chương trình khá đặc biệt, giàu ý nghĩa và hợp với thời điểm thời sự”.
Đồng hành từ đầu chương trình “Góp đá xây Trường Sa”, Bí thư Trung ương Đoàn Nguyễn Hoàng Hiệp cho rằng: “Góp đá xây Trường Sa đã tác động mạnh mẽ đến mọi tầng lớp nhân dân, qua đó nâng cao ý thức về giữ gìn biển đảo quê hương, ý thức giữ gìn chủ quyền dân tộc của mỗi công dân VN”.
Ông Hiệp cho hay tại hội nghị tổng kết 10 năm công tác giáo dục quốc phòng an ninh quốc gia diễn ra ngày 8-9 do Phó thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân chủ trì, các đại biểu dự hội nghị đánh giá rất cao chương trình “Góp đá xây Trường Sa” của báo Tuổi Trẻ - cho rằng đây là một mô hình hay, một cách thức giáo dục hiệu quả cần phải nhân rộng. Ông Hiệp bày tỏ báo Tuổi Trẻ có thể mở rộng, nâng chương trình này lên tầm vóc quốc gia.
Riêng về chiến dịch nhắn tin “góp đá”, ông Hiệp cho rằng đây là một sáng kiến hay đáng ghi nhận nữa. “Trung ương Đoàn mong muốn thông qua chương trình này, mỗi đoàn viên, thanh niên có một tin nhắn thể hiện tình yêu, trách nhiệm của tuổi trẻ với đất nước, thể hiện vai trò xung kích của các bạn trẻ trong công cuộc bảo vệ xây dựng Tổ quốc nói chung và chương trình vì biển đảo quê hương nói riêng” - ông Hiệp nói.



Gửi gắm từ bạn đọc
Ngay từ số báo đầu tiên Tuổi Trẻ phát động chương trình “Góp đá xây Trường Sa” đã có nhiều bạn đọc đề nghị “góp đá” qua tin nhắn. Bạn đọc Trần Quang Lục viết: “Có thể chúng ta tổ chức một tin nhắn - một viên đá - vì biển đảo và Trường Sa thân yêu. Tôi nghĩ cuộc vận động này sẽ rất thành công vì dòng máu dân tộc Việt đã thấm biết bao chiến công lịch sử của cha ông, tổ tiên để lại trong huyết quản từng người trong công cuộc chống ngoại xâm và bảo vệ Tổ quốc”.
Một bạn đọc khác viết: “Tôi thấy ý tưởng một tin nhắn - một viên đá rất hay. Nó tạo điều kiện cho mọi người tham gia mà không cần phải đến tòa soạn hoặc các nơi quyên góp”. Bạn đọc Lê Tấn Toàn bày tỏ: “Tôi tin rằng mỗi người dân VN cũng như bản thân tôi sẽ sẵn sàng đóng góp mặc dù là ít nhưng nhiều cây góp lại nên hòn núi cao”.




LÂM HOÀI - MY LĂNG

http://images1.tuoitre.vn/tianyon/ImageView.aspx?ThumbnailID=518643


Học sinh Trường THPT Lý Tự Trọng múa hát về Trường Sa yêu thương - Ảnh: Văn Kỳ


Công bố các công trình “Góp đá xây Trường Sa”
Tối nay 10-9 tại hội trường Vùng 4 Hải quân (Cam Ranh, Khánh Hòa), Cục Chính trị hải quân, Hội Liên hiệp thanh niên TP.HCM, báo Tuổi Trẻ cùng lữ đoàn Trường Sa phối hợp tổ chức lễ công bố các công trình Góp đá xây Trường Sa giai đoạn 1 và giao lưu “Thanh niên TP.HCM với chiến sĩ Trường Sa”. Tham dự chương trình đặc biệt có sự hiện diện của 50 người là đại diện các cá nhân, tập thể, tổ chức đoàn thể, tầng lớp nhân dân tham gia chương trình “Góp đá xây Trường Sa”.
Tại buổi lễ, báo Tuổi Trẻ và Bộ tư lệnh Quân chủng Hải quân sẽ công bố các công trình “Góp đá xây Trường Sa” (giai đoạn 1).
* Sáng 9-9, Trường THPT Lý Tự Trọng (TP Nha Trang, Khánh Hòa) đã tổ chức lễ phát động ngày thanh niên hưởng ứng chương trình “Góp đá xây Trường Sa”. Tại lễ phát động, học sinh nhà trường đã biểu diễn nhiều tiết mục văn nghệ về biển đảo quê hương. Tổng kết buổi lễ, tập thể giáo viên và học sinh trường đã quyên góp được 20 triệu đồng cho chương trình “Góp đá xây Trường Sa”. Tại buổi lễ, đại diện báo Tuổi Trẻ đã gắn huy hiệu “Góp đá xây Trường Sa” cho ban giám hiệu và ban chấp hành Đoàn Trường THPT Lý Tự Trọng.
* Ông Trần Đỗ Liêm - chủ tịch HĐQT Hợp tác xã Rạch Gầm (Tiền Giang), đại diện lãnh đạo, nhân viên, xã viên hợp tác xã - vừa trao gần 9 triệu đồng cho chương trình “Góp đá xây Trường Sa”. Ông Liêm cho biết đây là số tiền đóng góp đợt 1 của hợp tác xã. Hiện nay các bộ phận trực thuộc vẫn đang phát động tiếp tục đóng góp cho chương trình.
Riêng ông Liêm đóng góp một tháng lương hưu của mình (gần 3 triệu đồng) cho chương trình. “Ngay khi báo Tuổi Trẻ phát động cuộc vận động này, tất cả thành viên trong gia đình tôi đều thống nhất ai cũng đóng góp. Tôi dành hết một tháng lương, vợ tôi sẽ góp bằng tiền tiết kiệm đi chợ. Hai người con và những đứa cháu của tôi cũng đóng góp thấp nhất 500.000 đồng/người. Mỗi người góp một viên đá, tôi nghĩ Trường Sa sẽ lớn hơn, vững vàng hơn và gần gũi với đất liền hơn” - ông Liêm nói.

anh2
10-09-2011, 02:40 PM
Ngày 9.9, tại Hà Nội, T.Ư Hội LHTN VN họp báo công bố các hoạt động chào mừng 55 năm ngày truyền thống Hội LHTN Việt Nam.
Hội sẽ tổ chức nhiều hoạt động lớn như thi phóng sự truyền hình với chủ đề Thanh niên hành động vì an sinh xã hội; tổ chức trại huấn luyện Nguyễn Chí Thanh ở các khu vực; trao giải thưởng Sao Vàng đất Việt năm 2011, diễn đàn doanh nhân trẻ ASEAN mở rộng.
Cũng tại buổi họp báo, Hội LHTN VN công bố và phát động đề cử, bình chọn giải thưởng Khi Tổ quốc cần. Giải thưởng nhằm tôn vinh các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc, cống hiến vì cộng đồng, xây dựng bảo vệ Tổ quốc thông qua hành động cụ thể trong lao động, công tác, học tập và công trình thanh niên. Dự kiến lễ trao giải diễn ra ngày 14.10 tại Hà Nội.
* Chiều cùng ngày, T.Ư Đoàn và Công ty thông tin di động MobiFone đã ký biên bản hợp tác, đồng hành cùng thanh niên VN giai đoạn 2011-2014.

theo TNO

longtt88
10-09-2011, 08:30 PM
Đằng sau những nét vẽ vừa mềm mại vừa đanh thép là thông điệp mà các họa sĩ muốn gửi gắm: Hoàng Sa - Trường Sa mãi mãi thuộc chủ quyền Việt Nam!



http://quocphong.baodatviet.vn/Uploaded_CDCA/thuctap_qpcn/20110909/qpcn_tranhcodong-1.jpg


Người lính Hải quân giữa trùng khơi sóng.


http://quocphong.baodatviet.vn/Uploaded_CDCA/thuctap_qpcn/20110909/qpcn_tranhcodong-2.jpg



Những người lính Hải quân dưới bóng cờ Tổ quốc.


http://quocphong.baodatviet.vn/Uploaded_CDCA/thuctap_qpcn/20110909/qpcn_tranhcodong-3.jpg


Người công nhân dầu khí và những giàn khoan dầu sừng sững như những cột mốc chủ quyền giữa biển khơi.


http://quocphong.baodatviet.vn/Uploaded_CDCA/thuctap_qpcn/20110909/qpcn_tranhcodong-4.jpg



Bức tranh cổ động dựa trên câu chuyện về Hải đội Hoàng Sa xưa kia.



http://quocphong.baodatviet.vn/Uploaded_CDCA/thuctap_qpcn/20110909/qpcn_tranhcodong-6.jpg



Cánh chim bồ câu và lá cờ Tổ quốc tung bay trên mặt biển quê hương.


http://quocphong.baodatviet.vn/Uploaded_CDCA/thuctap_qpcn/20110909/qpcn_tranhcodong-7.jpg



Dân và quân cùng