PDA

View Full Version : Chiến dịch CQ88 diễn ra như thế nào?



sanleo
17-07-2008, 04:49 AM
Chiến dịch chủ quyền 88 (CQ88) của hải quân Việt Nam được tiến hành đầu năm 1988 để nhanh chóng cắm mốc chủ quyền, chiếm giữ các đảo ở Trường Sa trước ý đồ xâm lấn của Trung Quốc. Chiến dịch CQ88 đã diễn ra cụ thể như thế nào? Có phải trước thời điểm trận hải chiến 1988?

Ngoài trận hải chiến 1988 này, hình như còn có các vụ đụng độ khác, chẳng hạn như đảo An Bang bị bao vây theo báo Phú Yên http://www.baophuyen.com.vn/DesktopModules/TinTuc/PrintNews.aspx?iId=26213

...Nghe các đồng chí kể lại, sau trận chiến đấu ngày 14/3/1988, bộ đội ta đã có mặt trên đảo An Bang trong điều kiện hoàn toàn khắc nghiệt, lợi dụng tình hình đó, phía họ đã cho nhiều tàu chiến đến bao vây đảo nhiều ngày, nhằm gây áp lực buộc ta phải rút quân ra khỏi đảo. Thế nhưng với ý chí kiên cường và với công tác dự báo, chuẩn bị tốt, Bộ đội ta trên đảo An Bang đã chiến thắng. Sau 11 ngày bao vây, phía họ không thấy bất cứ tín hiệu nào từ phía đảo nên đành lủi thủi rút lui. Tệ thật. Từ bấy đến giờ An Bang mỗi ngày một lớn lên cả về lượng và tất nhiên là cả về chất và phía bên kia cũng không một lần nào bén mảng tới nữa...
, và vụ giành lại đảo Phan Vinh theo báo Quảng Nam [/size][size=7]http://baoquangnam.com.vn/index.php?option=com_content&task=view&id=5797&Itemid=129 (http://baoquangnam.com.vn/index.php?option=com_content&task=view&id=5797&Itemid=129)
...Trong hệ thống quần đảo Trường Sa, Phan Vinh là hòn đảo duy nhất lấy tên người đặt địa danh. Đó là Trung úy Nguyễn Phan Vinh, người con của đất Điện Bàn anh hùng và là thuyền trưởng của nhiều con tàu không số cứu quốc năm nào. Đảo Phan Vinh ngày xưa có tên Hòn Sập. Năm 1978, ta đã thần tốc cắm lá cờ đỏ sao vàng và giành lại pháo đài này từ tay của kẻ thù...[.

Xin giải đáp giúp

pleomax
17-07-2008, 02:33 PM
hồi bé (8 ,9 tuổi gì đấy) em có nghe ông ngoại kể lại có một đảo nào đó (bây chừ không nhớ rõ lâu lắm rồi ) sau khi quân TQ đánh quân vnch xong bên ta giả làm quân vnch chiếm lại sau đó lại cho quân ta ra " chiếm lại " ??? em tìm mãi mà không thấy thông tin nào như thế có bác nào biết không ??

sanleo
18-07-2008, 01:20 AM
hồi bé (8 ,9 tuổi gì đấy) em có nghe ông ngoại kể lại có một đảo nào đó (bây chừ không nhớ rõ lâu lắm rồi ) sau khi quân TQ đánh quân vnch xong bên ta giả làm quân vnch chiếm lại sau đó lại cho quân ta ra " chiếm lại " ??? em tìm mãi mà không thấy thông tin nào như thế có bác nào biết không ??

Ý tưởng dùng quân giả này rất hay. Khi nào mình có đủ lực lượng và Trung Quốc suy yếu (tết Công gô chăng???) sẽ giả làm quân Trung Quốc chiếm lại đảo Ba Đình từ tay Đài Loan để cho Trung Quốc và Đài Loan nã tên lửa vào nhau, rồi quân Trung Quốc giả sẽ giả vờ dùng đảo Ba Đình làm bàn đạp tiến về phía Đài Loan giải phóng thu hồi hòn đảo. Đài Loan chưa dám cứu đảo Ba Đình ngay mà phải phòng thủ chặt tại Đài Loan và nã tên lửa vào Trung Quốc. Trong lúc đó thì quân Việt Nam thật sẽ từ đảo Song Tử Tây ra chiếm đảo Ba Đình đang bỏ trống. (Việt Nam đâu dám đánh trực tiếp với quân Trung Quốc nên phải giả bộ như vậyhttp://www.hoangsa.org/diendan/images/smilies/icon_mrgreen.gif)
Quân Trung Quốc giả mà tôi vừa nói thực tế không tiến đến Đài Loan mà vòng ra phía Hoàng Sa, để tung tin giả bị Đài Loan đánh đuổi phải chạy xuống tăng cường cho Hoàng Sa. Cùng lúc đó, phải có một đội khác tung mệnh lệnh giả yêu cầu quân Trung Quốc ở Hoàng Sa phải nhanh chóng về ứng cứu đảo Hải Nam. Quân Trung Quốc đang ở Hoàng Sa nghe tin Đài Loan đánh chiếm mà chỉ nhìn thấy có một nhúm quân đến tiếp viện, rồi lại nghe lệnh phải về ứng cứu đảo Hải Nam thì sẽ tin là Đài Loan đang đánh thật mạnh, hốt hoảng rút về Tam Á. Lúc đó, các bác hải quân nhà mình từ Tiên Sa sẽ giả làm quân Đài Loan ra chiếm hết các đảo Hoàng Sa mà Trung Quốc đang rút. Trung Quốc đang muốn rút nhanh về Hải Nam thì đâu còn muốn giữ Hoàng Sa, lại thấy Đài Loan đang đánh thật đến tận Hoàng Sa thì phải chạy cho nhanh chứ còn gìhttp://www.hoangsa.org/diendan/images/smilies/icon_mrgreen.gif
Yêu cầu của kế hoạch này là phải giả như thật, chặn hết được các thông tin thật giữa Đài Loan và đảo Ba Đình, giữa Hải Nam và Hoàng Sa để thông tin giả của nhà mình không bị lộ. Ngoài ra Trung Quốc và Đài Loan phải nã tên lửa vào nhau thật thì mới có hy vọnghttp://www.hoangsa.org/diendan/images/smilies/icon_mrgreen.gif Khi mà hai bên đã nện cho nhau tơi bời, nhưng không bên nào được chết, chỉ ngắc ngoải thôi thì lực lượng còn lại của Trung Quốc ở Trường Sa phải rút về theo lệnh thật của Bắc Kinh. Ta đàng hoàng mang cờ đỏ sao vàng ra cắm đảo Gạc Ma, bãi Chữ Thập, Bãi Châu Viên... Hoàn thành giải phóng Hoàng Sa, Trường Sa từ Trung Quốc. Với Philippin thì chỉ "xin" lại 3 đảo lớn Thị Tứ, Loại Ta và Song Tử Đông thôi (vừa đàm phán, hoặc vừa giả làm quân Trung Quốc dọa đánh), các đảo nhỏ khác và các bãi Vành Khăn, bãi Cỏ Rong thì nhường cho Phillipin để thể hiện thiện chí. Với Malaysia thì phải nhanh chóng chiếm giữ các đảo, bãi chưa bị Mã chiếm, đảo nào đã bị Mã chiếm rồi thì cho Mã vậy, và tuyên bố bãi ngầm Lousiana thuộc về Brunei. Mình mà đánh hết tất cả thì dù có quân mạnh đến mấy cũng khó giữ nên tốt nhất cứ chia cho Mã, Phi, Bru vài đảo nhỏ để cùng đoàn kết chống Trung Quốc bành trướng là ổn.http://www.hoangsa.org/diendan/images/smilies/icon_e_wink.gif Kế hoạch quân giả này giống như Tào Tháo giả làm quân Viên Thiệu để đánh bại tướng Tưởng Kỳ của Viên Thiệu ý mà. Vấn đề là thời gian thôi, không biết bao giờ hải quân mình đủ mạnh mà đấu được với Trung Quốc đây.http://www.hoangsa.org/diendan/images/smilies/icon_question.gifhttp://www.hoangsa.org/diendan/images/smilies/icon_question.gifhttp://www.hoangsa.org/diendan/images/smilies/icon_question.gif
Đừng ném đá tôi nhá.http://www.hoangsa.org/diendan/images/smilies/icon_mrgreen.gif

Không biết chiến dịch Chủ Quyền 88 diễn ra như thế nào? Có thể áp dụng kinh nghiệm gì cho tương lai để giành lại Hoàng Sa - Trường Sa hay không

pleomax
18-07-2008, 02:12 PM
thật tình cờ và thật bất ngời là chiến dịch CQ88 có thể lặp lại trong năm năy không nhỉ năm nay là 2008 và thắng 8/8 tàu khai mạc olimpic và có thể đài loan nhân cơ hội này tuyên bố đọc lập liệu có CQ888 lần nữa không hẻ các bác ???? sao con số 88 đẹp thế tối nay phải phang con lô mới đựoc http://hoangsa.org/diendan/images/smilies/icon_mrgreen.gif

Cao Bồi
23-07-2008, 11:04 AM
Chắc khó thực hiện vì bây giờ bọn Khựa có vệ tinh cú vọ theo dõi ta từng bước. Với lại hình như luật chiến tranh không cho phép cải trang trong lúc đánh nhau như thế. Tôi nhớ câu chuyện 1 toán biệt kích Đức thâm nhập vào một làng thuộc lãnh thổ Liên Xô để làm một cuộc đột kích bất ngờ. Chúng cải trang thành lính đối phương nhưng bên trong vẫn phải mặc quân phục phát xít Đức để khi giao chiến là phải cởi bỏ quân phục đối phương ra. Tuy nhiên khi đang ẩn nấp thì có 1 em bé bị ngã xuống sông. Một người lính Đức đã cởi phăng quần áo để lao xuống cứu chính vì thế bị bại lộ và bị quân đối phương tấn công.

Speaker of Sao Hỏa
23-07-2008, 12:54 PM
Ko phải là quân Đức thâm nhập vào một ngôi làng Liên Xô mà là quân đức đóng giả quân Ba Lan ( đang "tỵ nạn" ở Anh), dùng tàu ngầm đổ bộ lên đất Anh để thâm nhập vào một ngôi làng Anh để ám sát thủ tướng Anh ( do một diễn viễn đóng thế đóng, trong khi thủ tướng thật đang sang Tê Hê Ran để gặp Tổng thống Liên Xô và Mẽo) - theo kế hoạch sẽ đi qua ngôi làng này ).

sanleo
24-07-2008, 07:36 AM
Các bác nào sành về lịch sử Hải quân cung cấp thông tin về CQ88 đi. Chẳng nhẽ không có tài liệu nào sao?
20 năm rồi thì chắc CQ88 không còn là tài liệu mật nữa nhẩyhttp://www.hoangsa.org/diendan/images/smilies/icon_question.gif

Speaker of Sao Hỏa
24-07-2008, 09:37 AM
Các bác nào sành về lịch sử Hải quân cung cấp thông tin về CQ88 đi. Chẳng nhẽ không có tài liệu nào sao?
20 năm rồi thì chắc CQ88 không còn là tài liệu mật nữa nhẩyhttp://www.hoangsa.org/diendan/images/smilies/icon_question.gif

Những thông tin về cái này, Chính phủ-quân đội VN đếch chịu công bố rõ ràng thì làm sao biết rõ được , mà công bố để làm gì, "mọi việc đã có đảng lo" rồi cơ mà, dân đen không cần (hoặc không có quyền ) biết . Báo chí đôi khi cũng có nói đến nhằm mục đích nêu gương chiến đấu hi sinh nhưng chỉ nói một cách rất mập mờ, không nêu rõ bối cảnh chiến đấu , đánh nhau với ai , thì làm có thể làm toát lên được cái tinh thần dũng cảm chiến đấu của các liệt sĩ cho người đọc thấy được !

Zelenodolsk
24-07-2008, 03:05 PM
Chiến dịch CQ88 qua sách Lịch sử vùng III hải quân 1975-2005
http://www.quansuvn.net/index.php?topic ... 4#msg13024 (http://www.quansuvn.net/index.php?topic=370.msg13024#msg13024)

Diễn biến chiến dịch CQ88
http://myvn.blogspot.com/2008/04/trng-sa.html


Từ cuối năm 1986, một tàu dưới dạng đánh cá, không số của nước ngoài đến vùng biển Đông, đẩy mạnh các hoạt động nghiên cứu biển xuống phía Nam, tăng số lần tàu chiến, tàu vận tải hoạt động trinh sát, thăm dò ở khu vực Trường Sa. Đặc biệt là từ ngày 24 đến 30 tháng 12 năm 1986, máy bay và tàu chiến của nước ngoài tiến hành các hoạt động trinh sát từ đảo Song Tử Tây đến khu vực đảo Thuyền Chài, gây nên tình hình căng thẳng về tranh chấp chủ quyền vùng biển của Việt Nam.

Ngày 31 tháng 12 năm 1986, một nước trong khu vực Đông Nam Á đưa lực lượng chiếm bãi Kỳ Vân, uy hiếp các đảo khác gần đảo Thuyền Chài. Đầu năm 1987, nước ngoài đẩy mạnh các hoạt động ngoại giao và tăng cường đưa tàu chiến đi lại gần khu vực đảo Thuyền Chài. Tiếp đó, trong năm 1987, tàu Hải Dương 4 và một số tàu của nước ngoài tiến hành trinh sát phần lớn các đảo thuộc quần đảo Trường Sa, trong đó có cả những đảo ta đang giữ; đặt bia kỷ niệm ở đảo Ma-i-xi-ti, huy động tàu qua lại khu vực các đảo An Bang, Thuyền Chài, Trường Sa, Trường Sa Đông, Song Tử Tây, có lúc chỉ cách ta khoảng một hải lý; đồng thời tăng cường các hoạt động trinh sát, xâm nhập, khai thác trái phép tài nguyên vào sâu vùng nội thủy của ta. Tàu nước ngoài đưa lực lượng chiếm giữ hai đảo Kỳ Vân và Kiệu Ngựa ở phía nam quần đảo Trường Sa. Có nước tăng cường lực lượng củng cố các đảo đang chiếm giữ và đưa thêm lực lượng đến vận chuyển xây dựng kiên cố ở Song Tử Tây, Loại Ta và một số đảo khác, gây tình hình căng thẳng ở khu vực quần đảo Trường Sa.

Trước tình hình đó, Bộ Chính trị và Đảng ủy Quân sự Trung ương đã chỉ thị cho Quân chủng Hải quân đưa lực lượng ra củng cố, giữ vững các đảo đang chốt giữ, tăng cường thế phòng thủ các đảo theo từng cụm, từng khu vực, bảo đảm khi có chiến sự xảy ra có thể chi viện hỗ trợ kịp thời giữ vững đảo; đưa lực lượng đóng giữ một số bãi ngầm mới trong khu vực quần đảo Trường Sa. Tiếp đó, Bộ Chính trị, Đảng ủy quân sự Trung ương ra nghị quyết về việc quyết tâm bảo vệ chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, trước mắt là quần đảo Trường Sa, là nhiệm vụ khẩn trương, quyết liệt, lâu dài, là nhiệm vụ chiến lược của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta; khôngchỉ riêng của lực lượng vũ trang, mà các cấp, các ngành, địa phương có liên quan cũng phải đóng góp tích cực.

Quán triệt Nghị quyết của Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ra chỉ thị giao nhiệm vụ cho Quân chủng Hải quân phải bảo vệ các đảo của ta, đặc biệt là không ngừng tăng cường khả năng bảo vệ quần đảo Trường Sa, bao gồm cả việc củng cố và xây dựng thêm các công trình chiến đấu và bảo đảm trong sinh hoạt; đồng thời đưa lực lượng ra đóng các bãi đá cạn. Trước mắt đưa lực lượng ra đóng giữ Đá Tây, Chữ Thập, Đá Lớn, Tiên Nữ; khai thác và phát huy mọi khả năng của các lực lượng vũ trang, các ngành, các địa phương để chi viện từ bờ ra đảo xa. Nếu tàu nước ngoài xâm phạm đảo, hoặc dùng vũ lực uy hiếp thì đánh trả và tỉnh táo, không bị khiêu khích

Thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị và chỉ thị của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, ngày 12 tháng 1 năm 1987, Đảng ủy Quân chủng họp đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ trong năm 1986 và đề ra nhiệm vụ công tác năm 1987. Nhận định về tình hình trên biển, Đảng ủy Quân chủng nêu rõ: Tất cả các khu vực biển tình hình vẫn căng thẳng phức tạp, vẫn diễn ra các hoạt động xâm nhập, trinh sát của tàu nước ngoài tranh chấp chủ quyền tài nguyên, gây tình hình căng thẳng, có thể dẫn đến xung đột vũ trang đánh chiếm, hoặc tập kích vào các đảo, căn cứ trên đất liền, nhất là quần đảo Trường Sa. Toàn quân chủng phải đề cao tinh thần cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu cao, đối phó hiệu quả mọi tình huống, đập tan mọi âm mưu, thủ đoạn xâm phạm trái phép, bảo vệ chủ quyền vùng biển và hải đảo của Tố quốc.

Ngày 24 tháng 10 năm 1987, Tư lệnh Hải quân ra mệnh lệnh chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu cho lực lượng bảo vệ các đảo thuộc quần đảo Trường Sa, tránh âm mưu khiêu khích của tàu nước ngoài; đồng thời chỉ thị cho các Lữ đoàn 125 chuẩn bị tàu, pông-tông sẵn sàng đưa lực lượng ra Trường Sa, chuyển các tàu của Lữ đoàn 172 vào trạng thái sẵn sàng chiến đấu, cơ động ra phía trước và Trung đoàn 83 chuẩn bị lực lượng, phương tiện, sẵn sàng cơ động đến xây dựng đảo.

Những tháng cuối năm 1987, Quân chủng điều chuyển một số tàu thuộc các Lữ đoàn 146, 125 đưa bộ đội đến tăng cường lực lượng đóng giữ các đảo thuộc quần đảo Trường Sa. Ngày 28 tháng 10, tàu 613 đưa một phân đội chiến đấu thuộc Lữ đoàn 146, một trung đội công binh, do đồng chí Nguyễn Trung Cảng, Phó Lữ đoàn trưởng chỉ huy ra đóng giữ đảo Đá Tây. Do sóng to gió lớn, gặp khó khăn trong xây dựng công sự chốt giữ, nên sau một thời gian, tàu 613 chở bộ đội về Cam Ranh. Ngày 2 tháng 12 năm 1987, tàu HQ 604 thuộc Lữ đoàn 125 đưa bộ đội cùng vật liệu đến xây nhà cấp 3 ở đảo Đá Tây. Sau một thời gian lao động khẩn trương, cán bộ, chiến sĩ đã hoàn thành khu nhà ở, nhà trực, tổ chức canh gác, bảo vệ đảo.

Cùng thời gian này, Quân chủng tăng cường lực lượng xây dựng thế trận phòng thủ trên các đảo và vùng biển phía Nam. Quân chủng tăng cường thêm phương tiện choVùng 4 hải quân, bảo vệ vị trí neo đậu cho tàu thuyền tại khu vực giàn khoan. Hàng ngày, thường duy trì 2 tàu bảo vệ khu vực khai thác dầu khí, xua đuổi tàu lạ, bảo vệ an toàn cho công tác thăm dò khai thác dầu khí. Thực hiện kế hoạch phối hợp hiệp đồng trong hoạt động bảo vệ biển đảo ở khu vực phía Nam do Bộ Tổng Tham mưu đề ra, Bộ Tư lệnh Hải quân chỉ đạo; Sở chỉ huy Quân chủng hiệp đồng với Quân chủng Không quân tổ chức nhiều chuyến bay biển quan sát, nắm tình hình hiệp đồng với Đặc khuVũng Tàu - Côn Đảo, Quân khu 7 xây dựng và thực hiện kế hoạch bảo vệ khai thác dầu khí. Hoạt động tuần tiễu ở khu vực giàn khoan của Hải quân lúc cao nhất có 6 tàu của Lữ đoàn 171 và Hải đoàn 129. Một số tàu đánh cá đến hoạt động trái phép ở khu vực thềm lục địa, hoặc tàu lạ xuất hiện đã bị hải quân ta ngăn chặn, xua đuổi, bảo vệ an toàn khu vực tài nguyên thuộc chủ quyền vùng biển của Việt Nam.

Theo dõi chặt chẽ mọi diễn biến trên biển và khu vực quần đảo Trường Sa, ngày 9 tháng 1 năm 1988, Đảng ủy Quân chủng họp nhận định: Hải quân nước ngoài sẽ tiến hành các hoạt động quân sự tranh chấp chủ quyền hải đảo chiếm một số bãi san hô nổi hoặc chìm khi nước lên, xen kẽ với các đảo của ta. Các nước ngoài có thể tranh chấp thêm các đảo kể cả khi có xung đột với nhau. Cũng có nước có thể chiếm đóng một số đảo nằm giữa Kỳ Vân và Ri-gân. Cuộc tranh chấp các đảo đang trở thành nguy cơ trực tiếp đe dọa Việt Nam và các nước trong khu vực. Ở Bắc Bộ, nước ngoài có thể triển khai thêm khu vực khai thác dầu khí, sử dụng không quân và hải quân bảo vệ gây tình hình căng thẳng ở khu vực này. Ở vịnh Thái Lan, Hải quân Mỹ thường xuyên qua lại có thể hỗ trợ cho hải quân Thái Lan mở rộng hoạt động, gây mất ổn định, uy hiếp chủ quyền vùng biển, hải đảo của ta ở phía Nam.

Trên cơ sở nhận định, đánh giá tình hình, Đảng ủy Quân chủng đề ra chủ trương: Tranh thủ thời gian, triệt để triển khai lực lượng đóng giữ trên các đảo. Không để nước ngoài thực hiện ý đồ cho lực lượng đóng xen kẽ với ta, hoàn thành việc đóng giữ các đảo trong ba năm (1988-1990). Trong năm 1988, triển khai lực lượng đóng giữ phải hết sức bí mật, đóng đảo nào, bảo đảm phòng thủ tốt trên đảo đó. Đồng thời tăng cường số lần hoạt động tuần tiễu, bảo vệ vịnh Bắc Bộ, vùng biển Tây Nam. Bảo vệ vùng biển, hải đảo trong biển Đông trở thành vấn đề chiến lược của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, trong đó Hải quân nhân dân là lực lượng nòng cốt của chiến tranh nhân dân bảo vệ chủ quyền vùng biển, hải đảo của Tổ quốc. Đảng ủy Quân chủng xác định: "Nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền vùng biển và quần đảo Trường Sa là nhiệm vụ quan trọng nhất, khẩn trương nhất và cũng là vinh dự của Quân chủng".

Thực hiện Nghị quyết của Đảng ủy Quân chủng, Bộ Tư lệnh Hải quân lệnh cho lực lượng tàu, bộ đội công binh và lực lượng của cơ quan chuyển vào Cam Ranh, sẵn sàng đưa bộ đội ra đóng giữ đảo. Bộ Tư lệnh Hải quân chấp hành nghiêm chỉ thị, mệnh lệnh của trên, sáng tạo, bình tĩnh, dũng cảm và kiên quyết phối hợp với các lực lượng khác đấu tranh cả về chính trị, ngoại giao, quân sự, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, góp phần bảo vệ vững chắc chủ quyền vùng biển hải đảo và thềm lục địa của Tổ quốc, không để chiến tranh lan rộng ra khắp quần đảo, chỉ đạo cơ quan Bộ Tham mưu, các cục Chính trị, Hậu cần, Kỹ thuật và các đơn vị làm tốt công tác tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ, chỉ đạo và thực hiện tốt việc di chuyển cơ quan, Sở chỉ huy Quân chủng, củng cố duy trì nền nếp công tác của bộ phận còn lại ở phía Bắc (Sở chỉ huy hậu phương),chỉ đạo triển khai tăng cường thông tin liên lạc ở Cam Ranh, thành phố Hồ Chí Minh, quần đảo Trường Sa, chú trọng mạng thông tin hiệp đồng quân binh chủng, chỉ đạo bảo đảm hàng hải, thả phao tiêu đánh dấu luồng lạch ở Trường Sa, chỉ đạo công tác vật tư tài chính công binh bảo đảm hoàn thành kế hoạch xây dựng công trình, công sự chiến đấu, thiết bị chiến trường ở quần đảo Trường Sa, chỉ đạo công tác tuyển quân, nắm chắc số, chất lượng phương tiện chiến đấu, đề xuất xin và đóng mới phương tiện và bảo đảm quân số cho lực lượng tàu chiến đấu, lực lượng đóng quân trên đảo; chỉ đạo tăng cường công tác nắm địch, tăng thêm phương tiện, lực lượng nắm địch, chỉ đạo công tác tuyển quân và huấn luyện chiến đấu.

Ngày 22 tháng 1 năm 1988, nước ngoài đưa 4 tàu gồm: hộ vệ tên lửa, tuần dương, tàu dầu, tàu đổ bộ và một số tàu khác đến chiếm đóng đảo Chữ Thập. Tiếp đó, nước ngoài đưa một lực lượng lớn gồm 2 tàu hộ vệ tên lửa, 2 khu trục tên lửa, 4 tàu bảo đảm đậu xung quanh đảo, khống chế không cho tàu thuyền các nước qua lại để bảo vệ đảo Chữ Thập. Hải quân nước ngoài còn tổ chức ba cụm tuyến hoạt động gồm: Cụm phía sau lấy Hoàng Sa làm căn cứ thường xuyên có tàu hộ vệ pháo, hộ vệ tên lửa, khu trục tên lửa, tuần dương, các tàu ngầm và tàu hộ tống nhằm ngăn cản, uy hiếp lực lượng tàu hải quân ta hoạt động ở vịnh Bắc Bộ, gây khó khăn cho ta trong việc triển khai hoạt động bảo vệ vùng biển phía Nam; cụm ngăn chặn lực lượng hải quân ta ở đông bán đảo Cam Ranh, Cù Lao Thu và cụm Chữ Thập âm mưu khống chế ta ở khu vực Trường Sa, nếu có thời cơ phát triển lực lượng xuống khu vực phía Nam.

Thực hiện mệnh lệnh của Bộ Tư lệnh Hải quân, ngày 23 tháng 1 năm 1988, tàu 613 thuộc Vùng 4 hải quân chở lực lượng và vật liệu ra đảo Tiên Nữ. Sau hai ngày vật lộn với sóng to, gió lớn, tàu đến Tiên Nữ. Phương châm xây dựng là làm đến đâu chắc đến đó. Đầu tháng 2 năm 1988, cán bộ, chiến sĩ trên đảo hoàn thành nhà ở cấp 3, nơi sinh hoạt, bếp ăn và triển khai phương án sẵn sàng chiến đấu bảo vệ đảo.

Ngày 27 tháng 1 năm 1988, tàu HQ-611 và tàu HQ-712, do đồng chí Công Phán, Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 146 làm biên đội trưởng, đồng chí Nguyễn Thế Dân, Phó tham mưu trưởng Vùng 4 hải quân làm biên đội phó, chỉ huy 1 đại đội công binh và 2 khung đảo của Lữ đoàn 146 đến đóng giữ đảo Chữ Thập. Ngày 29 tháng 1, tàu bị hỏng máy phải dừng lại sửa chữa, đồng chí Nguyễn Thế Dân chuyển sang tàu HQ-07 thuộc Lữ đoàn 171 đi làm nhiệm vụ bảo vệ đảo Đá Lớn. Đồng chí Công Phán ở lại, sau khi tàu sửa chữa xong tiếp tục chỉ huy biên đội tiến về phía đảo Chữ Thập. Sáng ngày 30 tháng 1, khi cách đảo 5 hải lý, thì phát hiện 4 tàu chiến đấu của nước ngoài, gồm 2 tàu hộ vệ tên lửa, 2 tàu hộ vệ pháo ra ngăn cản, có lúc chỉ cách 300m, không cho tiếp cận đảo, tàu đành phải quay về Trường Sa Đông, không thực hiện được việc đóng giữ đảo Chữ Thập như kế hoạch đề ra.

Ngày 4 tháng 2 năm 1988, Thường vụ Đảng ủy Quân chủng họp nhận định: Nước ngoài đã cho quân đóng trên đảo Chữ Thập, trước mắt ta chưa đóng xen kẽ vì họ ngăn chặn ta từ xa. Họ có thể mở rộng phạm vi chiếm đóng sang các đảo Châu Viên, Đá Đông, Đá Nam, Tốc Tan và đóng xen kẽ những bãi đá ta đang đóng giữ. Do đó, ta phải nhanh chóng đưa lực lượng ra đóng giữ Đá Lát, Đá Lớn, Châu Viên. Thực hiện Nghị quyết của Thường vụ Đảng ủy Quân chủng, Tư lệnh Hải quân điện cho biên đội tàu 611 và 712 đang neo đậu ở đảo Trường Sa Đông đưa bộ đội đến đóng giữ đảo Đá Lớn trước 3 giờ ngày 5 tháng 2 năm 1988. Tình hình nhiệm vụ của Quân chủng ở quần đảo trường Sa khẩn trương, cấp bách. Được sự đồng ý của trên, Quân chủng thành lập Sở chỉ huy tiền phương tại Cam Ranh, do đồng chí Giáp Văn Cương làm Tư lệnh kiêm tư lệnh Vùng 4. Các cơ quan: tham mưu, chính trị, hậu cần, kỹ thuật đều tổ chức các bộ phận tiền phương của ngành để kịp thời giải quyết mọi mặt theo yêu cầu đóng giữ, bảo vệ Trường Sa và DKI. Cục Kỹ thuật đã chỉ đạo các nhà máy, xưởng trạm, kho tàng lập các tổ đội sửa chữa động thường trực tại các khu vực Cam Ranh, Nha Trang, Đà Nẵng, Vũng Tàu và bám theo tàu thuyền các đơn vị để sửa chữa, bảo đảm kỹ thuật cho các hoạt động đóng giữ, bảo vệ các đảo và căn cứ.

Chấp hành mệnh lệnh của Tư lệnh Hải quân, tàu 611 và tàu 712 đưa lực lượng công binh và bộ đội của Lữ đoàn 146 đến đảo Đá Lát. Dưới sự chỉ huy của đồng chí Công Phán, bộ đội phân chia lực lượng thành 3 tổ chiến đấu canh gác; đồng thời tổ chức lực lượng làm nhà cấp 3. Đến ngày 20 tháng 2, lực lượng công binh được sự hỗ trợ của lực lượng đóng giữ đảo hoàn thành nhà và bàn giao cho lực lượng bảo vệ đảo.

Trong khi đó, ở hướng Đá Lớn, ngày 13 tháng 2, thực hiện nhiệm vụ Tư lệnh Hải quân giao, Lữ đoàn 125 cho tàu 505 kéo tàu LCU 556 cùng bộ phận làm nhà cao chân đóng giữ đảo Đá Lớn. trong khi ta đang tiến về phía đảo, thì phát hiện tàu khu trục và hai tàu hộ vệ tên lửa của nước ngoài cũng tiến về phía Đá Lớn. Khi ta cách Đá Lớn khoảng 4 hải lý, tàu nước ngoài thả thủy lôi ngăn cản, uy hiếp ta. Trước tình hình đó, ban chỉ huy tàu 505 họp nhận định: nước ngoài chưa biết ý đồ của ta đưa lực lượng ra đóng giữ đảo, việc thị uy không liên quan đến hành trình, ta cứ cho tàu chạy theo hướng đã định. Tàu 505 bình tĩnh, khôn khéo đưa tàu LCU 556 tiếp tục tiến về phía bắc đảo. Ngày 20 tháng 2, sau khi quan sát thăm dò luồng, tàu 556 tiến vào phía nam đảo an toàn. Cùng thời gian này, tàu Đại lãnh của công ty trục vớt cứu hộ Sài Gòn kéo tàu HQ-582 và pông-tông Đ02 đi Đá Lớn. Ngày 27 tháng 2, tàu xuất phát từ thành phố Hồ Chí Minh, đến ngày 1 tháng 3, pông-tông Đ02 vào đến vị trí phía bắc đảo Đá Lớn. Cán bộ, chiến sĩ trên pông-tông Đ02 và lực lượng trên tàu LCU đã đến triển khai lực lượng, xây dựng thế trận phòng thủ bảo vệ đảo Đá Lớn.

Tháng 2 năm 1988, nước ngoài tăng thêm 4 tàu hộ vệ tên lửa, hộ vệ pháo xuống hoạt động ở khu vực quần đảo Trường Sa, gây tình hình hết sức căng thẳng. Ngày 18 tháng 2, Thường vụ Đảng ủy Quân chủng họp đề ra chủ trương: "Ta phải kiên quyết đóng nhanh, đóng đồng thời tất cả các đảo đã có kế hoạch. Nếu cần có thể dùng mọi loại tàu để ủi bãi, không làm như vậy sẽ không kịp ngăn chặn nước ngoài tiếp tục mở rộng phạm vi chiếm đóng thêm".

Lúc này nhiệm vụ đóng giữ đảo của cán bộ, chiến sĩ các Lữ đoàn 146, 125 và Trung đoàn công binh 83 ngày càngtrở nên quyết liệt. trung tuần tháng 2 năm 1988, thực hiện mệnh lệnh của Sở chỉ huy Quân chủng, Lữ đoàn 125 đưa pông-tông 7 ra giữ Tốc Tan. Trong khi đó, tại Đá Đông, một đảo chìm rộng giữ vị trí quan trọng trong quần đảo, Sở chỉ huy Quân chủng lệnh cho tàu 661 đưa lực lượng ra cắm cờ, canh gác; đồng thời lệnh cho tàu 605 chở vật liệu, bộ đội chốt giữ đảo của Lữ đoàn 146 và lực lượng công binh của Trung đoàn 83 ra xây dựng, bảo vệ. Trong bối cảnh hải quân nước ngoài có thể khiêu khích ngăn chặn, song các tàu của ta đã bình tĩnh vượt qua sóng gió đưa bộ đội và vật liệu đến đảo an toàn. Nhờ sự kết hợp chặt chẽ giữa các lực lượng tàu, đảo, công binh, công việc triển khai xây dựng nhà, công sự đã hoàn thành theo đúng kế hoạch, bảo đảm yêu cầu kỹ thuật. Ta triển khai lực lượng bảo vệ đảo. Các tàu 605, 604 tiếp tục ở lại làm nhiệm vụ bảo vệ vòng ngoài Đá Đông. Như vậy đến tháng 3 năm 1988, lực lượng Hải quân ta đã triển khai xây dựng xong thế trận phòng thủ trên các đảo Đá Lát, Đá Đông, Tốc Tan, Tiên Nữ và Đá Lớn, đưa tổng số đảo đóng giữ của ta lên 16, trong đó gồm 9 đảo nổi, 7 đảo chìm.

Trong những tháng đầu năm 1988, nước ngoài cho quân chiếm đóng một số bãi đá thuộc khu vực quần đảo Trường Sa. Trước tình hình đó, ngày 4 tháng 3 năm 1988, Thường vụ Đảng ủy Quân chủng họp nhận định: Nước ngoài đã cho quân chiếm giữ Chữ Thập, Châu viên, Ga ven, Xu Bi, Huy Gơ. Ta xây dựng thế trận phòng thủ ở các đảo Tiên Nữ, Đá Lát, Đá Lớn, Đá Đông, Tốc Tan, bước đầu ngăn chặn được hành động mở rộng phạm vi chiếm đóng của hải quân nước ngoài ra các đảo lân cận. Song đối phương có thể chiếm thêm một số bãi cạn xung quanh cụm đảo Sinh Tồn, Nam Yết và đông kinh tuyến 115 độ

Căn cứ vào tình hình xung quanh khu vực Trường Sa, Thường vụ Đảng ủy Quân chủng xác định: Gạc Ma giữ vị trí quan trọng, nếu để hải quân nước ngoài chiếm giữ sẽ khống chế đường qua lại của ta tiếp tế, bảo vệ chủ quyền quần đảo Trường Sa. Vì vậy, Thường vụ Đảng ủy Quân chủng hạ quyết tâm đóng giữ các đảo Gạc Ma, Cô Lin và Len Đao. Đây là một nhiệm vụ hết sức nặng nề, khẩn trương, bởi trong cùng một lúc hải quân ta phải triển khai đóng giữ cả 3 đảo trong điều kiện phương tiện, trang bị của ta cũ, thô sơ, lực lượng hạn chế. Thường vụ Đảng ủy Quân chủng giao cho Lữ đoàn 125 cử lực lượng thực hiện nhiệm vụ này.

Trong khi đó, hải quân nước ngoài sau khi chiếm giữ trái phép Chữ Thập, Châu viên, Huy Gơ, Ga Ven và Xu Bi cũng đang ý đồ chiếm giữ ba đảo Gạc Ma, Cô Lin, Len Đao nhằm gây thanh thế ở khu vực Trường Sa và trên biển Đông. Đầu tháng 3 năm 1988, nước ngoài huy động lực lượng của 2 hạm đội xuống khu vực quần đảo Trường Sa, tăng số tàu hoạt động ở đây thường xuyên có từ 9 đến 12 tàu chiến gồm: khu trục tên lửa, 7 tàu hộ vệ tên lửa, 2 tàu hộ vệ pháo, 2 tàu đổ bộ; tàu hỗ trợ gồm 3 tàu vận tải LSM, tàu đo đạc, tàu kéo và một pông-tông lớn. Việc nước ngoài đưa một lực lượng lớn tàu chiến, tàu vận tải đến hoạt động đã gây nên tình hình căng thẳng ở khu vực quần đảoTrường Sa.

Trước tình hình đó, ngày 31 tháng 3 năm 1988, Tư lệnh Hải quân lệnh cho Vùng 4, Lữ đoàn 125, Lữ đoàn 146; các hải đội 131, 132, 134 của Lữ đoàn 172 chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu cao; đồng thời lệnh cho Vùng 1, Vùng 3 và Lữ đoàn 125 ở Hải phòng chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu tăng cường. Bộ Tư lệnh Hải quân điều động 41 tàu thuyền và phương tiện nổi của Lữ đoàn 125, Cục Kinh tế, Vùng 1, Vùng 3, Vùng 5, Trường sĩ quan Hải quân, Nhà máy Ba Son, X51 tiếp nhận 3 tàu của nhà nước, 3 tàu của Tổng cục Hậu cần và 2 tàu của Quân khu 5 đến phối thuộc hoạt động khi cần thiết.

Thực hiện quyết tâm của Thường vụ Đảng ủy Quân chủng, ngày 12 tháng 3 năm 1988 tàu 605 (Lữ đoàn 125) do đồng chí Lê Lệnh Sơn làm thuyền trưởng được lệnh từ Đá Đông đến đóng giữ đảo Len Đao trước 6 giờ ngày 14 tháng 3 năm 1988. Sau 29 giờ hành quân bí mật, khẩn trương vượt qua sóng to, gió lớn, tàu 605 đến Len Đao lúc 5 giờ ngày 14 tháng 3 và cắm cờ Tổ quốc trên đảo, khẳng định chủ quyền và quyết tâm bảo vệ đảo của bộ đội ta.

Thực hiện nhiệm vụ đóng giữ các đảo Gạc Ma và Cô Lin, 9 giờ ngày 13 tháng 3 năm 1988, tàu HQ-604 do đồng chí Vũ Phi Trừ làm thuyền trưởng và tàu HQ-505 do đồng chí Vũ Huy Lễ làm thuyền trưởng được lệnh từ đảo Đá Lớn tiến về phía Gạc Ma, Cô Lin. Phối hợp với hai tàu 604 và 505 có 2 phân đội công binh (70 người) thuộc Trung đoàn 83, bốn tổ chiến đấu (22 người) thuộc Lữ đoàn 146, do đồng chí Trần Đức Thông, Phó Lữ đoàn trưởng chỉ huy và 4 chiến sĩ đo đạc của Đoàn đo đạc và biên vẽ bản đồ (Bộ Tổng Tham mưu). Sau khi hai tàu của ta thả neo được 30 phút, tàu hộ vệ của nước ngoài từ Huy Gơ chạy về phía Gạc Ma, có lúc cách ta 500m. 17 giờ ngày 13 tháng 3, tàu nước ngoài áp sát tàu 604 ta và dùng loa gọi sang khiêu khích. Bị tàu nước ngoài uy hiếp, cán bộ, chiến sĩ hai tàu 604 và 505 động viên nhau giữ vững quyết tâm không để mắc mưu, kiên trì neo giữ quanh đảo. Tàu chiến đấu của nước ngoài cùng 1 tàu hộ vệ, 2 tàu vận tải thay nhau cơ động, chạy quanh đảo Gạc Ma.

Trước tình hình căng thẳng do hải quân nước ngoài gây ra, lúc 21 giờ ngày 13 tháng 3, Bộ Tư lệnh Hải quân chỉ thị cho các đồng chí Trần Đức Thông, Vũ Huy Lễ, Vũ Phi Trừ chỉ huy bộ đội quyết giữ vững các đảo Gạc Ma, Cô Lin. Tiếp đó, Bộ Tư lệnh Hải quân chỉ thị: Khẩn trương thả xuồng máy, xuồng nhôm, chuyển vật liệu làm nhà lên đảo ngay trong đêm ngày 13 tháng 3. Thực hiện mệnh lệnh của Bộ Tư lệnh Hải quân, tàu 604 cùng lực lượng công binh Trung đoàn 83 chuyển vật liệu lên đảo Gạc Ma, tiếp đó, lực lượng của Lữ đoàn 146 bí mật đổ bộ, cắm cờ Tổ quốc và triển khai 4 tổ bảo vệ đảo.

Lúc này, nước ngoài điều thêm 2 tàu hộ vệ trang bị pháo 100mm đến hỗ trợ tàu có từ trước khiêu khích đe dọa ta rút khỏi đảo Gạc Ma. Ban chỉ huy tàu 604 họp nhận định tàu nước ngoài có thể dùng vũ lực can thiệp và quyết định chỉ huy bộ đội bình tĩnh xử trí, thống nhất thực hiện theo phương án tác chiến đề ra, quyết tâm bảo vệ Gạc Ma.

6 giờ ngày 14 tháng 3 năm 1988, đối phương thả 3 thuyền nhôm và 40 quân đổ bộ lên đảo tiến về phía cờ ta đang tung bay. Dựa vào thế đông quân, đối phương tiến vào giật cờ ta. Lập tức, thiếu úy Trần Văn Phương, hạ sĩ Nguyễn Văn Lanh cùng đồng đội anh dũng giành lại cờ. Binh lính của đối phương đã dùng lưỡi lê đâm và bắn nguyễn Văn Lanh bị thương. Thiếu úy Trần Văn Phương xông vào cứu, bị đối phương bắn, đã anh dũng hy sinh. Trước lúc hy sinh, Trần Văn Phương đã hô: "Thà hy sinh chứ không chịu mất đảo, hãy để cho máu của mình tô thắm lá cờ truyền thống của Quân chủng Hải quân”. Sự hy sinh anh dũng của Trần Văn Phương đã nêu tấm gương sáng cho các đơn vị noi theo, quyết tâm chiến đấu, bảo vệ hải đảo của Tố quốc.

Không uy hiếp được bộ đội ta rút khỏi đảo, 7 giờ 30 phút ngày 14 tháng 3, đồi phương dùng hai tàu bắn pháo 100mm vào tàu 604, làm tàu ta bị hỏng nặng. Đối phương cho quân xông về phía tàu ta. Thuyền trưởng Vũ Phi Trừ đã bình tĩnh chỉ huy bộ đội trên tàu sử dụng các loại súng AK, RPĐ, B40, B41 đánh trả quyết liệt, buộc binh lính đối phương phải nhảy xuống biển trở về tàu của họ. Trận đánh diễn ra mỗi lúc quyết liệt. Các đồng chí Trần Đức Thông, Vũ Phi Trừ vừa chỉ huy bộ đội chiến đấu, vừa tổ chức băng bó, cứu chữa thương binh và hỗ trợ các chiến sĩ bảo vệ cờ. Đối phương tiếp tục nã đạn, làm tàu ta bị thủng nhiều lỗ và hỏng nặng chìm dần xuống biển. Đồng chí Vũ Phi Trừ, thuyền trưởng; đồng chí Trần Đức Thông, Phó Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 146 cùng một số cán bộ, chiến sĩ tàu đã anh dũng hy sinh cùng tàu 604 ở khu vực đảo Gạc Ma.

Tại đảo Cô Lin, 6 giờ ngày 14 tháng 3 năm 1988, tàu HQ-505 đã cắm 2 lá cờ trên đảo. Khi tàu 604 của ta bị chìm, đồng chí Vũ Huy Lễ, thuyền trưởng tàu 505 ra lệnh nhổ neo cho tàu ủi bãi. Phát hiện tàu 505 của ta đang cơ động lên bãi, hai tàu của đối phương quay sang tiến công tàu 505. Bất chấp hiểm nguy, tàu 505 chạy hết tốc độ, trườn lên được hai phần ba thân tàu thì bốc cháy. 8 giờ 15 phút ngày 14 tháng 3, bộ đội tàu 505 vừa triển khai lực lượng dập lửa cứu tàu, bảo vệ đảo, vừa đưa xuồng đến cứu vớt cán bộ, chiến sĩ tàu 604 bị chìm. Tàu HQ-505 bị bốc cháy. Cán bộ, chiến sĩ của tàu dưới sự chỉ huy của thuyền trưởng Vũ Huy Lễ đã hoàn thành nhiệm vụ lịch sử, bảo vệ chủ quyền đảo Cô Lin.

Ở hướng đảo Len Đao, 8 giờ 20 phút ngày 14 tháng 3, tàu của đối phương bắn mãnh liệt vào tàu HQ-605 của ta. Tàu 605 bị bốc cháy và chìm lúc 6 giờ ngày 15 tháng 3. Cán bộ, chiến sĩ của tàu dìu nhau bơi về đảo Sinh Tồn an toàn.

Như vậy, trước tình hình hải quân nước ngoài gây ra những vụ khiêu khích quân sự ở xung quanh khu vực Quần đảo Trường Sa, Bộ Tư lệnh Hải quân đã chỉ đạo, chỉ huy các đơn vị dũng cảm chiến đấu bảo vệ Gạc Ma, Cô Lin, Len Đao; đồng thời triển khai lực lượng đóng giữ các đảo khác, giữ vững chủ quyền quần đảo, vùng biển và thềm lục địa Việt Nam. Trong trận chiến đấu ngày 14 tháng 3 năm 1988, ta bị tổn thất: 3 tàu bị bắn cháy và chìm, 3 đồng chí hy sinh, 11 đồng chí bị thương, 70 đồng chí bị mất tích. [1. Sau này, đối phương trao trả ta 9 đồng chí, còn 61 người mất tích.]

Mặc dù so sánh lực lượng chênh lệch, phương tiện, vũ khí hạn chế, cán bộ và chiến sĩ hải quân đã chiến đấu dũng cảm, bảo vệ chủ quyền hải đảo của Tổ quốc. Các đơn vị hải quân đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ Bộ Chính trị, Đảng ủy quân sự Trung ương và Bộ Quốc phòng giao phó. Với chiến công oanh liệt, tàu HQ-505 được Nhà nướctuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Các đồng chí Vũ Phi Trừ, Trần Đức Thông, Vũ Huy Lễ, Nguyễn Văn Lanh, Trần Văn Phương được truy tặng và phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Hàng chục tập thể và cá nhân được tặng thưởng huân chương Quân công, huân chương chiến công các loại.

Ngày 7 tháng 5 năm 1988, tại lễ kỷ niệm 33 năm ngày thành lập Hải quân nhân dân, Đại tướng Lê Đức Anh, ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Đảng ủy quân sự Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đến thăm cán bộ, chiến sĩ trên quần đảo Trường Sa. Đại tướng biểu dương: "Hải quân đã tích cực, kiên trì thực hiện nghị quyết của Bộ Chính trị, mệnh lệnh của Bộ Quốc phòng về bảo vệ quần đảo Trường Sa. Mặc dù có nhiều khó khăn, song đã nỗ lực thực hiện nhiệm vụ được giao".Tại cuộc mít tinh ở đảo Trường Sa, Đại tướng phát biểu nhấn mạnh: "Nhân kỷ niệm ngày thành lập Hải quân nhân dân Việt Nam trên đảo chính của quần đảo Trường Sa, có mặt đông đủ các Tổng cục, các quân chủng, đại biểu tỉnh Phú Khánh (nay là Phú Yên, Khánh Hoà), chúng ta xin thề trước hương hồn của Tổ tiên ta, trước hương hồn của cán bộ, chiến sĩ đã hy sinh vì Tổ quốc, xin hứa trước đồng bào cả nước, xin nhắn nhủ với các thế hệ mai sau: Quyết tâm bảo vệ bằng được Tổ quốc thân yêu của chúng ta, bảo vệ bằng được quần đảo Trường Sa - một phần lãnh thổ và lãnh hải thiêng liêng của Tổ quốc thân yêu của chúng ta". [1. Lịch sử Hải quân nhân dân Việt Nam (1955-1995) - Biên niên sự kiện, Sđd, tr. 251

Nhằm tăng cường khả năng xây dựng, bảo vệ Quần đảo Trường Sa - DK1, từ năm 1987 Quân chủng được Bộ Tổng Tham mưu điều chuyển bổ sung hàng chục xe tăng T54, K63-85, hàng chục khẩu súng pháo (chủ yếu là ĐKZ, pháo 85mm và 37mm), tiếp nhận hàng chục tấn vũ khí, đạn. Năm 1988, Nhà nước, Bộ Quốc phòng tiếp tục tăng cường vũ khí trang bị kỹ thuật cho Hải quân như pháo D30, 122mm, 23mm, tên lửa phòng không, súng phóng lựu AGF... để Quân chủng trang bị cho các đảo. Nhà nước điều các tàu Sông Thao, Hạ Long 01, Bạch Đằng 18 cho Hải quân. Liên Xô viện trợ cho ta 1 tàu kéo 3000CV, 1 tàu nước 1300CV, 6200m xích neo, 38 neo lớn... Chính phủ đã quyết định cấp cho Quân chủng 1.150 tấn thép, 20 tấn tôn múi, 1.450 tấn xi măng, 700 m3 gỗ tròn, 3,5 tấn que hàn, 4 xe Kpan, 1 xe xúc, 2 xe cần (quyết định số 26). Tiếp theo Chính phủ quyết định cấp cho Quân chủng 4.000 tấn thép, 50 tấn tôn mạ, 20 tấn cát, thép, 178 tấn que hàn, 1.080 tấn xi măng (M500), 5.000 tấn xi măng (M300),1 500 tấn xăng dầu, 200 bộ săm lốp, 1.262m3 gỗ, 2.500m vải bạt,... cùng một số vật tư khác để Quân chủng đẩy mạnh công tác đóng 10 pông-tông, làm 12 nhà cấp 2 cho các đảo chìm. Chính phủ còn huy động 6 pông-tông của Bộ Giao thông vận tải, giao cho Bộ Giao thông vận tải thiết kế xây dựng cầu tàu ở đảo Trường Sa, lắp pin mặt trời cho các điểm đảo cùng một số bộ vi-đê-ô cát-xét (video casset) cho bộ đội ở đảo. Cùng với các quyết định của trên, Chính phủ, Bộ Quốc phòng giao cho Quân chủng Hải quân ký hợp đồng với các nhà máy đóng tàu: Bạch Đằng, Hạ Long để đóng tàu vận tải 1.000 tấn - 980CV, những tàu này trang bị cho Lữ đoàn 125. Được tăng cường vũ khí trang bị kỹ thuật, nhất là tàu thuyền, súng pháo,... khả năng sức mạnh chiến đấu của hải quân được củng cố. Đây là cơ sở bảo đảm cho Quân chủng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đóng giữ, bảo vệ quần đảo Trường Sa - DK1. Hoạt động của Quân chủng đã thu hút được sự quan tâm của quân và dân cả nước đều vì Trường Sa, hết lòng chi viện sức người, sức của cho Trường Sa.

Thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị và Chỉ thị của Ban Bí Thư Trung ương Đảng, theo đề nghị của Bộ Tư lệnh Hải quân, từ tháng 6 năm 1988, các tỉnh Quảng Nam -Đà Nẵng, Nghĩa Bình, Phú Khánh, Quảng Ninh, Bình. Trị - Thiên, thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Hải phòng và Đặc khu Vũng Tàu - Côn Đảo, mỗi địa phương đảm nhận làm nhà cấp 1 ở đảo. Theo kế hoạch, tháng 8 năm 1988, các tỉnh Bình - Trị - Thiên, Nghĩa Bình, Quảng Nam - Đà Nẵng đã hoàn thành xây nhà ở các đảo Đá Nam, Đá Lớn, Tốc Tan. Các địa phương khác do triển khai chậm bị ảnh hưởng thời tiết nên hoàn thành chậm. Bộ Tư lệnh công binh phải triển khai làm 8 khung nhà cấp 2, cử cán bộ kỹ thuật, lực lượng thi công ra xây dựng ở hai đảo Đá Tây và Đá Thị. Còn hai đảo Cô Lin và Len Đao, do Quân chủng Hải quân đảm nhiệm xây dựng nhà cấp 2 khung nhà sắt do Bộ Tư lệnh công binh thiết kế. Đến cuối tháng 8 năm 1988, ta đã cơ bản hoàn thành việc xây dựng các loại nhà cấp 1, 2, 3, nâng tổng số lên 21 đảo và bãi đá ngầm với 32 điểm đóng giữ, hình thành 5 cụm đảo; đồng thời tập trung củng cố cơ sở bảo đảm ở các đảo trung tâm của từng cụm gồm: Song Tử, Nam Yết, Trường Sa, Phan Vinh, Thuyền Chài. Các đảo được tăng cường quân số, hỏa lực, công trình phòng thủ, tạo thành thế chiến đấu liên hoàn từng cụm đảo trong thế trận phòng thủ chung, góp phần bảo vệ sự toàn vẹn chủ quyền vùng biển, thềm lục địa và vùng kinh tế đặc quyền của Tổ quốc.

Để tăng cường khả năng phòng thủ, sẵn sàng chiến đấu thực hiện ý định, chủ trương của Bộ Quốc phòng, tháng 9 năm 1988 Quân chủng hiệp đồng với Quân chủng phòng không - Không quân và lực lượng vũ trang Quân khu 5 luyện tập trên vùng biển từ Khánh Hòa đến BìnhThuận. Qua diễn tập (có bắn đạn thật) đã đúc rút được nhiều vấn đề quan trọng về chiến thuật, kỹ thuật. Cũng qua thực hiện nhiệm vụ, Xưởng Ba Son, X51 được Nhà nước tặng thưởng huân chương chiến công hạng nhất, Z753 được tặng thưởng huân chương chiến công hạng nhì do lập được nhiều thành tích xuất sắc trong bảo vệ Trường Sa và DK1. Trong khi tập trung cho nhiệm vụ bảo vệ Trường Sa và DK1, ngành kỹ thuật vẫn tiếp tục chỉ đạo Xưởng Ba Son và X51 sửa chữa đốc nổi 1.000 tấn, các tàu 206M, LCU, LCM-8, LCM-6, PCF cho Hải quân Cam-pu-chia.

Tháng 11 năm 1988, tổng kết 13 năm giúp bạn Lào, Hải quân nhân dân Việt Nam đã đóng 4 tàu vận tải, lắp máy cho 5 tàu vỏ gỗ, bảo đảm kỹ thuật và viện trợ 14 tàu PBR, 33 tấn phụ tùng, sửa chữa 97 tàu, trang bị 56 máy công cụ, khôi phục Xưởng Chi-nai-mô, đào tạo 56 thợ kỹ thuật, Cục Kỹ thuật Hải quân được Nhà nước Lào tặng thưởng Huân chương ít-xa-la hạng nhì.

Trong khi ta đang củng cố, xây dựng thế trận phòng thủ trên các đảo thuộc Quần đảo Trường Sa, hải quân nước ngoài tiếp tục có những hoạt động trên vùng biển Đông. Ngày 5 tháng 7 năm 1988, Đảng ủy Quân chủng họp nhận định: Sau những hành động khiêu khích quân sự vừa qua, nước ngoài sẽ tiếp tục có những âm mưu cô lập hạn chế hoạt động của ta để mở rộng quyền kiểm soát, khống chế vùng biển Đông. Đúng như dự đoán của ta, trên vùng biển và xung quanh khu vực quần đảo Trường Sa, nước ngoài thường xuyên duy trì từ 10-15 tàu, trong đó có 4-6 tàu chiến. Đầu tháng 9 năm 1988, hải quân nước ngoài đưa tàu trinh sát bằng vô tuyến điện xuống trinh sát 21 đảo ta đang đóng giữ, uy hiếp chiếm lại khi thời cơ thuận lợi và tuyên truyền về chiến lược biển và kinh tế biển, tập trung vào dầu khí thuộc khu vực thềm lục địa phía Nam của Việt Nam.

Trước tình hình đó, Đảng và Nhà nước ta chủ trương xây dựng tại khu vực thềm lục địa phía Đông Nam thuộc tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cụm kinh tế, khoa học, dịch vụ phục vụ phát triển kinh tế đất nước và giao nhiệm vụ cho Quân chủng Hải quân bảo vệ. Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước, ngày 26 tháng 10 năm 1988, đồng chí Phó đô đốc Giáp Văn Cương, Tư lệnh Hải quân giao nhiệm vụ cho Lữ đoàn 171 làm nhiệm vụ bảo vệ thềm lục địa phía Đông Nam (DK1). Đây là vùng có ý nghĩa chiến lược quan trọng cả về chính trị, kinh tế và quốc phòng - an ninh của đất nước.

Chấp hành chỉ thị của Tư lệnh Hải quân, ngày 6 tháng 11 năm 1988, một biên đội hai tàu HQ-713 và HQ-688 thuộc Lữ đoàn 171, do các đồng chí Phạm Văn Thư, Nguyễn Hồng Thưởng chỉ huy rời cảng ra khơi. Sau hơn mười ngày hành quân trên biển, hai tàu đã đến vị trí tiến hành đo đạc khảo sát, đánh dấu, xác định vị trí thả neo làm nhà trên vùng biển rộng 60.000 km2. Trên cơ sở đó, ngày 26 tháng 11, Sở chỉ huy Quân chủng lệnh cho hai tàu HQ-713 và HQ-668 (Hải đoàn l71), do trung tá Hoàng Kim Nông, Phó Lữ đoàn trưởng về chính trị chỉ huy và hai tàu HQ-727, HQ-723 (Lữ đoàn 129), do trung tá Trần Xuân Vọng, Hải đoàn trưởng chỉ huy trực sẵn sàng chiến đấu ở DK1. Ngày 28 tháng 11 năm 1988, bốn lá cờ đỏ sao vàng tung bay trên bốn điểm ở khu vực DK1 khẳng định chủ quyền vùng biển của Tổ quốc. Tại đây, các tàu bố trí lực lượng canh gác, bảo vệ chủ quyền tài nguyên của đất nước.

Trong trận chiến đấu ngày 14/3/1988, ta bị tổn thất : 3 tàu bị bắn cháy và chìm, 3 đ/c hy sinh, 11 đ/c bị thương, 70 đ/c bị mất tích (sau này TQ trao trả ta 9 đ/c, 61 người mất tích).

Mặc dù so sánh lực lượng chênh lệch, phương tiện, vũ khí hạn chế, cán bộ và chiến sĩ hải quân đã chiến đấu dũng cảm, bảo vệ chủ quyền hải đảo của Tổ quốc.

Trích "Lịch sử Hải quân nhân dân Việt Nam 1955-2005"

Vụ này hậu quả xảy ra do ta không lường đến mức độ khốc liệt mà phía TQ sẵn sàng gây ra, do bị ru ngủ trong hoàn cảnh chiến sự biên giới phía Bắc đang bước vào hòa hoãn. Do vậy nhiệm vụ không có các tàu chiến yểm trợ kịp thời mà chỉ dùng các tàu vận tải như vẫn dùng ở vùng quần đảo. Thiệt hại quá đau đớn và bất ngờ.

Sau chiến dịch CQ-88 này bị thiệt hại và mất đảo, các chiến dịch CQ-89 và CQ-90 đã thực hiện tốt nhiệm vụ chiếm, bám trụ và xây dựng hàng loạt các trạm hải quân trên các đảo chìm trong vùng. Tình hình luôn căng thẳng giữa 2 bên từ đó đến nay, tuy nhiên với sự tăng cường lực lượng của ta, phía TQ đến thời điểm này chưa gây hấn thêm 1 vụ nào. Trong thời gian đó, ta đã nhiều lần nổ súng cảnh cáo và nổ súng cả vào các tàu của Philippin xâm nhập vùng chủ quyền.

Quân đội ta vẫn luôn giữ được bản lĩnh vươn lên qua thất bại, hy vọng sẽ tiến chiếm hầu hết các vùng tranh chấp chưa có quân đóng trong thời gian vài năm tới.

Anh hùng Trần Văn Phương

Bài thơ trên có nhắc đến thiếu úy Trần Văn Phương. Đó là Anh Hùng LLVT,chiến sĩ Hải Quân hy sinh trong trận bảo vệ bãi Gạc Ma thuộc quần đảo Trường Sa trước cuộc tấn công xâm lược của quân Trung Quốc vào lúc 07 giờ sáng ngày 14/03/1988.

Sinh quán Quảng Trạch,Quảng Bình.Vào bộ đội năm 1983,ra bảo vệ đảo Sinh Tồn từ 02/1984.Sau khi đi học trường quân chính,được phong thiếu úy ,trung đội trưởng trung đội 1.đại đội 7,tiểu đoàn 862 ,lữ đoàn Trường Sa.

19 giờ ngày 11/03/1988 anh xuống tàu HQ 604 rời cảng ra đảo Gạc Ma.Trước khi xuống tàu,nắm chặt tay trung úy trung đội 1 Lê Văn Thoan,người cùng xã, nói:”Hoàn thành nhiệm vụ trong chiến dịch CQ 88 (chủ quyền 88) này ,mình sẽ cùng với cậu về phép thăm nhà.Nhà mình bị bão đổ năm ngoái,vẫn chưa làm xong…”

Thiếu úy Trần Văn Phương

Sáng ngày 14/03 từ tàu 604 đang thả neo tại bãi Gac Ma,Trần Đức Thông ,cán bộ chỉ huy phát hiện thấy bốn chiếc tàu lớn của Trung Quốc đang tiến lại gần.Ban chỉ huy quyết định một tổ ba người gồm thiếu úy Trần Văn Phương và hai chiến sỹ Nguyễn Văn Tư,Nguyễn Văn Lanh được phân công bảo vệ lá cờ của ta cắm trên bãi.

Phía đối phương lộ rõ âm mưu muốn lấn chiếm đảo:với 2 xuồng chở 8 lính có vũ khí lao thẳng về phía ta.Trần Đức Thông ra lệnh cho các chiến sỹ từ tàu 604 tiến vào bảo vệ bãi,để hình thành tuyến phòng thủ,không cho địch tiến lên.Mặc cho địch hăm doạ,chiến sỹ ta tuyên bố “Đây là lãnh thổ của Việt Nam,các tàu của Trung Quốc phải rời ngay!” Nhưng đối phương hung hăng dùng 4 ca nô chở khoảng 100 lính trang bị đày đủ vũ khí,máy VTĐ,đổ bộ lên bãi Gạc Ma…Cùng lúc đó,tàu chiến 502 của Trung Quốc có trang bị tên lửa và pháo 100 milimét và các tàu khác đã xả súng lớn bắn chìm và cháy các tàu chở hàng 604,605 và 505 của ta.Những thủy thủ thoát ra khỏi các tàu chìm ,bơi lênh đênh trên biển bị đối phương xả súng bắn và dùng câu liêm móc lên tàu.

TQ thả 3 thuyền nhôm và 40 quân đổ bộ lên đảo tiến về phía cờ ta đang tung bay. dựa vào thế đông quân, TQ tiến vào giật cờ ta. Lập tức, thiếu úy Trần Văn Phương, hạ sĩ Nguyễn Văn Lanh cùng đồng đội anh dũng giành lại cờ. Binh lính của TQ đã dùng lưỡi lê đâm và bắn Nguyễn Văn Lanh bị thương. Thiếu úy Trần Văn Phương xông vào cứu, bị TQ bắn đã anh dũng hy sinh. Trước lúc hy sinh, Trần Văn Phương đã hô : " Thà hy sinh chứ không chịu mất đảo, hãy để cho máu của mình tô thắm lá cờ truyền thống của Quân chủng Hải quân ". Sự hy sinh anh dũng của Trần Văn Phương đã nêu tấm gương sang cho các đơn vị noi theo, quyết tâm chiến đấu, bảo vệ hải đảo của Tổ quốc.[...]

Chiều ngày 14/03 trên bãi chỉ còn một chiếc xuồng và 40 chiến sỹ sống sót sau cuộc bắn phá dã man của quân Trung Quốc.Thượng úy Nguyễn Văn Chương và trung úy Nguyễn Sỹ Minh tổ chức đưa thương binh và chiến sĩ về tàu 505 –sau khi bị bắn cháy,nằm trên bãi Cô lin.Thi hài Phương ,Tư cùng các thương binh nặng được đặt trên xuồng.Số người còn sức,một tay bám thành xuồng,một tay làm mái chèo đưa xuồng lết trên mặt nước để tới bãi Cô lin.

sanleo
24-07-2008, 06:09 PM
Chiến dịch CQ88 qua sách Lịch sử vùng III hải quân 1975-2005
http://www.quansuvn.net/index.php?topic ... 4#msg13024 (http://www.quansuvn.net/index.php?topic=370.msg13024#msg13024)

Diễn biến chiến dịch CQ88
http://myvn.blogspot.com/2008/04/trng-sa.html
Thank Zelenodolsk về thông tin chiến dịch CQ88. Như vậy, chiến dịch CQ này diễn ra trong 5 tháng của năm 1988, và trận chiến 14/3 là một phần để bảo vệ chủ quyền của chiến dịch CQ88. Được biết các bác hải quân chủ trương phải giữ được 3 đảo có vị trí quan trọng là Gạc Ma, Cô Lin, và Len Đao. Lực lượng thiếu thốn nên VN để mất đảo Gạc Ma và các bãi Châu Viên, Chữ Thập, Xu Bi, Ga Ven... nhưng vẫn giữ được 2 đảo Cô Lin và Len Đao.
Cũng theo thông tin này thì còn có chiến dịch CQ89 và CQ90 nữa. Các chiến dịch này có chiếm giữ thêm được đảo nào không hay chủ yếu là xây dựng củng cố các vị trí đã chiếm đóng?
Từ sau trận hải chiến 88 đến nay, VN còn bị mất thêm đảo nào đang chiếm đóng hay không? Và có xảy ra trận đụng độ nào nữa hay không?
Có phải Trung Quốc chiếm thêm được bãi ngầm Thanh Long vào năm 1992 và đang khoan dầu ở đó?

sanleo
25-07-2008, 03:53 AM
Từ năm 1986, tình hình khu vực biển quần đảo Trường Sa có những diễn biến phức tạp.

Cuối tháng 12 năm 1986, Trung Quốc cho máy bay và tàu thuyền có cả tàu chiến hoạt động trinh sát, thăm dò từ khu vực đảo Song Tử Tây đến khu vực đảo Thuyền Chài. Philippin đẩy mạnh việc vận chuyển xây dựng công trình trên các đảo của họ đóng giữ (Song Tử Đông, Pa-na-ta). Cùng lúc đó ở phía nam Trường Sa, Malaysia bí mật đưa lực lượng ra chiếm đóng bãi đá Kỳ Vân và tháng 1 năm 1987, Malaysia chiếm đóng bãi đá Kiều Ngựa, làm cho tình hình thêm căng thẳng. Đảng ủy và Bộ Tư lệnh nhận định có khả năng Trung Quốc và các nước sẽ đóng thêm một số đảo khác .

Đầu tháng 3 năm 1987, Quân chủng điều lực lượng công binh, tàu chiến đấu, tàu vận tải của Vùng IV và Lữ đoàn 125 ra đóng giữ bảo vệ đảo chìm Thuyền Chài. Đây là đảo năm 1978 quân chủng đã đưa lực lượng ra đóng giữ bảo vệ, song vì điều kiện đảo là bãi đá ngầm, việc bảo đảm cho bộ đội ăn ở sinh hoạt, chiến đấu gặp rất nhiều khó khăn, nên ta tạm thời rút bộ đội về đất liền.

Tháng 6 năm 1987, Trung Quốc tiến hành diễn tập quân sự bất thường ở phía nam biển Đông và giữa tháng 10, tháng 11 năm 1987, họ lại đưa tàu nghiên cứu Hải Dương 4 và một số tàu chiến đi qua các đảo An Bang, Thuyền Chài, Trường Sa Đông, Trưởng Sa, Song Tử Tây; có lúc các tàu này vào sát đảo của ta khoảng 1 hải lý.

Ngày 24 tháng 10 năm 1987, Tư lệnh Quân chủng ra lệnh chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu từ thường xuyên lên tăng cường cho Lữ đoàn 146, Vùng IV Hải quân, song yêu cầu các đơn vị đảo phải hết sức cảnh giác, tránh âm mưu khiêu khích của đối phương. Đảng ủy và Bộ tư lệnh chủ trương phòng thủ quần đảo Trường Sa "Đóng thêm một số đảo xung quanh các đảo đã đóng giữ, để tạo nên sức mạnh của một cụm đảo". Ngày 25 tháng 10 năm 1987, Tư lệnh Quân chủng lệnh cho Vùng IV nhanh chóng tổ chức lực lượng ra đóng giữ các đảo Tiên Nữ, Đá Lớn, Đá Tây, Chữ Thập. Vùng IV bắt tay ngay vào triển khai nhiệm vụ. Mặc dù hết sức cố gắng, song lúc này thời tiết cuối năm gió mùa sóng lớn, phương tiện của ta nhỏ bé, chất lượng kỹ thuật không bảo đảm, hơn nữa các đảo này là những bãi đá ngầm, ta chưa chuẩn bị kịp các trang bị phương tiện để tổ chức cho bộ đội đóng giữ, ăn, ở sinh hoạt và chiến đấu, nên kế hoạch đóng giữ 4 đảo này chưa thực hiện được.

Ngày 28 tháng 10 năm 1987, tàu 613 đưa một phân đội chiến đấu thuộc Lữ đoàn 146, một trung đội công binh, do đồng chí Nguyễn Trung Cảng, Phó Lữ đoàn trưởng chỉ huy ra đóng giữ đảo Đá Tây. Do sóng to gió lớn, gặp khó khăn trong xây dựng công sự chốt giữ, nên sau một thời gian, tàu 613 chở bộ đội về Cam Ranh.

Ngày 6 tháng 11 năm 1987, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ra Mệnh lệnh bảo vệ quần đảo Trường Sa, giao cho Quân chủng Hải quân "Đưa lực lượng ra đóng giữ các bãi đá cạn chưa có người, không chờ chỉ thị cấp trên". Chấp hành lệnh của trên, tháng 12 năm 1987, Quân chủng đưa lực lượng ra đóng giữ đảo Đá Tây, đồng thời khẩn trương đóng các phương tiện chuyển tải và các pông-tông là các căn cứ nổi làm nhiệm vụ chốt giữ bảo vệ các đảo chìm (bãi đá cạn) trên quần đảo Trường Sa.

Ngày 2 tháng 12 năm 1987, tàu HQ 604 thuộc Lữ đoàn 125 đưa bộ đội cùng vật liệu đến xây nhà cấp 3 ở đảo Đá Tây. Sau một thời gian lao động khẩn trương, cán bộ, chiến sĩ đã hoàn thành khu nhà ở, nhà trực, tổ chức canh gác, bảo vệ đảo.

Đầu năm 1988, tình hình khu vực Trường Sa đột ngột trở nên căng thẳng. Ngày 9 tháng 1 năm 1988, Đảng ủy Quân chủng họp nhận định: Trung Quốc sẽ tiến hành các hoạt động quân sự tranh chấp chủ quyền hải đảo chiếm một số bãi san hô nổi hoặc chìm khi nước lên, xen kẽ với các đảo của ta. Các nước khác có thể tranh chấp thêm các đảo kể cả khi có xung đột với nhau. Cũng có nước có thể chiếm đóng một số đảo nằm giữa Kỳ Vân và Ri-gân. Cuộc tranh chấp các đảo đang trở thành nguy cơ trực tiếp đe dọa Việt Nam và các nước trong khu vực. Ở Bắc Bộ, Trung Quốc có thể triển khai thêm khu vực khai thác dầu khí, sử dụng không quân và hải quân bảo vệ gây tình hình căng thẳng ở khu vực này. Ở vịnh Thái Lan, Hải quân Mỹ thường xuyên qua lại có thể hỗ trợ cho hải quân Thái Lan mở rộng hoạt động, gây mất ổn định, uy hiếp chủ quyền vùng biển, hải đảo của ta ở phía Nam.

Ngày 22 tháng 1 năm 1988, Trung Quốc đưa 4 tàu gồm: hộ vệ tên lửa, tuần dương, tàu dầu, tàu đổ bộ và một số tàu khác đến chiếm đóng đảo Chữ Thập. Tiếp đó, Trung Quốc đưa một lực lượng lớn gồm 2 tàu hộ vệ tên lửa, 2 khu trục tên lửa, 4 tàu bảo đảm đậu xung quanh đảo, khống chế không cho tàu thuyền các nước qua lại để bảo vệ đảo Chữ Thập. Hải quân Trung Quốc còn tổ chức ba cụm tuyến hoạt động gồm: Cụm phía sau lấy Hoàng Sa làm căn cứ thường xuyên có tàu hộ vệ pháo, hộ vệ tên lửa, khu trục tên lửa, tuần dương, các tàu ngầm và tàu hộ tống nhằm ngăn cản, uy hiếp lực lượng tàu hải quân ta hoạt động ở vịnh Bắc Bộ, gây khó khăn cho ta trong việc triển khai hoạt động bảo vệ vùng biển phía Nam; cụm ngăn chặn lực lượng hải quân ta ở đông bán đảo Cam Ranh, Cù Lao Thu và cụm Chữ Thập âm mưu khống chế ta ở khu vực Trường Sa, nếu có thời cơ phát triển lực lượng xuống khu vực phía Nam.

Ngày 23 tháng 1 năm 1988, tàu 613 thuộc Vùng 4 hải quân chở lực lượng và vật liệu ra đảo Tiên Nữ. Sau hai ngày vật lộn với sóng to, gió lớn, tàu đến Tiên Nữ. Phương châm xây dựng là làm đến đâu chắc đến đó. Đầu tháng 2 năm 1988, cán bộ, chiến sĩ trên đảo hoàn thành nhà ở cấp 3, nơi sinh hoạt, bếp ăn và triển khai phương án sẵn sàng chiến đấu bảo vệ đảo.

Ngày 27 tháng 1 năm 1988, tàu HQ-611 và tàu HQ-712, do đồng chí Công Phán, Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 146 làm biên đội trưởng, đồng chí Nguyễn Thế Dân, Phó tham mưu trưởng Vùng 4 hải quân làm biên đội phó, chỉ huy 1 đại đội công binh và 2 khung đảo của Lữ đoàn 146 đến đóng giữ đảo Chữ Thập. Ngày 29 tháng 1, tàu bị hỏng máy phải dừng lại sửa chữa, đồng chí Nguyễn Thế Dân chuyển sang tàu HQ-07 thuộc Lữ đoàn 171 đi làm nhiệm vụ bảo vệ đảo Đá Lớn. Đồng chí Công Phán ở lại, sau khi tàu sửa chữa xong tiếp tục chỉ huy biên đội tiến về phía đảo Chữ Thập. Sáng ngày 30 tháng 1, khi cách đảo 5 hải lý, thì phát hiện 4 tàu chiến đấu của Trung Quốc, gồm 2 tàu hộ vệ tên lửa, 2 tàu hộ vệ pháo ra ngăn cản, có lúc chỉ cách 300m, không cho tiếp cận đảo, tàu đành phải quay về Trường Sa Đông, không thực hiện được việc đóng giữ đảo Chữ Thập như kế hoạch đề ra.

Cuối tháng 1 năm 1988, tàu HQ-851, tàu HQ-852 đang bảo dưỡng định kỳ ở nhà náy Ba Son, nhận được lệnh ra đốc về Sở chỉ huy Quân chủng ở Cam Ranh nhận nhiệm vụ.

Ngày 31 tháng 1 năm 1988, Trung Quốc đưa thêm lực lượng củng cố đảo Chữ Thập thành căn cứ để khống chế ta ở khu vực Trường Sa. Khi chiếm đóng đảo Chữ Thập, Trung Quốc đã bộc lộ rõ âm mưu tranh chấp với ta ở Trường Sa. Trước diễn biến mới, Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Quân chủng chủ trương hành động, tập trung cao nhất khả năng lực lượng của Quân chủng vào đấu tranh bảo vệ chủ quyền vùng biển và quần đảo Trường Sa, chạy đua với thời gian nhanh chóng đóng giữ các đảo theo kế hoạch; đồng thời đề xuất với Đảng, Chính phủ phát động phong trào "Cả nước hướng về Trường Sa", "Ủng hộ, chi viện Trường Sa và vì Trường Sa". Đảng ủy Quân chủng xác định rõ lúc này "Nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền vùng biển và quần đảo Trường Sa là nhiệm vụ quan trọng nhất, khẩn trương nhất và vinh quang nhất của Quân chủng Hải quân". Toàn quân chủng bước vào chiến dịch “CQ88" với ý chí và quyết tâm mạnh mẽ.

Trong suốt quá trình tham gia và phục vụ chiến dịch CQ88, thành tích nổi bật của vùng là đơn vị tàu quét mìn HQ-851 Lữ đoàn 161, do Thiếu tá Hoàng Thái Lan, thuyền trưởng; Đại úy Đặng Huy Hùng, thuyền phó chính trị chỉ huy, đã hoạt động liên tục 3 tháng 9 ngày bảo vệ chủ quyền vùng biển quần đảo Trường Sa.

Ngày 3 tháng 2 năm 1988, khi đang nằm sửa chữa định kỳ tại Nhà máy Ba Son thì tàu HQ-851 nhận được lệnh xuất xưởng đi làm nhiệm vụ ở Trường Sa. Đúng theo kế hoạch, ngày 6 tháng 2 tàu cập cảng Cam Ranh và ngay tối hôm đó, đồng chí thuyền trưởng lên nhận lệnh trực tiếp từ đồng chí Tư lệnh Quân chủng. Sau khi giao nhiệm vụ, đồng chí Tư lệnh nhấn mạnh, tình hình rất cáng thẳng, khẩn trương, ta và đối phương giành giật nhau từng hòn đảo, hai bên có thể nổ súng và các đồng chí có thể phải hy sinh, nhưng để giữ được đảo cho Tổ quốc cần 1 chiếc tàu HQ-851 hy sinh chứ cần đến 10 chiếc tàu như HQ-851 hy sinh thì ta cũng phải hy sinh. Nếu để mất đảo thì sau này có cần đến 100 tàu như 851 hy sinh ta cũng khó lấy lại được đảo. Nhận thức sâu sắc ý nghĩa của nhiệm vụ mới, chi bộ tàu HQ-851 khẩn trương tổ chức quán triệt, xây dựng quyết tâm cho cán bộ và đơn vị, nhanh chóng tiến hành công tác chuẩn bị, nhận thêm vũ khí, đạn dược, lương thực, thực phẩm, dầu, nước.

Ngày 4 tháng 2 năm 1988, Thường vụ Đảng ủy Quân chủng họp nhận định: Trung Quốc đã cho quân đóng trên đảo Chữ Thập, trước mắt ta chưa đóng xen kẽ vì họ ngăn chặn ta từ xa. Họ có thể mở rộng phạm vi chiếm đóng sang các đảo Châu Viên, Đá Đông, Đá Nam, Tốc Tan và đóng xen kẽ những bãi đá ta đang đóng giữ. Do đó, ta phải nhanh chóng đưa lực lượng ra đóng giữ Đá Lát, Đá Lớn, Châu Viên. Tình hình nhiệm vụ của Quân chủng ở quần đảo trường Sa khẩn trương, cấp bách. Được sự đồng ý của trên, Quân chủng thành lập Sở chỉ huy tiền phương tại Cam Ranh, do đồng chí Giáp Văn Cương làm Tư lệnh kiêm tư lệnh Vùng 4. Các cơ quan: tham mưu, chính trị, hậu cần, kỹ thuật đều tổ chức các bộ phận tiền phương của ngành để kịp thời giải quyết mọi mặt theo yêu cầu đóng giữ, bảo vệ Trường Sa và DKI. Cục Kỹ thuật đã chỉ đạo các nhà máy, xưởng trạm, kho tàng lập các tổ đội sửa chữa động thường trực tại các khu vực Cam Ranh, Nha Trang, Đà Nẵng, Vũng Tàu và bám theo tàu thuyền các đơn vị để sửa chữa, bảo đảm kỹ thuật cho các hoạt động đóng giữ, bảo vệ các đảo và căn cứ.

Ngày 5 tháng 2 năm 1988, lực lượng của ta ra chiếm giữ đảo Đá Lát. Ngày 6 tháng 2 năm 1988, biên đội tàu 611 và 712 đang neo đậu ở đảo Trường Sa Đông đưa bộ đội đến đóng giữ đảo Đá Lớn.

Ngày 8 tháng 2 năm 1988 tàu HQ-851 xuất phát đi làm nhiệm vụ. Trên đường hành quân một số cán bộ, chiến sĩ tỏ ra lo lắng căng thẳng, chi bộ và chỉ huy tàu tiếp tục tổ chức quán triệt nhiệm vụ củng cố ý chí quyết tâm chiến đấu cho toàn chi bộ và tàu. Thực hiện đúng kế hoạch công tác, ngày 10 tháng 2 tàu HQ-851 đến đảo Trường Sa Lớn, neo đậu tại đây một đêm, chỉ huy tàu làm việc với chỉ huy đảo, truyền đạt mệnh lệnh, ý đồ của Tư lệnh. Sáng 11 tháng 2 tàu nhổ neo hướng về đảo Trường Sa Đông. Tại đây sau khi làm việc với chỉ huy đảo xong, tàu tiếp tục hành trình đến đảo chìm Đá Đông. Đến đảo Đá Đông, tàu HQ-851 tiến hành các hoạt động khảo sát đo độ sâu xác định các khu vực neo đậu và chốt lại ở đây, trực bảo vệ đảo.

Ngày 13 tháng 2, tại đảo Đá Lớn, Lữ đoàn 125 cho tàu 505 kéo tàu LCU 556 cùng bộ phận làm nhà cao chân đóng giữ đảo Đá Lớn. trong khi ta đang tiến về phía đảo, thì phát hiện tàu khu trục và hai tàu hộ vệ tên lửa của Trung Quốc cũng tiến về phía Đá Lớn. Khi ta cách Đá Lớn khoảng 4 hải lý, tàu Trung Quốc thả thủy lôi ngăn cản, uy hiếp ta. Trước tình hình đó, ban chỉ huy tàu 505 họp nhận định: Trung Quốc chưa biết ý đồ của ta đưa lực lượng ra đóng giữ đảo, việc thị uy không liên quan đến hành trình, ta cứ cho tàu chạy theo hướng đã định. Tàu 505 bình tĩnh, khôn khéo đưa tàu LCU 556 tiếp tục tiến về phía bắc đảo.

Ngày 15 tháng 2 năm 1988 (tức ngày 29 tết âm lịch năm 1988), theo lệnh của Sở chỉ huy Quân chủng, tàu vận tải HQ-614 Vùng IV tới đảo Đá Đông kết hợp với tàu HQ-851 lập thành biên đội, do Sở chỉ huy phía trước của Vùng IV đang ở tàu 614 chỉ huy. Sở chỉ huy phía trước của Vùng IV gồm Đại tá Lê Văn Thư, Chỉ huy trưởng Vùng IV; Trung tá Nguyễn Văn Dân, Phó tham mưu trưởng Vùng và Trung tá Lê Xuân Bạ, Phó chủ nhiệm chính trị Vùng. Vừa làm nhiệm vụ trực bảo vệ đảo, biên đội vừa triển khai cho bộ đội ở hai tàu ăn tết đón xuân tại đảo Đá Đông.

Ngày 17 tháng 2 năm 1988, Đảng ủy và Bộ Tư lệnh di chuyển một bộ phận quan trọng các cơ quan Bộ Tham mưu, Cục Chính trị, Cục Kỹ thuật, Cục Hậu cần vào Cam Ranh. Đặt Sở chỉ huy Quân chủng lại đây để trực tiếp chỉ huy các lực lượng đơn vị làm nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền quần đảo Trường Sa.

Sau ba ngày đón tết, đến ngày 18 tháng 2, tàu HQ-851 và tàu HQ-614 nhận lệnh đến chốt giữ, bảo vệ đảo Châu Viên. 12 giờ trong ngày 18 tháng 2 tàu tới đảo, tàu HQ-614 hạ xuồng chở 7 cán bộ, chiến sĩ lên đảo cắm cờ Tổ quốc; nước biển cường, anh em thay nhau xuống đảo giữ cờ. Trời tối dần, nước biển lên cao, bãi đá chìm sâu dưới nước, sóng to, anh em giữ cờ Tổ quốc ướt rét, đói, buộc phải quay về tàu. Lúc này, tàu HQ-851 bị rê neo trôi dần ra xa. Biên đội quyết định đưa tàu về đảo Đá Đông.

23 giờ ngày 18 tháng 2, hai tàu tới chốt giữ đảo Đá Đông thì nhận được điện của Sở chỉ huy Quân chủng lệnh "Cho tàu quay trở lại đảo Châu Viên, bằng mọi giá ủi bãi, chấp hành, không được hỏi lại". Tình huống hết sức khẩn trương, 1 giờ ngày 19 tháng 2, hai tàu nhổ neo tiến về đảo Châu Viên. 5 giờ trong ngày tới nơi, tàu HQ-851 được lệnh ủi bãi. Tàu cơ động vào đảo, 3 tàu chiến của đối phương lao đến cắt mũi, ngăn chặn; cán bộ, chiến sĩ tàu 851 không nao núng tiếp tục điều khiển tàu tiến lên tìm cách tiếp cận đảo, tàu đối phương vẫn hung hãn kèm sát, quay súng hia thẳng về đài chỉ huy tàu ta đe dọa.

12 giờ, ngày 19 tháng 2 Sở chỉ huy điện cho tàu HQ-851: "Tiếp tục ủi bãi, Tổ quốc và nhân dân không bao giờ quên các đồng chí". Tàu ta và tàu đối phương giằng co, quanh đảo Châu Viên. Song với ưu thế hơn hẳn, 3 tàu lớn của đối phương áp sát, cản trở, tàu HQ-851 không thực hiện được hành động ủi bãi để đưa tàu và người lên đảo. Tới 16 giờ trong ngày 19 tháng 2 , tàu HQ-851 bị hỏng 1 máy chính và 2 máy phụ, tình hình càng khó khăn hơn. Sở chỉ huy phía trước của Vùng IV nhận định, sức cơ động của tàu ta ngày càng kém đi, sức khỏe của bộ đội cũng mỗi lúc một yếu, tàu đối phương mạnh hơn, nhiều hơn và quyết ngăn chặn ta ủi bãi để chiếm đóng đảo Châu Viên. Trong khi đó, đảo Đá Đông có vị trí cũng rất quan trọng gần đảo Trường Sa Đông hơn đảo Châu Viên, nếu ta cứ giằng co với đối phương ở đảo Châu Viên thì chưa chắc ta giữ được mà có thể còn mất cả đảo Đá Đông. Đồng chí Lê Văn Thư quyết định cho hai tàu quay trở lại đóng giữ đảo Đá Đông trong lúc đối phương đang tập trung lực lượng ở Châu Viên. Trung Quốc chiếm được đảo Châu Viên vào ngày 19 tháng 2.

18 giờ, ngày 19 tháng 2 các tàu HQ-851, HQ-614 quay trở lại đảo Đá Đông, lập tức triển khai đóng giữ đảo. Tàu 614 nhanh chóng cơ động vào vị trí đổ bó, 10 cán bộ, chiến sĩ do đồng chí Dân chỉ huy đổ bộ lên đảo cắm cờ và xây dựng công sự chiến đấu. Tàu HQ-851 tiến vào vị trí chiến đấu, làm nhiệm vụ bảo vệ tàu 614 thực hiện nhiệm vụ xây dựng nhà, công sự phòng thủ trên đảo Đá Đông. Lúc đó là 18 giờ 30 phút ngày 19 tháng 2 năm 1988. Những ngày sau đó, tàu HQ-851 trực bảo vệ đảo bảo vệ các lực lượng của Quân chủng tập kết vật liệu xây dựng các công trình trên đảo Đá Đông cùng với tàu HQ-614.

Ngày 20 tháng 2 năm 1988, các lực lượng đơn vị tàu chiến đấu, vận tải, công binh, bộ binh của Quân chủng vượt qua mọi sự ngăn cản khiêu khích của tàu Trung Quốc nhanh chóng triển khai các hoạt động bảo vệ Trường Sa, đã đóng giữ đảo Đá Lát.

Cũng trong ngày 20 tháng 2, sau khi quan sát thăm dò luồng, tàu 556 tiến vào phía nam đảo Đá Lớn an toàn. Cùng thời gian này, tàu Đại lãnh của công ty trục vớt cứu hộ Sài Gòn kéo tàu HQ-582 và pông-tông Đ02 đi Đá Lớn. Ngày 27 tháng 2, tàu xuất phát từ thành phố Hồ Chí Minh, đến ngày 1 tháng 3, pông-tông Đ02 vào đến vị trí phía bắc đảo Đá Lớn. Ngày 21 tháng 2 năm 1988, Cán bộ, chiến sĩ trên pông-tông Đ02 và lực lượng trên tàu LCU đã đến triển khai lực lượng, xây dựng thế trận phòng thủ bảo vệ đảo Đá Lớn.

Ngày 21 tháng 2 năm 1988, Tư lệnh quân chủng ra lệnh cho Vùng III chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu từ thường xuyên lên tăng cường; riêng Lữ đoàn 162 và Hải đội tàu tên lửa 131 của Lữ đoàn 172 Vùng I vào tăng cường cho Vùng III từ thường 1 năm 1988, chuyển trạng thái từ thường xuyên lên cao.

Toàn vùng và các lực lượng tàu phóng lôi, tên lùa, tàu quét mìn nhanh chóng thực hiện các biện pháp chuyển vào trạng thái sẵn sàng chiến đấu theo quy dình. Các trạm ra-đa chuyển sang hoạt động quan sát theo phương án tăng cường; các mặt công tác bảo đảm kỹ thuật: hậu cần cho sẵn sàng chiến đấu được khẩn trương tiến hành.

Sau hai ngày, các tàu được bổ sung đủ định mức cơ bản về đạn, lương thực, thực phẩm và nhiên liệu Công tác bảo đảm kỹ thuật, đã hợp đồng với xưởng 50 và phát huy khả năng sửa chừa của các trạm của vùng, sự giúp đỡ chi viện của chuyên gia Liên Xô nhanh chóng khắc phục, sửa chừa những hư hỏng của các tàu chiến đấu và chuẩn bị vũ khí chiến đấu; đã bảo đảm tốt cho 4 tàu tên lửa 205E, (HQ-358, HQ-359, HQ-360, HQ-A61); 4 tàu phóng lôi 206ME (HQ-331, HQ-333, HQ-334, HQ-335); 2 tàu quét mìn 1265E, 1258E (HQ-861, HQ-816), 2 tàu cá HQ-669, HQ-670 và 2 tàu đổ bộ LCU 455, 458, sẵn sàng làm nhiệm vụ theo mệnh lệnh của Quân chủng. Các trạm vũ khí 63, 67 chuẩn bị xong 11 quả ngư lôi trong đó có 4 quả nạp dầu T1 và 14 quả tên lửa chờ lệnh nạp khí ô-gơ.

Ngày 26 tháng 2, Trung Quốc chiếm thêm đảo Ga Ven. Ngày 26 tháng 2, Hải Quân Việt Nam đóng giữ đảo Tiên Nữ, và sang ngày 27 tháng 2, ta chốt giữ thêm đảo Tốc Tan.

Ngày 2 tháng 3, ta tổ chức đóng giữ thêm đảo Núi Le bước đầu tạo được thế đứng chân trên các khu vực quan trọng thuộc quần đảo Trường Sa để ngăn chặn được việc mở rộng phạm vi lấn chiếm của các đối phương. Như vậy đến tháng 3 năm 1988, lực lượng Hải quân ta đã triển khai xây dựng xong thế trận phòng thủ trên các đảo Đá Lát, Đá Đông, Tốc Tan, Tiên Nữ và Đá Lớn, đưa tổng số đảo đóng giữ của ta lên 16, trong đó gồm 9 đảo nổi, 7 đảo chìm.

Trong thời gian đầu tháng 3, Trung Quốc huy động lực lượng của hai hạm đội xuống khu vực quần đảo Trường Sa, tăng số tàu hoạt động ở đây thường xuyên lên 9 đến 12 tàu chiến gồm: 1 tàu khu trục tên lửa, 7 tàu hộ vệ tên lửa, 2 tàu hộ vệ pháo, 2 tàu đổ bộ, 3 tàu vận tải hỗ trợ LSM, tàu đo đạc, tàu kéo và 1 pông tông lớn với ý đồ chiếm giữ 3 đảo Gạc Ma, Cô Lin và Len Đao.

Ngày 4 tháng 3 năm 1988, Thường vụ Đảng ủy Quân chủng họp nhận định: Trung Quốc đã cho quân chiếm giữ Chữ Thập, Châu viên, Ga ven, Xu Bi, Huy Gơ. Ta xây dựng thế trận phòng thủ ở các đảo Tiên Nữ, Đá Lát, Đá Lớn, Đá Đông, Tốc Tan, bước đầu ngăn chặn được hành động mở rộng phạm vi chiếm đóng của Trung Quốc ra các đảo lân cận. Song đối phương có thể chiếm thêm một số bãi cạn xung quanh cụm đảo Sinh Tồn, Nam Yết và đông kinh tuyến 115 độ. Thường vụ xác định: Gạc Ma giữ vị trí quan trọng, nếu để Trung Quốc chiếm giữ sẽ khống chế đường qua lại của ta tiếp tế, bảo vệ chủ quyền quần đảo Trường Sa. Vì vậy, Thường vụ Đảng ủy Quân chủng hạ quyết tâm đóng giữ các đảo Gạc Ma, Cô Lin và Len Đao. Đây là một nhiệm vụ hết sức nặng nề, khẩn trương, bởi trong cùng một lúc hải quân ta phải triển khai đóng giữ cả 3 đảo trong điều kiện phương tiện, trang bị của ta cũ, thô sơ, lực lượng hạn chế. Thường vụ Đảng ủy Quân chủng giao cho Lữ đoàn 125 cử lực lượng thực hiện nhiệm vụ này.

Lúc 19h ngày 11 tháng 3, tàu HQ-604 rời cảng ra đảo Gạc Ma để thực hiện nhiệm vụ trong chiến dịch CQ-88.

Ngày 12 tháng 3, tàu HQ-605 thuộc Lữ 125 do thuyền trưởng Lê Lệnh Sơn chỉ huy được lệnh từ Đá Đông đến đóng giữ đảo Len Đao trước 6h ngày 14 tháng 3. Sau 29 tiếng hành quân, tàu 605 đến Len Đao lúc 5h ngày 14 tháng 3 và cắm cờ Việt Nam trên đảo Len Đao.
Thực hiện nhiệm vụ đóng giữ các đảo Gạc Ma và Cô Lin, 9h ngày 13 tháng 3, tàu HQ-604 của thuyền trưởng Vũ Phi Trừ và tàu HQ-505 của thuyền trưởng Vũ Huy Lễ được lệnh từ đảo Đá Lớn tiến về phía Gạc Ma, Cô Lin. Phối hợp với 2 tàu 505 và 604 có hai phân đội công binh (70 người) thuộc trung đoàn công binh 83, bốn tổ chiến đấu (22 người) thuộc Lữ đoàn 146 do Trần Đức Thông Phó Lữ đoàn trưởng chỉ huy và 4 chiến sĩ đo đạc của Đoàn đo đạc và biên vẽ bản đồ (thuộc Bộ Tổng tham mưu). Sau khi hai tàu của Việt Nam thả neo được 30 phút, tàu hộ vệ của Hải quân Trung Quốc từ Huy Gơ chạy về phía Gạc Ma, có lúc đôi bên chỉ cách nhau 500 m.

17h ngày 13 tháng 3, tàu Trung Quốc áp sát tàu 604 và dùng loa gọi sang. Bị uy hiếp, 2 tàu 604 và 505 kiên trì neo giữ quanh đảo. Còn chiến hạm của Trung Quốc cùng 1 hộ vệ hạm, 2 hải vận hạm thay nhau cơ động, chạy quanh đảo Gạc Ma.

Trước tình hình căng thẳng do hải quân Trung Quốc gây ra, lúc 21h ngày 13 tháng 3, Bộ Tư lệnh Hải quân Việt Nam chỉ thị cho Trần Đức Thông, Vũ Huy Lễ, Vũ Phi Trừ chỉ huy bộ đội quyết giữ vững các đảo Gạc Ma, Cô Lin. Tiếp đó Bộ Tư lệnh Hải quân chỉ thị cho lực lượng công binh khẩn trương dùng xuồng chuyển vật liệu xây dựng lên đảo ngay trong đêm ngày 13 tháng 3. Thực hiện mệnh lệnh, tàu 604 cùng lực lượng công binh trung đoàn 83 chuyển vật liệu lên đảo Gạc Ma, tiếp đó lực lượng của Lữ đoàn 146 bí mật đổ bộ, cắm cờ Việt Nam và triển khai 4 tổ bảo vệ đảo.

Lúc này, Trung Quốc điều thêm 2 hộ vệ hạm trang bị pháo 100 mm đến hỗ trợ lực lượng đã đến từ trước, yêu cầu phía VN rút khỏi đảo Gạc Ma. Ban chỉ huy tàu 604 họp nhận định: Trung Quốc có thể dùng vũ lực can thiệp và quyết định chỉ huy bộ đội bình tĩnh xử trí, thống nhất thực hiện theo phương án tác chiến đề ra, quyết tâm bảo vệ Gạc Ma.

Ngày 14 tháng 3, chiến sự diễn ra ác liệt tại khu vực các đảo Gạc Ma, Cô Lin, và Len Đao.

Tại đảo Gạc Ma, vào lúc 7 giờ sáng sớm ngày 14 tháng 3 năm 1988, Trần Đức Thông, Lữ đoàn phó Lữ đoàn 146, từ tàu HQ 604 đang thả neo phát hiện thấy bốn chiếc tàu lớn của Trung Quốc đang tiến lại gần. Tổ 3 người gồm thiếu úy Trần Văn Phương cùng hai thủy thủ là Nguyễn Văn Tư và Nguyễn Văn Lanh đang leo lên 4 gành đá cao tìm cách dựng cột cờ thì các chiến hạm Trung Quốc lúc đó đã tới gần đảo. Bốn Tàu chiến Trung Quốc loại trang bị hỏa tiễn bao quanh đảo và hú còi báo động , các thủy thủ của Trung Quốc trông rất dữ tợ, đầu cạo trọc nhảy lên các dàn súng đại liên quay mũi súng chỉa vào lính HQVN . Hai Chiếc Hải Quân Trung Quốc tiến gần sát hơn và chận đường rút lui của hai chiếc HQ605 và HQ505 . Hai chiếc xuồng máy chở 8 lính vũ trang mặc đồ rằn ri của Trung Quốc lao nhanh vào đảo . Thiếu tá Trần Ðức Thông lập tức ra lệnh cho các Thủy Thủ chiếc HQ604 lên đảo ứng chiến, bảo vệ cho thiếu úy Trần Văn Phương và hai thủy thủ không cho đối phương tiến lên. Các thủy thủ thuộc HQVN đã dàn súng chung quanh 4 ghềnh cao để bảo vệ , phòng thủ 4 hướng.

Trung Quốc thả thêm 3 thuyền nhôm và 40 quân đổ bộ lên đảo giật cờ Việt Nam. Lúc nầy tàu chỉ huy là chiếc HQ604 đã cho phóng loa , nói tiếng Tàu với các bộ đội vũ trang Trung Quốc đang tràn lên bãi " Đây là đảo chủ quyền của VN, yêu cầu các đồng chí thuộc quân đội Nhân Dân Trung Quốc phải rời đảo" "Các đồng chí đã xâm phạm lãnh thổ VN" . Lời nói từ chiếc HQ604 chưa dứt thì Tàu Hải Quân Trung Quốc chiếc 502 khai hỏa đầu tiên. Thuyền trưởng Vũ Phi Trừ chỉ huy quân trên tàu sử dụng các loại súng AK, RPD, B-40, B-41 đánh trả quyết liệt, buộc đối phương phải nhảy xuống biển bơi trở về tàu. Trung quốc thả thêm nhiều Ca Nô loại nhỏ chở hằng trăm lính vũ trang rằn ri khác tràn lên đảo Gạc Ma.
Các cây đại liên trên tàu Trung Quốc đã bắn trực xạ vào thủy thủ VN trên đảo, người đứt tay, người đứt đầu, máu văng tung tóe đỏ lòm nước biển. 3 Chiến hạm Trung Quốc còn lại bất ngờ xã hết dàn hỏa tiễn vào 3 tàu chiến của HQVN bốc cháy nghiêng về một bên , các thủy thủ trên tàu hốt hoảng nhảy xuống nước để thoát thân . Lúc nầy hằng trăm lính Trung Quốc trên Đảo Gạc Ma nã súng bắn tỉa từng người của HQVN đang bơi lỏm ngỏm dưới nước . Những tiếng la kinh hoàng , những thân xác bỗng chốc chìm sâu xuống lòng đại dương , máu đỏ nhuộm nước biển lênh láng khắp nơi . Trung Quốc tiếp tục nã pháo, tàu 604 của Việt Nam bị thủng nhiều lỗ và chìm dần xuống biển. Vũ Phi Trừ - thuyền trưởng, Trần Đức Thông - lữ đoàn phó Lữ đoàn 146 hy sinh, Hạ sĩ Nguyễn Văn Lanh bị lê đâm và bắn bị thương. Thiếu úy Trần Văn Phương bị bắn tử thương, trước khi chết anh đã hô: "Thà hy sinh chứ không chịu mất đảo, hãy để cho máu của mình tô thắm lá cờ truyền thống của Quân chủng Hải quân".

Tại đảo Cô Lin, 6h, tàu HQ-505 của Việt Nam đã cắm hai lá cờ trên đảo. Khi thấy tàu 604 của Việt Nam bị chìm, thuyền trưởng tàu 505 Vũ Huy Lễ ra lệnh nhổ neo cho tàu ủi bãi. Phát hiện tàu 505 đang lên bãi, 2 tàu của Trung Quốc quay sang tiến công tàu HQ-505. Khi tàu HQ-505 trườn lên được hai phần ba thân tàu lên đảo thì bốc cháy.

Lúc 8h15, thủy thủ tàu 505 vừa triển khai lực lượng dập lửa cứu tàu, bảo vệ đảo, và đưa xuồng đến cứu thủy thủ tàu 604 bị chìm ở phía bãi Gạc Ma ngay gần đó. Tàu HQ-505 bị phá huỷ nhưng cán bộ, chiến sĩ của tàu dưới sự chỉ huy của thuyền trưởng Vũ Huy Lễ đã hoàn thành nhiệm vụ lịch sử, bảo vệ chủ quyền đảo Cô Lin.

Tại đảo Len Đao, 8h20 ngày 14 tháng 3, Hải quân Trung Quốc bắn mãnh liệt vào tàu HQ-605 của Hải quân Việt Nam. Tàu 605 bị bốc cháy và chìm lúc 6h ngày 15/3, thủy thủ đoàn của tàu bơi về đảo Sinh Tồn.

Thượng uý Nguyễn Văn Chương và trung uý Nguyễn Sĩ Minh tổ chức đưa thương binh và chiến sĩ về tàu 505 (sau khi bị bắn cháy nằm trên bãi Cô Lin). Thi hài các chiến sĩ Nguyễn Văn Phương, Nguyễn Văn Tư, cùng các thương binh nặng được đặt trên xuồng. Số người còn sức một tay bám thành xuồng một tay làm mái chèo đưa xuồng lết trên mặt nước để tới bãi Cô Lin.

Trong trận chiến ngày 14 tháng 3 năm 1988, Việt Nam bị thiệt hại 3 tàu bị bắn cháy và chìm, 3 người tử trận, 11 người khác bị thương, 70 người bị mất tích. Sau này Trung Quốc đã trao trả cho phía Việt Nam 9 người bị bắt, 61 người vẫn mất tích và được xem là đã tử trận. Việt Nam bị chiếm đảo Gạc Ma nhưng vẫn bảo vệ được chủ quyền tại các đảo Cô Lin và Len Đao cho đến nay. Các chiến sĩ Vũ Phi Trừ, Trần Đức Thông, Vũ Huy Lễ, Nguyễn Văn Lanh, Trần Văn Phương được truy tặng và phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Hàng chục tập thể và cá nhân được tặng thưởng huân chương Quân công, huân chương chiến công các loại.

Ngày 23 tháng 3 năm 1988, Trung Quốc chiếm thêm đảo Xubi. Ngày 31 tháng 3 năm 1988, Tư lệnh Hải quân lệnh cho Vùng 4, Lữ đoàn 125, Lữ đoàn 146; các hải đội 131, 132, 134 của Lữ đoàn 172 chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu cao; đồng thời lệnh cho Vùng 1, Vùng 3 và Lữ đoàn 125 ở Hải phòng chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu tăng cường. Bộ Tư lệnh Hải quân điều động 41 tàu thuyền và phương tiện nổi của Lữ đoàn 125, Cục Kinh tế, Vùng 1, Vùng 3, Vùng 5, Trường sĩ quan Hải quân, Nhà máy Ba Son, X51 tiếp nhận 3 tàu của nhà nước, 3 tàu của Tổng cục Hậu cần và 2 tàu của Quân khu 5 đến phối thuộc hoạt động khi cần thiết

Trải qua hơn 5 tháng, vượt qua mọi thử thách, khó khăn, được sự chi viện của các lực lượng trong toàn quân, của các đơn vị ngành vận tải, cứu hộ của Nhà nước và nhân dân ở nhiều tỉnh, thành ven biển, Quân chủng Hải quân đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ CQ88, đóng giữ và bảo vệ thắng lợi 11 đảo mới với 32 điểm đóng quân.

Ngày 7 tháng 5 năm 1988, tại lễ kỷ niệm 33 năm ngày thành lập Hải quân nhân dân, Đại tướng Lê Đức Anh, ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Đảng ủy quân sự Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đến thăm cán bộ, chiến sĩ trên quần đảo Trường Sa. Đại tướng biểu dương: "Hải quân đã tích cực, kiên trì thực hiện nghị quyết của Bộ Chính trị, mệnh lệnh của Bộ Quốc phòng về bảo vệ quần đảo Trường Sa. Mặc dù có nhiều khó khăn, song đã nỗ lực thực hiện nhiệm vụ được giao".Tại cuộc mít tinh ở đảo Trường Sa, Đại tướng phát biểu nhấn mạnh: "Nhân kỷ niệm ngày thành lập Hải quân nhân dân Việt Nam trên đảo chính của quần đảo Trường Sa, có mặt đông đủ các Tổng cục, các quân chủng, đại biểu tỉnh Phú Khánh, chúng ta xin thề trước hương hồn của Tổ tiên ta, trước hương hồn của cán bộ, chiến sĩ đã hy sinh vì Tổ quốc, xin hứa trước đồng bào cả nước, xin nhắn nhủ với các thế hệ mai sau: Quyết tâm bảo vệ bằng được Tổ quốc thân yêu của chúng ta, bảo vệ bằng được quần đảo Trường Sa - một phần lãnh thổ và lãnh hải thiêng liêng của Tổ quốc thân yêu của chúng ta".

Ngày 5 tháng 7 năm 1988, Đảng ủy Quân chủng họp nhận định: Sau những hành động khiêu khích quân sự vừa qua, Trung Quốc sẽ tiếp tục có những âm mưu cô lập hạn chế hoạt động của ta để mở rộng quyền kiểm soát, khống chế vùng biển Đông. Đúng như dự đoán của ta, trên vùng biển và xung quanh khu vực quần đảo Trường Sa, Trung Quốc thường xuyên duy trì từ 10-15 tàu, trong đó có 4-6 tàu chiến.

Đầu tháng 9 năm 1988, Trung Quốc đưa tàu trinh sát bằng vô tuyến điện xuống trinh sát 21 đảo ta đang đóng giữ, uy hiếp chiếm lại khi thời cơ thuận lợi và tuyên truyền về chiến lược biển và kinh tế biển, tập trung vào dầu khí thuộc khu vực thềm lục địa phía Nam của Việt Nam. Trước tình hình đó, Đảng và Nhà nước ta chủ trương xây dựng tại khu vực thềm lục địa phía Đông Nam thuộc tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cụm kinh tế, khoa học, dịch vụ phục vụ phát triển kinh tế đất nước và giao nhiệm vụ cho Quân chủng Hải quân bảo vệ. Ngày 26 tháng 10 năm 1988, Phó đô đốc Giáp Văn Cương, Tư lệnh Hải quân giao nhiệm vụ cho Lữ đoàn 171 làm nhiệm vụ bảo vệ thềm lục địa phía Đông Nam (DK1). Đây là vùng có ý nghĩa chiến lược quan trọng cả về chính trị, kinh tế và quốc phòng - an ninh của đất nước.

Ngày 6 tháng 11 năm 1988, một biên đội hai tàu HQ-713 và HQ-688 thuộc Lữ đoàn 171, do các đồng chí Phạm Văn Thư, Nguyễn Hồng Thưởng chỉ huy rời cảng ra khơi. Sau hơn mười ngày hành quân trên biển, hai tàu đã đến vị trí tiến hành đo đạc khảo sát, đánh dấu, xác định vị trí thả neo làm nhà trên vùng biển rộng 60.000 km2. Trên cơ sở đó, ngày 26 tháng 11, Sở chỉ huy Quân chủng lệnh cho hai tàu HQ-713 và HQ-668 (Hải đoàn l71), do trung tá Hoàng Kim Nông, Phó Lữ đoàn trưởng về chính trị chỉ huy và hai tàu HQ-727, HQ-723 (Lữ đoàn 129), do trung tá Trần Xuân Vọng, Hải đoàn trưởng chỉ huy trực sẵn sàng chiến đấu ở DK1. Ngày 28 tháng 11 năm 1988, bốn lá cờ đỏ sao vàng tung bay trên bốn điểm ở khu vực DK1 khẳng định chủ quyền vùng biển của Tổ quốc. Tại đây, các tàu bố trí lực lượng canh gác, bảo vệ chủ quyền tài nguyên của đất nước.

Sang năm 1989, các đơn vị hải quân tiếp tục vận chuyển phương tiện củng cố các đảo chiếm giữ bằng chiến dịch CQ89.

Ngày 5 tháng 1 năm 1989, Vùng 3 hải quân tổ chức các tàu HQ-851, HQ-862 của Lữ đoàn 161; các tàu HQ-331, HQ-335, Lữ đoàn 162; các tàu HQ-A60, HQ-361 của Lữ đoàn 172 tăng cường do các tàu HQ-968, HQ-964, HQ-862 kéo dưới sự chỉ huy của Trung tá Nghiêm Xuân Phái, Lữ đoàn phó Lữ đoàn 161 hành quân vào Cam Ranh thường trực sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Trường Sa. Các tàu của vùng trực tại Cam Ranh do sở chỉ huy nhẹ của hai lữ đoàn 161 và 162 chỉ huy. Trong thời gian trực chiến đi làm nhiệm vụ, các tàu duy trì nghiêm các hoạt động huấn luyện và các chế độ trực sẵn sàng chiến đấu, nhưng phải đảm bảo khi có lệnh của Quân chủng là có thể đi chiến đấu được ngay.

Biên đội tàu HQ-851, HQ-862 vào đến Cam Ranh được ít ngày thì nhận !ệnh của Quân chủng hành quân vào Vũng Tàu trực chiến làm nhiệm vụ phối hợp với các biên đội tàu HQ-01, HQ-11 và HQ-13, HQ-17 của Lữ đoàn 171 sẵn sàng cơ động chốt giữ các bãi đá ngầm ở Dầu khí I (DKI) khi có tình huống tranh chấp xảy ra. Sau 15 ngày trực tại Vũng Tàu, hai tàu được lệnh quay về Cam Ranh. Tại Cam Ranh, tàu HQ-851 được trên giao nhiệm vụ chở đoàn cán bộ Bộ Quốc phòng do Đại tướng Đoàn Khuê, Bộ trưởng làm trưởng đoàn đi khảo sát và kiểm tra tình hình sẵn sàng chiến đấu trên quần đảo Trường Sa. Sau khi hoàn thành chuyến công tác này, tàu HQ-851 tiếp tục nhận nhiệm vụ chở đoàn Nhà nước do đồng chí Nguyễn Quyết, Phó chủ tịch Hội đồng Nhà nước làm trưởng đoàn đi công tác Trường Sa. Cả hai lần đi công tác, tàu bảo đảm tuyệt đối an toàn, đúng kế hoạch thời gian, được Thủ trưởng Quân chủng tặng bằng khen.

Trong quý II năm 1989, Vùng 3 hải quân tiếp tục tổ chức 2 tàu phóng lôi HQ-313, HQ-315 của Lữ đoàn 162 và 2 tàu quét mìn HQ-861, HQ-863 của Lữ đoàn 161 vào Cam Ranh, đưa tổng số tàu thường trực sẵn sàng chiến đấu lên 10 chiếc. Tuy nhiên, duy trì một số lượng lớn tàu thường trực chiến đấu ở xa căn cứ cũng là một vấn đề khó khăn trong công tác bảo đảm kỹ thuật, hậu cần thường xuyên và chiến đấu, các cơ quan Vùng tiếp tục nghiên cứu các phương án để làm tốt công tác bảo đảm các mặt cho lực lượng tàu trực.

Cùng với việc triển khai các công tác chuẩn bị chiến đấu cho lực lượng tàu thường trực, Vùng được sự ủy quyền của Quân chủng đã vận động và ký hợp đồng thuê tàu với các tỉnh Nghĩa Bình, Bình Trị Thiên, Quân khu 5 và Quảng Nam - Đà Nẵng vận chuyển vật liệu xây dựng cho các đảo ở Trường Sa. Kết thúc chiến dịch CQ89 tháng 6 năm 1989, các tàu này đã vận chuyển được 3.200 tấn hàng. Riêng tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng do triển khai chậm không thực hiện được hợp đồng.



Theo thông tin từ Lịch Sử Hải Quân Nhân Dân Việt Nam 1955-2005

sanleo
10-10-2008, 07:38 AM
Hình như VN có một danh sách khoảng trên 80 đảo định chiếm đóng trong CQ88, có ai biết danh sách này không? Một thắc mắc là tại sao nhà mình có một số tàu tấn công như OSA 2, Turya, Shershen được Liên Xô chuyển giao từ 1979 đến 1984 lại không điều động đi làm nhiệm vụ CQ88? Đành rằng vũ khí nhà mình không bằng được TQ nhưng như vậy vẫn còn hơn là chỉ có các tàu vận tải HQ-611, HQ-712, tàu HQ-851, tàu HQ-852, HQ-614, HQ-505, HQ-582, HQ-604 đi tay không mà không có tàu đi kèm để bảo vệ. Ít nhất là "đã bảo đảm tốt cho 4 tàu tên lửa 205E, (HQ-358, HQ-359, HQ-360, HQ-A61); 4 tàu phóng lôi 206ME (HQ-331, HQ-333, HQ-334, HQ-335); 2 tàu quét mìn 1265E, 1258E (HQ-861, HQ-816), 2 tàu cá HQ-669, HQ-670 và 2 tàu đổ bộ LCU 455, 458" và "riêng Lữ đoàn 162 và Hải đội tàu tên lửa 131 của Lữ đoàn 172 Vùng I vào tăng cường cho Vùng III từ thường 1 năm 1988" trong thời gian tháng 2/1988. Mình chỉ có tàu vận tải ở Gạc Ma thì làm sao mà đấu lại được một đống tàu hộ vệ mang tên lửa và pháo của TQ?
Có phải VN đã không lường trước khả năng TQ ra tay quá mạnh nên đã không kịp điều các tàu này đi cùng với tàu vận tải hay không? Hay còn có khó khăn nào khác như là thiếu xăng dầu, không đủ cơ số đạn, chiến sĩ chưa được huấn luyện kịp, còn bị vướng ở Campuchia? Và nếu có các tàu trên đi cùng tàu vận tải thì có thể sẽ có trận chiến khốc liệt hơn nhưng mình còn cơ may giữ được Gạc Ma, Châu Viên, Chữ Thập.
Một câu hỏi nữa là liệu mình có thể tiến hành một CQ80 hay CQ76 sớm hơn không khi mà chưa có chiến tranh biên giới Tây Nam và phía Bắc, khi mà kinh tế chưa đến mức khó khăn suy thoái trầm trọng trong năm 1988, và khi mà phần nhiều vũ khí chưa đến mức cũ nát sau giải phóng?
Và sau CQ88 cho đến nay 2008, nhà mình còn tiến hành các CQ khác nữa để chiếm đóng thêm các đảo hay không? Thỉnh thoảng Mã, Phi, Tàu, Đài vẫn đổ đất lên các bãi đá trống để chiếm đóng đấy thôi

Sát Thát
10-10-2008, 07:47 PM
sanleo viết : Hình như VN có một danh sách khoảng trên 80 đảo định chiếm đóng trong CQ88, có ai biết danh sách này không? Một thắc mắc là tại sao nhà mình có một số tàu tấn công như OSA 2, Turya, Shershen được Liên Xô chuyển giao từ 1979 đến 1984 lại không điều động đi làm nhiệm vụ CQ88? .....

TQ cũng có mấy món đó mà số lượng đông hơn nhiều, nếu mình đem ra chơi thì chơi sao lại? tốt nhất đem tàu vận tải ra "chọi" để có gì la làng lên là bị thằng "anh Hai" ăn hiếp . http://hoangsa.org/diendan/images/smilies/icon_e_biggrin.gif

scorpion_king84
04-01-2011, 06:18 AM
Kế hoạch quân giả này giống như Tào Tháo giả làm quân Viên Thiệu để đánh bại tướng Tưởng Kỳ của Viên Thiệu ý mà. Vấn đề là thời gian thôi, không biết bao giờ hải quân mình đủ mạnh mà đấu được với Trung Quốc đây.http://www.hoangsa.org/diendan/images/smilies/icon_question.gif (http://www.hoangsa.org/diendan/images/smilies/icon_question.gif)http://www.hoangsa.org/diendan/images/smilies/icon_question.gif (http://www.hoangsa.org/diendan/images/smilies/icon_question.gif)http://www.hoangsa.org/diendan/images/smilies/icon_question.gif (http://www.hoangsa.org/diendan/images/smilies/icon_question.gif)
Đừng ném đá tôi nhá.http://www.hoangsa.org/diendan/images/smilies/icon_mrgreen.gif (http://www.hoangsa.org/diendan/images/smilies/icon_mrgreen.gif)
Đây cũng là kế hạ Từ Châu mà Trần Đăng diệt Lữ Bố. Muốn vậy thì ta cần nội gián trên các đảo đó để truyền lệnh đi vào đúng thời điểm, cần có ra đa làm nhiễu loại mạnh để nhiễu tần số của các đảo mà Trung và Đaì chiếm đóng!

Người Việt @
04-01-2011, 08:38 AM
Mình chỉ có tàu vận tải ở Gạc Ma thì làm sao mà đấu lại được một đống tàu hộ vệ mang tên lửa và pháo của TQ?
Có phải VN đã không lường trước khả năng TQ ra tay quá mạnh nên đã không kịp điều các tàu này đi cùng với tàu vận tải hay không? Hay còn có khó khăn nào khác như là thiếu xăng dầu, không đủ cơ số đạn, chiến sĩ chưa được huấn luyện kịp, còn bị vướng ở Campuchia? Và nếu có các tàu trên đi cùng tàu vận tải thì có thể sẽ có trận chiến khốc liệt hơn nhưng mình còn cơ may giữ được Gạc Ma, Châu Viên, Chữ Thập.

Ngày 24 tháng 10 năm 1987, Tư lệnh Quân chủng ra lệnh chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu từ thường xuyên lên tăng cường cho Lữ đoàn 146, Vùng IV Hải quân, song yêu cầu các đơn vị đảo phải hết sức cảnh giác, tránh âm mưu khiêu khích của đối g
Tôi không hiểu chi tiết về chiến dịch này.
Nhưng có vẻ mục tiêu của chiến dịch CQ88 là tăng số lượng đảo chiếm giữ và tránh xung đột.
Xét cho đến cùng, lực lượng của Hải quân Việt nam so với Trung quốc là quá chênh lệch dù có điều thêm một số tàu chiến tham gia. Không rõ những người trực tiếp thực hiện chiến dịch này có được lệnh chiếm đảo bằng mọi giá hay không? Nhưng trong xung đột ngày 14/3/1988 họ hành động như những cảm tử quân đích thực.

Tại đảo Cô Lin, 6h, tàu HQ-505 của Việt Nam đã cắm hai lá cờ trên đảo. Khi thấy tàu 604 của Việt Nam bị chìm, thuyền trưởng tàu 505 Vũ Huy Lễ ra lệnh nhổ neo cho tàu ủi bãi. Phát hiện tàu 505 đang lên bãi, 2 tàu của Trung Quốc quay sang tiến công tàu HQ-505. Khi tàu HQ-505 trườn lên được hai phần ba thân tàu lên đảo thì bốc cháy.

hanphiquan
04-01-2011, 01:38 PM
Đọc xong thấy buồn quá, tiếc là ở trên biển, chúng ta điều kiện và tiềm lực vẫn chưa đủ có để bảo vệ!
Đại dương mênh mông, biết đường nào mà tiến mà lùi chứ!!!!!!!!!!!!
Mong sao tất cả mọi người dân chúng ta, đồng tâm hiệp lực với nhau để phát triển đất nước.

toan93
04-01-2011, 01:47 PM
Hình như VN có một danh sách khoảng trên 80 đảo định chiếm đóng trong CQ88, có ai biết danh sách này không? Một thắc mắc là tại sao nhà mình có một số tàu tấn công như OSA 2, Turya, Shershen được Liên Xô chuyển giao từ 1979 đến 1984 lại không điều động đi làm nhiệm vụ CQ88? Đành rằng vũ khí nhà mình không bằng được TQ nhưng như vậy vẫn còn hơn là chỉ có các tàu vận tải HQ-611, HQ-712, tàu HQ-851, tàu HQ-852, HQ-614, HQ-505, HQ-582, HQ-604 đi tay không mà không có tàu đi kèm để bảo vệ. Ít nhất là "đã bảo đảm tốt cho 4 tàu tên lửa 205E, (HQ-358, HQ-359, HQ-360, HQ-A61); 4 tàu phóng lôi 206ME (HQ-331, HQ-333, HQ-334, HQ-335); 2 tàu quét mìn 1265E, 1258E (HQ-861, HQ-816), 2 tàu cá HQ-669, HQ-670 và 2 tàu đổ bộ LCU 455, 458" và "riêng Lữ đoàn 162 và Hải đội tàu tên lửa 131 của Lữ đoàn 172 Vùng I vào tăng cường cho Vùng III từ thường 1 năm 1988" trong thời gian tháng 2/1988. Mình chỉ có tàu vận tải ở Gạc Ma thì làm sao mà đấu lại được một đống tàu hộ vệ mang tên lửa và pháo của TQ?
Có phải VN đã không lường trước khả năng TQ ra tay quá mạnh nên đã không kịp điều các tàu này đi cùng với tàu vận tải hay không? Hay còn có khó khăn nào khác như là thiếu xăng dầu, không đủ cơ số đạn, chiến sĩ chưa được huấn luyện kịp, còn bị vướng ở Campuchia? Và nếu có các tàu trên đi cùng tàu vận tải thì có thể sẽ có trận chiến khốc liệt hơn nhưng mình còn cơ may giữ được Gạc Ma, Châu Viên, Chữ Thập.
Một câu hỏi nữa là liệu mình có thể tiến hành một CQ80 hay CQ76 sớm hơn không khi mà chưa có chiến tranh biên giới Tây Nam và phía Bắc, khi mà kinh tế chưa đến mức khó khăn suy thoái trầm trọng trong năm 1988, và khi mà phần nhiều vũ khí chưa đến mức cũ nát sau giải phóng?
Và sau CQ88 cho đến nay 2008, nhà mình còn tiến hành các CQ khác nữa để chiếm đóng thêm các đảo hay không? Thỉnh thoảng Mã, Phi, Tàu, Đài vẫn đổ đất lên các bãi đá trống để chiếm đóng đấy thôi

Chắc là lực bất tòng tâm thôi bác ạ,em thấy VN hồi đó có ít tàu chiến quá...chắc không kham nổi.:D