PDA

View Full Version : Trung Quốc và âm mưu bành trướng!



hoángcb
14-12-2007, 05:55 PM
Vì sao TRUNG QUOC quyết tâm xâm chiếm HOÀNG SA - TRƯỜNG SA:
Thứ nhất: Hoàng Sa - Trường Sa có một vị trí địa lý đặc biệt quan trọng trong việc phát triển ngành công nghiệp vận tải đường biển quốc tế.
Thứ hai: Chiếm được Hoàng Sa - Trường Sa đồng nghĩa với việc chiếm được một nguồn lợi thủy sản phong phú tại đây
Thứ ba: Trường Sa - Hoàng Sa được xem là khu vực có khả năng chứa đựng rất nhiều dầu mỏ
Thư tư: Chiếm được Hoàng Sa - Trường Sa kẻ địch sẽ có nhiều lợi thế để xây dựng các "trạm trung chuyển khí tài" khi có chiến tranh với nước khác. Nó sẽ là gọng kìm lợi hại đối với tất cả các nước trong khu vục
Thứ năm: Chiếm được Hoàng Sa - Trường Sa biết đâu vài chục năm sau hay vài trăm năm sau NÓ lại tiến hành các cuộc xâm chiếm khác
Không biết ý bạn như thế nào

Vintq
14-12-2007, 06:03 PM
Vì sao TRUNG QUOC quyết tâm xâm chiếm HOÀNG SA - TRƯỜNG SA:
Thứ nhất: Hoàng Sa - Trường Sa có một vị trí địa lý đặc biệt quan trọng trong việc phát triển ngành công nghiệp vận tải đường biển quốc tế.
Thứ hai: Chiếm được Hoàng Sa - Trường Sa đồng nghĩa với việc chiếm được một nguồn lợi thủy sản phong phú tại đây
Thứ ba: Trường Sa - Hoàng Sa được xem là khu vực có khả năng chứa đựng rất nhiều dầu mỏ
Thư tư: Chiếm được Hoàng Sa - Trường Sa kẻ địch sẽ có nhiều lợi thế để xây dựng các "trạm trung chuyển khí tài" khi có chiến tranh với nước khác. Nó sẽ là gọng kìm lợi hại đối với tất cả các nước trong khu vục
Thứ năm: Chiếm được Hoàng Sa - Trường Sa biết đâu vài chục năm sau hay vài trăm năm sau NÓ lại tiến hành các cuộc xâm chiếm khác
Không biết ý bạn như thế nào

Không chỉ Trung Quốc mà cả Phillipines, Đài Loan đều tranh chấp 2 quần đảo này. Lợi ích từ 2 quần đảo nào thì ai cũng thấy rõ rồi. Mục đích của chúng ta mới là cái đáng quan tâm.

MrMonkee
16-12-2007, 05:17 PM
Thứ nhất, khoáng sản, trong đó có dầu hỏa, 1 thứ quý hơn vàng rồng trong tương lai gần, nghe đồn (chỉ là nghe đồ) là còn có uranium, đủ để TQ có thể xây dựng nhà máy hạt nhân ở đây, và cũng giống Iran hay CHDCND TTiên, TQ không phải sợ Mỹ hay Nga nữa.

Thứ hai, nguồn thu từ hải sản và du lịch.

Thứ ba, vị trí chiến lược trong quân sự, nếu chiếm được cả 2 quần đảo, việc chiếm cả Đông Nam Á của TQ chỉ còn là vấn đề thời gian.

TQ muốn trở thành Nhật Bản thời xưa và Mỹ thời nay.

Malaysia, Philippines có quyền sở hữu 1 vài hòn đảo nhỏ vì cư dân họ đã đến đó trước chứ họ không hề muốn chiếm cả quần đảo.

Nhưng TQ đã cấm VN, Malay, Philip không được đưa việc tranh chấp này ra LHQ, Malay và Philip cũng chỉ muốn yên thân và có chung tư tưởng là "nó có đánh thì đánh VN trước". Philip là bên khỏe nhất, vì phía sau họ là cả một hạm đội của Mỹ, và việc Mỹ có nhòm ngó 2 quần đảo này hay không thì ... chắc ai cũng có câu trả lời.

toiyeudatnuoctoi
16-12-2007, 09:52 PM
Tham vọng bành trướng ra biển Đông của Trung Quốc chỉ thực sự bắt đầu sau từ sau khi tái lập bang giao với Hoa Kỳ năm 1972.


Sau khi biết chắc quân đội Hoa Kỳ sẽ rút khỏi miền Nam sau Hiệp định Paris 1973, hải quân Trung Quốc đã đổ bộ và xâm chiếm những đảo còn lại ở phần phía Tây (Crescent) của quần đảo Hoàng Sa thuộc Việt Nam Cộng Hoà ngày 15-1-1974. Từ 1977 trở đi, Trung Quốc không ngừng xác nhận chủ quyền trên quần đảo Trường Sa ở ngoài khơi biển Đông và chiếm từ trên tay của Việt Nam đảo Thị Tứ năm 1982. Trong suốt thời gian từ 1982 đến 1988, Trung Quốc không ngừng gia tăng áp lực quân sự trên quần đảo Trường Sa và chiếm thêm 6 cồn và bãi san hô của Việt Nam. Để xác nhận chủ quyền trên những hải đảo và bãi san hô mới chiếm này, Trung Quốc cho vẽ lại bản đồ mới về hải phận, trong đó có Hoàng sa và Trường Sa, và mời công ty Crestone (Mỹ) vào dò tim dầu hỏa trên ba lô (133, 134 và 135) ngay trong khu vực kinh tế độc quyền của Việt Nam, cạnh hai mỏ Thanh Long và Đại Hùng (lô 5-1) ngoài khơi Vũng Tàu.


Trong vịnh Bắc Bộ, tháng 8-1992 Trung Quốc đưa hai tàu vào lập dàn khoan ở khu vực phân chia lãnh hải đang còn tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Quốc.


Từ 2004, Trung Quốc bắt đầu xung đột trực tiếp với Nhật trong việc khai thác mỏ khí đốt trên quần đảo Senkaku nằm gần đường trung gian giữa hai nước trên Đông Hải, và tàu Trung Quốc cũng đang dò tìm mỏ dầu ở biển Hoàng Hải trên khu vực phân chia lãnh hải giữa Trung Quốc với Bắc Triều Tiên.


Kế hoạch bành trướng lãnh hải của Trung Quốc


Từ sau 1989 Trung Quốc đã hoà giải được với Nga (cựu Liên Bang Xô Viết) nên không còn phải lo ngại mối nguy từ phương Bắc để dồn sức mọi nổ lực bành trướng ra biển Đông. Chiến lược này gồm hai phần : mềm dẻo với những quốc gia hùng mạnh và cứng rắn với các quốc gia yếu kém. Ước muốn sau cùng của Trung Quốc vẫn là làm chủ cho bằng được những vùng tranh chấp.


Đối với Nhật, Bắc Kinh chủ trương mềm dẻo, nghĩa là bằng đường lối hoà bình qua thương lượng. Trong cuộc hiệp thương giữa hai chính phủ Nhật-Trung lần thứ 4 tổ chức trong hai ngày 6 và 7-3-2006 vừa qua, Nhật đề nghị hợp tác Trung Quốc trong việc khai thác mỏ dầu và khí đốt ở hai điểm: Dực Thuẫn (tên Trung Quốc là Long Tỉnh) ở thềm lục địa Nhật-Hàn và một ở Bắc đảo Tiên Cát (Lưu Câu) cạnh vùng kinh tế đặc quyền của Nhật. Nhưng Trung Quốc đã bác bỏ đề nghị này và tuyên bố sẵn sàng hợp tác với Nhật trong lãnh hải của Nhật, cụ thể là khai thác mỏ dầu ở đảo Tiên Các (Senkaku) của Nhật.


Nguyên tắc bành trướng lãnh hải của Trung Quốc rất giản dị : cứ chiếm đóng và khai thác trước những hải đảo hay vùng biển đang có tranh chấp ở Đông Hải, đặt các nước láng giềng trước sự đã rồi, để sau đó thương lượng chủ quyền trong thế mạnh. Đó là những trường hợp đã xảy ra trên các quần đảo Hoàng và Trường Sa của Việt Nam và Philippines trong những năm 1982-1988, trong vịnh Bắc Bộ năm 1990 và trong Hoàng Hải ở bán đảo Triều Tiên. Trong các vùng biển này, các tàu dò tìm dầu khí của Trung Quốc viện cớ thăm dò hải dương đã khoan hơn 100 lỗ.


Đầu thế kỷ 21, Trung Quốc xây dựng gần một trăm đài quan sát hải dương học trên Thái Bình Dương cạnh lãnh hải Nhật Bản và Đài Loan. Trong tháng 10-2001, các tàu tình báo của hải quân Trung Quốc đã đi vòng quanh các đảo Honshu và Shikoku của Nhật, sau đó đi quanh qua đảo Ogasavara cùng một hành tuyến với quần đảo Guam của Mỹ. Cuối tháng 2-2004 các tàu tình báo Trung Quốc mở liên tiếp nhiều cuộc điều tra hải dương học đến cạnh quần đảo Okinawa và đảo Nakanoshima ở phía Đông Nam của Nhật. Hiện nay Trung Quốc đã hoàn thành điều tra tuyến đường từ quần đảo số 1 (từ Đông Nhật Bản đến Đông Đài Loan) và đang bắt đầu điều tra tuyến đường từ quần đảo 2 (từ đảo Ogasawara, Iwojima đến quần đảo Guam phía Nam cho đến tận 4 đảo phía Bắc Hokkaido của Nhật do Nga chiếm giữ). Mục đích của những điều tra này nhằm giúp hải quân Trung Quốc vẽ lại bản đồ dưới lòng biển để tàu ngầm Trung Quốc di chuyển và tấn công khi cần. Trong cuộc đấu trí này, Trung Quốc đã lôi kéo được Bắc Triều Tiên về phía mình và nhờ nước này làm áp lực trên ba nước Đông Á và Mỹ để thăm dò phản ứng.


Nhưng Đại Hàn, Nhật Bản, Đài Loan và Hoa Kỳ không dễ dàng rơi vào bẫy sập này, tất cả đều đã thực hiện những bản đồ dưới lòng biển từ lâu đời và đang quan sát ý đồ bành trướng của Trung Quốc ra biển Đông như thế nằo để có những phản ứng thích hợp.


Vấn đề sáp nhập Đài Loan


Quyết tâm sáp nhập Đài Loan vào lãnh thổ Trung Quốc đã được Bắc Kinh chuẩn bị từ hơn 30 năm trước, sau khi thắt lại quan hệ ngoại giao với Hoa Kỳ. Cùng lúc đó, Hoa Kỳ đang tái phối trí lực lượng để đối phó với Liên Xô hơn là với Trung Quốc, sau khi quyết định đóng cửa hai căn cứ quân sự Clarkfield và Subic Bay tại Philippines. Biết chắc Hoa Kỳ không can thiệp vào vùng Đông Á, Trung Quốc không ngừng làm áp lực ngoại giao và kinh tế với các quốc gia phương Tây để cắt đứt quan hệ ngoại giao với Đài Loan. Đối với Đài Loan, Bắc Kinh vừa gia tăng áp lực quân sự trên các chính quyền Đài Bắc vừa kêu gọi doanh nhân Đài Loan vào Trung Quốc đầu tư, trong mục đích lôi kéo Đài Loan về dưới trướng Bắc Kinh.


Nhưng sau hơn 30 năm làm áp lực, khuynh hướng tuyên bố thành lập một quốc gia độc lập tại Đài Loan ngày càng cao. Trong mùa bầu cử tổng thống tháng 3-1997, Trung Quốc đã mở một cuộc tập trận quân sự qui mô lớn để hù doạ nhưng Mỹ đã phái hai hàng không mẫu hạm đến eo biển Đài Loan quan sát buộc Bắc Kinh phải xuống giọng, nỗi nhục này giới lãnh đạo Trung Quốc rất khó quên.


Từ khi gặt hái được những tỷ lệ phát triển kinh tế cao liên tiếp trong nhiều năm, Trung Quốc đã không ngừng gia tăng ngân sách quốc phòng nhằm hiện đại hoá quân đội. Bây giờ Bắc Kinh không những đã có đủ tự tin để thách đố Hoa Kỳ trên eo biển Đài Loan mà còn có muốn loại trừ ảnh hưởng của Hoa Kỳ ra khỏi vùng Đông Nam Á để chỉ còn lại một cường quốc quân sự duy nhất là Trung Quốc, bất chấp Nam Hàn, Nhật Bản và Ấn Độ.


Đối với Bắc Kinh, nếu Đài Loan không chịu sáp nhập vào Trung Quốc bằng con đường hoà bình và còn tuyên bố độc lập thì Bắc Kinh sẵn sàng sử dụng bạo lực để thực hiện sự thống nhất đó. Hiện nay Bắc Kinh đã đặt hơn 700 hỏa tiễn hướng vào Đài Loan, mỗi đầu đạn chứa từ 250 đến 500 kg chất TNT. Dám tấn công Đài Loan bằng quân sự hay không là chuyện khác, nhưng ước muốn thống nhất Đài Loan với lục địa lúc nào cũng còn là thời sự nóng bỏng.


Nếu Đài Loan lọt vào tay Bắc Kinh, cả vùng Đông Á sẽ lần lượt bị đặt dưới quyền kiểm soát của Trung Quốc, nghĩa là từ bán đảo Triều Tiên qua biển Đông Hải đến Hoàng Sa, Trường Sa và biển Nam Trung Hoa, Philippines. Thực hiện được ước muốn này hay không, đó là chuyện khác vì lực lượng hải quân và không quân của Trung Quốc còn quá yếu kém só với Đại Hàn, Đài Loan và Nhật Bản. Chính vì thế Trung Quốc đang ráo riết chạy đua vũ trang để canh tân và hiện đại hoá quân đội, đương nhiên là có sự xúi giục của Mỹ trong cuộc chạy đua này.


Có lẽ Trung Quốc sẽ bị hụt hơi trong cuộc chạy đua này vì hiện nay vẫn còn thua xa Nhật Bản và Hoa Kỳ về kỹ thuật sản xuất vũ khí chiến lược tinh vi như các loại hỏa tiễn mang đầu đạn nguyên tử tầm xa và các tàu ngầm nguyên tử có thể phóng những đầu đạn nguyên tử từ bất cứ nơi đâu.


Thái độ của Mỹ và Nhật đối với Trung Quốc


Chạy đua vũ trang rất tốn kém, chỉ những quốc gia giàu có mới đủ khả năng thực hiện nổi. Nhưng đó không phải là quan điểm của giới lãnh đạo Trung Quốc, từ thập 1990 đến nay Trung Quốc đã không ngừng gia tăng kinh phí quốc phòng từ 10 đến 20% mỗi năm, những lợi tức do vắt công vắt của để xuất khẩu đều dồn vào các công trình vĩ đại như xây đập, hải cảng, phi cảng, cao ốc, và nhất là quốc phòng.


Năm 2005 ngân sách quốc phòng của Trung Quốc lên đến 30 tỷ USD, trong thực tế là 90 tỷ USD. Vì trong dự toán quốc phòng, Bắc Kinh không tính phí tổn nghiên cứu, khai thác vũ khí, thiết kế và phóng phi thuyền vũ trụ nên tổng số phí tổn thực sự cho quốc phòng có thể gấp ba lần con số chi phí quốc phòng được công bố. Tốn kém nhất là chi phí hiện đại hoá hải quân và không quân.


Về không quân, Trung Quốc vừa mua 76 chiến đấu cơ Sukhoi mới nhất của Nga và mua luôn bằng sáng chế để tự sản xuất lấy, năm 2002 Trung Quốc đã sản xuất được đến 32 chiếc. Về hải quân, từ 1996 Trung Quốc đã không ngừng mua tàu chiến loại lớn và tàu ngầm loại mới của Nga, nâng tổng số tàu ngầm Trung Quốc từ 70 chiếc đầu năm 2005 lên gần 100 chiếc vào cuối năm 2008.


Để đối phó với cường độ gia tăng quốc phòng đáng lo ngại này của Trung Quốc, ngoài Hạm đội 7 đang phụ trách khu vực Thái Bình Dương, Hoa Kỳ đang khai triển lại khả năng giáng trả bằng vũ khí hạch nhân với 10.640 đầu đạn nguyên tử tầm trung và tầm xa (ICBM và SLBM), trong khi Trung Quốc hiện nay chỉ có 20 đầu đạn nguyên tử Đông Phong 5 có thể bay xa đến 12.000 km, còn các loại Đông Phong 31, 41 phải sau 2010 mới bắt đầu đi vào hoạt động. Thêm vào đó, bộ quốc phòng Mỹ đang phục hồi lại căn cứ quân sự trên đảo Guam để làm tổng hành dinh chiến lược trong vùng Châu Á-Thái Bình Dương. Tại căn cứ này, ngoài các oanh tạc cơ B2 Stelus tàng hình, khu trục cơ FA-22 tối tân, các thám thính cơ không người lái Global Hawk và máy bay tiếp tế xăng trên không tạo thành một hành lang chiến lược kéo dài từ Virginia đến Hawaii và từ Hawaii đến Thái Bình Dương. Việc bộ tư lệnh Không đoàn 5 của Mỹ được chuyển đến Anderson và bộ tư lệnh Sư đoàn lục quân số 1 của Mỹ được chuyển đến căn cứ Zama ở Nhật trong vòng năm 2006 đều nằm trong chiến lược đối đầu với sự bành trướng của Trung Quốc.


Trước sự đe doạ vũ khí hạch nhân của Bắc Triều Tiên và sự bành trướng của Trung Quốc ra biển Đông, dư luận Nhật đang thuận lợi cho việc sửa đổi lại hiến pháp để tái võ trang lực lượng quốc phòng. Đội tự vệ Nhật đang tiếp thu toàn thể hệ thống phòng thủ của thủy quân lục chiến Mỹ, sắp dời căn cứ qua đảo Guam (theo hiệp định Kubo-Curtis 2005). Chính quyền Nhật cũng đang thành lập lực lượng triển khai cấp tốc hải lục không quân với những binh sĩ tinh nhuệ và được trang bị đầy đủ thiết bị hiện đại để vô hiệu hoá tàu ngầm địch. Cơ đoàn cao xạ số 6 ở Okinawa cũng được trang bị những hỏa tiễn và súng cao xạ tối tân.


Cuộc tập trận quy mô lớn nhất của Liên quân hải quân Mỹ-Nhật-Hàn đầu thế kỷ 21 này đã được tổ chức vào tháng 7-2006 ngoài khơi Hawaii, với sự tham dự của 5 hàng không mẫu hạm, 500 chiến đấu cơ, 40 tàu ngầm nguyên tử và 600 hỏa tiễn tầm trung và tầm xa sẽ được phóng thử trong cuộc diễn tập này. Đây là thông điệp trả lời trước hành động phóng hỏa tiễn cự lưu ý xa của Trung Quốc trong năm 2005. Ý nghĩa và tầm quan trọng của cuộc diễn tập này tương tự như cuộc diễn tập quân sự của khối NATO năm 1989 đánh dấu sự sụp đổ của khối Varsaw trong cuộc tranh đua võ trang.

Yeutoquoc
21-12-2007, 09:12 AM
Một sự tổng hợp đánh giá khá rõ ràng, rất mong bạn move vào môt thread cho dễ theo dõi!

choe'
21-12-2007, 09:27 AM
Cảm ơn bạn về những thông tin này. Từ đây sẽ có 1 cái nhìn toàn cảnh hơn về cán cân lực lượng quân sự ở những vùng biển Đông Á.
Mong sẽ có những phân tích cụ thể, chi tiết hơn nữa về vấn đề này!

sirowapato
07-12-2008, 10:09 PM
Trên quần đảo Trường Sa chỉ có VN và TQ là hai bên tranh chấp chính ,Phi và Mal hay cả Brunay đều chỉ lên tiếng đòi chủ quyền trên một phần quần đảo,vì vậy họ ko muốn căng thẳng quá mức với TQ.Việt Nam thì khác ,2 quần đảo là lãnh thổ của VN từ nhiều thế kỉ nay,chúng chính là cánh cửa lớn để VN vươn ra thế giới ,mất 2 quần đảo này chẳng khác gì bị giam lỏng trong lục địa.Ngoài vị trí chiến lược Hoàng Sa ,Trường Sa (đặc biệt là Trường Sa) còn có tài nguyên thiên nhiên phong phú cả về khoáng sản lẫn sinh vật,rõ ràng Hoàng Sa ,Trường Sa và cả biển Đông có vai trò sống còn đối với dân tộc VN.Dân tộc VN chấp nhận đánh đổi tất cả để giữ gìn nguồn sống của mình cho hôm nay và cho cả con cháu trong tương lai.

Hoang Thach
08-12-2008, 02:48 PM
Chúng ta có đường cơ động ven biển có khả năng làm cơ sở phòng bị khi xảy ra tranh chấp trên biển Đông. Tuy nhiên vũ khí chiến lược chúng ta còn kém so với TQ, vì vậy chúng ta cần gấp rút tăng cường khả năng của Hải quân và không quân để yểm trợ khi xảy ra xung đột. Quân đội chúng ta cần tăng cường nhiệm vụ chính hơn là tham gia về các mục tiêu kinh tế.

Tsukino
08-12-2008, 10:41 PM
theo mình nghĩ thì với tình hình hiện giờ, chúng ta nên kết thân với 1 số nước có tiềm lực quân sự mạnh, thắt chặt liên minh với các nước asean ( tuy rằng theo mình được nghe thì cái khối đó chỉ là tượng trưng ) và quan trọng nhất và đủ trong khả năng của chúng ta là tẩy chay hàng tàu vì như ai cũng biết.....việt nam là nước có tiềm lực số 1 để trung quốc tuồn hàng tàu loại lởm sang....đài báo mỗi ngày đều đưa tin....trứng độc, sữa độc, gà lợn độc, rau củ độc và bây giờ đến cả giày dép trung quốc cũng có chất độc, quần áo thì nghe tin là có chất bảo quản, nghe phong phanh từ 1 số nguồn tin ko chính xác :D thì 1 số bệnh truyễn nhiễm của việt nam trong thời gian gần đây là do mấy anh Tàu nhập sang....cứ kiểu này mưa dầm thấm lâu, chưa bảo vệ được chủ quyền thì đã phải vào viện hết rồi....mọi người chịu khó, thực phẩm thì mua chịu khó phân biệt hàng vn, hàng tq....trang phục thì nên mua ở chỗ uy tín, hàng vn, hàng hiệu châu âu, nếu đồ nhái thì có hàng thái, malay....còn tốt chán so với mấy anh tàu nhập lậu....đừng ham rẻ mà có ngày chết trẻ....8-}8-}8-}8-}
Nữa là chúng ta cần phát triển đất nước 1 cách toàn diện, kinh tế quân sự...vvv...thực hiện đúng nghĩa vụ nộp thuế để nhà nước có ngân sách nâng cấp quân sự nhưng muốn thể thì chúng ta cần bài trừ tham nhũng trong bộ máy lãnh đạo và để xoá nạn tham nhũng thì em ko biết làm thế nào nữa =.=....

phuongvu
13-12-2008, 05:19 PM
Bài viết này hoàn toàn là quan điểm của người viết, không phải là quan điểm của Chính phủ Việt Nam!



Bài 1:
Chiến lược của Trung Quốc trong quan hệ quốc tế!

Ngày 1 tháng 10 năm 1949 đánh dấu mốc quan trọng trong tiến trình phát triển của Trung Quốc với sự ra đời của nhà nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, cũng chính từ đó, lịch sử của nhiều dân tộc ở châu Á được ghi thêm những trang đau xót gắn liền với chính thể này!
Sau khi tuyên bố thành lập nhà nước, Mao Trạch Đông, chủ tịch đầu tiên của nhà nước Trung hoa cho rằng, đã đến lúc cần xây dựng Trung Quốc thành một cường quốc, không chỉ về quân sự mà phải mạnh về kinh tế, đồng thời tăng cường ảnh hưởng ra các nước xung quanh, tiến tới khẳng định vị thế của Trung Quốc trên trường quốc tế, và về lâu dài nhất thiết phải đưa Trung Quốc thành một nước có tiếng nói quyết định trong nhiều vấn đề mang tầm vóc quốc tế.
Lịch sử của Trung quốc gắn với nhiều thất bại nhục nhã của học trước các láng giềng như Nhật bản, sự vượt trội của Liên Xô cũ và sự lấn lướt của Mỹ nên chiến lược ngoại giao của họ chủ yếu tập trung hướng mũi nhọn vào các quốc gia này, trong đó đẩy mạnh và nêu bật mục tiêu của Trung Quốc trước khi muốn trở thành một cường quốc thật sự trên thế giới phải làm cho được ba việc sau: thứ nhất là diệt Nhật, thứ 2 là cầm Nga và thứ 3 là đủ sức dọa Mỹ.
Người láng giềng Nhật bản là một quốc đảo đất chật người đông, nhưng là nền kinh tế lớn thứ 2 trên thế giới, người đã vượt ra khỏi phạm vi kiểm soát của Trung Quốc kể từ khi quyết định mở của giao thương với thế giới từ thế kỉ 18, từ một dân tộc man di, chịu thần phục thiên triều trong hàng thế kỉ, giờ đây thành kẻ vượt mặt, thậm chí tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược ngay tại đất Trung Quốc, thủ phạm chính của việc tàn sát hàng ngàn người trong vụ Nam Kinh là một nỗi nhục không bao giờ có thể gột rửa trong tiềm thức của hàng triệu người dân Trung Quốc, và do đó, dù ngay trong lúc quan hệ 2 nước lớn ở vùng Đông Á này có vẻ đang ấm dần lên thì người ta cũng dễ dàng nhận ra rằng, đó là quan hệ của 2 thùng thuốc súng, có thề bùng lên bất cứ lúc nào, và kẻ yếu sẽ không phải chỉ bị khống chế, mà xa hơn đó sẽ là sự tiêu diệt. Và Trung Quốc ý thức được rằng, cơ hội để cho họ rửa mối hận năm xưa đang ngày một lớn, họ đã có thể ngồi ngang hàng với người Nhật, thậm chí phản đối Nhật ngồi ngang hàng với họ trong nhiều vấn đề, chẳng hạn như việc không chấp nhận Nhật Bản trở thành 1 thành viên thường trực của Hội đồng bảo an liên hợp quốc, dù Nhật là nước đóng góp tiền nhiều nhất cho Tổ chức này.
Đối với Nga,mối thâm thù giữa 2 quốc gia này không lớn và cũng không biểu hiện rõ nét như trong quan hệ Trung Nhật, nhưng giới lãnh đạo Trung quốc nhận thấy rằng nước Nga là một đối thủ tiềm tàng từ phương Bắc, một đối thủ có khả năng cầm chân họ trong nhiều vấn đề, đặc biệt là về sức mạnh quân sự. Hiện nay, Trung quốc đã có khả năng chế tạo được nhiều phương tiện chiến tranh hiện đại chẳng hạn như máy bay cường kích, vũ khí chống vệ tinh, tầm ngầm hạt nhân... nhưng họ vẫn chỉ là một cậu bé lên ba nếu so sánh với trình độ của người láng giềng Liên bang Nga này.
Nhưng câu hỏi đặt ra là: nếu không có hiềm khích thì tại sao Trung quốc cần phải nhanh chóng tiến gần, rồi tiến tới khả năng có thể cầm chân Nga. Câu trả lời là, mục tiêu của Trung Quốc không chỉ dừng lại ở việc thoát khỏi thế giới thứ 3, thoát khỏi vị thế của một nước to về mặt diện tích nhưng nghèo nàn về năng lực để vươn lên thành một nước mạnh về kinh tế, mạnh về quân sự, có thể đơn phương hành động một mình, bất chấp sự phản đối của bất kì quốc gia nào nhằm đạt được lợi ích lớn nhất về phía họ.
Nếu khả năng cầm Nga của Trung quốc thực hiện được thì mối quan hệ tay ba giữa 3 cường quốc là Nga Mỹ Trung sẽ biến thành mối quan hệ tay đôi trong đó Trung Quốc có thể giữ vai trò chủ động điều đình nhằm loại bỏ những thiệt hại mà nếu người Nga nhúng tay vào có thể họ không làm được. Đồng thời nếu cầm Nga được, các vùng lãnh thổ phía Đông của Nga vốn rộng lớn nhưng thưa người sẽ là miếng mồi ngon trong tham vọng mở rộng không gian sống của hàng trăm triệu người Trung Quốc.
Về quan hệ với Mỹ, chúng ta có thể thấy rằng, hiện nay, quân đội Mỹ chính là mục tiêu tác chiến của Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc.
Mặc dù còn tương đối lâu, trình độ quân sự và khả năng tác chiến của Trung Quốc mới có thể chạm tới ngưỡng của Mỹ hiên nay, nhưng, trước mắt và lâu dài, Trung Quốc lại là quốc gia duy nhất có khả năng gây hấn và đụng chạm lợi ích với Mỹ. Và cũng chỉ có Mỹ mới là nước chứa đựng nhiều tiềm ẩn nhất trong việc khống chế, thậm chí can thiệp bằng quân sự vào công việc họ. Do đó, vươn tới khả năng có thể đe dọa Mỹ là mơ ước của giới lãnh đạo Trung Quốc hiện nay. Điều này nhằm 2 mục đích: Thứ nhất, thể hiện ý chí rừng nào cọp nấy, Trung Quốc là cường quốc ở châu Á thì lợi ích ở châu Á với Trung Quốc phải được ưu tiên số 1. Thứ 2, chấm dứt thời kì hoàng kim của Mỹ với an ninh thế giới, xây dựng một thế giới đa cực, và về lâu dài thì Trung Quốc có thể đảm nhiệm là một cực duy nhất!
Trong quan hệ quốc tế, ngoài 3 yếu tố trọng tâm trên, Trung Quốc đang cố gắng thể hiện và áp đặt ảnh hưởng của mình lên nhiều quốc gia khác, có thể bằng kinh tế và cũng có thể bằng quân sự, nhưng đều nhằm một mục tiêu duy nhất là buộc các nước này xoay theo quỹ đạo của họ, nếu không được thì tiến hành các cuộc chiến tranh quy mô nhỏ, lấn chiếm lãnh thổ, như trong quan hệ với Việt Nam, Ấn độ, Buhtan...
Nhìn chung lại, chiến lược của Trung Quốc trong quan hệ quốc tế là nhằm mục đích phục vụ cho lợi ích bá quyền của họ, tiến tới trở thành một cực duy nhất của thế giới. Biến Trung Quốc thành nước có đặc quyền đặc lợi, có khả năng can thiệp vào bất kì nước nào, và không chịu sự giám sát của bất kì ai trong hoạt động của họ.

PhongSa
20-12-2008, 12:21 AM
Trung Quốc và cuộc khuếch trương sức mạnh mềm


Trung Quốc trỗi dậy - đó là một thực tế không thể phủ nhận. Cùng với sự trỗi dậy ấy, sức mạnh mềm của Trung Quốc cũng đang được mở rộng và khuếch trương, nhất là trong bối cảnh sức mạnh cứng truyền thống không còn nhiều không gian và điều kiện sử dụng.

Tuần Việt Nam giới thiệu bài viết của Alan Hunter, Trung tâm nghiên cứu Hoà bình và Hoà hợp, ĐH Coventry, Vương quốc Anh.



http://i444.photobucket.com/albums/qq169/PhongSa_Vn/China-SP-1.jpg


Phần 1: Cơ sở cho cuộc khuếch trương sức mạnh mềm Trung Quốc

Lý thuyết mới về sức mạnh mềm và suy nghĩ truyền thống của Trung Quốc
Năm 1990, GS. Joseph Nye (http://www.tuanvietnam.net/vn/tructuyenvoitop/1989/index.aspx) đưa ra khái niệm sức mạnh mềm, theo đó nhấn mạnh việc sử dụng nguồn lực văn hoá như một nguồn sức mạnh bổ sung, thậm chí quan trọng hơn sức mạnh quân sự và kinh tế. Gs. Joseph Nye viết: “Khái niệm cơ bản của sức mạnh là khả năng gây ảnh hưởng tới người khác khiến họ làm điều mà bạn muốn. Có 3 cách chủ đạo để làm điều đó: đe doạ họ với cây gậy; hai là trả tiền cho họ với củ cà rốt và ba là thu hút họ hoặc hợp tác với họ để họ muốn điều bạn muốn. Nếu bạn có thể hấp dẫn người khác khiến họ muốn điều bạn muốn, bạn sẽ phải trả một khoản ít hơn nhiều so với cà rốt và cây gậy”.

Ví dụ của những điều gây hấp dẫn gồm các giá trị thông thường, truyền thông, thực hiện doanh thương, giáo dục và ngôn ngữ.

Một ví dụ rõ ràng trong thời kỳ trước là Xô viết và Mỹ muốn giành được “trái tim và khối óc” của châu Âu và các nước đang phát triển. Một ví dụ điển hình của hành động của Mỹ trong chiến tranh Lạnh chương trình quảng bá cho tự do văn hoá đầy tai tiếng được CIA hỗ trợ từ 1950 đến 1967, và gợi ý hiện nay về việc đầu tư cho việc cấp học bổng cho giới trẻ Iran qua Mỹ học.

Dù chưa biết liệu nên ủng hộ hay phản đối sáng kiến này,nhưng rõ ràng là nó tốt hơn việc sử dụng quân sự, và có vẻ không giống với việc sẽ mang lại mối đe doạ nào. Chủ đề này vẫn còn nhiều thảo luận trên internet.

Bài viết của Gs. Nye minh chứng bằng thực tế lịch sử trước đó, không nghi ngờ về giá trị tuyên truyền của đế chế Roman, cũng như của Mỹ, có thể là một ví dụ nghiên cứu điển hình.

Có thể có tranh luận về việc ở Trung Quốc, khái niệm sức mạnh mềm đã từ lâu là một bộ phận trong mưu lược trong hàng ngàn năm của nước này. Các thế hệ lãnh đạo Trung Quốc đã đưa ra mưu lược và kế hoạch dài hạn đã được đưa ra một cách nhẹ nhàng trong binh pháp Tôn tử, vào khoảng thế kỷ 4 trước công nguyên.



http://i444.photobucket.com/albums/qq169/PhongSa_Vn/Khongtudayhoc.gif
Đạo Khổng là cơ sở nền tảng của văn hóa Trung Quốc, đã và đang lan rộng ra khu vực.


Những mưu lược không được duy trì trong tháp ngà của lý thuyết quân sự, nhưng được hình thành như một bộ phận của tài trị nước, một chiến lược thống nhất làm xáo trộn những người được xem là kẻ thù, phá vỡ sự cân bằng của họ và hy vọng rằng một chiến thắng mà không cần phải tấn công. Do đó, nhiều chiến lược đã trở thành một phần di sản truyền thống của Trung Quốc, truyền qua các câu chuyện, tiểu thuyết, và bây giờ là các bộ phim, chương trình truyền hình phổ biến.

Tôn Tử cho rằng hành động quân sự chỉ là một bộ phận, và không phải là bộ phận quan trọng nhất trong cách tiếp cận hài hoà về an ninh. Phần quan trọng hơn nên là liên minh ngoại giao, nhấn mạnh về mưu lược bao gồm đánh lừa kẻ thù, bào mòn trận địa của họ, chuẩn bị hậu cần bí mật, giành dân, quân đội và lãnh đạo của kẻ thù, tránh đánh nhau và tai biến; tối đa hoá chiến thắng và dự đoán về hậu quả cuộc chiến trước khi can dự.

“Trong Binh Pháp, Tôn Tử đã đưa ra ý tưởng nổi tiếng “tốt hơn nên đánh vào tinh thần của quân địch thay vì công thành”.
Ông cho rằng “…Trăm trận trăm thắng không phải là thành công lớn nhất; chinh phục kẻ địch mà không cần giao chiến mới là thành công lớn nhất".

Bởi vậy, chiến lược tốt nhất là tấn công vào các kế hoạch của quân địch, tới đến là tấn công các đồng minh của địch, sau đó là tấn công vào các đội quân và cuối cùng mới là công thành.”


Nhiều cụm từ của Tôn Tử đã trở thành ngôn ngữ hằng ngày như tránh mạnh đánh yếu, lạt mềm buộc chặt, binh bất yếm trá (chiến tranh dựa trên sự giả dối).

Sau những thập kỷ chiến tranh du kích, các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã áp dụng hầu hết các mưu chước đó. Một tác giả viết về các vấn đề quân sự đã đối lập cách tiếp cận này với việc phương Tây nhấn mạnh về tốc độ, lực lượng chiến đấu và ưu tiên kỹ thuật.

Một bộ phận khác của sức mạnh mềm chính là lãnh đạo về tinh thần với các hình mẫu, hoặc chí ít là tuyên truyền, giống như trong chiến tranh Lạnh, Mỹ đã giới thiệu mình như là hình mẫu của tự do và dân chủ, trong khi Xô viết là hình mẫu của bình đẳng và sở hữu công.

Sự cộng hưởng của khái niệm này vào truyền thống Trung Quốc là rất rõ ràng. Mô hình chính của chính phủ Trung Quốc là đạo Khổng, hoạt động trên nền tảng của sự phân tầng được xác định trên cơ sở dân tộc và có sự tương hỗ.

Người lãnh đạo được xem là hình mẫu về tinh thần, đưa ra các quyết định sáng suốt đại diện cho cộng đồng, để đưa đất nước an toàn và thịnh vượng. Cho tới khi nào người này còn làm điều đó, ông sẽ có được một "quyền lực siêu phàm" và sẽ được ủng hộ bởi tất cả mọi người. Nếu chệch hướng ra khỏi các quy chuẩn đạo đức, thì sớm hay muộn, ông sẽ mất sự quyền lực, ít nhất về mặt ý nghĩ, sẽ có một sự đối lập phổ biến và rộng rãi trong công chúng, và sẽ có sự thay đổi trong người cầm quyền.

Thậm chí ở cấp thấp hơn trong đời sống thể chế của Trung Quốc, có một ý nghĩa mạnh mẽ về bổn phận như một phần của người cấp cao để đánh giá cao lợi ích của nhóm cấp thấp hơn, đối với những người họ kỳ vọng sẽ hành động công bằng và hào phóng, và đổi lại, họ có thể trông đợi sự trung thành và chăm chỉ.

Lý do chiến lược cho Trung Quốc "trỗi dậy hoà bình"

Có một đánh giá đồng thuận giữa các kinh tế gia rằng Trung Quốc sẽ trở thành nền kinh tế lớn thứ hai trên thế giới trong vòng khoảng 5 năm tới. Nước này sẽ trở thành đối thủ cạnh tranh nghiêm túc của Mỹ và các nền kinh tế khác trong việc giành các hợp đồng dầu lửa, tài nguyên và cơ sở hạ tầng ở Iran, Saudi, Brazil và các nơi khác. Ảnh hưởng chính trị của Trung Quốc đã tăng lên nhanh chóng trong vòng 5 năm qua, đặc biệt ở châu Á và châu Phi.

Có nhiều phân tích khác nhau về sức mạnh quân sự của nước này, nhưng không ai nghi ngờ về việc Trung Quốc dễ bị tổn thương với các cuộc tấn công quân sự, ngoài Mỹ.

Một sự chuyển dịch quyền lực toàn cầu về mức độ tổn thương biểu hiện ở mối nguy tiềm ẩn của các cuộc xung đột quân sự toàn cầu, và sự tăng trưởng kinh tế nhanh chóng bên trong Trung Quốc, ở một nơi có dân số đông, đã đưa ra một xu hướng quan trọng rằng nó cũng có thể xảy ra những sự chống đối lớn. Sự chống đối này có thể đạt được kết quả tích cực, hay sẽ dẫn tới xung đột và nghèo đói tăng lên còn phụ thuộc vào nhiều nhân tố. Chính phủ Trung Quốc sẽ phải đối mặt với áp lực từ trong nước cũng như từ quốc tế một cách nghiêm túc.

Trong các nghiên cứu về an ninh và quan hệ quốc tế, Trung Quốc được nhìn nhận là có 2 mối quan ngại. Một là làm thế nào để xây dựng mối quan hệ với Mỹ: lý do thu hút mối quan tâm chính là Mỹ là cường quốc duy nhất trên thế giới có thể vượt qua Trung Quốc trên lĩnh vực quân sự. Trung Quốc hiểu rằng mình là một siêu cường hiếu chiến và khó có thể dự báo trước, và Trung Quốc có thể là mối đe doạ chủ yếu của kinh tế Mỹ.

Đối thủ tiềm tàng thứ hai là Nhật Bản, một nước có thể là đối thủ trên cả sức mạnh công nghiệp và quân sự, có một lịch sử không thân thiết, là đồng minh thân thiết của Mỹ và Đài Loan, và là đối thủ trong khai thác nhiều mỏ dầu ngoài khơi.

Một phân tích đơn giản về chi tiêu quân sự và báo cáo về các sản phẩm quân sự công nghệ cao đã từng được tiến hành cho thấy Trung Quốc có bất lợi lớn về quân sự so với Mỹ và Nhật Bản. Ngân sách quân sự của Mỹ chỉ khoảng gấp 10 lần Trung Quốc, và Mỹ và đồng minh thân cận của mình (Anh và Nhật) chiếm tới 2/3 chi tiêu quân sự toàn cầu. Một bản báo cáo về khả năng quân sự của Trung Quốc tình cờ có trên trang web của Bộ Quốc phòng Mỹ.

Hơn nữa, Mỹ còn vượt xa trong cuộc cạnh tranh về kỹ thuật quân sự. Chomsky đã tóm tắt những lĩnh vực mà Mỹ có thể triển khai quân sự tấn công chống lại một quốc gia không không có lựa chọn phòng thủ và phản công: vũ khí bao gồm tên lửa đạn đạo, hệ thống vũ khí trên không, tên lửa tần cao, hệ thống giám sát IT và vũ khí sinh học.

Một mặt, điều đơn giản mà các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã học được là một cuộc đối đầu quân sự lớn với Mỹ và/hoặc với Nhật Bản sẽ chỉ là một tai họa đối với Trung Quốc. Mặt khác, nhiều nước cảm thấy e sợ Mỹ hoặc ít nhất là có mối quan hệ tốt đẹp với cường quốc số 2 và số 3 thế giới là Trung Quốc.

Do đó, bỏ qua những vấn đề về ý thức hệ và nhân đạo, điều có ý nghĩa nhất là Trung Quốc theo đuổi chiến lược theo hai nhánh: tránh một cuộc xung đột quân sự, đặc biệt là với Mỹ và những đồng minh thân cận; và đẩy mạnh các mối quan hệ đồng minh song phương và đa phương với nhiều đối tác thương mại và chính trị. Nói cách khác, Trung Quốc theo đuổi chính sách "trỗi dậy hòa bình"


Cuộc cạnh tranh quốc tế vì tài nguyên

Tuy nhiên, một vấn đề mà tất cả các cường quốc đều đang phải đối mặt là cạnh tranh để đảm bảo nguồn lực. Là quốc gia đang phát triển có dân số đông nhất thế giới, nước này có nhu cầu khổng lồ về tài nguyên thiên nhiên. Một phân tích gần đây chỉ ra rằng trong số 10 nước có dân số hơn 100 triệu nưgời, về tài nguyên thiên nhiên, Trung Quốc đứng thứ hai trong số các nước nghèo tài nguyên nhất, chỉ trên Nhật Bản. Sự tăng dân số thậm chí sẽ tăng áp lực về tài nguyên cho nước này.



Nếu không sự kiểm soát chính trị hiệu quả về tài nguyên nhiên thiên, sự thiếu hụt sẽ là mối đe dọa lớn cho tương lai của nước này. Do đó, việc bảo vệ sự ổn định nguồn cung tài nguyên là vấn đề quan trọng trong việc đảm bảo chiến lược phát triển của Trung Quốc thế kỷ 21.




http://i444.photobucket.com/albums/qq169/PhongSa_Vn/China-SP-03.jpg



Sự cạnh tranh của Trung Quốc trong việc tiếp cận nguồn tài nguyên toàn cầu đang tăng lên, đặc biệt đối với dầu và khí gas. Henry Kissinger từng dự đoán rằng cuộc cạnh tranh vì nguồn tài nguyên hóa học sẽ là nguyên nhân cơ bản của các xung đột quốc tế trong những năm tới.

Các nhà lãnh đạo Bắc Kinh cũng nhận thức rõ điều đó, như Chủ tịch nước Hồ Cẩm Đào đã thể hiện trong HN thượng đỉnh của châu Á năm 2005. Chủ tịch Hồ Cẩm Đào tuyên bố ưu tiên của Trung Quốc là đạt được sự phát triển cân bằng và có trật tự bằng việc quản lý tốt vấn đề năng lượng: Trung Quốc sẽ tập trung bảo tồn năng lượng và sử dụng hiệu quả tài nguyên, cũng như khai thác mới và nhập khẩu. Do đó, Trung Quốc đã khai thác ở nhiều khu vực, lục địa để đáp ứng nhu cầu dầu lửa và các năng lượng khác.

Năm 2002, Chính phủ Trung Quốc tuyên bố chính sách mới khuyến khích ba tập đoàn dầu khí quốc gia lớn ra bên ngoài để đảm bảo nguồn cung năng lượng từ nước ngoài, bằng việc mua bán trực tiếp, các chương trình khai thác và lọc dầu, xây dựng các nhà máy lọc dầu và xây dựng đường dẫn. Nhu cầu dầu
khí của Trung Quốc đã tăng lên gần 90% từ năm 1993 đến 2002 và đến nay đã đạt mức 6 triệu thùng một ngày, trong đó 40% là từ nhập khẩu. Khoảng 40% mức tăng nhu cầu dầu lửa toàn thế giới trong vòng 4 năm qua là từ Trung Quốc.

Tháng 11/2004, Chủ tịch nước Hồ Cẩm Đào kí 39 thoả thuận thương mại với các nước Mỹ Latin, trong đó chỉ riêng khoản đầu tư vào Argentina đã ở mức 20 tỷ USD. Chuyến thăm này được tiếp nối bằng chuyến thăm của Phó Chủ tịch nước Trung Quốc vào năm 2005 trong đó ký Hiệp định quan trọng với Venezuela về khai thác dầu khí.

Trung Quốc cũng tuyên bố khoản tài chính cho Cuba. Đến năm 2005, Trung Quốc đã cung cấp hơn 50 tỷ USD đầu tư cho các nước thuộc “sân sau” của Mỹ. Nước này cũng áp dụng một chiến lược tương tự ở khu vực châu Phi cận Sahara.

Các nhà DN Trung Quốc cũng rất năng động trong các dự án đầu tư phát triển hạ tầng lớn, trong khi các tập đoàn đầu tư chủ yếu vào khai thác dầu khí, đáng kể là ở Sudan và Nigeria. Một báo cáo vào tháng 12/2005 cho thấy cuộc cạnh tranh giữa Trung Quốc và Mỹ để giành “vàng đen” châu Phi.

Cạnh tranh tiềm năng của Trung Quốc với Mỹ ở Tây Á và Bắc Phi thậm chí còn căng thẳng hơn. Theo Leverett/Bader “sự hợp tác khai thác to lớn của Trung Quốc sẽ ít chấp nhận sự lãnh đạo của Mỹ và triển vọng cạnh tranh giữa Trung Quốc và các nước khác trong kiểm soát các nguồn năng lượng quan trọng sẽ tạo nên thách thức nghiêm trọng với lợi ích của Mỹ ở Trung Đông”. Quan hệ kinh tế được hậu thuẫn bởi các chuyến thăm lẫn nhau giữa Bắc Kinh và các nhà lãnh đạo Tây Á.


Nguồn: tuanvietnam.net (http://www.tuanvietnam.net/vn/tulieusuyngam/4778/index.aspx)

PS: Điều này đã nói lên, Trung Quốc sẽ ko thể không chiếm mỏ dầu ở Biển Đông.

Bump: Bạn nào có bổ sung thêm ý gì nữa ko.

Bump: Bạn nào có bổ sung thêm ý gì nữa ko.