PDA

View Full Version : Danh nhân đất Việt



HS Team
23-02-2009, 11:20 AM
Tập hợp các ebook,tài liệu về các danh nhân của nước Việt Nam chúng ta

Quy_Ẩn
17-07-2009, 08:13 PM
Topic này sưu tầm những tấm gương danh nhân Việt Nam xưa để các bạn thêm hiểu lich sử Việt Nam
Giang Văn Minh

Giang Văn Minh (chữ Hán (http://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%E1%BB%AF_H%C3%A1n): 江文明, 1573 - 1638[1] (http://vi.wikipedia.org/wiki/Giang_V%C4%83n_Minh#cite_note-VB32-0)) tự Quốc Hoa, hiệu Văn Chung, là quan nhà Hậu Lê (http://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_H%E1%BA%ADu_L%C3%AA) trong lịch sử Việt Nam (http://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Vi%E1%BB%87t_Nam). Ông được mệnh danh là vị sứ thần “Bất nhục quân mệnh” (Không để nhục mệnh vua) vì đã đối đáp thẳng thắn trước triều đình Trung Quốc và bị vua Minh Tư Tông (http://vi.wikipedia.org/wiki/Minh_T%C6%B0_T%C3%B4ng) hành hình vào năm 1638, thọ 65 tuổi.
Mục lục

[ẩn (javascript:toggleToc())]


1 Cuộc đời và sự nghiệp (http://vi.wikipedia.org/wiki/Giang_V%C4%83n_Minh#Cu.E1.BB.99c_.C4.91.E1.BB.9Di_ v.C3.A0_s.E1.BB.B1_nghi.E1.BB.87p)
2 Giai thoại (http://vi.wikipedia.org/wiki/Giang_V%C4%83n_Minh#Giai_tho.E1.BA.A1i)
3 Tác phẩm (http://vi.wikipedia.org/wiki/Giang_V%C4%83n_Minh#T.C3.A1c_ph.E1.BA.A9m)
4 Đánh giá (http://vi.wikipedia.org/wiki/Giang_V%C4%83n_Minh#.C4.90.C3.A1nh_gi.C3.A1)
5 Tham khảo (http://vi.wikipedia.org/wiki/Giang_V%C4%83n_Minh#Tham_kh.E1.BA.A3o)
6 Ghi chú (http://vi.wikipedia.org/wiki/Giang_V%C4%83n_Minh#Ghi_ch.C3.BA)
7 Liên kết ngoài (http://vi.wikipedia.org/wiki/Giang_V%C4%83n_Minh#Li.C3.AAn_k.E1.BA.BFt_ngo.C3.A 0i)


Cuộc đời và sự nghiệp

Ông sinh năm 1573, tại làng Kẻ Mía, xã Mông Phụ, tổng Cam Giá, huyện Phúc Thọ, tỉnh Sơn Tây trước năm 1945)[2] (http://vi.wikipedia.org/wiki/Giang_V%C4%83n_Minh#cite_note-1), (nay thuộc xã Đường Lâm (http://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%C6%B0%E1%BB%9Dng_L%C3%A2m), thị xã Sơn Tây (http://vi.wikipedia.org/wiki/S%C6%A1n_T%C3%A2y,_H%C3%A0_N%E1%BB%99i) , Hà Nội (http://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0_N%E1%BB%99i). Ông từng đỗ đầu kỳ thi Hội, rồi thi Đình lại đỗ Đình nguyên (http://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%C3%ACnh_nguy%C3%AAn) Thám hoa (http://vi.wikipedia.org/wiki/Th%C3%A1m_hoa) khoa Mậu Thìn, năm Vĩnh Tộ thứ 10 (1628) đời Lê Thần Tông (http://vi.wikipedia.org/wiki/L%C3%AA_Th%E1%BA%A7n_T%C3%B4ng)[3] (http://vi.wikipedia.org/wiki/Giang_V%C4%83n_Minh#cite_note-DVSK23-2). Khoa thi này không có ai đỗ Trạng nguyên (http://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%E1%BA%A1ng_nguy%C3%AAn) hay Bảng nhãn (http://vi.wikipedia.org/wiki/B%E1%BA%A3ng_nh%C3%A3n), vì vậy ông là người đỗ cao nhất trong cả khoa thi[3] (http://vi.wikipedia.org/wiki/Giang_V%C4%83n_Minh#cite_note-DVSK23-2). Sau khi đỗ đạt, ông lần lượt được bổ nhiệm vào các chức vụ như Binh khoa đô cấp sự trung (1630)[3] (http://vi.wikipedia.org/wiki/Giang_V%C4%83n_Minh#cite_note-DVSK23-2), Thái bộc tự khanh (1631)[3] (http://vi.wikipedia.org/wiki/Giang_V%C4%83n_Minh#cite_note-DVSK23-2).
Ngày 30 tháng 12 năm Dương Hòa thứ 3 (1637 (http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=1637&action=edit&redlink=1)), ông và Thiêm đô ngự sử Nguyễn Duy Hiểu được vua cử làm chánh sứ cùng với 4 phó sứ là: Nguyễn Quang Minh, Trần Nghi, Nguyễn Bình và Thân Khuê dẫn đầu hai đoàn sứ bộ sang cầu phong và tuế cống nhà Minh (http://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_Minh)[1] (http://vi.wikipedia.org/wiki/Giang_V%C4%83n_Minh#cite_note-VB32-0). Sau khi chết, ông được truy tặng chức Công bộ Tả thị lang, tước Vinh quận công[1] (http://vi.wikipedia.org/wiki/Giang_V%C4%83n_Minh#cite_note-VB32-0).

Giai thoại

Vào thời điểm ông đi sứ, mặc dù nhà Mạc (http://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_M%E1%BA%A1c) đã bỏ chạy ra Cao Bằng (http://vi.wikipedia.org/wiki/Cao_B%E1%BA%B1ng), nhưng nhà Minh vẫn áp dụng chính sách ngoại giao hai mặt (với cả nhà Hậu Lê và nhà Mạc) với mục đích để cuộc chiến tranh Lê-Mạc (http://vi.wikipedia.org/wiki/Chi%E1%BA%BFn_tranh_L%C3%AA-M%E1%BA%A1c) kéo dài[4] (http://vi.wikipedia.org/wiki/Giang_V%C4%83n_Minh#cite_note-3). Đoàn sứ bộ của Giang Văn Minh đến Yên Kinh (nay là Bắc Kinh (http://vi.wikipedia.org/wiki/B%E1%BA%AFc_Kinh)) vào năm 1638.
Đến khi triều kiến, Minh Tư Tông (http://vi.wikipedia.org/wiki/Minh_T%C6%B0_T%C3%B4ng) Chu Do Kiểm (tức hoàng đế Sùng Trinh) lấy lý do “Vì lệ cũ không có những quy định cụ thể cho việc sắc phong, do đó trong khi còn chờ tra cứu chỉ ban sắc thư để tưởng lệ” để ngăn trở việc công nhận sự chính thống của nhà Hậu Lê và bãi bỏ công nhận ngoại giao với nhà Mạc.
Đồng thời, Chu Do Kiểm còn ngạo mạn ra cho sứ bộ một vế đối như sau:
“Đồng trụ chí kim đài dĩ lục”" Nghĩa là:
Cột đồng đến nay rêu đã xanh[5] (http://vi.wikipedia.org/wiki/Giang_V%C4%83n_Minh#cite_note-BaoBD-4) Câu này có hàm ý nhắc tới việc Mã Viện (http://vi.wikipedia.org/wiki/M%C3%A3_Vi%E1%BB%87n) từng đàn áp cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng (http://vi.wikipedia.org/wiki/Kh%E1%BB%9Fi_ngh%C4%A9a_Hai_B%C3%A0_Tr%C6%B0ng), sau đó cho chôn một chiếc cột đồng với lời nguyền: "Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt" (Cột đồng gãy thì Giao Chỉ - tức Đại Việt - bị diệt vong).
Trước sự ngạo mạn đó, Giang Văn Minh đã hiên ngang đối lại bằng câu:
"Đằng Giang tự cổ huyết do hồng" Nghĩa là:
Sông Đằng từ xưa máu còn đỏ[5] (http://vi.wikipedia.org/wiki/Giang_V%C4%83n_Minh#cite_note-BaoBD-4) Vế đối này vừa chỉnh, vừa có ý nhắc lại việc người Việt đã ba lần đánh tan quân xâm lược phương Bắc trên sông Bạch Đằng (http://vi.wikipedia.org/wiki/B%E1%BA%A1ch_%C4%90%E1%BA%B1ng).
Vào thời bấy giờ, câu đối này được xem là cái tát thẳng vào mặt hoàng đế nhà Minh trước đông đảo văn võ bá quan của Thiên triều và sứ bộ các nước. Vua nhà Minh bừng bừng lửa giận quên mất thể diện thiên triều, bất chấp luật lệ bang giao, đã trả thù bằng cách trám đường vào miệng và mắt ông, rồi cho người mổ bụng xem “bọn sứ thần An Nam to gan lớn mật đến đâu”. Sự việc này xảy ra vào ngày mùng 2 tháng 6 năm Kỷ Mão (1639). Nhưng Minh Tư Tông vẫn kính trọng ông còn cho ướp xác ông bằng bột thủy ngân và đưa thi hài ông về nước[5] (http://vi.wikipedia.org/wiki/Giang_V%C4%83n_Minh#cite_note-BaoBD-4)[6] (http://vi.wikipedia.org/wiki/Giang_V%C4%83n_Minh#cite_note-5)
Khi thi hài của ông về đến Kinh thành Thăng Long, vua Lê Thần Tông (http://vi.wikipedia.org/wiki/L%C3%AA_Th%E1%BA%A7n_T%C3%B4ng) và chúa Trịnh Tráng (http://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%E1%BB%8Bnh_Tr%C3%A1ng) bái kiến linh cữu ông[5] (http://vi.wikipedia.org/wiki/Giang_V%C4%83n_Minh#cite_note-BaoBD-4) và truy tặng chức Công bộ Tả thị lang, tước Vinh quận công[1] (http://vi.wikipedia.org/wiki/Giang_V%C4%83n_Minh#cite_note-VB32-0), ban tặng câu “Sứ bất nhục quân mệnh, khả vi thiên cổ anh hùng” (tức là Sứ thần không làm nhục mệnh vua, xứng đáng là anh hùng thiên cổ)[7] (http://vi.wikipedia.org/wiki/Giang_V%C4%83n_Minh#cite_note-LSVN-6).
Sau khi thi hài được đưa về nước, Giang Văn Minh được chôn cất tại Đồng Dưa, thuộc xứ Gò Đông, thôn Mông Phụ, xã Đường Lâm[7] (http://vi.wikipedia.org/wiki/Giang_V%C4%83n_Minh#cite_note-LSVN-6). Trên cánh đồng này có một quán (hiện có dạng ngôi nhà) nhỏ là nơi linh cữu ông đã được quàn và gọi là quán Giang.
Hiện nay, nhà thờ ông ở làng Mông Phụ đã được nhà nước Việt Nam (http://vi.wikipedia.org/wiki/Vi%E1%BB%87t_Nam) xếp hạng là Di tích lịch sử - văn hóa[5] (http://vi.wikipedia.org/wiki/Giang_V%C4%83n_Minh#cite_note-BaoBD-4). Ở Hà Nội hiện nay có một con đường mang tên Giang Văn Minh, nối với phố Giảng Võ và phố Kim Mã, quận Ba Đình (http://vi.wikipedia.org/wiki/Qu%E1%BA%ADn_Ba_%C4%90%C3%ACnh).[8] (http://vi.wikipedia.org/wiki/Giang_V%C4%83n_Minh#cite_note-7)

love V forever
17-07-2009, 08:42 PM
hôm nay lần đầu tiên mình xem trương trình Thăng Long nhân kiệt và cũng là lần đầu tiên mình biết đến 1 nữ hào kiệt trong lịch sử nước nhà :"An Tư công chúa":
hjc,cả 1 đời trai ko 1bằng 1 người con gái :((

Công chúa An Tư[1] (http://vi.wikipedia.org/wiki/An_T%C6%B0#cite_note-0),không rõ năm sinh, năm mất, chỉ biết bà là con gái vua Trần Thái Tông (http://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%E1%BA%A7n_Th%C3%A1i_T%C3%B4ng), em gái út của vua Trần Thánh Tông (http://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%E1%BA%A7n_Th%C3%A1nh_T%C3%B4ng), thuộc nhà Trần (http://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_Tr%E1%BA%A7n), Việt Nam (http://vi.wikipedia.org/wiki/Vi%E1%BB%87t_Nam).
Cuộc đời của An Tư, sử Việt chép rất sơ lược, như Đại Việt sử ký toàn thư (http://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A1i_Vi%E1%BB%87t_s%E1%BB%AD_k%C3%BD_t o%C3%A0n_th%C6%B0) của Ngô Sĩ Liên (http://vi.wikipedia.org/wiki/Ng%C3%B4_S%C4%A9_Li%C3%AAn) chỉ ghi: Tháng 2 (Ất Dậu (http://vi.wikipedia.org/wiki/%E1%BA%A4t_D%E1%BA%ADu))...Sai người đưa công chúa An Tư (em gái út của Thánh Tông) đến cho Thoát Hoan, là muốn làm thư giãn loạn nước vậy[2] (http://vi.wikipedia.org/wiki/An_T%C6%B0#cite_note-1)
Ở Việt sử tiêu án (http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Vi%E1%BB%87t_s%E1%BB%AD_ti%C3%AAu_ %C3%A1n&action=edit&redlink=1) của Ngô Thì Sĩ (http://vi.wikipedia.org/wiki/Ng%C3%B4_Th%C3%AC_S%C4%A9) cũng chỉ ghi:...Thoát Hoan lên sông Nhĩ Hà (http://vi.wikipedia.org/wiki/S%C3%B4ng_H%E1%BB%93ng), cột liền bè vào làm cầu, cho quân qua sông; quân ta theo hai bên sông lập đồn để cự lại, không được; ngày đã về chiều, quân giặc qua được sông vào kinh thành, Vua sai đưa Thiên Tư Công chúa cho chúng, để thư nạn cho nước.
Tóm tắt truyện:
Đầu năm Ất Dậu (1285 (http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=1285&action=edit&redlink=1)), quân nhà Nguyên (http://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_Nguy%C3%AAn) đã đánh tới Gia Lâm vây hãm Thăng Long (http://vi.wikipedia.org/wiki/Th%C4%83ng_Long). Thượng hoàng Thánh Tông và vua Nhân Tông đã đi thuyền nhỏ ra vùng Tam Trĩ[3] (http://vi.wikipedia.org/wiki/An_T%C6%B0#cite_note-2), còn thuyền ngự thì đưa ra vùng Ngọc Sơn để đánh lạc hướng đối phương. Nhưng quân Nguyên vẫn phát hiện ra. Ngày 9 tháng 3 cùng năm, thủy quân Nguyên đã bao vây Tam Trĩ suýt bắt được hai vua.
Chiến sự buổi đầu bất lợi. Tướng Trần Bình Trọng (http://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%E1%BA%A7n_B%C3%ACnh_Tr%E1%BB%8Dng) lại hy sinh ở bờ sông Thiên Mạc. Trước thế mạnh của đối phương, nhiều tôn thất nhà Trần như Trần Kiện, Trần Lộng, kể cả hoàng thân Trần Ích Tắc (http://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%E1%BA%A7n_%C3%8Dch_T%E1%BA%AFc) đều qui hàng. Chi hậu cục thủ Đỗ Khắc Chung được sai đi sứ để làm chậm tốc độ tiến quân của Nguyên, nhưng không có kết quả. Trong lúc đó, cần phải có thời gian để củng cố lực lượng, tổ chức chiến đấu, bởi vậy, Thượng hoàng Trần Thánh Tông bất đắc dĩ phải dùng đến kế mỹ nhân, tức sai người dâng em gái út của mình cho tướng Thoát Hoan...
Sau, quân Trần bắt đầu phản công, quân Nguyên đại bại. Trấn Nam Vương Thoát Hoan, con trai của Hốt Tất Liệt (http://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%91t_T%E1%BA%A5t_Li%E1%BB%87t) đã phải "chui vào cái ống đồng để lên xe bắt quân kéo chạy" để về Tàu (http://vi.wikipedia.org/wiki/Trung_Qu%E1%BB%91c).[4] (http://vi.wikipedia.org/wiki/An_T%C6%B0#cite_note-3).
Chiến thắng, các vua Trần làm lễ tế lăng miếu, khen thưởng công thần, nhưng không ai nói đến An Tư. Không rõ công chúa còn hay mất, được mang về Trung Quốc hay đã chết trong đám loạn quân.
Trong cuốn An Nam chí lược (http://vi.wikipedia.org/wiki/An_Nam_ch%C3%AD_l%C6%B0%E1%BB%A3c) của Lê Tắc (http://vi.wikipedia.org/wiki/L%C3%AA_T%E1%BA%AFc), một thuộc hạ của Trần Kiện theo chủ chạy sang nhà Nguyên, sống lưu vong ở Trung Quốc có ghi: Trước, Thái tử (chỉ Thoát Hoan) lấy người con gái nhà Trần sinh được hai con. Người con gái họ Trần này có thể là công chúa An Tư, tuy nhiên chưa có chứng cứ rõ ràng khẳng định điều này.

[sửa (http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=An_T%C6%B0&action=edit&section=2)] Ghi công

“ ...Một ngày trong tháng 2 năm 1825, Trung Hiếu hầu Trần Dương nhận lệnh đi thương thuyết giảng hòa, rồi sai quan hầu cận là Đào Kiên đưa công chúa An Tư sang dinh tướng Mông Nguyên (Thoát Hoan). Chẳng bao lâu, dưới sự chỉ huy kháng chiến của Trần Quốc Tuấn (http://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%E1%BA%A7n_Qu%E1%BB%91c_Tu%E1%BA%A5n), quân Nguyên Mông bị dẹp tan. Trong chiến công này rõ ràng là có sự đóng góp của công chúa An Tư, người đã hi sinh vì nạn nước. ” GS. Phạm Đức Dương, Chủ tịch Hội Khoa học Đông Nam Á (http://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%C3%B4ng_Nam_%C3%81) Việt Nam, viết:
“ Nhà Trần trở thành triều đại vinh quang nhất trong lịch sử Đại Việt vì đã 3 lần chiến thắng quân Nguyên, một đội quân đã từng làm mưa làm gió khắp Á (http://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%C3%A2u_%C3%81) – Âu (http://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%C3%A2u_%C3%82u). Trong chiến công chung đó người ta ghi nhận sự đóng góp, sự sinh thầm lặng của những người phụ nữ, trong số ấy có công chúa An Tư. Người con gái “lá ngọc cành vàng” ấy vì nợ nước đã ra đi không trở lại. Nhưng trớ trêu thay, sau chiến thắng quân Nguyên, tháng 7 năm 1285, vua trở về kinh thành hân hoan khen thưởng những người có công, nhưng không ai nhắc tới công chúa An Tư.[6] (http://vi.wikipedia.org/wiki/An_T%C6%B0#cite_note-5)
” Và trên website Vietsciences trong một bài viết, không ghi tên tác giả, cũng có đoạn:
“ Dù triều Trần và sử sách có quên nàng thì các thế hệ đời sau vẫn dành cho nàng sự kính trọng, thương cảm. Khoảng trống lịch sử sẽ được lấp đầy bằng tình cảm của người đời sau…[7] (http://vi.wikipedia.org/wiki/An_T%C6%B0#cite_note-6). ”
[sửa (http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=An_T%C6%B0&action=edit&section=3)] Trong văn học

Khoảng năm 1943, câu chuyện về người công chúa này đã được nhà văn Nguyễn Huy Tưởng (http://vi.wikipedia.org/wiki/Nguy%E1%BB%85n_Huy_T%C6%B0%E1%BB%9Fng) viết thành cuốn tiểu thuyết lịch sử An Tư[8] (http://vi.wikipedia.org/wiki/An_T%C6%B0#cite_note-7)
Theo nội dung truyện, công chúa An Tư có người yêu là Chiêu Thành Vương Trần Thông, con cả của Thái úy Khâm Thiên Đại Vương Trần Nhật Hiệu.
Và sau khi " người chồng" là Thoát Hoan trốn chạy, “nàng xuống ngựa thắp hương, rồi dập đầu trên nấm đất (ngôi mộ của Trần Thông) mà khóc rũ dượi…”. Rồi dưới "ánh trăng bàng bạc, nàng mê mang như ngày ruổi ngựa cùng chàng vào Thanh (http://vi.wikipedia.org/wiki/Thanh_H%C3%B3a). Nàng đã đến bên bờ sông Cái (http://vi.wikipedia.org/wiki/S%C3%B4ng_H%E1%BB%93ng), và không ngần ngại văng mình xuống nước...”[9] (http://vi.wikipedia.org/wiki/An_T%C6%B0#cite_note-8)
Bàn về nhân vật này, PGS.TS. Nguyễn Bích Thu viết:
Trong tiểu thuyết...An Tư tượng trưng cho cái đẹp biết dấn thân, mang một ý nghĩa lớn lao có thể lay chuyển hàng binh thế trận...Nguyễn Huy Tưởng bằng tình cảm và lòng ngưỡng mộ của mình đã ghi nhận và tôn vinh sự hi sinh thầm lặng nhưng quyết liệt của An Tư, một nữ trung hào kiệt trong tiểu thuyết như một chiến công sánh ngang với Trần Quốc Toản (http://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%E1%BA%A7n_Qu%E1%BB%91c_To%E1%BA%A3n), Trần Bình Trọng và trường hợp của nàng đáng được lưu danh như tên tuổi các bậc tiền nhân nhà Trần.[10] (http://vi.wikipedia.org/wiki/An_T%C6%B0#cite_note-9)

dattohungvuong
22-08-2009, 03:26 PM
LÊ QUÍ ĐÔN



Nhà bác học Lê Quý Đôn nói về những dị tai
Những lý giải của các bản tấu sớ trình vua được Lê Quý Đôn nghe và ghi chép lại. Dưới sự sao lọc của ông thì những bản tấu sớ này trở thành những lý lẽ sắc bén giải thích mối quan hệ giữa con người và trời đất.
Lê Quý Đôn là một bác học thời Lê - Mạc, sống trong thời Nam Bắc phân tranh, đã có những ghi chép tỉ mỉ về lịch sử nước nhà trong giai đoạn này. Tên tuổi của ông gắn với những bộ sách có giá trị. Về triết học có: "Thánh mô hiền phạm tục", "Quần thư khảo biên", "Dịch kinh du thuyết"; Về lịch sử có: "Đại Việt thông sử", "Quốc sử tục biên"; về khảo cứu có: "Phủ biên tạp lục", "Kiến văn tiểu lục", "Vân đài loại ngữ"; về sáng tác có: "Bắc sứ thông tục", "Quế Đường thi tập"; về sưu tập có "Toàn Việt thi lục", v.v.
Trong sách Đại Việt thông sử do Lê Quý Đôn viết, Trúc viên Lê Mạnh Liêu dịch (Tủ sách cổ văn của Ủy ban Dịch thuật, 1973) có ghi chi tiết về triều vua Mạc Mậu Hợp và những binh biến, nhiên biến dưới thời vua này.
Mạc Mậu Hợp là con trưởng của Mạc Phúc Nguyên, lên ngôi năm 1567, lúc này mới 2 tuổi, mọi việc trong cung đều do ông chú Mạc Kinh Điển và Mạc Đôn Nhượng phò tá. Khi Mạc Kinh Điển chết thì lòng quân và lòng người đều dao động. Nhân tài dưới thời này đã trình lên vua một số tấu sớ trình bày ngọn ngành tình hình thời sự như sau: "Hiện nay thế sự gian nguy, có nhiều điểm đáng lo, kỷ cương rối loạn, chính sự hững hờ, hình ngục oan uổng, pháp lệnh sai lầm.
Tướng chưa hòa thuận, binh chưa chỉnh nghiêm. Khi quân địch kéo đến đánh phía Tây Nam, nhân dân địa phương bị tao nhiễu, đến cả kinh thành. Thế mà lúc ấy triều đình không đặt một phương lược, một kế hoạch gì để chống địch mà mặc cho chúng tự do tiến, tự do lui, mặc cho chúng thi thố tính phương kế hại ta khiến nhân dân ta ở miền chân núi rất khốn khổ.
Ôi, thời sự là vậy, thiên ý là vậy, thật quá nguy ngập. Nếu bây giờ biết nghĩ tới phương thức để cải cách tệ chính, biết sợ cơn giận của trời, chỉnh đốn binh bị để chinh phạt giặc thù, cũng chưa muộn, vẫn có thể kịp, khốn nỗi vua tôi trên dưới vẫn vui chơi ngạo nghễ, vẫn hơn hớn tự cho là thái bình vô sự... Những người giữ việc nước biết mà không chịu nói, hoặc nói mà không hết lời, một khi triều đình thất kế thì quốc gia thiên hạ sẽ như thế nào?".
Vua Mạc Mậu Hợp khi nghe tấu sớ này đã khen là chính đáng nhưng cuối cùng không nghe theo, không thay đổi, làm cho cục diện Đại Việt lúc ấy càng trở nên tồi tệ: "Đêm 21/7/1581, có trận mưa bão rất dữ! Mà tại kinh đô càng mạnh hơn. Tự cung điện trong triều, đến giao dân thái miếu và đàn xã tắc, cả đến nhà cửa cùng dinh thự, tất thảy đều đổ nát gần hết! Về hương thôn các xứ, cây bốc rễ, lúa ngã rạp, nhà đổ thuyền đắm, người chết rất nhiều".
Trước một trận mưa lịch sử, vua Mạc Mậu Hợp đã triệu quan lại hồi triều để nắm tình hình. Thiên đô ngự sử Lại Mẫn trình lên tờ sớ rằng: "Sự thể hiện nay, chính là thời tiết cực bĩ, kỷ cương bỏ bê mà không chấn hưng, chính sự thối nát mà không tu sửa. Trộm cướp hoành hành, lòng người nao núng, thế nước lung lay. Như muốn chuyển bĩ thành thái thì trên dưới phải hợp chí, đồng tâm mới có thể làm được… Lúc này bệ hạ chính nên thân cận người hiền, tu sửa cải cách các chính trị, thế mới mong cứu vãn được thế sự nguy loạn trước khi phát xuất".
Trong bản sớ này cũng trích một câu Kinh Thi rất ý nghĩa "Thiên chi giáng nạn, vô nhiên hiên hiến", có nghĩa là, gặp khi trời giáng tai nạn, đừng nên hơn hớn yên vui. Hay "Đa tương cao cao, bất khả cứu đắc", có nghĩa là, vui chơi nồng nhiệt như lửa, không còn phương thuốc cứu chữa. Bản tấu sớ trình vua hôm đó còn đưa ra nhiều kế sách để có một đất nước hùng cường... Vua khen tấu hay nhưng không làm theo.
Thiếu bảo Giáp Trưng thì dâng tờ sớ mà rằng: "Trận mưa bão vừa rồi là một tai biến lạ thường! Ôi, tai biến xảy ra đều do nhân sự xui nên! Hiện nay giặc giã chưa yên, quân địch nặng nề, cả đến việc thu thuế và cho dân vay thóc cũng rất phiền phức, nay phóng mai đã thôi thúc, suốt năm không ngày nào yên, cứ đếm đầu người mà thu, rồi lại tính lời từng phân, từng ly... Vơ vét sưu thuế, đòi hỏi dân nghèo. Dân ngao ngán, không còn muốn sống".
Bản sớ này trích lời trong Kinh Thi "Vô viết cao cao tại thượng, trắc giáng quyết thổ" có nghĩa là đừng tưởng trời quá cao xa, vẫn thường lên xuống soi xét dưới đất, tức là, nhân sự vậy, và "Thiên thông minh tự ngã dân thông minh, thiên minh uy tự ngã dân minh uy", có nghĩa là, thông minh của trời cũng là thông minh của dân, uy sáng của trời cũng là uy sáng của dân. Đó là nói "Lòng dân xu hướng vào đâu, tức là lẽ trời vậy".
Những lý giải của các bản tấu sớ trình vua được Lê Quý Đôn nghe và ghi chép lại. Dưới sự sao lọc của ông thì những bản tấu sớ này trở thành những lý lẽ sắc bén giải thích mối quan hệ giữa con người và trời đất: "Trong nước khi chính trị loạn nên trời ứng điềm dữ để cảnh tỉnh (là tuệ tinh xuất hiện, núi lở tự nhiên, nhật thực - nguyệt thực). Nay lại phát bằng trận mưa bão dữ dội ngay tại kinh sư, đó là dị tai rất lớn.(Trích sớ của Lại bộ Thượng thư Nghĩa sơn bá - Trần Văn Tuyên) hay "Hiện nay khí âm dương không hoà cho nên phát sinh dị tai. Trận bão tháng trước, kinh sư bị tai hại nhất, mà nơi triều điện lại càng hại hơn.
Đó không phải là một dị tai bình thường". (Trích sớ ngày 16/8 của Đông các học sĩ Nguyễn Năng Nhuận).
"Nhân sự hay thì trời ứng điềm lành, nhân sự dở trời ứng điềm dữ", "khí âm dương không hòa cho nên phát sinh dị tai", hay "ôi, tai biến xảy ra đều do nhân sự gây nên" những thiệt hại xảy ra là do "sự chuẩn bị thiếu chu đáo của con người" là những lý lẽ để giải thích cho những hiểm họa tự nhiên mà người xưa gọi là dị tai vậy

Lê Qúy Đôn nguyên là Lê Danh Phương, tự Doãn Hậu, hiệu Quế Đường, sinh ngày 2-8-1726, trong một gia đình khoa bảng; cha là tiến sĩ Lê Trọng Thứ, quê tại làng Diên Hà, trấn Sơn Nam Hạ, nay là thôn Phú Hiếu, xã Độc Lập, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Ngay từ nhỏ ông đã nổi tiếng thông minh, chăm học. Năm 14 tuổi, Lê Qúy Đôn theo cha lên học ở kinh đô Thăng Long. Lúc ấy cậu bé 14 tuổi đã học xong toàn bộ sách kinh, sử của Nho gia. 18 tuổi, Lê Qúy Đôn thi Hương đỗ Giải nguyên. 27 tuổi đỗ Hội nguyên, rồi đỗ Đình Nguyên Bảng nhãn. Sau khi đã đỗ đạt, Lê Qúy Đôn được bổ làm quan và từng giữ nhiều chức vụ quan trọng của triều Lê - Trịnh, như: Hàn lâm thừa chỉ sung Toản tu quốc sử quán (năm 1754), Hàn lâm viện thị giảng (năm 1757), Đốc đồng xứ Kinh Bắc (năm 1764), Thị thư kiêm Tư nghiệp Quốc tử Giám (năm 1767), Tán lý quân vụ, Thị phó đô ngự sử (năm 1768), Công bộ hữu thị lang (năm 1769), Bồi tụng (Phó thủ tướng) (năm 1773), Lại bộ tả thị lang kiêm Tổng tài quốc sử quán (năm 1775), Hiệp trấn tham tán quân cơ Trấn phủ Thuận Hóa (năm 1776), Hiệp trấn Nghệ An (năm 1783), Công bộ thượng thư (năm 1784)...

Lê Qúy Đôn mất ngày 1-5-1784 tại quê mẹ, làng Nguyên Xá, huyện Duy Tiên (nay thuộc Hà Nam). Thi hài ông được đưa về mai táng ở quê nhà.

Trong cuộc đời làm quan của Lê Qúy Đôn, có mấy sự kiện sau có ảnh hưởng lớn đối với sự nghiệp trước tác, văn chương của ông. Đó là chuyện đi sứ Trung Quốc năm 1760 - 1762. Tại Yên Kinh (Bắc Kinh), Lê Qúy Đôn gặp gỡ các sứ thần Triều Tiên, tiếp xúc với nhiều trí thức nổi tiếng của nhà Thanh, bàn lận với họ những vấn đề sử học, triết học... Học vấn sâu rộng của ông được các học giả Trung Quốc, Triều Tiên rất khâm phục. Ở đây, Lê Qúy Đôn có dịp đọc nhiều sách mới lạ, kể cả sách của người phương Tây nói về địa lý thế giới, về ngôn ngữ học, thủy văn học... Đó là các đợt Lê Qúy Đôn đi công cán ở các vùng Sơn Nam, Tuyên Quang, Lạng Sơn những năm 1772, 1774, làm nhiệm vụ điều tra nỗi khổ của nhân dân cùng tệ tham nhũng, ăn hối lộ của quan lại, khám đạc ruộng đất các vùng ven biển bị địa chủ, cường hào địa phương man khai, trốn thuế... Chính nhờ quá trình đi nhiều, thấy nhiều, nghe nhiều, biết nhiều việc đời như vậy mà kiến thức Lê Qúy Đôn trở nên phong phú vô cùng. Ông viết trong lời tựa sách Kiến văn tiểu lục: "Tôi vốn là người nông cạn, lúc còn bé thích chứa sách, lúc trưởng thành ra làm quan, xem lại sách đã chứa trong tủ, vâng theo lời dạy của cha, lại được giao du nhiều với các bậc hiền sĩ đại phụ Thêm vào đấy phụng mệnh làm việc công, bốn phương rong ruổi: mặt bắc sang sứ Trung Quốc, mặt tây bình định Trấn Ninh, mặt nam trấn thủ Thuận Quảng (Thuận Hóa, Quảng Nam). Đi tới đâu cũng để ý tìm tòi, làm việc gì mắt thấy tai nghe đều dùng bút ghi chép, lại phụ thêm lời bình luận sơ qua, giao cho tiểu đồng đựng vào túi sách".

Ngoài đầu óc thông tuệ đặc biệt cộng với vốn sống lịch lãm và một nghị lực làm việc phi thường, phải kể đến thời đại mà Lê Qúy Đôn sống. Và ông là đứa con đẻ, là sản phẩm của thời đại ấy kết tinh lại.

Lê Qúy Đôn sống ở thế kỷ thứ 18 thời kỳ xã hội Việt Nam có nhiều biến động lớn. Trong lòng xã hội Việt Nam đầy mâu thuẫn khi ấy đang nảy sinh những mầm mống mới của thời kỳ kinh tế hàng hóa, thị trường trong nước mở rộng, thủ công nghiệp và thương nghiệp có cơ hội phát triển... Tình hình đó đã tác động mạnh mẽ tới đời sống văn hóa, tư tưởng, khoa học. Ở thế kỷ 18, xuất hiện nhiều tên tuổi rực rỡ như Đoàn Thị Điểm, Ngô Thì Sĩ, Nguyễn Gia Thiều, Đặng Trần Côn, Lê Hữu Trác... Đồng thời các tri thức văn hóa, khoa học của dân tộc được tích lũy hàng ngàn năm tới nay đã ở vào giai đoạn súc tích, tiến đến trình độ phải hệ thống, phân loại. Thực tế khách quan này đòi hỏi phải có những bộ Óc bách khoa và Lê Qúy Đôn với học vấn uyên bác của mình đã trở thành người "tập đại hành" mọi tri thức của thời đại. Có thể nói, toàn bộ những tri thức cao nhất ở thế kỷ thứ 18 đều được bao quát vào trong các tác phẩm của Lê Qúy Đôn. Tác phẩm của ông như cái mốc lớn đánh dấu thành tựu văn hóa của cả một thời đại với tất cả những ưu điểm cùng nhược điểm của nó.

Tác phẩm của Lê Qúy Đôn thống kê có tới 40 bộ, bao gồm hàng trăm quyển, nhưng một số bị thất lạc. Những tác phẩm tiêu biểu của Lê Qúy Đôn còn giữ được có thể kể ra như sau:

- Quần thư khảo biện, tác phẩm chứa đựng nhiều quan điểm triết học, lịch sử, chính trị được viết trước năm ông 30 tuổi.

- Vân đài loại ngữ, Lê Qúy Đôn làm xong lúc ông 30 tuổi. Đây là một loại "bách khoa thư", trong đó tập hợp các tri thức về triết học, khoa học, văn học... sắp xếp theo thứ tự: Vũ trụ luận, địa lý, điển lệ, chế độ, văn nghệ, ngôn ngữ, văn tự, sản vật tự nhiên, xã hội... Vân đài loại ngữ là bộ sách đạt tới trình độ phân loại, hệ thống hóa, khái quát hóa khá cao, đánh dấu một bước tiến bộ vượt bậc đối với nền khoa học Việt Nam thời phong kiến.

- Đại Việt thông sử, còn gọi Lê triều thông sử, là bộ sử được viết theo thể ký truyện, chép sự việc theo từng loại, từng điều một cách hệ thống, bắt đầu từ Lê Thái Tổ đến Cung Hoàng, bao quát một thời gian hơn 100 năm của triều Lê, trong đó chứa đựng nhiều tài liệu mới mà các bộ sử khác không có, đặc biệt là về cuộc kháng chiến chống Minh.

- Kiến văn tiểu lục, là tập bút ký nói về lịch sử và văn hóa Việt Nam từ đời Trần đến đời Lệ Ông còn đề cập tới nhiều lĩnh vực thuộc chế độ các vương triều Lý, Trần, từ thành quách núi sông, đường xá, thuế má, phong tục tập quán, sản vật, mỏ đồng, mỏ bạc và cách khai thác cho tới các lĩnh vực thơ văn, sách vở...

- Phủ biên tạp lục, được viết trong thời gian Lê Qúy Đôn làm Hiệp trấn Thuận Hóa. Nội dung ghi chép về tình hình xã hội. Đàng Trong từ thế kỷ thứ 18 trở về trước.

Công trình biên soạn lớn nhất của Lê Qúy Đôn là bộ Toàn Việt thi lục 6 quyển, tuyển chọn 897 bài thơ của 73 tác giả từ thời Lý đến đời Lê Tương Dực (1509 - 1516). Lê Qúy Đôn hoàn thành Toàn Việt thi lục năm 1768, dâng lên vua, được thưởng 20 lạng bạc.

Về sáng tác văn xuôi, theo Phan Huy Chú, Lê Qúy Đôn có Quế Đường văn tập 4 quyển, nhưng sách này đã mất. Về sáng tác thơ, Lê Qúy Đôn để lại có Quế Đường thi tập khoảng vài trăm bài làm ở trong nước và trong thời gian đi sứ Trung Quốc.

Nhận xét tổng quát về thơ Lê Qúy Đôn, Phan Huy Chú viết: "Ông là người học vấn rộng khắp, đặt bút thành văn. Cốt cách thơ trong sáng. Lời văn hồn nhiên... , không cần suy nghĩ mà trôi chảy dồi dào như sông dài biển cả, không chỗ nào không đạt tới, thật là phong cách đại gia".

Quan niệm về thơ của Lê Qúy Đôn được tổng hợp lại như sau: "Làm thơ có 3 điểm chính: một là tình, hai là cảnh, ba là việc. Tiếng sáo thiên nhiên kêu ở trong lòng mà động vào máy tình; thị giác tiếp xúc với ngoài, cảnh động vào ý, dựa cổ mà chứng kim, chép việc thuật chuyện, thu lãm lấy tinh thần... đại để không ngoài ba điểm ấy".

Đây là những tiêu chuẩn về thơ mà Lê Qúy Đôn đề ra cho quá trình sáng tác của mình. Đọc thơ Lê Qúy Đôn, chúng ta thấy thơ ông thật phong phú đa dạng, sâu sắc về tư tưởng, nghệ thuật và để lại trong lòng ta những xúc động đẹp đẽ, sâu xa:

Thành cổ lộng
Thành hoang tường đổ đã bốn trăm năm,
Dây dưa, dây đậu leo quấn xanh tốt.
Sóng biết đã rửa sạch nỗi hận cho vua Trần,
Cỏ xanh khó che lấp sự hổ thẹn của Mộc Thạnh.
Sau trận mưa bò vàng cầy bật gươm cũ,
Dưới trăng chim lạnh kêu bên lầu tàn.
Bờ cõi cần gì phải mở rộng mãi
Đời Nghiêu Thuấn xưa chỉ có chín châu thôi.
Cụ là người thông kim bác cổ, được cho là người Việt đầu tiên biết và thừa nhận rằng Quả đất hình tròn và từng đọc nhiều sách Tây (qua bản dịch Hán văn). Có cuốn sách của cụ mà để hoàn thành nó, cụ đã trích dẫn trích hơn 500 cuốn sách của Tàu. Điều đó quả thật đáng quý. Cuốn Đại Việt Thông Sử soạn xong năm 1759. Cùng năm đó, Lê Quý Đôn được cử đi sứ Trung Quốc. Vốn là người ham mê sách vở, có lẽ ông đã mua được rất nhiều sách ở Trung Quốc về đọc, từ đó gia tăng thêm kiến thức về Trung Quốc và thế giới.

Có thể thấy là mỗi lần đi được tới đâu, thu thập thêm kiến thức mới là ông viết ngay (chứ không cần đợi tới già ... viết hồi ký).

- Năm 1759 đi sứ Trung Quốc, chỉ một thời gian ngắn sau, ông viết xong cuốn Bắc Sử Thông Lục (1763).

- Năm 1776, được cử vào đàng trong, năm sau ông viết xong cuốn Phủ Biên Tạp Lục (1776) về tình hình xã hội xứ Đàng Trong, và kế đó là Kiến Văn Tiểu Lục (1777)
Một buổi trưa nắng, lũy tre xanh xạc xào trong gió. Bên dòng sông xanh biếc, có một quán nhỏ nằm dưới gốc đa, chủ nhân là một bà lão đang ngồi nhai trầu bỏm bẻm. Khách là một thư sinh ngoài hai mươi, có lẽ từ xa mới đến. Bước vào quán, trong khi đợi cơm, theo thói quen khách với tay lấy quyển sổ đang treo trên vách xuống xem. À thì ra đây là quyển sổ nợ. Khách vừa đọc xong thì cơm cũng vừa dọn lên. Ăn xong, khách đi ngay. Buổi chiều, quay lại trên con đường này thì nào ngờ quán đã cháy trụi. Bà lão án quán đang ngồi khóc tỉ tê, khách tới an ủi, thì bà mếu máo nói:

- Quyển sổ nợ cháy mất rồi. Chả nhớ ai nợ bao nhiêu để mà đòi!

Khách đứng ngẫm nghĩ một lát, rồi lấy bút ra ghi lại tên từng người, với số tiền nợ. Bà lão nửa tin nửa ngờ đi đòi thì quả nhiên không sai, không sót một ai. Ai nấy đều kinh ngạc cho trí nhớ phi thường này.

Người đó chính là thần đồng Lê Quý Đôn, sinh ngày 2.8.1726 tại làng Phú Hiếu, huyện Diên Hà (nay thuộc xã Độc Lập, huyện Hưng Hà, Thái Bình) là con trai của tiến sĩ Lê Phú Thứ. Mới hai tuổi, ông đã biết viết chữ “hữu” (có) và chữ “vô” (không), năm tuổi đã đọc được nhiều bài trong Kinh Thi, mười một tuổi đọc Kinh Dịch, mười bốn tuổi thì đọc hết Tứ Thư, Ngũ Kinh… Có lần ông nghịch ngợm trêu đùa một người bạn của cha bị cha lăm lăm chiếc roi mây và mắng:

- Đồ rắn đầu rắn cổ! Sao bố đã nói mà con không vâng lời?

Không ngờ cậu bé tám, chín tuổi nghe cha mắng như thế liền ứng khẩu tạ tội bằng bài thơ Đường luật – mà mỗi câu đều có tên là một thứ… rắn:

- Chẳng phải liu điu, vẫn giống nhà

Rắn đầu biếng học lẽ không thay

Thẹn đèn hổ lửa, đau lòng mẹ

Nay thét mai gầm, rát cổ cha

Ráo mép chỉ quen tuồng dối trá

Lằn lưng, cam chịu vọt năm ba

Từ rày Châu Lỗ chăm nghề học

Kẻo hổ mang danh tiếng thế gia!


Với sức học uyên bác và trí nhớ siêu phàm như thế, Lê Quý Đôn thi đâu đỗ đó. năm 17 tuổi ông đi thi hương đỗ Giải nguyên, 26 tuổi đi thi hội đỗ Hội nguyên, rồi vào thi đình đỗ Bảng nhãn. Sau khi thi đậu, ông được bổ làm Thị Thư ở Viện hàn lâm, rồi làm ở Ban toản tu quốc sử, sau đó được cử đi điều tra trấn Nam Sơn, rồi biệt phái sang phủ chúa. Năm 1757 được thăng chức Thị giảng Viện hàn lâm, năm 1760 khi vua Lê Ý Tông mất, ông được cử làm phó sứ cùng Trần Huy Mật cầm đầu phái đoàn sang Trung Quốc báo tang. Điều đáng kể trong chuyến đi này là khi về đến Quế Lâm, ông đã viết thư cho quan đầu tỉnh Quảng Tây, phản đối việc Thanh triều đã dùng chữ “di quan” (quan lại mọi rợ) để gọi sứ bộ ta trên văn thư của họ. Trước sự ngoại giao ứng đối, biện bác sắc sảo khiến nhà Thanh phải chấp nhận đề nghị của ông, ra thông báo cho các địa phương Trung Quốc, khi nói về sứ bộ của nước ta phải dùng bốn chữ “An Nam cống sứ”. Cuộc đời làm quan của Lê Quý Đôn nhìn chung không có gì trắc trở, nhưng nếu chỉ có thế thôi thì chắc ngày nay không mấy ai còn nhớ đến ông. Điều đáng nhớ và học tập ở ông là một sức làm việc không mệt mỏi, ông đã “học, học nữa, học mãi” để trở thành nhà bác học lẫy lừng ở thế kỷ XVIII. Trong sách Kiến văn tiểu lục, ông viết:

- Tôi vốn là người nông cạn, lúc còn bé thích chứa sách, lúc trưởng thành ra làm quan, xem lại sách đã chứa trong tủ, vâng theo lời dạy của cha, lại được giao du nhiều với các bậc hiền sĩ đại phu… Thêm vào đấy phụng mệnh làm việc công, bốn phương rong ruổi: mặt Bắc đi sang sứ Trung Quốc, mặt Tây bình định Trấn Ninh, mặt Nam trấn thủ Thuận Quảng (Thuận Hóa – Quảng Nam). Đi tới đâu cũng để ý tìm tòi, làm việc gì mắt thấy tai nghe cũng đều dùng bút ghi chép, lại phụ thêm lời bình luận sơ qua, giao cho tiểu đồng dựng vào túi sách.......
Do tuân thủ nghiêm ngặt phương pháp làm việc như thế nên ông đã có nhiều cống hiến cho nước nhà. Phan Huy Chú (1782-1840) đã nhận xét: “Ông tư chất khác đời, thông minh hơn người, mà vẫn giữ tính nết thuần hậu, lại chăm học không biết mỏi. Tuy đỗ đạt vinh hiển, tay vẫn không rời quyển sách. Bình sinh làm sách rất nhiều. Bàn về kinh sử thì sâu sắc rộng rãi, mà nói về điển cố thì đầy đủ rõ ràng. Cái sở trường của ông vượt hơn cả, nổi tiếng ở trên đời”. Rồi 165 năm sau, giáo sư Nguyễn Lộc – người cùng thế hệ với chúng ta nhận xét: “Lê Quý Đôn là một nhà bác học có kiến thức hết sức uyên bác và đa dạng. Có thể nói ông là người đã thâu tóm được mọi mặt trí thức của thời đại lúc bấy giờ. Căn cứ vào những tác phẩm nghiên cứu về lịch sử rất có giá trị của ông như Đại Việt thông sử, Phủ biên tạp lục, Kiến văn tiểu lục, Bắc sứ thông lục v.v… hoàn toàn chúng ta có thể gọi ông là nhà sử học. Căn cứ vào những tác phẩm, nghiên cứu về triết học cũng không kém giá trị của ông như Kinh thư diễn nghĩa, Dịch kinh phu thuyết, Xuân Thu lược luận, Quân thư khảo biện v.v… hoàn toàn có thể gọi Lê Quý Đôn là nhà triết học. Căn cứ vào những sáng tác và công trình biên soạn rất công phu của ông như Toàn Việt thi lục, Hoàng việt văn hải, Quế đường thi tập, Quế văn tập v.v… hoàn toàn có thể gọi Lê Quý Đôn là nhà hoạt động văn học. Và căn cứ vào những tri thức được phản ánh trong các công trình trước tác khác của ông, nhất là trong bộ Vân đài loại ngữ, còn có thể gọi ông bằng nhiều danh hiệu khác nữa như nhà chính trị học, nhà kinh tế học, nhà xã hội học, nhà nông học, nhà địa lý học, nhà ngôn ngữ học v.v… (Từ điển văn học – NXB Khoa học xã hội 1984, tập I, tr.386). Số lượng tác phẩm của ông có trên 40 bộ bao gồm hằng trăm quyển để lại cho đời sau, nhưng qua binh lửa, chiến tranh, loạn lạc nay còn lại không quá một nửa. Học trò ông là tiến sĩ Bùi Huy Bích nhận xét về thầy mình: “Thông minh nhất đời, học rộng các sách, soạn ra văn chương đủ dạy đời và lưu truyền về sau, nước ta trong vài trăm năm nay mới có một người như thầy”.

Rõ ràng Lê Quý Đôn là một thiên tài, nhưng ở ông, chúng ta thấy 99 phần trăm để tạo nên điều đó chính là mồ hôi và sức lao động cật lực. Miệt mài, cần cù học, đọc và ghi chép. Chẳng hạn, với bộ ân đài loại ngữ ông đã trích dẫn cả thẩy 557 cuốn sách! Hoặc khi biên soạn Đại Việt thông sử, ông sử dụng nhiều tài liệu – kể cả các thần phả, các bi ký do đó nó chứa đựng được nhiều tài liệu mà các bộ sử khác không có. Bộ sách này gồm 30 quyển, chép tiểu sử, công tích, nghi lễ… của 11 đời vua từ Lê Thái Tổ đến Lê Nghi Dân – trong thời gian trên 100 năm! Hoặc khi biên soạn Toàn Việt thi lục, ông đã sưu tầm được 2391 bài của 175 tác giả từ đời Lý đến đời vua Lê Tương Dực! Công việc này, ông phân bố khoa học và ghi chép cẩn trọng.

Phương pháp làm việc của ông là không ngừng học hỏi và ghi chép. Năm 1776 khi được cử làm chức Hiệp trấn Thuận Hóa, ông đã bắt tay vào việc nghiên cứu tìm hiểu phong tục, vật sản, di tích… của xứ Đàng Trong này. Khi có người đến than phiền với ông là quan lại trong làng xã bắt phải nộp thuế sơn dầu. Chưa hiểu sơn dầu là gì, ông liền mời người đó vào dinh để tìm hiểu cặn kẽ, hiểu đến đâu ông ghi chép đến đó. Sau đó ông trực tiếp đến tận nơi quan sát đặc sản này. Nhờ cách làm việc như thế chỉ trong vòng sáu tháng ông đã hoàn thành bộ sách Phủ biên tạp lục – mà tiến sĩ Ngô Thì Sĩ đã nhận xét: “Sách này chép về hai xứ Thuận Hóa, Quảng Nam, ghi rõ núi sông, thành ấp, ngạch lính, thuế má, nhân tài, sản vật cùng các đời chúa Nguyễn với việc đánh dẹp, đóng quân rõ ràng như những ngón tay trên bàn tay…”. Ngày nay, đọc lại tác phẩm của ông, trong phần Tựa, chúng ta càng hiểu tấm lòng của ông khi lao vào công việc nặng nhọc này. Khi viết Lê triều thông sử ông chủ trương: “Phép làm sử là phải nhặt đủ không bỏ sót, để cho người ta sau khi mở sách ra xem, rõ được manh mối, biết được đầu đuôi, tuy không tận mắt thấy tai nghe, mà rõ ràng như chính mình được thấy”. Do đó ông đã phải xử lý một khối lượng tư liệu đồ sộ. Dù được người đương thời ca ngợi không tiếc lời, nhưng lúc nào ông cũng khiêm tốn học hỏi, trong lời tựa Dịch kinh phu truyện, ông viết: “Tôi ngu hèn học kém, kính đọc lời dạy của thánh nhân, nghiên cứu truyện nghĩa của họ Trình họ Chu, xét thêm những lời chú thích của tiên nho, có khi xúc động mà phát minh ra, nói thêm mấy lời, tất cả 5 quyển chỉ cốt để sửa lấy tấm thân cho được ít lỗi lầm, còn như đem thi thố ra sự nghiệp thì đâu dám nói đến”. Hoặc trong lời tựa của Thư kinh diễn nghĩa, ông cho biết: “Tôi thật ngu lậu, nghiền ngẫm lâu năm, hiểu qua nghĩa lớn, mỗi khi đọc thấy ý vị dạt dào, lý thú vô cùng, chỗ nào xúc động mà phát minh thì tùy bút chép ra, trưng dẫn các truyện ký, bàn bạc việc xưa nay, đều là muốn làm ẩn chứng cho sách của thánh nhân”. Vậyd dó, ông viết sách đây phải để lưu hành, để nổi tiếng mà chính là để tự răn mình và học hỏi thêm. Quan niệm này đáng quý biết chừng nào. Và cũng chính vì quan niệm rạch ròi như thế nên sách của ông biên soạn chu đáo, đầy đủ từng chi tiết, chứ không qua loa, đại khái…

Sách của Lê Quý Đôn biên soạn, trước tác giúp ích cho muôn đời đã đành, nhưng trong đời thường ông cũng không từ nan một việc gì nếu có lợi cho đất nước. Tương truyền có lần sứ Trung Quốc gửi thông điệp sang nước ta vỏn vẹn chỉ… một chữ! Không ai hiểu họ muốn nói điều gì cả. Triều đình phải mời Lê Quý Đôn vào. Đọc xong chữ ấy, ông tâu vua gửi cho họ một tấm “áo cầu” (áo làm bằng da sang trọng). Không một ai trong triều hiểu tại sao phải làm như thế, nhưng vẫn tuân theo hướng dẫn của ông. Quả nhiên khi nhận được áo, sứ nhà Thanh đến ngay. Vua liền cử ông ra tiếp. Ông viết bốn chữ:

- Phi xa bất đông

Nghĩa là: Không phải chữ xa (xe) cũng không phải chữ đông (phía đông).

Sứ nhà Thanh đọc xong bốn chữ ấy vội vàng trả lại áo rồi vái bốn vái. Đến lúc này, mọi người mới vỡ lẽ ra rằng, sứ nhà Thanh viết không phải chữ xa, cũng chẳng giống chữ đông là lấy tích trong câu thơ Mao khâu:

Hồ cừu mung lung, phi xa bất đông, thúc hề bá hề, thực bất dữ đông.

Nghĩa là: Áo rách tứ tung, đánh xe qua đông, anh em chẳng tới, mà giúp nhau cùng.

Hóa ra, sứ Tàu muốn ngụ ý họ không có áo đại lễ, nên không dám đến. Đó là nội dung bức thư có tính chất ngoại giao, thế mà Lê Quý Đôn đã giải được. Cả triều đình thở phào nhẹ nhõm mà sứ nhà Thanh phải khâm phục nước ta có người tài giỏi.

Nhưng một con người dù giỏi thế nào thì vẫn có những lãnh vực không hiểu biết bằng người khác. Đây chính là bài học sâu sắc mà Lê Quý Đôn đã nhận được từ thời tuổi trẻ. Tương truyền, sau khi mới đỗ Bảng nhãn, ông cho treo ngoài cửa tấm bảng: “Thiên hạ nghi nhất tự vấn lai” (Ai có chữ gì nghi ngờ cứ đến đây mà hỏi). Bấy giờ cha của Lê Quý Đôn vừa mất, trong nhà rộn rịp sửa soạn tang lễ, bỗng có một ông già chống gậy vào viếng. Thấy không phải khách quen ông bèn hỏi lai lịch. Ông lão đáp:

- Cháu còn nhỏ không biết, lão là bạn học với cha cháu, nhà nghèo đường xa nên ít đi lại. Hôm nay nghe tin cụ nhà mất nên mới đến có câu đối viếng. Cháu đem giấy bút ra để lão đọc cho cháu viết.

Lê Quý Đôn vâng lời, cầm bút đợi. Ông lão đọc:

- Chi…

Lê Quý Đôn không rõ chữ chi nào nên dùng đằng đợi: chi là chung, là biết, là cành… cả chục chữ chi với nghĩa khác nhau, nên ông ngập ngừng chờ đọc tiếp chữ sau để viết. Ông lão thấy thế liền giục:

- Chi…

Lê Quý Đôn lễ phép thưa:

- Bẩm cụ, chữ chi nào ạ?

Ông lão thở dài:

- Trời ơi! Cháu đỗ đến Bảng nhãn mà chữ chi không biết viết! Thế cháu treo ngoài cửa tấm bảng kia để làm gì?

Nghe ông lão nói, Lê Quý Đôn xám mặt. Ông lão đọc luôn 2 vế câu đối:

Chi chi tam thập niên dư, xích huyện hồng châu kim thượng tại.

Tại tại sổ thiên lý ngoại, đào hoa lưu thủy tử hà chi

(Thấm thoắt hơn ba chục năm, xích huyện, hồng châu nay vẫn đó. Hỡi ôi xa ngoài vạn dặm, đào hoa, nước chảy, bác về đâu?).

Kết quả là về sau Lê Quý Đôn cho gỡ tấm bảng đã treo ngoài cổng. Và ông càng cố tâm học hỏi không ngưng nghỉ cho đến khi qua đời năm 1784.

Chẳng rõ giai thoại này hư thực ra sao. Có lẽ, thấy Lê Quý Đôn là bậc uyên bác nên thiên hạ mới đặt ra giai thoại này để nhắc nhở rằng, dù giỏi bao nhiêu, học bao nhiêu thì cũng chẳng bao giờ đủ cả. Ôi! Sở học mênh mông biết chừng nào!

abcxyz012789
18-10-2009, 07:15 PM
Hay quá ta, nhưng hơi khó đọc, cso cách nào đọc gọn hơn ko anh? em thích đọc về lịch sử lắm. Đọc theo trang phải ko? theo thứ tự:
Đọc từ trên xuống dưới, theo thứ tự từ trái sang phải

VN 5000 Năm Văn Hiến
03-05-2010, 11:43 AM
Triệu Đà



Triệu Vũ Đế (Nam Việt Vũ Đế)



http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/f/f6/A_statue_of_Zhao_Tuo.jpg/210px-A_statue_of_Zhao_Tuo.jpg (http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/f/f6/A_statue_of_Zhao_Tuo.jpg/210px-A_statue_of_Zhao_Tuo.jpg)



Tượng Triệu Đà tại Chính Định (http://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%C3%ADnh_%C4%90%E1%BB%8Bnh), Thạch Gia Trang (http://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BA%A1ch_Gia_Trang), Hà Bắc (http://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0_B%E1%BA%AFc,_Trung_Qu%E1%BB%91c)

Vua nhà Triệu
Trị vì: 70 năm
Kế nhiệm: Triệu Văn Vương (http://vi.wikipedia.org/wiki/Tri%E1%BB%87u_V%C4%83n_V%C6%B0%C6%A1ng)
Hậu duệ: Triệu Hồ (http://vi.wikipedia.org/wiki/Tri%E1%BB%87u_V%C4%83n_V%C6%B0%C6%A1ng)
Tên húy: Triệu Đà
Triều đại: Nhà Triệu (http://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_Tri%E1%BB%87u)
Sinh: 257 TCN, huyện Chân Định (http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Ch%C3%A2n_%C4%90%E1%BB%8Bnh&action=edit&redlink=1) (真定), quận Hằng Sơn (http://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BA%B1ng_S%C6%A1n) (恒山), đời nhà Tần (http://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_T%E1%BA%A7n) (ngày nay là huyện Chính Định (http://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%C3%ADnh_%C4%90%E1%BB%8Bnh) (正定), tỉnh Hà Bắc (http://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0_B%E1%BA%AFc_%28Trung_Qu%E1%BB%91c%29)), Trung Quốc (http://vi.wikipedia.org/wiki/Trung_Qu%E1%BB%91c)
Mất: 137 TCN, Phiên Ngung (http://vi.wikipedia.org/wiki/Phi%C3%AAn_Ngung), thành phố Quảng (http://vi.wikipedia.org/wiki/Qu%E1%BA%A3ng_Ch%C3%A2u)Châu (http://vi.wikipedia.org/wiki/Qu%E1%BA%A3ng_Ch%C3%A2u)


Triệu Đà (tiếng Hán (http://vi.wikipedia.org/wiki/Ti%E1%BA%BFng_H%C3%A1n) phồn thể: 趙佗, giản thể: 赵佗; 257 trước công nguyên (http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=257_TCN&action=edit&redlink=1) - 137 trước Công Nguyên (http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=137_TCN&action=edit&redlink=1)[1] (http://vi.wikipedia.org/wiki/Tri%E1%BB%87u_%C4%90%C3%A0#cite_note-0)), tức là Triệu Vũ Đế (趙武帝), Nam Việt Vũ Vương (南越武王) và Nam Việt Vũ Đế (南越武帝), làm vua nhà Triệu (http://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_Tri%E1%BB%87u) từ năm 207 trước Công Nguyên đến năm 137 trước Công Nguyên.


Mục lục


1 Gốc gác (http://vi.wikipedia.org/wiki/Tri%E1%BB%87u_%C4%90%C3%A0#G.E1.BB.91c_g.C3.A1c)
2 Sự nghiệp (http://vi.wikipedia.org/wiki/Tri%E1%BB%87u_%C4%90%C3%A0#S.E1.BB.B1_nghi.E1.BB.8 7p)

2.1 Bình định đất Lĩnh Nam (http://vi.wikipedia.org/wiki/Tri%E1%BB%87u_%C4%90%C3%A0#B.C3.ACnh_.C4.91.E1.BB. 8Bnh_.C4.91.E1.BA.A5t_L.C4.A9nh_Nam)
2.2 Ly khai nhà Tần (http://vi.wikipedia.org/wiki/Tri%E1%BB%87u_%C4%90%C3%A0#Ly_khai_nh.C3.A0_T.E1.B A.A7n)
2.3 Chinh phục Âu Lạc, lên ngôi vua nước Nam Việt (http://vi.wikipedia.org/wiki/Tri%E1%BB%87u_%C4%90%C3%A0#Chinh_ph.E1.BB.A5c_.C3. 82u_L.E1.BA.A1c.2C_l.C3.AAn_ng.C3.B4i_vua_n.C6.B0. E1.BB.9Bc_Nam_Vi.E1.BB.87t)
2.4 Thần phục nhà Hán (http://vi.wikipedia.org/wiki/Tri%E1%BB%87u_%C4%90%C3%A0#Th.E1.BA.A7n_ph.E1.BB.A 5c_nh.C3.A0_H.C3.A1n)
2.5 Xưng đế chống Hán (http://vi.wikipedia.org/wiki/Tri%E1%BB%87u_%C4%90%C3%A0#X.C6.B0ng_.C4.91.E1.BA. BF_ch.E1.BB.91ng_H.C3.A1n)
2.6 Lại thần phục nhà Hán (http://vi.wikipedia.org/wiki/Tri%E1%BB%87u_%C4%90%C3%A0#L.E1.BA.A1i_th.E1.BA.A7 n_ph.E1.BB.A5c_nh.C3.A0_H.C3.A1n)


3 Ảnh hưởng lịch sử (http://vi.wikipedia.org/wiki/Tri%E1%BB%87u_%C4%90%C3%A0#.E1.BA.A2nh_h.C6.B0.E1. BB.9Fng_l.E1.BB.8Bch_s.E1.BB.AD)
4 Những địa điểm gắn với Triệu Đà (http://vi.wikipedia.org/wiki/Tri%E1%BB%87u_%C4%90%C3%A0#Nh.E1.BB.AFng_.C4.91.E1 .BB.8Ba_.C4.91i.E1.BB.83m_g.E1.BA.AFn_v.E1.BB.9Bi_ Tri.E1.BB.87u_.C4.90.C3.A0)
5 Niên đại và tư liệu (http://vi.wikipedia.org/wiki/Tri%E1%BB%87u_%C4%90%C3%A0#Ni.C3.AAn_.C4.91.E1.BA. A1i_v.C3.A0_t.C6.B0_li.E1.BB.87u)

5.1 Về thời gian thành lập nước Nam Việt (http://vi.wikipedia.org/wiki/Tri%E1%BB%87u_%C4%90%C3%A0#V.E1.BB.81_th.E1.BB.9Di _gian_th.C3.A0nh_l.E1.BA.ADp_n.C6.B0.E1.BB.9Bc_Nam _Vi.E1.BB.87t)
5.2 Về thời gian chinh phục Âu Lạc (http://vi.wikipedia.org/wiki/Tri%E1%BB%87u_%C4%90%C3%A0#V.E1.BB.81_th.E1.BB.9Di _gian_chinh_ph.E1.BB.A5c_.C3.82u_L.E1.BA.A1c)
5.3 Về cái chết của Trọng Thuỷ (http://vi.wikipedia.org/wiki/Tri%E1%BB%87u_%C4%90%C3%A0#V.E1.BB.81_c.C3.A1i_ch. E1.BA.BFt_c.E1.BB.A7a_Tr.E1.BB.8Dng_Thu.E1.BB.B7)


6 Tham khảo (http://vi.wikipedia.org/wiki/Tri%E1%BB%87u_%C4%90%C3%A0#Tham_kh.E1.BA.A3o)
7 Chú thích (http://vi.wikipedia.org/wiki/Tri%E1%BB%87u_%C4%90%C3%A0#Ch.C3.BA_th.C3.ADch)


Gốc gác

Triệu Đà vốn người huyện Chân Định (http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Ch%C3%A2n_%C4%90%E1%BB%8Bnh&action=edit&redlink=1) (真定), quận Hằng Sơn (恒山), đời nhà Tần (http://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_T%E1%BA%A7n) (ngày nay là huyện Chính Định (http://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%C3%ADnh_%C4%90%E1%BB%8Bnh) (正定), tỉnh Hà Bắc (http://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0_B%E1%BA%AFc_%28Trung_Qu%E1%BB%91c%29)), Trung Quốc (http://vi.wikipedia.org/wiki/Trung_Qu%E1%BB%91c), là tướng cầm quân nổi tiếng đời nhà Tần, là người lập nên nước Nam Việt (http://vi.wikipedia.org/wiki/Nam_Vi%E1%BB%87t). Triệu Đà là vua thứ nhất và là hoàng đế thứ nhất của nước Nam Việt, trị vì khoảng từ năm 207 trước Công Nguyên đến năm 137 trước Công Nguyên, xưng là Nam Việt Vũ Vương hay là Nam Việt Vũ Đế.
Sự nghiệp

Bình định đất Lĩnh Nam

Sau khi thống nhất 7 nước, Tần Thuỷ Hoàng (http://vi.wikipedia.org/wiki/T%E1%BA%A7n_Thu%E1%BB%B7_Ho%C3%A0ng) bắt tay bình định vùng đất Bách Việt (http://vi.wikipedia.org/wiki/B%C3%A1ch_Vi%E1%BB%87t) ở Lĩnh Nam (http://vi.wikipedia.org/wiki/L%C4%A9nh_Nam). Năm 219 trước Công Nguyên, Tần Thuỷ Hoàng sai Đồ Thư (屠睢, phiên tên theo Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim (http://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%E1%BA%A7n_Tr%E1%BB%8Dng_Kim), các từ điển Hán-Việt hiện nay phiên là Đồ Tuy) làm chủ tướng, Triệu Đà làm phó tướng, chỉ huy 50 vạn quân đi bình định miền Lĩnh Nam. Đồ Thư tàn ác giết người vô tội, bị nhân dân nổi lên đánh lại và giết chết. Tần Thuỷ Hoàng lại sai Nhâm Ngao (壬嚣, [2] (http://vi.wikipedia.org/wiki/Tri%E1%BB%87u_%C4%90%C3%A0#cite_note-1)) làm chủ tướng, cùng Triệu Đà chỉ huy quân lính đánh 4 năm cho đến năm 214 trước Công Nguyên mới hoàn thành bình định được Lĩnh Nam.
Theo đó, Tần Thuỷ Hoàng lập nên 3 quận là Nam Hải (Quảng Đông (http://vi.wikipedia.org/wiki/Qu%E1%BA%A3ng_%C4%90%C3%B4ng)), Quế Lâm (đông bắc Quảng Tây (http://vi.wikipedia.org/wiki/Qu%E1%BA%A3ng_T%C3%A2y)) và Tượng Quận (nam Hồ Nam (http://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93_Nam)), bổ Nhâm Ngao làm Quận úy quận Nam Hải. Nam Hải gồm 4 huyện Bác La, Long Xuyên, Phiên Ngung và Yết Dương; trong đó huyện Long Xuyên có vị trí quan trọng nhất về địa lý và quân sự, được giao dưới quyền Triệu Đà làm Huyện Lệnh. Sau khi tới thủ phủ Long Xuyên (ngày nay là thị trấn Đà Thành huyện Long Xuyên) nhậm chức, Triệu Đà áp dụng chính sách "hoà tập Bách Việt" đồng thời xin Tần Thuỷ Hoàng di dân 50 vạn người từ Trung Nguyên đến vùng này, tăng cường chính sách "Hoa Việt dung hợp" (hòa lẫn người Hoa Hạ (http://vi.wikipedia.org/wiki/Hoa_H%E1%BA%A1) và người Việt).

Ly khai nhà Tần

Tần Thuỷ Hoàng chết đi, Tần Nhị Thế (http://vi.wikipedia.org/wiki/T%E1%BA%A7n_Nh%E1%BB%8B_Th%E1%BA%BF) nối ngôi, khởi nghĩa Trần Thắng (http://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%E1%BA%A7n_Th%E1%BA%AFng), Ngô Quảng (http://vi.wikipedia.org/wiki/Ng%C3%B4_Qu%E1%BA%A3ng) nổ ra năm 209 trước Công Nguyên, rồi tiếp theo là "Hán Sở tương tranh" giữa Lưu Bang (http://vi.wikipedia.org/wiki/L%C6%B0u_Bang) và Hạng Vũ (http://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BA%A1ng_V%C5%A9), trung nguyên vào cảnh rối ren loạn lạc. Năm 208 trước Công nguyên, quận uý Nam Hải là Nhâm Ngao bị bệnh nặng, trước khi chết cho gọi Triệu Đà đang tạm thời làm huyện lệnh Long Xuyên đến, dặn dò đại ý rằng: vùng đất Nam Hải có núi chắn, có biển kề, rất thuận lợi cho việc dựng nước và phòng thủ chống lại quân đội từ Trung nguyên (tức khu vực trung ương Trung Quốc) đánh xuống, và đồng thời chính thức bổ nhiệm Triệu Đà nối quyền cai trị quận Nam Hải.
Không lâu, Nhâm Ngao chết, Triệu Đà gửi lệnh đến quan quân các cửa ngõ Lĩnh Nam, canh giữ phòng chống quân đội Trung nguyên xâm phạm, và nhân dịp đó, giết hết những quan lại nhà Tần bổ nhiệm ở Lĩnh Nam, cho tay chân của mình thay vào những chức vụ đó.

Chinh phục Âu Lạc, lên ngôi vua nước Nam Việt

Sử sách ghi chép không thống nhất về việc Triệu Đà đánh chiếm Âu Lạc, cả về cách đánh lẫn thời gian.
Sử Ký Tư Mã Thiên (http://vi.wikipedia.org/wiki/S%E1%BB%AD_K%C3%BD_T%C6%B0_M%C3%A3_Thi%C3%AAn) ghi chép vắn tắt rằng Triệu Đà dùng tài ngoại giao và đút lót mua chuộc các thủ lĩnh Âu Lạc (http://vi.wikipedia.org/wiki/%C3%82u_L%E1%BA%A1c) mà thu phục nước này vào thời điểm "sau khi Lã hậu (http://vi.wikipedia.org/wiki/L%C3%A3_h%E1%BA%ADu) chết" (năm 180 TCN). Các sách giáo khoa tại Việt Nam đều thống nhất lấy thời điểm ước lệ này trong Sử Ký và lấy năm ngay sau 180 TCN là 179 TCN (Xem mục về Niên đại và tư liệu ở dưới).
Theo sử sách cổ của Việt Nam (Đại Việt Sử ký Toàn Thư, Khâm Định Việt sử Thông giám Cương mục) thì năm 208 TCN, Triệu Đà đánh thắng Âu Lạc của An Dương Vương (http://vi.wikipedia.org/wiki/An_D%C6%B0%C6%A1ng_V%C6%B0%C6%A1ng), sáp nhập Âu Lạc (http://vi.wikipedia.org/wiki/%C3%82u_L%E1%BA%A1c) vào quận Nam Hải (http://vi.wikipedia.org/wiki/Qu%E1%BA%ADn_Nam_H%E1%BA%A3i), lập nước Nam Việt (http://vi.wikipedia.org/wiki/Nam_Vi%E1%BB%87t). Để có chiến thắng này, trước đó Triệu Đà đã gả con trai là Trọng Thủy (http://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%E1%BB%8Dng_Th%E1%BB%A7y) cho con gái An Dương Vương là Mỵ Châu (http://vi.wikipedia.org/wiki/M%E1%BB%B5_Ch%C3%A2u) để biết bí mật về bố phòng quân sự của Âu Lạc và mang quân sang đánh chiếm. Theo truyền thuyết, sau khi nghe tin Mỵ Châu bị An Dương vương giết, Trọng Thủy nhảy xuống giếng tự vẫn để trọn tình với vợ là Mỵ Châu.
Sau khi nhà Tần diệt vong, năm 203 trước Công Nguyên, Triệu Đà cất quân đánh chiếm quận Quế Lâm, tự xưng "Nam Việt Vũ Vương". Nước Nam Việt bấy giờ, bao gồm từ núi Nam Lĩnh (http://vi.wikipedia.org/wiki/Nam_L%C4%A9nh) (ngày nay là một giải từ bắc Quảng Đông (http://vi.wikipedia.org/wiki/Qu%E1%BA%A3ng_%C4%90%C3%B4ng), bắc Quảng Tây (http://vi.wikipedia.org/wiki/Qu%E1%BA%A3ng_T%C3%A2y) và miền nam vùng Giang Nam (http://vi.wikipedia.org/wiki/Giang_Nam)), phía tây đến Dạ Lang (bây giờ là Quảng Tây và phần lớn tỉnh Vân Nam (http://vi.wikipedia.org/wiki/V%C3%A2n_Nam)), phía nam đến dãy Hoành Sơn (Hà Tĩnh (http://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0_T%C4%A9nh)-Việt Nam ngày nay), phía đông đến Mân Việt (ngày nay là miền nam tỉnh Phúc Kiến (http://vi.wikipedia.org/wiki/Ph%C3%BAc_Ki%E1%BA%BFn)). Thủ đô nước Nam Việt lúc ấy là thành Phiên Ngung, là thành Quảng Châu (http://vi.wikipedia.org/wiki/Qu%E1%BA%A3ng_Ch%C3%A2u) ngày nay.

Thần phục nhà Hán

Trải qua chinh chiến, Lưu Bang (http://vi.wikipedia.org/wiki/L%C6%B0u_Bang) đã lập được chính quyền nhà Tây Hán (http://vi.wikipedia.org/wiki/T%C3%A2y_H%C3%A1n), bình định trung nguyên, bao gồm cả thế lực thu phục được của Hạng Vũ (http://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BA%A1ng_V%C5%A9). Lưu Bang quyết định không lấy chiến tranh đối phó với nước Nam Việt để dân chúng Trung nguyên khỏi mất người mất của sau bao năm loạn lạc. Năm 196 trước Công Nguyên, Hán Cao Tổ Lưu Bang sai quan đại phu Lục Giả đi sứ đến nước Nam Việt khuyên Triệu Đà quy phục nhà Hán.
Sách Việt Nam sử lược (http://vi.wikipedia.org/wiki/Vi%E1%BB%87t_Nam_s%E1%BB%AD_l%C6%B0%E1%BB%A3c) của Trần Trọng Kim chép:
Vũ Vương vốn là người kiêu căng, có ý không muốn phục nhà Hán, đến khi Lục Giả sang đến nơi, vào yết kiến Vũ Vương, Vũ Vương ngồi xếp vành tròn, không đứng dậy tiếp. Lục Giả thấy vậy mới nói rằng: "Nhà vua là người nước Tàu, mồ mả và thân thích ở cả châu Chân Định. Nay nhà Hán đã làm vua thiên hạ, sai sứ sang phong vương cho nhà vua, nếu nhà vua kháng cự sứ thần, không làm lễ thụ phong, Hán đế tất là tức giận, hủy hoại mồ mả và giết hại thân thích của nhà vua, rồi đem quân ra đánh thì nhà vua làm thế nào?" Vũ vương nghe lời ấy vội vàng đứng dậy làm lễ tạ, rồi cười mà nói rằng: "Tiếc thay ta không được khởi nghiệp ở nước Tàu, chứ không thì ta cũng chẳng kém gì Hán Đế!" Được Lục Giả khuyên, Triệu Đà chịu nhận ấn tước Nam Việt Vương (chúa đất vùng Nam Việt) của Hán Cao Tổ gửi, thần phục nhà Hán, làm Nam Việt thành một đất chư hầu của nhà Hán. Từ đó, Nam Việt và nhà Hán trao đổi sứ giả và buôn bán. Lưu Bang đã lấy hoà bình mà quy phục Triệu Đà, không còn mối lo thế lực chống đối nhà Hán ở miền nam nữa.

Xưng đế chống Hán

Hán Cao Tổ Lưu Bang và Hán Huệ Đế Lưu Doanh chết đi, Lã Hậu (http://vi.wikipedia.org/wiki/L%C3%A3_H%E1%BA%ADu) nắm quyền, bắt dầu gây sự với Triệu Đà. Lã Hậu ra lệnh cấm vận với nước Nam Việt. Triệu Đà thấy Lã Hậu có thể qua nước Trường Sa (http://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_Sa) (cũng là một nước chư hầu nhà Hán, ở phía bắc của Nam Việt, ngày nay nằm trong tỉnh Hồ Nam (http://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93_Nam)) mà thôn tính Nam Việt. Thế là Triệu Đà bèn tuyên bố độc lập khỏi nhà Hán, tự xưng "Nam Việt Võ Đế" và cất quân đánh nước Trường Sa, chiếm được mấy huyện biên giới của Trường Sa mới chịu thôi.
Lã Hậu bèn sai đại tướng Long Lự Hầu và Chu Táo đi đánh Triệu Đà. Quân lính Trung nguyên không quen khí hậu nóng nực và ẩm thấp miền nam, ùn ùn đổ bệnh, ngay dãy núi Nam Lĩnh cũng chưa đi qua nổi. Một năm sau, Lã Hậu chết, mưu đồ đánh Triệu Đà của quân nhà Hán bỏ hẳn.
Lúc đó Triệu Đà dựa vào tiếng tăm tài quân sự của mình lừng lẫy cả vùng Lĩnh Nam, lại nhờ tài hối lộ của cải, làm cả Mân Việt, Tây Âu, và Việt ùn ùn quy thuộc Nam Việt. Lúc ấy nước Nam Việt bành trướng đến mức cực thịnh. Triệu Đà bắt đầu lấy tên uy Hoàng Đế mà ra lệnh ra oai, thanh thế ngang ngửa đối lập với nhà Hán.

Lại thần phục nhà Hán

Năm 180 trước Công Nguyên, Lã Hậu (http://vi.wikipedia.org/wiki/L%C3%A3_H%E1%BA%ADu) chết, Hán Văn Đế Lưu Hằng (http://vi.wikipedia.org/wiki/L%C6%B0u_H%E1%BA%B1ng) nối ngôi, sai người tu sửa mồ mả cha ông Triệu Đà, cắt đặt hàng năm đúng ngày thờ cúng, ban thưởng chức vụ và của cải cho bà con Triệu Đà còn ở trong đất Hán.
Nghe thừa tướng Trần Bình tiến cử, Lưu Hằng sai Lục Giả, người từng được Hán Cao Tổ sai sứ đi Nam Việt nhiều lần, làm chức Thái Trung Đại Phu, lại đi thuyết phục Triệu Đà quy Hán. Lục Giả đến Nam Việt, lại trổ tài thuyết phục Triệu Đà. Triệu Đà nghe thuyết phục phải trái hơn thiệt, quyết định bỏ danh hiệu Đế, quy phục nhà Hán, nhưng vẫn giữ tên "Nam Việt Vương."
Kể từ đó đến đời Hán Cảnh Đế (http://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A1n_C%E1%BA%A3nh_%C4%90%E1%BA%BF), Triệu Đà một mực xưng thần, hàng năm cứ mùa Xuân và mùa Thu, đều đưa đoàn sứ đến Trường An (http://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_An) triều cống hoàng đế nhà Hán, chịu mệnh lệnh làm chư hầu nhà Hán. Tuy vậy, trong đất Nam Việt, Triệu Đà vẫn lấy danh hiệu Hoàng Đế.
Năm Kiến Nguyên thứ tư đời Hán Vũ Đế (http://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A1n_V%C5%A9_%C4%90%E1%BA%BF) (137 trước Công Nguyên), Nam Việt Vương Triệu Đà chết, sống được ước chừng hơn trăm tuổi (theo Đại Việt Sử ký Toàn thư là 121 tuổi), chôn ở Phiên Ngung (thành phố Quảng Châu ngày nay).
Triệu Đà chết đi, con cháu tiếp tục được 4 đời vua Nam Việt, cho đến năm 111 trước Công Nguyên mới bị nhà Hán chiếm.

Ảnh hưởng lịch sử


[/URL][URL="http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/a/ae/Zhao_Tuo.jpg/180px-Zhao_Tuo.jpg"]http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/a/ae/Zhao_Tuo.jpg/180px-Zhao_Tuo.jpg (http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/a/ae/Zhao_Tuo.jpg/180px-Zhao_Tuo.jpg)

Triệu Đà


Triệu Đà từ năm 219 trước Công Nguyên làm phó soái của Tần Thuỷ Hoàng lĩnh chừng 50 vạn quân đi bình định Nam Việt. Suốt cho đến Hán Võ Đế Lưu Triệt năm thứ 4 (năm 137 trước Công Nguyên) thì chết, trị vì Lĩnh Nam tất cả 81 năm, ông ta luôn một mực thực hành chính sách "hoà tập Bách Việt," khiến cho các dân Hán và Việt tan lẫn vào làm một, mang văn hoá tiên tiến của trung nguyên đến cả một giải Nam Việt, làm Nam Việt được sự phát triển tốt hơn.

Những địa điểm gắn với Triệu Đà

Thành phố Thạch Gia Trang (http://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BA%A1ch_Gia_Trang) (石家庄) ở tỉnh Hà Bắc: huyện lỵ Chính Định ở góc nam Thạch Gia Trang là nơi sinh của Triệu Đà, thời nhà Tần có tên là huyện Chân Định quận Hằng Sơn. Thị trấn Triệu Lăng Phu (赵陵铺镇) ở góc nam quận Tân Hoa (新华区) của thành phố Thạch Gia Trang có mộ tổ Triệu Đà do Hán Võ Đế đời Tây Hán xây để vỗ về Triệu Đà, ngày nay vẫn còn bia mộ.
Huyện Long Xuyên (龙川) tỉnh Quảng Đông: thời nhà Tần là huyện Long Xuyên quận Nam Hải (南海), nơi Triệu Đà làm quan huyện 6 năm sau khi bình định Lĩnh Nam. Nguyên trị sở huyện này được đặt tên là Đà Thành Trấn (佗城镇) để kỷ niệm Triệu Đà.
Thành phố Quảng Châu tỉnh Quảng Đông: thời nhà Tần là huyện Phiên Ngung (番禺) quận Nam Hải, thủ phủ quận Nam Hải, nơi Triệu Đà làm Quận Uý 4 năm. Sau khi Tần diệt vong, Triệu Đà vẫn lấy Phiên Ngung làm thủ phủ, lập nên nước Nam Việt. Phiên Ngung cũng là nơi chôn cất Triệu Đà.

Niên đại và tư liệu

Về thời gian thành lập nước Nam Việt

Những mốc năm tháng Triệu Đà lập nước Nam Việt đều không có sử sách ghi chép lại. Tư liệu ngày nay chỉ căn cứ vào cuốn "Sử Ký" của Tư Mã Thiên mà suy luận ra. Trước mắt có hai thuyết Triệu Đà lập nước Nam Việt: một thuyết cho rằng đó là năm 203 trước Công Nguyên (xin xem website Nhà Bảo Tàng các đồ vật trong mộ Vua Nam Việt đời Tây Hán), thuyết kia cho rằng vào năm 204 trước Công Nguyên (xin đọc cuốn "Nam Việt Quốc Sử" tức là "Sử nước Nam Việt" do Trương Vinh Phương, Hoàng Diểu Chương viết, nhà xuất bản nhân dân Quảng Đông, in năm 1995).

Về thời gian chinh phục Âu Lạc

Như đã đề cập trong phần sự nghiệp của Triệu Đà, các nguồn tài liệu xưa không thống nhất về thời điểm nước Âu Lạc bị chinh phục. Giữa các sách cổ sử của Việt Nam (năm 208 TCN) và Sử Ký của Tư Mã Thiên (http://vi.wikipedia.org/wiki/T%C6%B0_M%C3%A3_Thi%C3%AAn) (khoảng 179 TCN) chênh lệch nhau tới gần 30 năm. Không rõ các sử gia phong kiến Việt Nam căn cứ vào nguồn tư liệu nào và cũng không có sự lý giải, kết luận thỏa đáng của các sử gia đương đại đối với vấn đề này.
Các sách giáo khoa tại Việt Nam hiện nay căn cứ theo tư liệu của Sử ký để lấy năm 179 TCN. Có lẽ vì Sử ký ra đời chỉ một vài chục năm sau khi nước Nam Việt mất nên đây được coi là nguồn tài liệu đáng tin cậy hơn.

Về cái chết của Trọng Thuỷ

Trọng Thủy là con trai Triệu Đà, không được Sử ký đề cập đến. Tên Trọng Thủy chỉ được nhắc đến trong các sách sử và truyền thuyết của Việt Nam. Tuy nhiên, giữa các tài liệu này cũng có những điểm dị biệt.
Sử cũ theo cách nói của truyền thuyết về chuyện nỏ thần và việc làm rể của Trọng Thủy nhằm đánh cắp nỏ thần, quyết định việc mất còn của Âu Lạc. Đại Việt Sử ký Toàn thư chép y nguyên như truyền thuyết cho rằng sau khi chiếm được Âu Lạc, Thủy thấy vợ chết bèn chết theo. Tuy nhiên, cũng Đại Việt Sử ký Toàn thư, lại chép con Thủy là Hồ nối ngôi Triệu Đà năm 137 TCN, Hồ chết năm 124 TCN thọ 52 tuổi, tức là sinh năm 175 TCN, sau khi Thủy chết tới 33 năm! Như vậy các sử gia phong kiến đã lầm lẫn tình tiết này. Dù theo thuyết của Sử ký cho rằng Âu Lạc mất năm 179 TCN đi nữa thì khoảng cách giữa khi Thủy chết với thời gian Hồ sinh ra vẫn là 4 năm. Các nguồn tài liệu có nhắc đến Thủy (trừ Sử ký) đều nói Hồ là con Thủy nhưng không nhắc đến người con trai nào khác của Triệu Đà. Do đó, việc các nhà nghiên cứu nghi ngờ Trọng Thủy chết theo vợ là hoàn toàn có cơ sở. Có lẽ đó là lý do khiến các sách Việt Sử tiêu án và Khâm định Việt Sử thông giám cương mục (viết sau Đại Việt Sử ký Toàn thư) chỉ nhắc tới việc Thủy làm rể mà không nhắc tới việc Thủy chết theo Mỵ Châu.

Tham khảo


Sử Ký của Tư Mã Thiên, quyển 113, Nam Việt Úy Đà Liệt Truyện, đời Tây Hán.
Hán Thư của Ban Cố, quyển 95, Tây Nam Di Lưỡng Việt Triều Tiên Truyện, đời Đông Hán.
"Nam Việt Quốc Sử" do Trương Vinh Phương, Hoàng Diểu Chương viết, nhà xuất bản nhân dân Quảng Đông, in năm 1995.

Chú thích


^ (http://vi.wikipedia.org/wiki/Tri%E1%BB%87u_%C4%90%C3%A0#cite_ref-0) Năm sinh lấy theo sách Đại Việt Sử ký Toàn thư (http://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A1i_Vi%E1%BB%87t_S%E1%BB%AD_k%C3%BD_T o%C3%A0n_th%C6%B0)
^ (http://vi.wikipedia.org/wiki/Tri%E1%BB%87u_%C4%90%C3%A0#cite_ref-1) Tên ghi theo Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim, bản Wikipedia tiếng Hán và tiếng Anh ghi là 任嚣 và theo phiên âm Hán Việt của các từ điển Hán-Việt hiện nay là Nhậm /Nhiệm Hiêu, xem thêm thảo luận ở Viện Việt học: [1] (http://www.viethoc.org/phorum/read.php?10,5020,5039,quote=1), [2] (http://www.viethoc.org/phorum/read.php?15,30524)


Nguồn: http://vi.wikipedia.org/wiki/Tri%E1%BB%87u_%C4%90%C3%A0

VN 5000 Năm Văn Hiến
03-05-2010, 11:45 AM
Lữ Gia


Lữ Gia (?-111 TCN), tên hiệu là Bảo Công [1] (http://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%AF_Gia#cite_note-0) là Tể tướng (http://vi.wikipedia.org/wiki/T%E1%BB%83_t%C6%B0%E1%BB%9Bng) của bốn đời vua nhà Triệu (http://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_Tri%E1%BB%87u) nước Nam Việt. Ông là người nắm chính trường nước Nam Việt những năm cuối và cuối cùng thất bại trước cuộc xâm lăng của nhà Hán (http://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_H%C3%A1n).


Mục lục


1 Binh biến giết Cù Hậu (http://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%AF_Gia#Binh_bi.E1.BA.BFn_gi.E1.BA.BFt_C.C3 .B9_H.E1.BA.ADu)
2 Phá Hàn Thiên Thu (http://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%AF_Gia#Ph.C3.A1_H.C3.A0n_Thi.C3.AAn_Thu)
3 Thế yếu bại binh (http://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%AF_Gia#Th.E1.BA.BF_y.E1.BA.BFu_b.E1.BA.A1i _binh)
4 Nhận định (http://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%AF_Gia#Nh.E1.BA.ADn_.C4.91.E1.BB.8Bnh)
5 Đền thờ, lăng mộ, lễ hội (http://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%AF_Gia#.C4.90.E1.BB.81n_th.E1.BB.9D.2C_l.C 4.83ng_m.E1.BB.99.2C_l.E1.BB.85_h.E1.BB.99i)
6 Chú thích (http://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%AF_Gia#Ch.C3.BA_th.C3.ADch)
7 Tham khảo (http://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%AF_Gia#Tham_kh.E1.BA.A3o)
8 Xem thêm (http://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%AF_Gia#Xem_th.C3.AAm)


Binh biến giết Cù Hậu

Theo Đại Việt Sử ký Toàn thư (http://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A1i_Vi%E1%BB%87t_S%E1%BB%AD_k%C3%BD_T o%C3%A0n_th%C6%B0), Lữ Gia là Tể tướng ba đời vua Triệu, từ Văn Vương (136 - 125 TCN), Minh vương (124 - 113 TCN), Ai vương (112 TCN) tới Thuật Dương vương (112-111 TCN).
Minh Vương Triệu Anh Tề (http://vi.wikipedia.org/wiki/Tri%E1%BB%87u_Anh_T%E1%BB%81) đã có con lớn là Triệu Kiến Đức (http://vi.wikipedia.org/wiki/Tri%E1%BB%87u_Ki%E1%BA%BFn_%C4%90%E1%BB%A9c) với một bà vợ người Việt, nhưng vì yêu Cù Hậu là người Hán nên lập con nhỏ của Cù Hậu là Hưng lên thay. Năm 113 TCN, Minh Vương chết, Hưng nối ngôi, tức là Ai Vương.
Trước kia, thái hậu chưa lấy Minh Vương, đã từng thông dâm với An Quốc Thiếu Quý người Bá Lăng. Năm ấy nhà Hán thấy nước Nam Việt vua nhỏ nên sai An Quốc Thiếu Quý sang dụ Ai Vương và thái hậu vào chầu, như đối với các chư hầu nhà Hán, lại sai biện sĩ là bọn Gián nghị đại phu Chung Quân tuyên dụ, dũng sĩ là bọn Ngụy Thần giúp việc, vệ úy Lộ Bác Đức đem quân đóng ở Quế Dương để đợi sứ giả.
Triệu Hưng còn ít tuổi, Cù thái hậu là người Hán, Thiếu Quý đến, lại tư thông. Người nước biết, phần nhiều bất bình không theo thái hậu. Thái hậu sợ, muốn dựa uy nhà Hán, nhiều lần khuyên Triệu Hưng và các quan xin nội phụ nhà Hán, bèn nhờ sứ nhà Hán dâng thư, xin theo như các chư hầu của nhà Hán, cứ 3 năm một lần vào chầu, triệt bỏ cửa quan ở biên giới. Vua Hán bằng lòng, ban cho Ai Vương và Thừa tướng Lữ Gia ấn bằng bạc và các ấn nội sử, trung úy, thái phó, còn các chức khác được tự đặt lấy.

Cù thái hậu đã sửa soạn hành trang lễ vật quý giá để cùng Ai Vương vào chầu. Tể Tướng Lữ Gia tuổi cao chức trọng, người trong họ làm trưởng lại đến hơn 70 người, con trai đều lấy con gái vua đời trước, con gái đều gả cho con em vua và người tôn thất, cùng thông gia với Tần Vương ở quận Thương Ngô (nhà Hán). Trong nước Nam Việt (http://vi.wikipedia.org/wiki/Nam_Vi%E1%BB%87t), ông được lòng dân hơn cả vua. Lữ Gia nhiều lần dâng thư can Ai Vương nhưng Ai Vương không nghe.
Lữ Gia quyết định làm binh biến, thường cáo ốm không tiếp sứ giả nhà Hán. Các sứ giả nhà Hán đều muốn hại ông, nhưng thế chưa thể làm được. Triệu Hưng và thái hậu cũng sợ phe Lữ Gia khởi sự trước, muốn nhờ sứ giả nhà Hán trù mưu giết ông.
Cù thái hậu bèn đặt tiệc rượu mời sứ giả đến dự, các đại thần đều ngồi hầu rượu. Em Lữ Gia làm tướng, đem quân đóng ở ngoài cung. Tiệc rượu mới bắt đầu, thái hậu bảo ông rằng:
"Nam Việt nội thuộc [Trung Quốc] là điều lợi cho nước, thế mà tướng quân lại cho là bất tiện là tại sao?" Ý Cù thái hậu muốn chọc tức sứ giả. Sứ giả còn đương hồ nghi, chần chừ chưa dám làm gì. Lữ Gia thấy tai mắt họ có vẻ khác thường, lập tức đứng dậy đi ra. Thái hậu giận, muốn lấy giáo đâm ông nhưng Ai Vương ngăn lại.
Lữ Gia bèn ra chia lấy quân lính của em dẫn về nhà, cáo ốm không chịu gặp vua và sứ giả, ngầm cùng các đại thần chống đối. Ai vương vốn nể uy tín của Lữ Gia nên không có ý giết ông. Lữ Gia biết thế nên đến mấy tháng không hành động gì. Thái hậu muốn một mình giết Gia nhưng sức không làm nổi.
Hán Vũ Đế (http://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A1n_V%C5%A9_%C4%90%E1%BA%BF) nghe tin Lữ Gia không nghe mệnh, mà Triệu Hưng và thái hậu thì cô lập, không chế ngự nổi, sứ giả thì nhút nhát không quyết đoán, lại thấy Hưng và thái hậu đã nội phụ rồi, chỉ một mình Lữ Gia làm loạn, không đáng dấy quân, muốn sai Trang Sâm đem 2.000 người sang sứ. Sâm từ chối không nhận. Hán Vũ Đế bèn bãi chức Sâm. Tướng Tế Bắc cũ là Hàn Thiên Thu hăng hái xin đi. Hán Vũ Đế bèn sai Thiên Thu và em Cù thái hậu là Cù Lạc đem 2.000 người tiến vào đất Việt.
Lữ Gia bèn hạ lệnh cho trong nước rằng:
"Vua còn nhỏ tuổi, thái hậu vốn là người Hán, lại cùng với sứ giả nhà Hán dâm loạn, chuyên ý muốn nội phụ với nhà Hán (http://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_H%C3%A1n), đem hết đồ châu báu của Tiên vương dâng cho nhà Hán để nịnh bợ, đem theo nhiều người đến Trường An rồi bắt bán cho người ta làm đầy tớ, chỉ nghĩ mối lợi một thời, không đoái gì đến xã tắc họ Triệu và lo kế muôn đời". Ông bèn cùng với em đem quân đánh, giết Triệu Ai Vương (http://vi.wikipedia.org/wiki/Tri%E1%BB%87u_Ai_V%C6%B0%C6%A1ng) và Cù thái hậu, cùng tất cả sứ giả nhà Hán (http://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_H%C3%A1n), rồi sai người đi báo cho Tần Vương ở Thương Ngô và các quận ấp, lập con trưởng của Minh Vương là Thuật Dương hầu Kiến Đức làm vua, tức là Triệu Thuật Dương Vương.

Phá Hàn Thiên Thu

Tháng 11 năm 112 TCN, Tể tướng Lữ Gia đã lập Thuật Dương Vương lên ngôi, quân của Hàn Thiên Thu tiến vào Nam Việt, đánh phá một vài ấp nhỏ.
Lữ Gia bèn mở một đường thẳng để cấp lương cho quân. Khi quân nhà Hán đến còn cách Phiên Ngung 40 dặm, thì ông xuất quân đánh, giết được bọn Thiên Thu. Sau đó ông sai người đem sứ tiết của nhà Hán cho vào trong hòm để trên núi Tái Thượng (tức là đèo Đại Dũ) dùng lời khéo để tạ tội, một mặt phát binh giữ chỗ hiểm yếu. Ông chất đá giữa sông gọi là Thạch Môn.

Thế yếu bại binh

Vua Hán nghe tin Thiên Thu bị giết, sai Phục ba tướng quân Lộ Bác Đức xuất phát từ Quế Dương, Lâu thuyền tướng quân Dương Bộc xuất phát từ Dự Chương, Qua Thuyền tướng quân Nghiêm [2] (http://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%AF_Gia#cite_note-1) xuất phát từ Linh Lăng, Hạ lại tướng quân Giáp [3] (http://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%AF_Gia#cite_note-2) đem quân xuống Thương Ngô, Trì Nghĩa hầu Quý [4] (http://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%AF_Gia#cite_note-3) đem quân Dạ Lang xuống sông Tường Kha, đều hội cả ở Phiên Ngung.
Mùa đông năm 111 TCN (http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=111_TCN&action=edit&redlink=1), tướng Hán là Dương Bộc đem 9000 tinh binh hãm Tầm Hiệp, phá Thạch Môn lấy được thuyền thóc của quân Triệu, kéo luôn cả các thuyền ấy đi, đem mấy vạn người đợi Lộ Bác Đức. Bác Đức cùng Bộc hội quân tiến đến Phiên Ngung.
Triệu Thuật Dương Vương và Lữ Gia cùng giữ thành. Dương Bộc tự chọn chỗ thuận tiện đóng ở mặt đông nam; Lộ Bác Đức đóng ở mặt tây bắc.
Vừa chập tối, Dương Bộc đánh bại quân Triệu, phóng lửa đốt thành. Bác Đức không biết quân trong thành nhiều hay ít bèn đóng doanh, sai sứ chiêu dụ. Ai ra hàng đều được Đức cho ấn thao và tha cho về để chiêu dụ nhau. Dương Bộc cố sức đánh, đuổi quân Triệu chạy ngược vào dinh quân của Lộ Bác Đức. Đến tờ mờ sáng thì quân trong thành đầu hàng. Triệu Vương và Gia cùng với vài trăm người, đang đêm chạy ra biển.
Bác Đức lại hỏi những người đầu hàng biết chỗ ở của Lữ Gia, bèn sai người đuổi theo. Hiệu úy tư mã là Tô Hoằng bắt được Kiến Đức, quan lang Việt là Đô Kê (có bản chép là Tôn Đô) bắt được Lữ Gia. Các xứ ở Nam Việt đều xin hàng.
Lữ Gia và Triệu Vương sau đó đều bị quân Hán giết.
Theo truyền thuyết, khi ông bị bắt và chém đầu, một con đã cắp đầu của ông và bơi qua sông và chôn dấu. Hiện nay, đền thờ Lữ Gia vẫn còn tại một làng ở xã Quang Yên, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc (http://vi.wikipedia.org/wiki/V%C4%A9nh_Ph%C3%BAc).

Nhận định

Trong Đại Việt Sử ký Toàn thư (http://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A1i_Vi%E1%BB%87t_S%E1%BB%AD_k%C3%BD_T o%C3%A0n_th%C6%B0), Ngô Sĩ Liên (http://vi.wikipedia.org/wiki/Ng%C3%B4_S%C4%A9_Li%C3%AAn) nhận định về việc ông giết Ai Vương và Cù thái hậu như sau:
"Tai họa của Ai Vương, tuy bởi ở Lữ Gia mà sự thực thì gây mầm từ Cù Hậu. Kể ra sắc đẹp đàn bà có thể làm nghiêng đổ nước nhà người ta thì có nhiều manh mối, mà cái triệu của nó thì không thể biết trước được. Cho nên các tiên vương tất phải đặt ra lễ đại hôn, tất phải cẩn thận quan hệ vợ chồng, tất phải phân biệt hiềm nghi, hiểu những điều nhỏ nhặt, tất phải chính vị trong ngoài, tất phải ngăn ngừa việc ra vào, tất phải dạy đạo tam tòng, thì sau đó mối họa mới không do đâu mà đến được. Ai Vương ít tuổi không thể ngăn giữ được mẹ, Lữ Gia coi việc nước, việc trong việc ngoài lại không dự biết hay sao? Khách của nước lớn đến, thì việc đón tiếp có lễ nghi, chỗ ở có thứ tự, cung ứng có số, thừa tiếp có người, sao đến nỗi để thông dâm với mẫu hậu? Mẫu hậu ở thẳm trong cung, không dự việc ngoài: khi nào có việc ra ngoài, thì có xe da cá, có màn đuôi trĩ, cung tần theo hầu, sao để đến nỗi thông dâm với sứ khách được? Bọn Gia toan dập tắt lửa cháy đồng khi đang cháy rực, sao bằng ngăn ngay cái cơ họa loạn từ khi chưa có triệu chứng gì có hơn không? Cho nên nói: Làm vua mà không biết nghĩa Xuân Thu (http://vi.wikipedia.org/wiki/Kinh_Xu%C3%A2n_Thu) tất phải chịu cái tiếng cầm đầu tội ác; làm tôi không biết nghĩa Xuân Thu tất mắc phải tội cướp ngôi giết vua, tức như là Minh Vương, Ai Vương và Lữ Gia vậy." Đối với việc nước Nam Việt (http://vi.wikipedia.org/wiki/Nam_Vi%E1%BB%87t) mất, các sử gia (http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=S%E1%BB%AD_gia&action=edit&redlink=1) có ý kiến như sau:
Theo Lê Văn Hưu (http://vi.wikipedia.org/wiki/L%C3%AA_V%C4%83n_H%C6%B0u):
"Lữ Gia can ngăn Ai Vương và Cù thái hậu không nên xin làm chư hầu nhà Hán, đừng triệt bỏ cửa quan ở biên giới, có thể gọi là biết trọng nước Việt vậy. Song can mà không nghe, thì nghĩa đáng đem hết bầy tôi đến triều đình, trước mặt vua trình bày lợi hại về việc nước Hán, nước Việt đều xưng đế cả, có lẽ Ai Vương và thái hậu cũng nghe ra mà tỉnh ngộ. Nếu lại vẫn không nghe theo, thì nên tự trách mình mà lánh ngôi [tể tướng], nếu không thế thì dùng việc cũ họ Y, họ Hoắc [5] (http://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%AF_Gia#cite_note-4), chọn một người khác trong hàng con của Minh Vương để thay ngôi, cho Ai Vương được như Thái Giáp và Xương Ấp[6] (http://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%AF_Gia#cite_note-5) mà giữ toàn tính mệnh, như thế thì không lỗi đường tiến thoái. Nay lại giết vua để hả lòng oán, lại không biết cố chết để giữ lấy nước, khiến cho nước Việt bị chia cắt, phải làm tôi nhà Hán, tội của Lữ Gia đáng chết không dung." Theo Ngô Sĩ Liên (http://vi.wikipedia.org/wiki/Ng%C3%B4_S%C4%A9_Li%C3%AAn):
"Ngũ Lĩnh đối với nước Việt ta là ải hiểm cửa ngõ của nước cũng như Hổ Lao của nước Trịnh, Hạ Dương của nước Quắc. Làm vua nước Việt tất phải đặt quân chỗ hiểm để giữ nước, không thể để cho mất được. Họ Triệu một khi đã không giữ được đất hiểm ấy thì nước mất dòng tuyệt, bờ cõi bị chia cắt. Nước Việt ta lại bị phân chia, thành ra cái thế Nam-Bắc vậy. Sau này các bậc đế vương nổi dậy, chỗ đất hiểm đã mất rồi, khôi phục lại tất nhiên là khó. Cho nên Trưng Nữ Vương (Trưng Trắc (http://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0ng_Tr%E1%BA%AFc)) tuy đánh lấy được đất Lĩnh Nam (http://vi.wikipedia.org/wiki/L%C4%A9nh_Nam), nhưng không giữ được nơi hiểm yếu ở Ngũ Lĩnh, rốt cuộc đến bại vong. Sĩ Vương [7] (http://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%AF_Gia#cite_note-6) tuy khôi phục toàn thịnh, nhưng bấy giờ còn là chư hầu, chưa chính vị hiệu, sau khi chết lại mất hết; mà các nhà Đinh (http://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_%C4%90inh), Lê (http://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_Ti%E1%BB%81n_L%C3%AA), Lý (http://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_L%C3%BD), Trần (http://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_Tr%E1%BA%A7n) chỉ có đất từ Giao Châu trở về Nam thôi, không khôi phục được đất cũ của Triệu Vũ Đế (http://vi.wikipedia.org/wiki/Tri%E1%BB%87u_V%C5%A9_%C4%90%E1%BA%BF), cái thế khiến nên như vậy."

Đền thờ, lăng mộ, lễ hội

Tương truyền Lữ Gia sinh ra ở huyện Lôi Dương quận Cửu Chân (http://vi.wikipedia.org/wiki/C%E1%BB%ADu_Ch%C3%A2n) (nay là huyện Thọ Xuân (http://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BB%8D_Xu%C3%A2n) tỉnh Thanh Hoá (http://vi.wikipedia.org/wiki/Thanh_Ho%C3%A1)) có cha là hào trưởng Lữ Tạo người lương thiện, phúc hậu làm nghề lang y; mẹ là người tài sắc, công dung tên là Trương Vĩ, con gái hào trưởng Vũ Ninh (vùng Bắc Ninh ngày nay). Tại quận Cửu Chân có tên họ Hàn hung nghịch, tàn bạo vốn là hào trưởng thấy Gia chí khí hơn người nên muốn thu nạp làm tay chân. Gia không chịu khuất phục nên gã thâm thù, cho tay chân đến cướp phá, hành hung gia quyến. Biết không thể sống được nên cả gia quyến đã bỏ quê tìm kế an thân. Khi đến Nam Trì (http://vi.wikipedia.org/wiki/Nam_Tr%C3%AC) (xã Đặng Lễ (http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=%C4%90%E1%BA%B7ng_L%E1%BB%85&action=edit&redlink=1) huyện Ân Thi (http://vi.wikipedia.org/wiki/%C3%82n_Thi) tỉnh Hưng Yên (http://vi.wikipedia.org/wiki/H%C6%B0ng_Y%C3%AAn)) thấy khu đất nơi ngã ba sông đất đai tươi tốt, dân cư thuần hậu nên đã lưu tạm ở đây hành nghề lang y. Ở Nam Trì, Gia kết nghĩa anh em với Nguyễn Danh Lang (Lang Công (http://vi.wikipedia.org/wiki/Lang_C%C3%B4ng)). Nguyễn Danh Lang làm tướng 3 triều nhà Triệu nước Nam Việt. Khi Nguyễn Danh Lang mất, Lữ Gia truyền cho dân làng lập đền thờ. Khi Lữ Gia bị quan Tây Hán chém đầu có truyền cho quân sĩ quê Nam Trì đưa xác về Nam Trì an táng và thờ cùng Lang Công. Đền thờ lúc sơ khởi nằm trên đất làng Nam Trì hiện nay nhưng không rõ địa điểm cụ thể. Thời Đường, Cao Biền (http://vi.wikipedia.org/wiki/Cao_Bi%E1%BB%81n) sang Giao Châu đánh giặc Nam Chiếu, kết nghĩa anh em với 2 vị thần Lang Công (Nguyễn Danh Lang), Bảo Công (Lữ Gia), cưới 2 bà phu nhân Lự nương, Lữ nương quê đây và dựng lại đền thờ Lang Công, Bảo Công. Khi Cao Biền hóa, dân làng thờ cùng 2 vị trước. Phía tây đền là phủ thờ Lâu Lương công chúa (phu nhân của Lữ Gia) và 2 bà phu nhân Cao Vương. Thời Hậu Lê, Thánh địa lý Tả Ao (http://vi.wikipedia.org/wiki/T%E1%BA%A3_Ao) chọn đất, chuyển làng, dựng lại chùa, đền nên sau khi Tả Ao hóa dân làng thờ cùng với 3 vị trước.
Lăng mộ Tể tướng Lữ Gia, Tướng Nguyễn Danh Lang hiện ở làng xã Đặng Lễ huyện Ân Thi tỉnh Hưng Yên.
Lễ hội Nam trì hay lễ hội Bảo, Lang, Biền là lễ hội chung của ba làng Nam Trì, Đới Khê và Bảo Tàng. Lễ hội tổ chức vào tháng 9/3 âm lịch hàng năm. Lễ gồm Tế Thần và rước Thần. Tế Thần là các buổi cúng lễ ca ngợi công đức, dâng hiến lễ vật lên các vị Thần. Rước Thần là rước các vị Thần về Đình Ba Xã. Đình Ba Xã xưa kia là Nhà hội đồng của 2 vị Bảo, Lang và Hành cung của Cao Vương lúc sinh thời (nay là mộ 2 vị Thần Lang Công, Bảo Công) ở cuối làng để 3 anh em vị Thần thờ ở 2 thôn (Bảo Tàng, Đới Khê) tụ hội. Hội là ca hát 10 ngày, đánh cờ, đấu vật. Ngoài ra, còn có rất nhiều nơi thờ Lã Gia như ở Hà Tây, Hà Nội, Nam Định nhất là huyện Lập Thạch tỉnh Vĩnh Phúc.

Chú thích


^ (http://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%AF_Gia#cite_ref-0) - 5671/ 633. HƯNG YÊN TỈNH ÂN THI HUYỆN CÁC XÃ THẦN TÍCH 興 安 省 恩 施 縣 各 社 神 蹟 - 1 bản viết, 324 tr., 29.5 x 21, chữ Hán, AE.A3/1 - Thần tích 3 thôn, 6 xã thuộc huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên (http://www.hannom.org.vn/trichyeu.asp?param=3281&Catid=244)
^ (http://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%AF_Gia#cite_ref-1) Sử chép thiếu họ
^ (http://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%AF_Gia#cite_ref-2) Sử chép thiếu họ
^ (http://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%AF_Gia#cite_ref-3) sử chép thiếu họ
^ (http://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%AF_Gia#cite_ref-4) Y Doãn và Hoắc Quang, các đại thần đã làm việc phế vua tồi và dựng vua khác
^ (http://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%AF_Gia#cite_ref-5) Ý nói phế truất Hưng nhưng không nên giết đi làm phật ý nhà Hán (http://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_H%C3%A1n)
^ (http://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%AF_Gia#cite_ref-6) Sĩ Nhiếp (http://vi.wikipedia.org/wiki/S%C4%A9_Nhi%E1%BA%BFp), quan cai trị nhà Đông Hán (http://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%C3%B4ng_H%C3%A1n) tại Việt Nam (http://vi.wikipedia.org/wiki/Vi%E1%BB%87t_Nam) từ năm 187 đến 226

Tham khảo


Đại Việt Sử ký Toàn thư (http://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A1i_Vi%E1%BB%87t_S%E1%BB%AD_k%C3%BD_T o%C3%A0n_th%C6%B0)


Nguồn: http://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%AF_Gia

VN 5000 Năm Văn Hiến
03-05-2010, 11:57 AM
Lang Công


Nguyễn Danh Lang (阮 名 俍) tên hiệu Lang Công là danh tướng nhà Triệu (http://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_Tri%E1%BB%87u) nước Nam Việt (http://vi.wikipedia.org/wiki/Nam_Vi%E1%BB%87t), em kết nghĩa của Tể tướng (http://vi.wikipedia.org/wiki/T%E1%BB%83_t%C6%B0%E1%BB%9Bng) Lữ Gia (http://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%AF_Gia).


Mục lục


1 Cuộc đời, sự nghiệp (http://vi.wikipedia.org/wiki/Lang_C%C3%B4ng#Cu.E1.BB.99c_.C4.91.E1.BB.9Di.2C_s. E1.BB.B1_nghi.E1.BB.87p)
2 Nhận định (http://vi.wikipedia.org/wiki/Lang_C%C3%B4ng#Nh.E1.BA.ADn_.C4.91.E1.BB.8Bnh)
3 Đền thờ, Lăng mộ (http://vi.wikipedia.org/wiki/Lang_C%C3%B4ng#.C4.90.E1.BB.81n_th.E1.BB.9D.2C_L.C 4.83ng_m.E1.BB.99)
4 Tham khảo (http://vi.wikipedia.org/wiki/Lang_C%C3%B4ng#Tham_kh.E1.BA.A3o)
5 Xem thêm (http://vi.wikipedia.org/wiki/Lang_C%C3%B4ng#Xem_th.C3.AAm)


Cuộc đời, sự nghiệp

Sách Thành Hoàng Việt Nam của Phạm Minh Thảo, Trần Thi An, Bùi Xuân Mỹ - NXB Văn hóa Thông tin 1997 và bản sách ký hiệu: TT-TS FQ 40 18/X11, 11, Viện Thông tin Khoa học Xã hội - Uỷ ban Khoa học Xã hội Việt Nam (Ngọc phả Thần tích (http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Ng%E1%BB%8Dc_ph%E1%BA%A3_Th%E1%BA% A7n_t%C3%ADch&action=edit&redlink=1) do Hàn lâm Đông các Đại học sĩ Nguyễn Bính (http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=H%C3%A0n_l%C3%A2m_%C4%90%C3%B4ng_c %C3%A1c_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_s%C4%A9_Nguy% E1%BB%85n_B%C3%ADnh&action=edit&redlink=1) phụng soạn năm Nhâm Thân - 1572, triều Lê Anh Tông (http://vi.wikipedia.org/wiki/L%C3%AA_Anh_T%C3%B4ng) niên hiệu Hồng Phúc nguyên) viết: Thời Triệu Vũ Vương (207-137 TCN) nước Nam Việt, trang Nam Trì (http://vi.wikipedia.org/wiki/Nam_Tr%C3%AC) có một người tên Nguyễn Tuyên (sách Thành Hoàng Việt Nam của Phạm Minh Thảo, Trần Thi An, Bùi Xuân Mỹ - NXB Văn hóa Thông tin 1997 chép là Nguyễn Nghị), lấy vợ người trang Đoài, xã Thổ Hoàng (http://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BB%95_Ho%C3%A0ng) bên cạnh, tên là Trần Thị Huyền. Tuy chỉ làm ruộng nhưng gia đình khá giả, vợ chồng là người có lòng trung hậu, lương thiện.
Năm Nguyễn công 51 tuổi, bà 42 tuổi vẫn chưa có con trai. Hai vợ chồng cầu đảo Trời Đất, thần linh phù hộ. Một hôm, bà Trần Thị ra sông Kim Ngưu tắm rồi ngủ và mộng thấy từ trên trời một con hổ vàng giáng xuống nằm cạnh bên trái mình. Bà trở về nhà và có mang. Ngày 9/3 năm Nhâm Thân bà sinh hạ được một con trai. Vì chiêm bao thấy hổ nên sau bách nhật đặt tên Danh Lang.
Lớn lên, Danh Lang có tướng mạo kỳ lạ, cao lớn khác thường. Ông kết nghĩa với Bảo Lang tức Lữ Gia. Hai người được nhân dân Nam Trì (http://vi.wikipedia.org/wiki/Nam_Tr%C3%AC) một lòng kính nể, phục tùng gọi hai ông là Bảo Công, Lang Công.
Bảo Công và Lang Công cùng nhau mộ được 1000 binh sĩ đánh Đào Hoan để trả thù cho cậu của Bảo Lang. Trả thù xong, hai ông trở lại Nam Trì. Oai danh chấn động gần xa nên nhân dân kính nể, thần phục.
Hai năm sau, khi Triệu Vũ đế (Vũ vương Triệu Đà, 197-137 TCN) chết, Triệu Văn đế (Văn vương Triệu Hồ tức Triệu Mạt hay Triệu Muội, con Trọng Thuỷ) nối ngôi (136-125 TCN) lệnh cho các châu, huyện đề cử người hiền lương phương chính, văn võ toàn tài, học vấn uyên bác ra giúp nước. Bảo Công, Lang Công đều trúng lại được yết kiến nhà vua ứng đối trôi chảy nên ra sắc chỉ phong Bảo Công chức Thị tụng Tham quan (Quân sư) đảm nhiệm việc luyện quân và công văn cho Triều đình; Lang Công chức Điển binh (Cấm quân bảo vệ triều đình).
Năm Văn vương thứ 6, Bảo Công được phong Tể tướng, Lang Công được phong Đốc lĩnh (chữ Đốc âm cổ là Đại tướng) châu Ái kiêm châu Hoan. Trong thời gian này, Văn vương cùng Bảo Công, Lang Công sắp đặt lại kỷ cương trật tự triều chính, quân thần hiệp đức nên thiên hạ thái bình, nhân dân yên vui, no ấm. Văn vương chết, Minh vương (http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Minh_v%C6%B0%C6%A1ng&action=edit&redlink=1) nối ngôi. Minh vương trọng đãi, hai họ của hai anh em quí hiển có hơn bốn mươi người làm quan truyền đời.
11 năm sau, Minh vương chết, thái hậu Cù Thị tư thông nhà Tây Hán không đưa con của vợ cả người Việt là Kiến Đức mà đưa con mình là Triệu Hưng nối ngôi lấy hiệu Ai vương (113-112 TCN). Ai vương tuổi còn, Cù Thị tư thông với xứ thần Tây Hán là tướng An quốc Thiếu Quý nguyên người tình cũ. Cù thị nhiếp chính, nắm quyền lực nên triều chính suy tàn. Lữ Gia làm binh biến giết Ai vương là Cù hậu, tôn con trưởng của Minh vương với vợ người Việt lên làm vua hiệu Triệu Dương vương.


http://upload.wikimedia.org/wikipedia/vi/thumb/a/a4/L%C4%83ng_m%E1%BB%99_T%E1%BB%83_t%C6%B0%E1%BB%9Bng _L%E1%BB%AF_Gia%2C_T%C6%B0%E1%BB%9Bng_Nguy%E1%BB%8 5n_Danh_Lang.jpg/250px-L%C4%83ng_m%E1%BB%99_T%E1%BB%83_t%C6%B0%E1%BB%9Bng _L%E1%BB%AF_Gia%2C_T%C6%B0%E1%BB%9Bng_Nguy%E1%BB%8 5n_Danh_Lang.jpg (http://upload.wikimedia.org/wikipedia/vi/thumb/a/a4/L%C4%83ng_m%E1%BB%99_T%E1%BB%83_t%C6%B0%E1%BB%9Bng _L%E1%BB%AF_Gia%2C_T%C6%B0%E1%BB%9Bng_Nguy%E1%BB%8 5n_Danh_Lang.jpg/250px-L%C4%83ng_m%E1%BB%99_T%E1%BB%83_t%C6%B0%E1%BB%9Bng _L%E1%BB%AF_Gia%2C_T%C6%B0%E1%BB%9Bng_Nguy%E1%BB%8 5n_Danh_Lang.jpg)

Lăng mộ Tướng Nguyễn Danh Lang, Tể tướng Lữ Gia ở Nam Trì, Đặng Lễ, Ân Thi, Hưng Yên


Nhận định

Bản sách TT-TS FQ 40 18/X11, 11, Viện Thông tin Khoa học Xã hội - Uỷ ban Khoa học Xã hội Việt Nam - Ngọc phả Thần tích do Hàn lâm Đông các Đại học sĩ Nguyễn Bính phụng soạn năm Nhâm Thân – 1572 và Sách Thành Hoàng Việt Nam của Phạm Minh Thảo, Trần Thi An, Bùi Xuân Mỹ - NXB Văn hóa Thông tin 1997 đều viết: Lữ Gia là con út thứ tám trong gia đình Quận trưởng Lữ Tạo làm nghề lang y có bẩy người anh ở huyện Lôi Dương quận Cửu Chân (thuộc huyện Thọ Xuân, Thường Xuân, tỉnh Thanh Hoá (http://vi.wikipedia.org/wiki/Thanh_Ho%C3%A1) ngày nay). Khi gặp Lữ Gia về lại Nam Trì (http://vi.wikipedia.org/wiki/Nam_Tr%C3%AC) chiêu mộ quân sĩ ở quán đầu làng, gặp lại Nguyễn Danh Lương thì kết vi bằng hữu, tương ái tương thân, như tâm như phúc, bốn biển gặp nhau như anh em sinh đôi. Hai anh em gặp nhau như tâm Trời đã định, như anh hùng tương ngộ, bẩm sinh tương tề như cùng một gốc, thề nguyện sinh tử cùng nhau. Nguyễn Danh Lang là người học vấn uyên bác, văn võ toàn tài, lúc đầu được phong chức Điển quân tức trông coi việc binh của triều đình. Sau do công sắp đặt lại kỷ cương trật tự triều chính nên năm Văn vương thứ 6, được phong Đốc lĩnh trấn thủ Châu Ái kiêm cả Châu Hoan. Cầm quân thủy đến châu Đại Điền hội quân, đánh cho quân Tây Hán thua hơn mười trận....
Đại Việt Sử ký toàn thư (http://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A1i_Vi%E1%BB%87t_S%E1%BB%AD_k%C3%BD_t o%C3%A0n_th%C6%B0) có nhắc đến người em Lữ Gia: khi Lữ Gia định nổi dậy chống Triệu Ai vương và Cù hậu bèn lấy quân lính của em dẫn về nhà, (Đại Việt Sử Ký Ngoại Kỷ Toàn Thư: Quyển II - Kỷ Nhà Triệu: Ai vương) nhưng không ghi tên người em đó là gì và chưa có cơ sở khẳng định người đó là tướng Nguyễn Danh Lang.

Đền thờ, Lăng mộ

Nguyễn Danh Lang về đến Thiên Thi nhận chức Huyện lệnh thì mất. Được dăm tháng, Ông nghe tin Lang Công hóa, ông nén đau thương, tấu lên Dương vương phong mỹ tự, nhị tự duệ hiệu cho Lang Công, tôn làm Thần Trung Lang Tế Thế đại vương. Ông giao phó công việc cho quân sĩ trong coi rồi mang sắc phong Lang Công về Nam Trì (http://vi.wikipedia.org/wiki/Nam_Tr%C3%AC) ngoại quán. Đến ngày 10/10 thì về đến nơi, nhân dân Nam Trì (http://vi.wikipedia.org/wiki/Nam_Tr%C3%AC) làm lễ bái điếu ngay trong Thủy đường Nam Trì (http://vi.wikipedia.org/wiki/Nam_Tr%C3%AC) tạ xá. Tất cả có hơn 300 gia thần theo ông chinh phạt là người địa phương hành lễ bi ai, thương tiếc người anh em đồng cam cộng khổ, quốc thù chưa báo đã kẻ mất người còn, âm dương đôi ngả. Rồi sửa lại đền thờ phụng sự Lang Công.
Mộ Nguyễn Danh Lang và mộ Lữ Gia bên bờ sông Nam Trì (http://vi.wikipedia.org/wiki/Nam_Tr%C3%AC), nay lăng mộ hai ông ở gò Ba Xã, đền thờ ở gò Vườn Soi,Nam Trì (http://vi.wikipedia.org/wiki/Nam_Tr%C3%AC). Thời Bắc thuộc các triều đại Đông Hán, Ngô, Tấn, Tống của Trung Hoa đều phong Thần Nguyễn Danh Lang là Trung Lang Tế thế Đại vương. Các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần của Việt Nam cũng sắc phong như vậy. Triều hậu Lê sắc phong là Dũng lược quả đoán và chuẩn cho trang Nam Trì (http://vi.wikipedia.org/wiki/Nam_Tr%C3%AC) lập đền thờ chính. Sau lại sắc phong thêm là Dực bảo trung hưng.
Sau này, đền này còn thờ cả Thánh địa lý Cao Biền (http://vi.wikipedia.org/wiki/Cao_Bi%E1%BB%81n), Thánh địa lý Tả Ao (http://vi.wikipedia.org/wiki/T%E1%BA%A3_Ao) cùng Công chúa Hùng vương (http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=H%C3%B9ng_v%C6%B0%C6%A1ng&action=edit&redlink=1) Lâu nương (phu nhân của Tể tướng Lữ Gia) cùng hai vị phu nhân của Cao Biền (http://vi.wikipedia.org/wiki/Cao_Bi%E1%BB%81n) là Lữ Lương, Lự Lương. Sau Lữ Gia (http://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%AF_Gia), Nguyễn Danh Lang và Cao Biền (http://vi.wikipedia.org/wiki/Cao_Bi%E1%BB%81n) được phong Thượng đẳng Phúc thần Dực bảo trung hưng Bản cảnh Thành hoàng Đại vương. Lễ hội tế, rước Thần gọi là Bảo, Lang, Biền.

Tham khảo


Đại Việt Sử ký Toàn thư (http://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A1i_Vi%E1%BB%87t_S%E1%BB%AD_k%C3%BD_T o%C3%A0n_th%C6%B0)
Bản TT-TS FQ 40 18/X11, 11 - Viện Thông tin Khoa học Xã hội - Uỷ ban Khoa học Xã hội Việt Nam
Bản viết chữ Hán AE.A3/1 Viện Nghiên cứu Hán Nôm - http://www.hannom.org.vn/trichyeu.asp?param=3281&Catid=244
Lịch lễ hội Việt Nam - http://www.vietnamtourism.com/v_pages/tourist/festival.asp
Sách Thành Hoàng Việt Nam (http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Th%C3%A0nh_Ho%C3%A0ng_Vi%E1%BB%87t _Nam&action=edit&redlink=1) của Phạm Minh Thảo, Trần Thi An, Bùi Xuân Mỹ - NXB Văn hóa Thông tin 1997


Nguồn: http://vi.wikipedia.org/wiki/Lang_c%C3%B4ng