PDA

View Full Version : [Thảo luận] Tên lót phân biệt nam nữ ở Việt Nam



RussianSniper
30-11-2010, 08:37 PM
"Thị" cắt nghĩa trong "phố thị", tức "Phố chợ". Chữ "Thị" mang nghĩa giống từ "chợ" (Giống "Thị Trường" _ Giao dịch thương mại). Ngụ ý của ông cha ta là người con gái phải biết quán xuyến công việc nấu nướng, chợ búa, buông gánh bán bưng giỏi.

Còn riêng mình thì nghĩ phụ nữ là...cái chợ. Giỏi tám, nấu cháo điện thoại,...Nên thỉnh thoảng vẫn nghe câu phê phán tính thích tám của phụ nữ: "3 người đàn bà là ra cái chợ" (Chị em trong diễn đàn chém nhẹ tay :D:D:D)

HQ0909
30-11-2010, 08:40 PM
Theo mình thấy ở Việt Nam hồi xưa ông cha ta đặt tên con trai thì đa phần tên lót là "Văn" ví dụ như Nguyễn Văn A,Trần Văn B. Tất nhiên cũng có 1 vài người không có lót chữ "Văn" như Nguyễn Du, Nguyễn Trãi v..v nhưng mình thấy đó là thiểu số còn đa số mình thấy tên lót đến bây giờ chữ "Văn" cũng còn nhiều. Còn con gái ông cha ta đều có tên lót là chữ "Thị" và hầu như thời xưa đa phần là dùng chữ "Thị" để chỉ con gái ngoại trừ thiểu số hồi xưa có bỏ chữ "Thị" là Hồ Xuân Hương và chữ "Thị" vẫn còn dùng đến bây giờ. Theo ý em chữ "Văn" chỉ con trai phải có tài văn chương nên ông cha ta mới đặt chữ lót và dùng để chỉ con trai. Nhưng con gái thì chữ "Thị" thì ý nghĩa là gì thì em không biết(Các bác giải thích giùm em nha)?. Và có thể nói gần tên lót này như là hệ thống dùng để phân biệt Nam Nữ ở Việt Nam. Ở Trung Quốc thì em thấy hầu như tên không có tên lót để phân biệt nam nữ. Em xin ví dụ vài người Nam: Lưu Đức Hoa, Âu Dương Chấn Hoa. Còn Nữ: Lưu Diệc Phi, Lâm Y Thần, An Dĩ Hiên. Em thấy tên con gái Trung Quốc đọc cả họ và tên nghe có vẻ hay hơn con gái Việt Nam(Các bác chém nhẹ thui:smilie_w00t::dancing-banana:). Do đó theo ý em nên bỏ chữ "Thị" trong tên lót khi đặt tên con gái. Em chắc chắn sẽ bỏ chữ "Thị" nếu đặt tên con gái em. Mà Trung Quốc có hệ thống đặt tên để phân biệt nam nữ ko?(Các bác có biết trình bày cho mọi người xem)

Văn là văn chương => con trai lót chữ Văn là phải có tài văn chương.
Thị là chợ => con gái lót chữ Thị là phải có tài đi chợ.

=> Nguyễn Du Nguyễn Trãi không có chữ Văn => không giỏi văn
=> Hồ Xuân Hương không có chữ Thị => không biết đi chợ

Nhất trí nhé !

HQ0909
30-11-2010, 08:45 PM
http://illiweb.com/fa/empty.gif Cách đặt tên con theo nghĩa Hán Việt (http://muare.forum0.net/forum-f48/topic-t823.htm#1023)




Hầu hết tên gọi hiện nay đều được đặt theo nghĩa Hán Việt, tuy
nhiên không ít các bậc cha mẹ lại không hiểu hết nghĩa của tên con
mình.


Về yếu tố giới tính trong tên gọi
Ngày xưa, khi đặt tên con, các cụ thường đệm Văn cho con trai và Thị
cho con gái giúp người khác phân biệt được giới tính của con người ngay
trong cái tên gọi. Đây là một quan niệm từ thời phong kiến, rằng con
trai lo việc văn chương đèn sách, con gái thì đảm đang việc chợ búa,
nội trợ.
Ngày nay, các tên đệm như "Văn" dành cho nam và "Thị" dành cho nữ ngày
càng ít dùng bởi có thể họ chưa hiểu hết ỹ nghĩa của những tên đệm đó.
Mặt khác, ngày nay đã hình thành nhiều xu hướng đặt tên con mới nghe
rất hay và lạ. Tuy nhiên, tùy theo quan điểm của mỗi người mà chọn tên
khác nhau cho con. Miễn sao đừng ngược giới tính khiến trẻ sau này phải
chịu nhiều phiền hà, rắc rối.
Những cái tên thời nay đã thể hiện rõ nét tính phóng khoáng trong cách
đặt tên. Nhìn lại sự biến động của tên gọi người Việt từ trước đến nay,
chúng ta nhận thấy một số cách đặt tên cũ gần như đã mất đi, thí dụ như
cách đặt tên bằng những từ có âm thanh xa lạ, cách đặt tên bằng những
từ chỉ các bộ phận cơ thể hay hoạt động sinh lý của con người, cách đặt
tên bằng những từ chỉ dụng cụ sinh hoạt sản xuất hoặc các động vật...
Duy chỉ có cách đặt tên vẫn còn duy trì được là đặt tên bằng từ Hán
Việt có ý nghĩa tốt đẹp.
Những cách đặt tên theo Hán Việt thường gặp
Theo các bộ chữ:
Những gia đình theo Hán học thường đặt tên theo các bộ chữ Hán. Tức là
tên các thành viên trong gia đình đều có chung một bộ chữ.
Ví dụ:
- Bộ Thuỷ trong các tên: Giang, Hà, Hải, Khê, Trạch, Nhuận…
- Bộ Thảo trong các tên: Cúc, Lan, Huệ, Hoa, Nhị…
- Bộ Mộc trong các tên: Tùng, Bách, Đào, Lâm, Sâm…
- Bộ Kim trong các tên: Kính, Tích, Khanh, Chung, Điếu…
- Bộ Hoả trong các tên: Thước, Lô, Huân, Hoán, Luyện, Noãn…
- Bộ Thạch trong các tên: Châm, Nghiễn, Nham, Bích, Kiệt, Thạc…
- Bộ Ngọc trong các tên: Trân, Châu, Anh, Lạc, Lý, Nhị, Chân, Côn…
Nói chung, các bộ chữ có ý nghĩa tốt đẹp, giàu sang, hương thơm như
Kim, Ngọc, Thảo, Thuỷ, Mộc, Thạch…đều thường được chuộng để đặt tên.
Bằng hai từ Hán Việt có cùng tên đệm:
Ví dụ: Kim Khánh, Kim Thoa, Kim Hoàng, Kim Quang, Kim Cúc, Kim Ngân.
Hoặc hai từ Hán Việt có cùng tên, khác tên đệm:
Ví dụ: Nguyễn Xuân Tú Huyên, Nguyễn Xuân Bích Huyên.
Theo các thành ngữ mà tên cha là chữ đầu:
Ví dụ: Tên cha: Trâm
Tên các con: Anh, Thế, Phiệt
Tên cha: Đài
Tên các con: Các, Phong, Lưu.
Tên cha: Kim
Tên các con: Ngọc, Mãn, Đường.
Theo ý chí, tính tình riêng:
Ví dụ:
- Phạm Sư Mạnh: thể hiện ý chí ham học theo Mạnh Tử.
- Ngô Ái Liên: thể hiện tính thích hoa sen, lấy ý từ bài cổ văn : “Ái liên thuyết”.
- Trần Thiện Đạo: thể hiện tính hâm mộ về đạo hành thiện, làm việc lành.
Triết tự những cái tên
Mạnh, Trọng, Quý: chỉ thứ tự ba tháng trong một mùa. Mạnh là
tháng đầu, Trọng là tháng giữa, Quý là tháng cuối. Vì thế Mạnh, Trọng,
Quý được bố dùng để đặt tên cho ba anh em. Khi nghe bố mẹ gọi tên,
khách đến chơi nhà có thể phân biệt được đâu là cậu cả , cậu hai, cậu
út.
Có thể dùng làm tên đệm phân biệt được thứ bậc anh em họ tộc (Mạnh – Trọng – Quý):
Ví dụ: Nguyễn Mạnh Trung
Nguyễn Trọng Minh
Nguyễn Quý Tấn
Vân: tên Vân thường gợi cảm giác nhẹ nhàng như đám mây trắng
bồng bềnh trên trời. Trong một số tác phẩm văn học thường dùng là Vân
khói – lấy Vân để hình dung ra một mỹ cảnh thiên nhiên nào đó: Vân Du
(rong chơi trong mây, con của mẹ sau này sẽ có cuộc sống thảnh thơi,
nhàn hạ),...
Anh: Những cái tên có yếu tố anh thường thể hiện sự thông minh,
tinh anh: Thùy Anh (thùy mị, thông minh), Tú Anh (con sẽ xinh đẹp, tinh
anh), Trung Anh (con trai mẹ là người thông minh, trung thực),...
Băng: Lệ Băng (một khối băng đẹp), Tuyết Băng (băng giá như tuyết), Hạ Băng (tuyết giữa mùa hè),...
Châu: Bảo Châu (viên ngọc quý), Minh Châu (viên ngọc sáng),...
Chi: Linh Chi (thảo dược quý hiếm), Liên Chi (cành sen), Mai Chi
(cành mai), Quỳnh Chi (nhánh hoa quỳnh), Lan Chi (nhánh hoa lan, hoa
lau),...
Nhi: Thảo Nhi (người con hiếu thảo), Tuệ Nhi (cô gái thông tuệ),
Hiền Nhi (con ngoan của gia đình), Phượng Nhi (con chim phượng nhỏ),
Yên Nhi (làn khói nhỏ mỏng manh), Gia Nhi (bé ngoan của gia đình),...

RussianSniper
30-11-2010, 08:47 PM
=> Hồ Xuân Hương không có chữ Thị => không biết đi chợ

Nghe đồn cái này đúng !

MInh_HươnG
30-11-2010, 08:55 PM
Có bác nào còn nhớ họ vương công quý tộc của triều đình Huế không...??
Em chỉ còn nhớ họ có cá họ hơi dài...!Nguyễn Cát gì đó quên mất rồi...!T_T

tamky
30-11-2010, 09:25 PM
Theo mình thấy ở Việt Nam hồi xưa ông cha ta đặt tên con trai thì đa phần tên lót là "Văn" ví dụ như Nguyễn Văn A,Trần Văn B. Tất nhiên cũng có 1 vài người không có lót chữ "Văn" như Nguyễn Du, Nguyễn Trãi v..v nhưng mình thấy đó là thiểu số còn đa số mình thấy tên lót đến bây giờ chữ "Văn" cũng còn nhiều. Còn con gái ông cha ta đều có tên lót là chữ "Thị" và hầu như thời xưa đa phần là dùng chữ "Thị" để chỉ con gái ngoại trừ thiểu số hồi xưa có bỏ chữ "Thị" là Hồ Xuân Hương và chữ "Thị" vẫn còn dùng đến bây giờ. Theo ý em chữ "Văn" chỉ con trai phải có tài văn chương nên ông cha ta mới đặt chữ lót và dùng để chỉ con trai. Nhưng con gái thì chữ "Thị" thì ý nghĩa là gì thì em không biết(Các bác giải thích giùm em nha)?. Và có thể nói gần tên lót này như là hệ thống dùng để phân biệt Nam Nữ ở Việt Nam. Ở Trung Quốc thì em thấy hầu như tên không có tên lót để phân biệt nam nữ. Em xin ví dụ vài người Nam: Lưu Đức Hoa, Âu Dương Chấn Hoa. Còn Nữ: Lưu Diệc Phi, Lâm Y Thần, An Dĩ Hiên. Em thấy tên con gái Trung Quốc đọc cả họ và tên nghe có vẻ hay hơn con gái Việt Nam(Các bác chém nhẹ thui:smilie_w00t::dancing-banana:). Do đó theo ý em nên bỏ chữ "Thị" trong tên lót khi đặt tên con gái. Em chắc chắn sẽ bỏ chữ "Thị" nếu đặt tên con gái em. Mà Trung Quốc có hệ thống đặt tên để phân biệt nam nữ ko?(Các bác có biết trình bày cho mọi người xem)


Thật ra nguồn gốc chữ "thị" đặt lót trong tên nữ giới của VN bắt đầu có sau kỳ bắc thuộc lần thứ nhất. Do ảnh hưởng trọng nam khinh nữ, người nam sinh ra thì được đặt tên ngay để ghi vào sổ họ của gia tộc, sổ đinh của làng xã. Trong khi đó người nữ không cần ghi vào sổ sách, không dự việc họ ,việc làng nên chẳng cần đặt tên chính thức mà cứ được gọi cái Tấm, bé nhỏ, bé Lớn... Đến khi nhỡ không may có việc dính dáng đến chốn quan trường thì người ta cứ việc lấy họ mà gọi ( vì không có tên) như Nguyễn thị, Trần thị, Phan thị... ( Trong tiếng Hán thị có nghĩa là họ) Lâu dần thành thói quen ,sau này nữ cũng được đặt tên và người ta vẫn quen đặt chữ thị trước tên riêng của nữ giới...
Về chữ tộc và thị đều có nghĩa là họ, nhưng gốc và nghĩa không giống nhau hoàn toàn thì xin được nói rõ hơn vào dịp khác.

cobala
30-11-2010, 09:35 PM
Có bác nào còn nhớ họ vương công quý tộc của triều đình Huế không...??
Em chỉ còn nhớ họ có cá họ hơi dài...!Nguyễn Cát gì đó quên mất rồi...!T_T
Là Nguyễn Phúc (hay Nguyễn Phước) chứ không phải Nguyễn Cát.
-Đời Gia Long thì được thêm vào Tôn Thất hay Tôn Nữ VD.Nguyễn Phúc Tôn Thất...
-Đời Minh Mạng thì càng dài hơn,ông này đặt ra một bài "Đế Hệ Thi" để đặt cho con cháu của riêng vua Minh Mạng.Nam thì Miên Hông Ưng Bửu....Nữ thì công chúa,Công Nữ,Công Tôn Nữ,Công Tằng Tôn Nữ,Công Huyền Tôn Nữ,Lan Huyền Tôn Nữ...

Nhưng ngày nay con cháu họ Nguyễn đều rút ngắn lại chỉ gọi đơn giản là:Tôn Thất,Tôn Nữ...gì đó thôi/

tamky
30-11-2010, 10:11 PM
Chữ thị trong tên nữ giới ở VN hoàn toàn không có nghĩa là phố hay chợ gì cả.
Thật ra nguồn gốc chữ "thị" đặt lót trong tên nữ giới của VN bắt đầu có sau kỳ bắc thuộc lần thứ nhất. Do ảnh hưởng trọng nam khinh nữ, người nam sinh ra thì được đặt tên ngay để ghi vào sổ họ của gia tộc, sổ đinh của làng xã. Trong khi đó người nữ không cần ghi vào sổ sách, không dự việc họ ,việc làng nên chẳng cần đặt tên chính thức mà cứ được gọi cái Tấm, bé Nhỏ, bé Lớn... Đến khi nhỡ không may có việc dính dáng đến chốn quan trường thì người ta cứ việc lấy họ mà gọi ( vì không có tên) như Nguyễn thị, Trần thị, Phan thị... ( Trong tiếng Hán thị có nghĩa là họ) Lâu dần thành thói quen ,sau này nữ cũng được đặt tên và người ta vẫn quen đặt chữ thị trước tên riêng của nữ giới...
Ngay đến nay trong phép chép gia phả của nhiều dòng họ cũng không ghi rõ các con cháu và chồng của con gái mà chỉ ghi đại loại như: Gả về họ Trần cùng làng và chấm hết...
Về 2 chữ tộc và thị đều có nghĩa là họ, nhưng gốc và nghĩa không giống nhau hoàn toàn thì xin được nói rõ hơn vào dịp khác.