PDA

View Full Version : Cuộc chiến Afghanistan: Cá không ăn muối cá ươn



trieulong
30-03-2009, 02:42 AM
Kabul đã bị chiếm trong vòng vài ngày song sau đó việc giải phóng Afghanistan trở thành một thảm họa quay chậm. Patrick Cockburn, người đã đưa tin về cuộc chiến này kể từ năm 2001 tới nay, liệt kê những sai lầm chết người tại đây.
http://images.vietnamnet.vn/dataimages/200903/original/images1751097_af1.jpg Binh sĩ Anh tuần tra một vùng núi ở Afghanistan (Reuters)Cuộc chiến Afghanistan dường như chỉ là cái bóng bên cạnh cuộc xung đột lớn hơn tại Iraq. Tuy nhiên, sau 7 năm làm cái bóng đó, cuộc chiến ở Afghanistan đã đạt tới giai đoạn khủng hoảng. Mỹ giờ phải lựa chọn sẽ sa lầy bao lâu nữa trong một cuộc chiến lộn xộn mà ảnh hưởng tới quan hệ của Washington với Pakistan, Ấn Độ và Trung Đông, trong đó có Iran. Khi thế giới đang vật lộn với khủng hoảng kinh tế tồi tệ nhất từ năm 1929, Washington sẽ phải quyết định liệu Mỹ có thực sự muốn đầu tư thời gian, tiền bạc, quân đội và nguồn lực chính trị vào Afghanistan để đánh bật các nhóm Taliban đang ngày càng lấn sân ở miền Nam nước này hay không.
Cuối năm 2008, Nhà Trắng nói về khả năng lặp lại thành công của chiến lược tăng quân tại Iraq. Khoảng 30.000 lính Mỹ đã được tăng viện tới Iraq và cuộc nổi dậy của người Ảrập Sunni dường như lắng xuống ngay sau đó. Tuy nhiên, bước ngoặt thực sự ở Iraq có lẽ là việc người Shiite đã đánh bại người Ảrập Sunni. Tăng quân ở Afghanistan chắc không thể tiêu diệt được Taliban vì các cuộc tấn công du kích của họ đang gây nhiều thương vong hơn bao giờ hết.
Thảm họa quay chậm
Cuộc khủng hoảng ở Afghanistan là một thảm họa tiến triển chậm chạp. Afghanistan không giống Iraq - nơi cuộc chiến tranh du kích chống lại sự chiếm đóng của Mỹ nổ ra trong vòng vài tuần sau khi Mỹ đánh Iraq. Trong năm 2001, Taliban dường như đã bị đánh bại nhanh chóng khi Liên minh miền Bắc chống Taliban tiến vào Kabul với sự ủng hộ của không lực Mỹ. Taliban đã biến mất khỏi các vị trí chiến tuyến của họ và tháo chạy khỏi Kabul và Kandahar mà không hề kháng cự.
Trước cuộc chiến, các nhà chỉ trích sự can thiệp của Mỹ đã cảnh báo rằng Afghanistan là một nghĩa địa khét tiếng dành cho các đội quân nước ngoài. Họ nhớ lại rằng chính ở hẻm núi Kabul, ở phía đông Thủ đô, một đội quân của Anh và Ấn Độ đã bị các chiến binh bộ tộc Afghanistan sát hại năm 1842. Ở phía bắc Kabul tại thung lũng Panjshir, có bằng chứng rõ ràng về số phận của một đội quân ngoại bang nữa. Các nông dân địa phương đã tập hợp những xác xe tăng han rỉ của Liên Xô thành những bức tường sắt bao quanh các cánh đồng của họ. Những chiếc xa tăng này bị phá hủy trong các cuộc phục kích vào những năm 1980 và quá nặng nên không thể di chuyển đi xa.
Những cảnh báo thảm khốc này đã bị phớt lờ khi chế độ Taliban sụp đổ năm 2001. Mục tiêu đóng cửa các trại huấn luyện của Al-Qaeda đã thành công quá dễ dàng. Các nhà chỉ trích đã không sai khi nói rằng Afghanistan là mảnh đất đầy những ngạc nhiên cay đắng. Nhận định này đã dần dần được chứng minh. Tuy nhiên, sự kiêu ngạo do thành công chóng vánh trong năm 2001 đã khiến Mỹ và Anh nấn ná ở Afghanistan mà không có bất kỳ chính sách chặt chẽ hoặc các mục tiêu chính trị và quân sự cụ thể nào.
Đối với Anh, mục tiêu của quân đội đóng tại Afghanistan thay đổi theo năm. Có những lúc trong năm 2006, dường như họ ở đó với tư cách là các nhóm tái thiết và không mong đợi bắn súng. Những khi khác, lính Anh lại được mô tả là những chiến sĩ tiền tiêu trong cuộc chiến chống các phần tử cực đoan Hồi giáo.
Anh và Mỹ quả là vô trách nhiệm trong toàn bộ cuộc chiến Afghanistan. Vì thế chẳng có gì ngạc nhiên khi các đồng minh khác trong NATO thắc mắc chính xác là họ đang tìm kiếm cái gì khi gửi quân tới Afghanistan. Can thiệp vào cả hai quốc gia này chưa bao giờ nhận đuợc sự ủng hộ chính trị lớn ở trong nước. Thương vong không đặc biệt nặng nề so với nhiều cuộc chiến khác song các du kích Iraq hay Afghanistan có thể gây những tổn thất mà về mặt chính trị thì không bền vững chút nào đối với chính phủ Mỹ hoặc Anh.
Cuối cùng thì Mỹ cũng đã công bố một chính sách về Afghanistan vào cuối tháng 3. Chính sách này phù hợp với bản chất thực sự của những rắc rối mà ông Bush đã lao vào trong năm 2001 và loạng choạng 7 năm sau đó. Cuộc tấn công khủng bố 11/9 vào Trung tâm thương mại thế giới do các thành viên của al-Qaeda chỉ huy từ các trại ở Afghanistan và Pakistan. Tuy nhiên, chính quyền Bush đã sử dụng các vụ khủng bố đó để biện minh cho cuộc chiến lật đổ Saddam Hussein ở Iraq và giọng điệu thù địch coi Iran và Syria là các thành viên của “trục ma quỷ”.
Đồng minh chính của Mỹ trong cuộc chiến chống khủng bố là Pakistan dưới sự lãnh đạo của Tướng Musharraf, mặc dù ai cũng biết một bí mật rằng chính Cơ quan tình báo Pakistan ISI đã nuôi dưỡng Taliban và giúp lực lượng này lên nắm quyền ở Kabul. Chừng nào còn nhận được sự hậu thuẫn bí mật của ISI, Taliban sẽ không ban giờ bị đánh bại thực sự.
“Một năm sau vụ 11/9, nhiều người Pakistan thấy rõ rằng sự ủng hộ của Musharraf đối với cuộc chiến tại Afghanistan do Mỹ đứng đầu không phải là bước ngoặc chiến lược như đã hứa hẹn mà sẽ chấm dứt sự ủng hộ bấy lâu của quân đội Pakistan đối với các phần tử Hồi giáo cực đoan. Đó là một động thái mang tính chiến thuật ngắn hạn nhằm nhượng bộ Mỹ và chống lại sự bá chủ của Ấn Độ. Trên thực tế, Taliban là con đỡ đầu của ISI. Tướng Musharraf sẵn sàng truy quét các thành viên al-Qaeda tại Pakistan song mục đích chính trong chính sách truyền thống của quân đội Pakistan chưa bao giờ bị từ bỏ. Đó là chống lại Ấn Độ, ủng hộ người Hồi giáo ở Kashmir, bảo vệ vũ khí hạt nhân của Pakistan và tìm cách thiết lập một chính phủ thân Pakistan tại Kabul.
Ngay từ đầu, quân đội Pakistan đã coi chính phủ của Tổng thống Afghanistan Hamid Karzai là một kẻ thù của Pakistan. Ngay khi Mỹ quyết định xâm lược Iraq vào năm 2003, Tướng Musharraf kết luận rằng Washington không quá nghiêm túc về cuộc chiến chống khủng bố và Taliban có thể được khôi phục ngấm ngầm. Tới năm 2006, cuộc nổi dậy của Taliban đã nổ ra.
Những sai lầm chết người
Chính quyền Bush không đơn độc trong việc hiểu nhầm những gì đang xảy ra ở Afghanistan và Pakistan. Giới truyền thông cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc làm thế giới hiểu nhầm về những việc đã diễn ra ở Afghanistan trong năm 2001. Truyền hình phát đi hình ảnh tên lửa Mỹ thắp sắp bầu trời đêm Kabul khi chúng phá hủy các văn phòng chính phủ hoặc các boongke. Trên thực tế, giao tranh diễn ra rất ít. Taliban là những chiến binh đủ từng trải nên không đợi tới khi bị đánh bom mới rút chạy. Những chiến hào của họ gần như trống rỗng. Những khoản tiền hối lộ lớn dành cho các tư lệnh đã giúp các đơn vị Taliban biến mất. Có lẽ những cố vấn Pakistan của họ đã nói với họ rằng nên chờ đợi để chiến đấu vào một ngày khác.
http://images.vietnamnet.vn/dataimages/200903/original/images1751099_af4.jpg Binh sĩ Afghanistan giao tranh với các chiến binh Taliban (AFP)Tôi đã đi theo sự rút chạy của Taliban từ Kabul tới Kandahar, đợi họ kháng cự. Thế nhưng, Taliban chưa bao giờ kháng cự. Tại thành cổ Ghazni, Taliban có một đơn vị xe bọc thép bị đánh bom tơi tả song gần như không có thương vong nào bởi các chiến binh đã khôn ngoan bỏ xe ngay khi nhận ra rằng họ sẽ bị không kích.
Chính tại Kandahar, Taliban đã biến mất song họ chưa bao giờ bỏ đi ra. Một số chiến binh vượt biên giới Afghanistan sang Pakistan trong khi những người khác quay trở lại làng quê của họ. Khi tôi hỏi tại một ngôi làng rằng liệu tôi có thể gặp các cựu tư lệnh Taliban không, họ nói rằng mất chừng một tiếng để tập hợp các cựu tư lệnh này tại nhà khách của làng bởi một số người sống tại các nông trại xung quanh.
Các tư lệnh này là những người tự tin và không mong đợi sẽ từ bỏ quyền lực mãi mãi. Dân làng phản đối Taliban chủ yếu là do Taliban ráo riết cấm họ trồng thuốc phiện. Ngay khi Mỹ ném những quả bom đầu tiên, nông dân địa phương nói rằng họ đã cày cuốc cánh đồng và trồng thuốc phiện “với lý do Taliban còn bận tâm về các việc khác nên không nghĩ về việc thực thi cấm trồng thuốc phiện”. Họ nói rằng vụ mùa đã thất bát do hạn hán và trồng thuốc phiện là cách duy nhất để có tiền trả nợ.
Taliban không được công chúng ủng hộ trên toàn Afghanistan. Họ chưa bao giờ giành được sự ủng hộ bên ngoài Pushtun, cộng đồng chiếm khoảng 40% dân số Afghanistan. Người Tajiks, chiếm khoảng ¼ dân số, là trụ cột của Liên minh miền Bắc đối lập cùng với người Uzbeks mà chiếm 6% nữa. Người Hazaras ở miền Trung Afghanistan chiếm 18% dân số và đã bị các phần tử Taliban Sunni khủng bố.
Sau sự sụp đổ của Taliban, có hy vọng trên toàn Afghanistan rằng cuộc sống có lẽ sẽ trở nên tốt đẹp hơn. Các báo cáo về Afghanistan thường tập trung vào bạo lực chứ không phải sự đói nghèo. Trên thực tế, Afghanistan là một trong những quốc gia nghèo nhất trên thế giới. Theo chỉ số đói nghèo 2007-2008 của thế giới do UNDP đưa ra, Afghanistan đứng thứ 174 trong tổng số 178 nước. Mặc dù có một số tiến triển tích cực sau năm 2001 song không đủ.
“Thậm chí sau gần 7 năm nhận viện trợ tái thiết và phát triển, một bộ phận lớn dân số vẫn không có nhà ở, nước sạch, điện và không đủ ăn. Phụ nữ Afghanistan đối mặt với tỷ lệ mù chữ và tử vong cao nhất trên thế giới và thất nghiệp vẫn ở khoảng 40-70%”, theo báo cáo của Trung tâm nghiên cứu lãnh đạo toàn cầu tại London.
Bất chấp những cam kết viện trợ của quốc tế, chỉ có 15 tỷ USD trong tổng số 39 tỷ được cam kết ban đầu đã được giải ngân, theo báo cáo của Oxfarm/Acbar năm 2008. Trong số này, 40% trở lại các nước tài trợ dưới dạng lợi nhuận công ty và tiền lương của các nhà tư vấn.
Nền kinh tế Afghanistan bị tàn phá nặng nề do chiến tranh kể từ năm 1980 tới nay. Có rất nhiều vấn đề dù ai đang cầm lái đi nữa, dù đó là Mỹ, chính phủ Afghanistan hay các cơ quan viện trợ. Chính phủ hiệu quả nhất cũng khó có thể giải quyết được các vấn đề này. Iraq, nạn nhân của 30 năm chiến tranh và cấm vận, ít nhất cũng có chính quyền trung ương. Tuy nhiên, tại Afghanistan, chính phủ của ông Karzai có quyền lực rất hạn chế bên ngoài Kabul. Thay vào đó, quyền lực vẫn nằm trong tay của các tư lệnh và các chỉ huy dân quân - những kẻ ăn bám dân số và bị người Afghanistan ghét cay ghét đắng.
Việc Taliban lên nắm quyền vào những năm 1990 phần nào là do họ có thể thay thể các tư lệnh. Tuy nhiên, trên thực tế, thành công lên cầm quyền của Taliban là kết quả của sự thâu tóm hoặc mua chuộc các tư lệnh. Mỹ và chính phủ Karzai đã theo đuổi một chính sách tương tự sau năm 2001, do vậy quyền lực của các tư lệnh thực ra chưa bao giờ bị phá vỡ.
http://images.vietnamnet.vn/dataimages/200903/original/images1751101_af3.jpg Binh sĩ Anh đi qua một cánh đồng thuốc phiện (Reuters)Sức mạnh của Taliban phần nào phản ánh sự yếu kém của chính phủ. Sự yếu kém đó đã giúp Taliban lập ra một chính quyền song song tại nhiều nơi, thực hiện công lý của chính họ. Nhóm này cũng thu lợi nhờ vào chính sách thiếu khôn ngoan của các đội quân nước ngoài do Mỹ đứng đầu. Chẳng hạn, việc phá hủy cây thuốc phiện, mà chiếm 52% tổng GDP của Afghanistan, là chính sách bấy lâu nay của Mỹ.
Tuy nhiên, đặc phái viên mới của Mỹ tại Afghanistan và Pakistan là Richard Holbrooke tuần này đã coi kế hoạch trên là “lãng phí và không hiệu quả”. Ông cho rằng 800 triệu USD được chi cho việc loại bỏ cây thuốc phiện lẽ ra sẽ giúp ích nhiều hơn nếu được trao cho các nông dân Afghanistan. Các nguồn khác nói rằng Taliban thậm chí còn hoan nghênh chương trình trên của Mỹ bởi nó khiến nông dân càng xa lánh chính quyền Karzai và đẩy giá thuốc phiện mà Taliban dự trữ lên cao.
Tăng quân Mỹ tại Afghanistan có lẽ ngăn được sự suy yếu hơn nữa của chính phủ Afghanistan nếu có đủ quân được triển khai và đủ tiền chi tiêu. Tuy nhiên, Mỹ không thể làm tất cả mọi việc họ muốn. Taliban sẽ không bao giờ bị đánh bại chừng nào còn các căn cứ ở vành đai Pushtun bên trong vùng Tây Bắc Pakistan. Quân đội Pakistan có lẽ cũng không chống lại Taliban chừng nào còn coi Taliban là một trong ít các đồng minh chống Ấn Độ.
Các cuộc không kích của Mỹ vào Taliban và al-Qaeda bên trong Pakistan có thể tiêu diệt một số lãnh đạo song sẽ khiến dân chúng Pakistan thêm tức giận. ISI có lẽ không trực tiếp kiểm soát cuộc nổi dậy ở Afghanistan song có thể ngầm phá hoại nó. Khả năng này của ISI chính là đòn bẩy để Pakistan gây áp lực với Mỹ, ngăn Mỹ khỏi đi quá xa trong việc liên minh với Ấn Độ.
Một trong những thành tựu chính của chiến lược tăng quân tại Iraq là tạo cho công chúng Mỹ ấn tượng rằng Mỹ đã giành chiến thắng. Và chiến thắng đó đã cho phép người Mỹ đồng ý rút quân về nước.
Sự tăng quân tại Afghanistan có thể đóng một vai trò tương tự. Một trong những lý do chính để giữ quân đội Anh và Mỹ ở đó là bởi rút quân lúc này quả là mất mặt. Tuy nhiên, vai trò của các đội quân nước ngoài tại Afghanistan luôn có tính hai mặt. Họ ủng hộ chính phủ Karzai song cũng khiến chính quyền này bị mang tiếng là một chính quyền bù nhìn. Sử dụng sức mạnh quân sự tại các làng mạc của Afghanistan có nghĩa là không thể tránh thương vong của dân thường và làm gia tăng sự ủng hộ của người dân đối với Taliban.
Bất chấp những nỗ lực nói trên, Obama nói rằng chiến thắng quân sự là không khả thi. Giống như quân đội Anh trong thế kỷ 19 và Liên Xô trong thế kỷ 20, người Mỹ đang cảm thấy rằng nỗ lực đóng quân ở Afghanistan hoàn toàn không đáng.