PDA

View Full Version : [Tin tức] Quan hệ Mỹ-Trung-Úc



anh2
20-03-2012, 12:26 PM
Australia: Chọn Mỹ hay Trung Quốc?

Sức mạnh toàn cầu đã chuyển dịch về châu Á - Thái Bình Dương và chúng ta đang đi giữa một ranh giới. Lịch sử của chúng ta là quá khứ với những lúc thăng trầm. Và tương lai nằm ở vị trí địa lý...



http://imgs.vietnamnet.vn/Images/2012/03/17/06/20120317062716_au.jpg


Tổng thống Mỹ Obama, Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo và Thủ tướng Australia Julia Gillard. Ảnh: AP


Tác giả bài viết là Richard Woolcott, nguyên là một nhà ngoại giao kỳ cựu của Australia. Bài viết này rút ra từ tài liệu đệ trình của ông cho Sách Trắng ''Australia trong thế kỷ châu Á”.

Tầm quan trọng tiềm năng của châu Á và sự cần thiết điều chỉnh môi trường địa lý với Australia không phải là điều mới mẻ. Các chính phủ nối tiếp đã chủ trương việc này, nhưng phản ứng của chúng ta tới nay vẫn không theo kịp các tuyên bố đưa ra và không thích hợp.

Một lưu ý mới và cấp bách là sự chuyển dịch thịnh vượng chưa từng có từ Tây sang Đông, và được dự báo sẽ tiếp tục trong tương lai. Tình hình thay đổi rất lớn ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương, bắt nguồn từ sự trỗi dậy đặc biệt của Trung Quốc, nhưng cũng còn là sự gia tăng mạnh mẽ của Ấn Độ, của nền kinh tế tiếp tục được củng cố Nhật Bản và Hàn Quốc, của tiềm năng đang lên Indonesia và Việt Nam... Đó là một bước ngoặt lịch sử mà Australia phải đối mặt.

Châu Á - Thái Bình Dương giờ đây là khu vực mà quan hệ giữa các cường quốc lớn trên thế giới “giao cắt” nhau gần nhất. Nó cũng là nơi khuôn mẫu cho quan hệ Mỹ - Trung phần lớn sẽ định hình. Và cũng là “chảo lửa” thử thách các vấn đề châu Á trong quan hệ giữa Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Nga, Indonesia, Hàn Quốc và các nền kinh tế lớn của ASEAN.

Để củng cố vị trí ở châu Á, Australia cần thay đổi căn bản tâm lý quốc gia, tập trung nhiều hơn vào châu Á thay vì mối quan hệ truyền thống với Mỹ, Anh và châu Âu. Và một nhiệm vụ quan trọng khác cần xác định là sự tiếp cận cân bằng hợp lý, hợp thời hơn trong quan hệ với Mỹ và Trung Quốc - một nước lớn đang trỗi dậy.

Chúng ta cần phải thẳng thắn trong đánh giá rằng, Mỹ - mặc dù sẽ tiếp tục là một cường quốc chính trong thế giới ở tương lai gần - có thể tương đối yếu đi.

Australia có thể chậm chân trong mối quan hệ với các nước lớn, với khu vực và quan hệ song phương với Trung Quốc.

Chúng ta không nên e ngại sự thay đổi hướng tới tương lai. Ví dụ, hiệp ước ANZUS giờ đây đã trải qua 60 năm nghĩa là có thể lỗi thời và không nên được xem là sự đảm bảo tuyệt đối của những hỗ trợ quân sự Mỹ, cũng không phải lá bài chính trị. Australia nên gửi đi một tín hiệu rõ ràng với Trung Quốc và Mỹ rằng, trong khi chúng ta có các giá trị khác biệt so với Trung Quốc và một mối quan hệ đồng minh với Mỹ, thì chúng ta hoan nghênh sự gia tăng của Trung Quốc, phản đối các chính sách nhằm “ngăn chặn” Trung Quốc và không có lý do gì Trung Quốc không thể tiếp tục trỗi dậy hòa bình.

Thất bại trong việc thích nghi với một Trung Quốc đang lên có thể dẫn tới bất ổn trong tiến trình hợp tác khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Chúng ta không nên tham vấn và trao đổi với người Trung Quốc ở cấp nhà nước, cấp bộ và cộng đồng doanh nghiệp như cách thông thường chúng ta làm trong thế kỷ châu Á. Chúng ta nên đặt mục tiêu tiếp cận như những gì chúng ta đã phát triển với Mỹ, khi các nhà lãnh đạo chính trị và doanh nghiệp có thể trao đổi với nhau thường xuyên qua điện thoại.

Chúng ta vẫn thiếu cam kết sâu sắc với Trung Quốc và khả năng hiểu toàn diện các quan điểm của người Trung Quốc. Cũng như liên minh không tương đương với sự tuân thủ, hiểu biết không đánh đồng với thỏa thuận.

Chúng ta cần xây dựng và cải thiện thói quen thường xuyên tham vấn, đặc biệt với các nước chính ở châu Á trước khi quyết định những chính sách lớn, đặc biệt là chính sách ấy sẽ ảnh hưởng tới họ.

Một ví dụ cho sự thất bại của chúng ta gần đây là quyết định (sau đó hủy bỏ) cấm xuất khẩu gia súc sống tới Indonesia. Rồi tuyên bố sẽ thành lập trung tâm tị nạn ở Đông Timor. Và thứ ba là tuyên bố trong khuôn khổ chuyến công du của Tổng thống Mỹ Barack Obama năm ngoái về việc triển khai 2.500 lính thủy đánh bộ Mỹ tới Darwin.

Chúng ta phải tránh gây ra bất kỳ nhận thức nào ở các nước châu Á rằng, phân biệt chủng tộc và tôn giáo vẫn hiện diện trong quan điểm chính trị của Australia. Vì lịch sử và một số chính sách, chúng ta vẫn khiến nhiều người châu Á chưa chắc chắn bởi các cam kết sâu sắc và thành thật của chúng ta với châu Á, với khu vực láng giềng tây nam Thái Bình Dương.

Chúng ta có xu hướng giảng giải quá nhiều và lắng nghe quá ít. Hình thức thể hiện ưu thế đạo đức, thái độ “anh cả” và sự tập trung quá mức vào chủ nghĩa khủng bố có thể làm sai lệnh các ưu tiên của Australia.


Chìa khóa cho một tương lai tốt đẹp hơn với Australia là tập trung vào các nguồn lực giới hạn trong khu vực, không để bị lôi kéo và các cuộc xung đột ở xa khiến chúng ta có thể đi sai đường trong các lợi ích quan trọng.

theo VNN (http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/64519/australia--chon-my-hay-trung-quoc-.html)

anh2
20-03-2012, 12:30 PM
- Tháng 11 năm ngoái, có tin Úc sẽ đón 2.500 binh sĩ thủy quân lục chiến Mỹ đồn trú tại Darwin. Sau đó đến lượt Singapore mở cửa cho một số tàu chiến Mỹ vào và đóng căn cứ. Có báo chạy tít: “Mỹ bao vây Trung Quốc!”. Thật sự điều gì đã xảy ra và vì sao?



http://phienbancu.tuoitre.vn/tianyon/ImageView.aspx?ThumbnailID=552316


Tổng thống Barack Obama bắt tay lính Mỹ và Úc tại căn cứ ở Darwin (Úc) sau cuộc nói chuyện ngày 17-11-2011 - Ảnh: Nationalpost.com


Cho dù có kình chống “một mất một còn” nữ Thủ tướng Julia Gillard trong việc tranh chấp ghế lãnh đạo Đảng Lao động Úc, song ngoại trưởng Kevin Rudd (vừa từ chức ngày 22-2) cũng cho thấy nội bộ đảng cầm quyền ở Úc vẫn thống nhất điều này: họ muốn mời Mỹ cử quân sang đóng tại Úc.
Lựa chọn bước ngoặc của Úc
Tháng 11 năm ngoái, trước hội nghị thượng đỉnh APEC, ông Kevin Rudd ngỏ lời sau cuộc gặp Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton tại Hawaii: “Người Úc chúng tôi đang sống trên một lục địa có bờ biển dài đến 32.000km, dân số (chỉ) 22 triệu người, luôn đặt an ninh quốc gia của mình trên một liên minh chiến lược mạnh mẽ, đặc biệt do những kinh nghiệm trải qua trong Thế chiến thứ hai... Chúng tôi đợi tổng thống Mỹ đến thăm Canberra vào tuần tới để ông cùng thủ tướng chúng tôi khẳng định chúng tôi sẽ hợp tác quốc phòng đến đâu trong tương lai” (1).
Không đầy một tuần sau, hôm 16-11-2011 Tổng thống Mỹ Barack Obama và Thủ tướng Úc Julia Gillard cùng loan báo việc 250 binh sĩ thủy quân lục chiến Mỹ sẽ khởi sự đến đồn trú tại cảng Darwin của Úc từ đầu năm 2012, đến tài khóa 2016-2017 sẽ tăng lên 2.500 quân. Thủy quân lục chiến Mỹ không những sẽ cùng quân đội Úc tập trận mà sẽ lần đầu tiên tập trận “một mình” trên lãnh thổ Úc.
Đây là một chọn lựa bước ngoặt ở Úc vốn đang coi trọng việc giao thương với Trung Quốc. Các trường kinh doanh hay luật ở Melbourne, Sydney từ lâu đã hướng sinh viên đến thực tế giao thương khổng lồ so với một đất nước chỉ 22 triệu dân: Đại sứ quán Trung Quốc tại Úc cho biết năm 2009, trao đổi hàng hóa và dịch vụ hai chiều Úc -Trung Quốc lên đến 85,1 tỉ AUD (tương đương chừng đó USD).
Năm 2009, Trung Quốc qua mặt Nhật Bản để trở thành thị trường xuất khẩu số 1 của Úc: nhập của Úc 42,2 tỉ AUD, tăng 31,2% so với năm trước Úc bán cho Trung Quốc. Nếu biết rằng cũng trong năm 2009, Trung Quốc nhập từ khắp thế giới 628 triệu tấn quặng sắt (2) thì có thể thấy việc nhập từ mỗi mình Úc đến 266,2 triệu tấn quặng sắt (trị giá 21,7 tỉ AUD) là quan trọng như thế nào.
Úc không chỉ là mỏ sắt lớn nhất cung cấp đến 42,3% lượng quặng sắt Trung Quốc nhập khẩu, mà còn là mỏ sắt tương đối gần nhất, an toàn nhất về mặt vận chuyển. 266,2 triệu tấn quặng sắt tương đương 866 chuyến tàu hàng trọng tải 300.000 tấn/năm, tức 2,3 chuyến/ngày. Trung Quốc không chỉ nhập sắt từ Úc mà còn nhập than, khí đốt, thuê cả một trạm rađa dẫn đường vệ tinh ở Mingenew, cách Perth 400km về phía bắc.
Quan hệ buôn bán đang thuận buồm xuôi gió như thế, bỗng dưng trạm theo dõi vệ tinh mà Trung Quốc thuê ở Mingenew ấy lại bị cho là “trạm do thám” (3) và nay thủy quân lục chiến Mỹ nhảy vào “canh”!
Trận " Trân Châu cảng" của nước Úc

Ba tháng sau chuyến thăm của Tổng thống Mỹ Obama, hôm 22-2 nữ Thủ tướng Gillard cùng đại sứ Mỹ tại Úc Jeffrey Bleich đã long trọng tưởng niệm ngày mà bà gọi là “ngày đen tối nhất” trong lịch sử Úc, là “trận Trân Châu cảng của nước Úc”... “mà từ đó mối quan hệ xa xôi giữa Úc và Mỹ trước thế chiến đã trở thành một liên minh mạnh mẽ và lâu dài” (4). 89 thủy thủ của chiến hạm USS Peary đã chết cùng với tàu của mình tại cảng Darwin trong trận đột kích tháng 2-1942 của quân đội Nhật.
Trận “Trân Châu cảng của nước Úc” mà bà Gillard nhắc lại đó chính là vụ không kích bất ngờ bắt đầu lúc 8g45 sáng 19-2-1942. Y hệt như vụ Trân Châu cảng hôm 7-12 trước đó, sự phòng vệ cảng Darwin cũng như lãnh thổ Bắc Úc không hữu hiệu trước một quân đội Thiên hoàng vốn từng chứng tỏ là “xuất quỷ nhập thần” ở Trân Châu cảng.
Thật vậy, 10 ngày trước ngày N, một máy bay thám thính của Nhật đã quần đảo trên cảng Darwin vào lúc một tàu sân bay (chiếc USS Langley) cùng năm khu trục hạm và 21 tàu hàng dân sự đang neo đậu.
Trên lý thuyết, vào lúc đó trong số hai phi đội số 12 và số 13 của không quân Úc với 30 máy bay huấn luyện CAC Wirraway được cải biến thành máy bay chiến đấu và oanh tạc cơ hạng nhẹ Lockheed Hudson đang đóng căn cứ trên hai sân bay lân cận, theo kế hoạch để hỗ trợ phòng thủ cho quân đồng minh tại Đông Ấn Hà Lan (tức Indonesia sau này) trước làn sóng tấn công của bộ binh Nhật vào các hòn đảo Ambon và Timor.
Ngoài ra còn có sáu chiếc oanh tạc cơ hạng nhẹ Lockheed Hudson của phi đội số 2 vừa từ đảo Timor di tản về sáng sớm hôm đó. Đáng phiền là toàn bộ sáu chiếc chiến đấu cơ CAC Wirraway của phi đội số 12 lại bất khả dụng, không cất cánh được.
Thành ra coi như quân Nhật chưa đánh đã chiếm ưu thế tuyệt đối trên không. Trên một bình diện khác, từ tháng 1 trước đó, hai tàu ngầm Nhật I-121 và I-123 đã bắt đầu rình rải mìn ngoài khơi cảng Darwin, khóa chặt cảng này.



http://phienbancu.tuoitre.vn/tianyon/ImageView.aspx?ThumbnailID=552317


Các mũi tấn công của Nhật vào Darwin tháng 2-1942 - Ảnh: Battle of Darwin


Không kích từ tàu sân bay

Đúng 8g45 sáng 19-2-1942, bốn tàu sân bay Nhật Akagi, Kaga, Hiryu và Soryu thuộc hạm đội tàu sân bay số 1, từng đánh trận Trân Châu cảng do phó đô đốc Chuichi Nagumo chỉ huy, đồng loạt tung 188 máy bay chiến đấu Zero và oanh tạc cơ D3A cùng B5N. Lực lượng không kích này do Mitsuo Fuchida, “người hùng” đã dẫn đầu đợt tấn kích đầu tiên trong trận Trân Châu cảng tháng 12 trước đó, chỉ huy.
Bên cạnh các máy bay của hải quân cất cánh từ lực lượng tàu sân bay còn có 54 oanh tạc cơ của không quân cất cánh từ Ambon và Kendari, vốn thuộc Đông Ấn Hà Lan, mới bị quân Nhật chiếm đóng trong khoảng thời gian từ tháng 12-1941 và giữa tháng 2-1942. Đảo Java và đảo Timor bị Nhật chiếm vào cuối tháng 2-1942.
Trên đường bay đến Darwin, các chiến đấu cơ Zero của Nhật đã bắn hạ một chiếc PBY Catalina của hải quân Mỹ và một máy bay vận tải C-47 của không quân Mỹ gần đảo Melville. Đến 9g15, tức 30 phút sau khi lực lượng máy bay Nhật cất cánh, một quan sát viên bờ biển trên đảo Melville phát hiện máy bay Nhật, liền điện báo ngay về Bộ chỉ huy không quân Úc ở Darwin. Bộ chỉ huy lại cho rằng đó là một phi tuần chiến đấu cơ P-40 của Mỹ đang bay về Darwin sau khi hủy bỏ chuyến bay đến đảo Timor.
Hậu quả là y hệt như ở Trân Châu cảng, khi máy bay Nhật bổ nhào xuống “tàn sát”, lúc đó là 9g58, không ai kịp kéo còi báo động. Đến khi phi đội P-40 về đến Darwin thì lọt vào vòng vây của máy bay Nhật: bốn chiếc bị bắn hạ trên không, năm chiếc vừa đáp xuống trước đó bị phá hủy trên sân bay, chỉ mỗi một chiếc anh dũng chống trả và bắn hạ được hai oanh tạc cơ D3A đối phương.
Chiến hạm HMAS Gunbar của hải quân Úc là “nạn nhân” đầu tiên của một loạt chín chiếc Zero. Kế đến là chiếc USS Peary và USAT Meigs của hải quân Mỹ, các chiếc HMAS Mavie, MV Neptuna, Zealandia, Mauna Loa, British Motorist của hải quân Úc cùng kho nổi chở than đá Kelat. Đợt tấn công thứ nhất kết thúc lúc 10g40, phòng không Úc chỉ bắn hạ được bốn máy bay Nhật.
Không kích từ các hòn đảo lân cận
Câu trả lời có thể tìm thấy trong đợt không kích thứ nhì. Gần 1 giờ 20 phút sau khi các máy bay xuất kích từ các tàu sân bay rời mục tiêu cảng Darwin, đến lượt 27 chiếc oanh tạc cơ hai chong chóng Mitsubishi G3M và 27 chiếc Mitsubishi G4M, bay thành hai tốp ở độ cao 18.000 bộ (5.500m), xuất hiện từ hai hướng tây nam và đông bắc nhắm vào căn cứ không quân Darwin.
Đến 12g20, sau 20 phút thả bom, tất cả bỏ đi, không hề hấn gì. Thêm sáu oanh tạc cơ hạng nhẹ Hudson của không quân Úc bị phá hủy, một chiếc khác cùng một chiếc Wirraway bị hư hỏng nặng, hai máy bay chiến đấu P-40 và một oanh tạc cơ B-24 của không quân Mỹ bị phá hủy (5).
Làm thế nào các oanh tạc cơ Nhật có thể cất cánh từ đất liền bay đến Darwin được? Chẳng qua chúng cất cánh từ Ambon và Kendari. Nhìn lên bản đồ sẽ thấy Darwin nằm ở tọa độ 12°28' nam, 130°50' đông, trong khi Ambon nằm ở tọa độ 3°38' nam, 128°07'02” đông, còn Kendari ở tọa độ 3°56' nam, 122°29' đông, thuộc Đông Ấn Hà Lan, khoảng cách gần 9 vĩ tuyến, tức khoảng 1.000km.
Còn nếu tính từ căn cứ hải quân xuất phát Yokohama ở tọa độ 35°28'0” bắc, 139°27'59” đông thì khoảng cách lên đến khoảng 5.300km (khoảng 3.000 hải lý)! Những gì đã xảy ra ở Darwin năm 1942 giải thích những diễn biến mới ở Darwin năm 2012.
DANH ĐỨC
__________
(1) http://www.dailytelegraph.com.au/news/kevin-rudd-rejects-criticism-that-build-up-of-us-marines-in-darwin-will-damage-relations-with-china/story-e6freuy9-1226192957177 (http://www.dailytelegraph.com.au/news/kevin-rudd-rejects-criticism-that-build-up-of-us-marines-in-darwin-will-damage-relations-with-china/story-e6freuy9-1226192957177)
(2) http://www.chinamining.org/News/2010-01-14/1263456549d33404.html (http://www.chinamining.org/News/2010-01-14/1263456549d33404.html)
(3) Cameron Stewart, “Chinese military 'using WA station' to spy on warships”, The Australia, November 16, 2011
(4) http://wsws.org/articles/2012/feb2012/darw-f22.shtml (http://wsws.org/articles/2012/feb2012/darw-f22.shtml)
(5) Bombing of Darwin

theo TTO (http://tuoitre.vn/Tuoi-tre-cuoi-tuan/Cuoc-song-muon-mau/Phong-su-ho-so/481437/Darwin-70-nam-truoc.html)

anh2
26-03-2012, 03:20 PM
- Từ Đông Ấn Hà Lan, Nhật đưa quân tấn công chiếm Malaysia và Singapore. Khi đó, Malaysia là nhà cung cấp cao su và thiếc cho toàn thế giới. Ngày nay, Úc là vựa tài nguyên chiến lược của thế giới. Song song đó, vị trí chiến lược của giao thương hàng hải trong các vùng biển khu vực đang là mối quan tâm lớn.



http://123.30.128.27/static/img.news/2012/03/4f6aa34f2906c105807.jpg


Vịnh Wetar vốn là hành lang giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương - Ảnh: eoearth.org



Làm thế nào mà cách đây đúng 70 năm, hải quân Nhật có thể đưa được cả một hạm đội tàu sân bay cùng tàu hộ tống vượt 3.000 hải lý một cách ung dung đến thả bom lãnh thổ Bắc Úc? Chẳng qua do vào tháng 2-1942, hầu như toàn thể các đảo lớn của Đông Ấn Hà Lan đều rơi vào tay quân Nhật.
Chỉ 12 giờ sau cuộc không kích nhận chìm cảng Darwin, một hải đội Nhật gồm 13 tàu chở theo 6.000 quân đổ bộ lên đảo Timor của Đông Ấn Hà Lan, ở tọa độ 8°50' nam 125°55' đông, cách Darwin khoảng ba vĩ tuyến rưỡi, tức chỉ khoảng 420km (1)!
1942: Malaysia - Singapore thất thủ chỉ trong 55 ngày!
Triết gia Héraclite từng nghiệm ra rằng "không ai có thể tắm cùng một dòng sông những hai lần". Thế nhưng những hoài niệm chiến tranh lại là dòng sông muôn thuở! Người Úc năm 2012 có lý do để rùng mình nhớ lại trận Darwin 1942.
Người Malaysia và Singapore cũng thế, khi nhớ lại rằng quân Nhật khởi sự tấn công Malaya (tên gọi Malaysia lúc đó) hôm 9-12-1941 (cùng ngày với vụ tấn công Trân Châu cảng), một tháng sau chiếm thủ đô Kuala Lumpur (ngày 11-1-1942), một tháng sau đó đứng trước eo biển Johor nhìn vào Singapore rồi chiếm luôn chỉ trong vòng một tuần (15-2-1942), dù lực lượng Anh ở Singapore lúc đó khá mạnh với hai chiến hạm hiện đại nhất của hải quân Anh thời đó là Prince of Wales và Repulse!
Chỉ trong một ngày, máy bay Nhật đã tống táng hai chiến hạm tên tuổi này xuống đáy biển bằng thủy lôi, kinh hoàng đến nỗi Thủ tướng Anh Winston Churchill tận London sau này đã phải thuật lại trong hồi ký của mình: "Tôi gác điện thoại xuống. Cũng may lúc đó tôi đang chỉ một mình. Trong suốt chiến tranh, chưa bao giờ tôi phải chịu một cú sốc tối tăm mặt mày như thế!".
Trước đó, sau khi Kuala Lumpur thất thủ, Thủ tướng Churchill còn ra lệnh cho tướng Wavell, tư lệnh quân đội Anh tại đây, phải tử thủ và giữ cho được Singapore. Tướng Percival, chỉ huy mặt trận Singapore, đã sai lầm khi trải 100.000 quân Anh, Úc, Ấn... của mình trên 70 dặm bờ biển toàn bộ hòn đảo, trong khi quân Nhật dồn 23.000 quân vào eo biển Johor.Bảy ngày sau, tướng Percival đầu hàng vô điều kiện.
Tướng Gordon Bennett, chỉ huy quân Úc tại Singapore, than: "Cả chiến dịch của họ quả là khó tin: 550 dặm chỉ trong vòng 55 ngày bởi một đội quân Nhật tí teo chỉ gồm hai sư đoàn, cưỡi xe đạp cướp được và không có pháo binh yểm trợ" (2).
Tại sao Nhật lại đổ quân xuống tận Malaya? Năm 1939, Malaya sản xuất 40% lượng cao su và 60% lượng thiếc toàn thế giới và hầu hết là sang Mỹ (3). Cũng như ngày nay, Úc là mỏ sắt, mỏ than, mỏ khí đốt của thế giới và nhất là của Trung Quốc (đó là chưa kể mỏ uranium).
Ám ảnh 70 năm sau
Trong một phỏng vấn dành cho World Politics Review mới công bố hôm 28-2 (4), See Seng Tan, phó giám đốc Viện Nghiên cứu quốc phòng và chiến lược Đại học Nanyang (Singapore), giải thích tại sao Singapore lại tăng cường quan hệ chiến lược với Mỹ:
"Việc Mỹ thương thuyết với Singapore nhằm cho phép hải quân Mỹ được lập căn cứ cho một số tàu tuần duyên (LCS) tại Singapore được Trung Quốc xem như là một dấu chỉ cho thấy Mỹ sẵn sàng can thiệp vào các tranh chấp lãnh thổ trên biển Đông (theo cách gọi của Việt Nam). Cho dù Singapore không phải là một bên tranh chấp, nhưng vùng biển (Đông) ấy là tuyến giao thương sống còn đối với các nền kinh tế Đông Nam Á, và Singapore chia sẻ lợi ích của Mỹ trong việc bảo vệ tự do hàng hải trong các vùng biển khu vực".
Không chỉ cùng chia sẻ quan điểm với Mỹ trong vấn đề tranh chấp hay sự tự do hàng hải trên biển Đông, theo See Seng Tan, "Singapore từ lâu (còn) đã nhấn mạnh đến nhu cầu có một sự cân bằng thế lực trong khu vực. Các nhà lãnh đạo Singapore từ lâu đã tin rằng một sự hiện diện chiến lược mạnh mẽ của Mỹ tại Đông Nam Á chính là một lợi ích chung thiết yếu và rằng từ thời chiến tranh lạnh tới giờ, Chính phủ Singapore luôn tìm cách thuyết phục mọi chính quyền Mỹ, dù Dân chủ hay Cộng hòa, rằng nước Mỹ thuộc về châu Á...".
Trong một chuyến thăm Washington năm 2010, Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long nhấn mạnh: "Chúng tôi muốn điều này tiếp tục như thế. Chúng tôi xem đó không chỉ như là một tiện ích chiến thuật mà như là một sự tương trùng lợi ích".
Thái Bình Dương là của ai?
Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long, nữ Thủ tướng Úc Julia Gillard cùng nghĩ như thế. Nhưng Phó chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình lại nghĩ khác. Trong một phỏng vấn dành cho Washington Post trước khi đặt chân đến Mỹ, ông Tập Cận Bình nhấn mạnh: "Thái Bình Dương bao la dư chỗ cho Trung Quốc và Mỹ. Chúng tôi mong mỏi rằng Mỹ tôn trọng và đáp ứng một cách trọn vẹn với các lợi ích lớn cùng các mối quan tâm chính đáng của các nước châu Á - Thái Bình Dương" (5).
Giữa ASEAN và Trung Quốc mới chỉ dừng lại ở một tuyên bố ứng xử trên biển Đông (DOC) chẳng ràng buộc được ai, chứ chưa có được một quy tắc ứng xử (COC) ràng buộc lẫn nhau, huống hồ là với các nước khác trong châu Á - Thái Bình Dương như Hàn Quốc, Nhật Bản về những mối quan tâm và lợi ích tương tự!
Phát biểu trên hàm ý: 1. Mỹ là "ngoại nhân" so với châu Á - Thái Bình Dương, nếu có vào cũng chỉ là "vào ké" thôi; 2. Mỹ chưa tôn trọng các lợi ích cùng các mối quan tâm của các nước châu Á - Thái Bình Dương; 3. Nhân danh các nước ấy, Trung Quốc nay nhắc nhở Mỹ tôn trọng và đáp ứng... Tuy nhiên, không thấy ông Tập Cận Bình nêu ra danh sách những nước châu Á - Thái Bình Dương mà ông nhân danh đòi Mỹ tôn trọng và đáp ứng, cũng chưa có một văn kiện nào cho thấy các nước này cùng nhất trí chung những lợi ích và mối quan tâm đó với Trung Quốc.
Tranh giành Đông Timor, Fiji, Vanuatu...
Thật ra những kỷ niệm đau thương năm 1942 đâu thể "ám" mãi các chính phủ Úc, Singapore, Indonesia... nếu như không có những diễn biến tương tự. Tin tức về việc Trung Quốc trúng thầu xây cất trụ sở tổng hành dinh quân đội Đông Timor, sau đó tặng kèm 100 căn nhà tiện nghi khiến báo chí Úc "điên tiết". Không phải vì gói thầu này trị giá 9 triệu USD, một số tiền "nhỏ" trong những vuốt ve địa - chính trị, hay việc Đông Timor mua của Trung Quốc hai tàu tuần tiễu lớp Thượng Hải dài 43m, trị giá 28 triệu USD..., mà vì đó là một chọn lựa chiến lược.
Nếu nhớ rằng Timor chỉ cách Darwin có trên 400km thì bóng dáng quân nhân Trung Quốc ở Đông Timor mang một ý nghĩa khác. Càng đáng ngại hơn nữa khi Thủ tướng Đông Timor Xanana Gusmao nhiệt liệt tán dương sự giúp đỡ hào phóng của Trung Quốc, và đoan chắc rằng chính phủ của ông quyết siết chặt quan hệ quân sự với Trung Quốc.
Khi loan tin này, Nhân Dân nhật báo đã đặt tít "Liệu Trung Quốc sẽ xâm nhập quân sự vào Đông Timor?" rồi tự trả lời bằng một kết quả thăm dò trên mạng. Theo đó, chỉ có 35,59% nói "có" trong khi có đến 61,02% nói "không", 3,39% nói "không chắc lắm". Đáng tiếc là cuộc thăm dò trên mạng này chỉ đếm được có 59 người tham gia trả lời (6).
Nhân Dân nhật báo bổ sung "các nhà phân tích ngoại giao cao cấp phát biểu với báo giới Úc rằng việc Trung Quốc thọc sâu vào điều mà, theo truyền thống, vẫn được xem là "quả cầu ảnh hưởng của Úc" đã làm dấy lên những hồi chuông báo động ở Canberra (thủ đô Úc)", trước khi tiết lộ rằng "từ năm 1999 đến nay, Úc đã viện trợ cho Đông Timor hơn 1 tỉ USD".
Nhân Dân nhật báo thanh minh: "Theo các nhà quan sát quân sự, hai tàu tuần tiễu chỉ được Đông Timor sử dụng để bảo vệ ngành đánh cá của mình và không chứa bất cứ đe dọa gì đối với nước Úc. Việc Trung Quốc giúp xây tổng hành dinh quân đội Đông Timor cũng là một tiếp xúc quân sự song phương bình thường mà thôi".
Đúng là hai tàu tuần tiễu đó chẳng "đánh đấm" gì nước Úc, song việc xây tổng hành dinh quân đội Đông Timor lại "có gì". Đổi lấy việc xây tổng hành dinh đó, các công ty quốc phòng Trung Quốc đề nghị biếu không một trạm rađa "theo dõi hàng hải trong vịnh Wetar chiến lược", vốn là hành lang giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, kèm theo đội ngũ nhân viên là của Trung Quốc. Phía Đông Timor đã khước từ món quà kèm theo này (7).
Không chỉ với Đông Timor, Trung Quốc còn rất hào phóng với Fiji, Vanuatu, Papua New Guinea, những đảo quốc nhỏ ở Nam Thái Bình Dương. Rodger Baker, nhà phân tích của Hãng tin tình báo Stratfor, cho rằng: "Nếu Trung Quốc khởi sự các hoạt động của mình từ cảng Moresby (thủ đô Papua New Guinea) thì điều đó hoàn toàn khác với khởi sự từ đảo Hải Nam, nơi Trung Quốc đang xây dựng căn cứ cho hạm đội tàu ngầm của mình" (8).
Tất nhiên năm 2012 không (và chưa) phải là năm 1942, song có khi lịch sử là một sự lặp lại với vài sự đổi vai.
DANH ĐỨC

__________
(1) http://www.theaustralian.com.au/news/world/greater-scheme-of-war-frames-timor-as-japans-true-purpose-in-the-attack-on-darwin/story-e6frg6ux-1226274152668
(2) www.historylearningsite.co.uk/fall_of_singapore.htm (http://www.historylearningsite.co.uk/fall_of_singapore.htm)
(3) http://www.britain-at-war.org.uk/WW2/Malaya_and_Singapore/index.htm
(4) http://www.worldpoliticsreview.com/trend-lines/11616/global-insider-seeking-regional-stability-singapore-deepens-u-s-ties
(5) Views from China’s vice president, Washington Post, Monday, February 13
(6) http://www.peopleforum.cn/redirect.php?tid=34551&goto=lastpost
(7) http://www.theregister.co.uk/2011/05/09/wikileaks_east_timor/
(8) http://the-diplomat.com/flashpoints-blog/2011/12/15/does-china-worry-australia/

theo TTO (http://m.tuoitre.vn/chuyen-trang/Tuoi-Tre-Cuoi-tuan/108661,Lieu-co-hiem-hoa-moi.ttm)

viet_nguyen
26-03-2012, 10:21 PM
mỹ và úc là đồng minh truyền thống,trung quốc chỉ mới nổi thôi dù sao trung quốc chưa thể trở thành đối trọng ngay của mỹ trong tương lai gần được ít nhất phải 5 năm nữa

anh2
27-03-2012, 10:00 AM
Ý tác giả bài "Nam Thái Bình Dương chực nổi sóng" là muốn cảnh báo một thế lực mới trỗi dậy ở khu vực Á châu dùng Úc để làm bàn đạp, được ví như phát xít Nhật khi xưa với mưu đồ tính làm khối Đại Đông Á, phân định phạm vi ảnh hưởng ở khu vực Thái Bình Dương cũng như kiểm soát khu vực biển Đông Nam Á với đường lưỡi bò phi lý.

anh2
28-03-2012, 01:07 PM
http://www.thanhnien.com.vn/Pictures20123/SonDuan/Global-Hawk_nd.jpg



Một chiếc máy bay do thám không người lái của Mỹ - Ảnh: AFP


(TNO) Bộ trưởng Quốc phòng Úc Stephen Smith thông báo hôm 28.3 rằng, trong tháng tới, 250 lính thủy đánh bộ đầu tiên của Mỹ sẽ đến miền bắc nước Úc, nơi một trung tâm huấn luyện chung thường trực sẽ được xây dựng.
Tuy nhiên, đề xuất xây dựng một căn cứ không quân Mỹ tại một hòn đảo hẻo lánh của Úc tại Ấn Độ Dương chưa phải là ưu tiên, theo AP.
Vào tháng 11 năm ngoái, Mỹ và Úc thông báo kế hoạch gửi thêm nhiều máy bay chiến đấu của Mỹ và luân chuyển 2.500 lính thủy đánh bộ ở thành phố Darwin nhằm bảo vệ tốt hơn các lợi ích của Mỹ tại châu Á.
Tờ Washington Post cho biết Mỹ và các quan chức Úc vốn đang xem xét thiết lập một căn cứ không quân ở quần đảo Cocos.
Tờ báo này cho biết các máy bay đóng tại căn cứ trên quần đảo vốn nằm gần Indonesia hơn là lục địa Úc sẽ có vị trí tốt để tiến hành các chuyến bay do thám ở biển Đông.
Thế nhưng, ông Smith cho rằng, trong lúc quần đảo Cocos có thể sẽ nằm trong kế hoạch tăng cường quan hệ quân sự Mỹ - Úc thì một căn cứ không quân tại đó không phải là ưu tiên trong các cuộc đàm phán hiện tại.

theo TNO (http://www.thanhnien.com.vn/pages/20120328/uc-chuan-bi-don-250-linh-thuy-danh-bo-my.aspx)

anh2
03-04-2012, 01:03 PM
Tổng thống Mỹ Barack Obama (http://www.slate.fr/story/47379/etats-unis-chine-australie-pacifique-diplomatie-militaire)từng nói rằng chuyến thăm tới Úc cuối năm 2011 rằng Mỹ tăng cường hiện hiện ở Úc không phải là một dấu hiệu được đưa ra trước sức mạnh của Trung Quốc. Tuy nhiên, rõ ràng việc tăng cường có mặt về quân sự của mình ở Thái Bình Dương, Mỹ không nhằm mục đích nào khác ngoài mục đích này.
http://nghiencuubiendong.vn/images/stories/2414279253.jpg

Ông Rory Medcalf đánh giá chuyến thăm Ôxtrâylia hồi tháng 11/2011 của Tổng thống Mỹ Barack Obama không chỉ là cơ hội để trao đổi với Thủ tướng Julia Gillard về tình hình hay đời sống chính trị ở nước này cũng như trong khu vực, mà là chuyến thăm lịch sử với hai khía cạnh. Chuyến thăm là biểu tượng của việc tăng cường đáng kể liên minh giữa hai nước, với thông báo quân đội Mỹ được quyền tiếp cận đáng kể hơn khu vực miền Bắc Ôxtrâylia. Chuyến thăm đó cũng là bước đi đầu tiên hướng tới việc có thể thiết lập căn cứ quân sự trên lãnh thổ của một đồng minh, nước từ 60 năm nay chỉ bằng lòng với việc tiếp nhận các chuyến thăm, các cuộc tập trận và các cơ sở tình báo. Thông điệp được Tổng thống Barack Obama phát đi còn cho thấy nhiều hơn nữa về chiến lược của Mỹ ở châu Á. Trong một bài phát biểu với lối nói trực diện trước các nghị sĩ Ôxtrâylia tại Canbơrơ, ông Obama đánh một tín hiệu cực kỳ rõ ràng đến toàn thế giới: dù vấn đề tài chính của mình là như thế nào, Mỹ vẫn thực sự có mặt tại châu Á theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Tổng thống Obama cũng nói về những nét chính của một chiến lược khéo léo nhằm đối đầu với Trung Quốc đang trỗi dậy mạnh mẽ, điểm vào đó là những nỗ lực tái cam kết. Theo Tổng thống Obama, trong khi Mỹ chấm dứt các cuộc chiến tranh hiện nay, ông yêu cầu các quan chức phụ trách an ninh biến sự có mặt của Mỹ ở châu Á và các sứ mệnh của Mỹ ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương thành một trong những ưu tiên hàng đầu của Mỹ. Do vậy, cắt giảm ngân sách quốc phòng của Mỹ sẽ không gây một hậu quả nào đối với khu vực châu Á-Thái Bình Dương.
Đây là cách để Tổng thống Barack Obama trấn an Ôxtrâylia và đánh tín hiệu đến Trung Quốc. Tuyệt đại đa số người Ôxtrâylia ủng hộ thiết lập liên minh với Mỹ và nhiều người trong số họ tỏ ý lo ngại trước những hệ quả đối với an ninh của nước mình do Trung Quốc trỗi dậy. Theo kết quả một cuộc thăm dò dư luận do Lowy Institute thực hiện, 55% số người Ôxtrâylia được hỏi ý kiến cho biết họ sẵn tiếp nhận căn cứ quân sự Mỹ trên lãnh thổ nước mình. Tuy nhiên, một số người có thể ngạc nhiên khi thấy bài phát biểu của Tổng thống Barack Obama chứa đựng ít thông điệp dành cho họ hơn là cho các cường quốc châu Á, trước hết là Trung Quốc. Theo Tổng thống Barack Obama, đó là một quyết định vừa mang tầm chiến lược vừa được cân nhắc kỹ càng. Với tư cách là một nước châu Á-Thái Bình Dương, Mỹ sẽ phải đóng một vai trò quan trọng hơn và lâu dài hơn đối với định hướng và tương lai của khu vực này, thông qua việc mở rộng những nguyên lý cơ bản và phối hợp chặt chẽ với các nước đồng minh và bạn bè của mình. Phần đông người Ôxtrâylia sống ở các thành phố lớn đa văn hóa và tại các vùng ven đô thị nằm dọc bờ biển Đông-Nam. Chuyến thăm ngắn ngủi của Tổng thống Barack Obama - chỉ trong 28 tiếng - không lưu tâm đến cái mà họ cho là nước Ôxtrâylia đích thực. Tất cả những gì mà họ nhìn thấy ở thủ lĩnh của thế giới tự do đến thăm nước họ là hình ảnh về những địa điểm mà họ cho là quá xa vời hay quá tẻ nhạt nên không thể nâng tầm chuyến thăm lên được. Tuy vậy, bầu không khí cũng có một sắc thái tích cực nhất định: ở Ôxtrâylia, Tổng thống Barack Obama vẫn được dân chúng đón chào nồng nhiệt hơn ở phần lớn các nước khác, ít nhất là vì ông không phải là George W. Bush. Thái độ bẳn gắt của phái tả Ôxtrâylia khi nghĩ đến sự có mặt thường xuyên của quân đội Mỹ vẫn không thấm vào đâu so với khi họ công khai tỏ ra giận dữ trong chuyến thăm gần đây nhất của một tổng thống Mỹ vào năm 2003. Năm đó, ông Bob Brown, thủ lĩnh đảng Xanh, lớn tiếng phê phán tổng thống Mỹ đến mức người ta phải đưa ông ra khỏi nghị trường. Lần này, ông Bob Brown và đảng Xanh tỏ ra thận trọng và chịu khó ngồi nghe Tổng thống Barack Obama nói về cái hay của một liên minh, mặc dù họ phải cố gắng lắm mới chịu nổi.

Chuyến thăm của Tổng thống Barack Obama được chuẩn bị như thế nào để làm vui lòng người Ôxtrâylia? Bài diễn văn ông đọc tại Canbơrơ là con chủ bài trong chuyến thăm được lên kế hoạch lần thứ hai ở nước đồng minh cực Nam này. Phát biểu của Tổng thống Mỹ cho phép Thủ tướng Ôxtrâylia, bà Julia Gillard, nâng cao được uy tín của mình về chính sách đối ngoại. Hơn nữa, trong thời gian đó, bà đã phần nào tỏ ra mình là thủ lĩnh khi bày tỏ quyết tâm bác bỏ lập trường của Công đảng trong vấn đề bán urani cho Ấn Độ. Bà phải xoay xở với một chính phủ trong đó Công đảng là thiểu số, với một phe đối lập bảo thủ và quyết không buông tha, cũng như hậu quả của việc người tiền nhiệm Công đảng của mình là Kevin Rudd bị lật đổ trước đó. Tổng thống Barack Obama không quên nói những điều cần nói với công chúng Ôxtrâylia. Ông nhấn mạnh đến những điểm chung giữa hai dân tộc - giá trị dân chủ, câu chuyện thành công về di cư và lao động cực nhọc cũng như tiến bộ xã hội, quá trình chuyển tiếp từ một quá khứ đau thương đến công bằng về quyền và chung sống. Lời tri ân đó dĩ nhiên cũng được dành cho tình đoàn kết giữa Ôxtrâylia và Mỹ trong cuộc chiến, khi hai nước thực sự cùng đứng chung một chiến hào mỗi lần họ tham gia một cuộc xung đột lớn, từ sau Chiến tranh thế giới thứ Hai. Tổng thống Obama dành lời khen ngợi đặc biệt đối với quân đội Ôxtrâylia tại Ápganixtan với 32 người lính đã tử trận. Tại Darwin, thủ phủ của vùng lãnh thổ miền Bắc rộng lớn, cùng với Thủ tướng Julia Gillard, Tổng thống Barack Obama đọc một bài phát biểu trước quân đội Ôxtrâylia và đặt vòng hoa tưởng niệm 80 lính thủy Mỹ chết cùng tuần dương hạm USS Pearty trong một trận không kích của Nhật Bản vào năm 1942. Biểu tượng chính của chặng dừng chân ngắn ngủi ở Darwin lại mang tính chất đương đại và chiến lược hơn. Từ năm nay, thành phố nhỏ này sẽ đón nhận lính thủy đánh bộ Mỹ thay phiên nhau trong 6 tháng mùa khô.
Trong thời gian đầu, chỉ có một đại đội lính thủy đánh bộ Mỹ có mặt tại Darwin , sau đó được bổ sung thêm để lên tới 2.500 người trong vòng 5 năm. Lực lượng Mỹ sẽ tận dụng vùng đất mênh mông này để luyện tập cùng với quân đội Ôxtrâylia và cả của các nước đồng minh khác. Dần dần, cơ sở quân sự ở miền Bắc - và có thể cả miền Tây Ôxtrâylia - sẽ đón nhận tàu chiến và máy bay Mỹ viếng thăm với nhịp độ ngày càng dày đặc hơn. Tất cả những điều đó, đối với Mỹ, là cách để chuẩn bị cơ sở nhằm tận dụng vị trí địa lý có một không hai của Ôxtrâylia ở khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương nhằm tiếp cận dễ dàng hơn các điểm nóng có thể nổ ra trong khu vực. Tổng thống Barack Obama và Thủ tướng Julia Gillard đề cập nhiều đến cách thức mà quân đội hai nước - và trang thiết bị kỹ thuật của Mỹ được đặt thường xuyên ở Ôxtrâylia - có thể đóng góp vào các sứ mệnh nhân đạo hay hỗ trợ trong trường hợp xảy ra thảm họa thiên nhiên. Hai nước cũng coi trọng hơn nữa các mối đe dọa xuyên quốc gia như khủng bố, cướp biển và vận chuyển vũ khí hủy diệt. Một câu hỏi được đặt ra là tại sao Trung Quốc lại lo sợ trước sự tăng cường trục Mỹ-Ôxtrâylia? Vấn đề là khó có thể bỏ qua những ẩn ý của Trung Quốc sau khi việc thiết lập căn cứ lính thủy đánh bộ Mỹ ở Ôxtrâylia được công bố. Các nhà phân tích thuộc các nhóm tư vấn của Ôxtrâylia và Mỹ trong thời gian gần đây đã nói đến những lợi thế khi sử dụng Ôxtrâylia như một cơ sở cho lực lượng quân sự Mỹ do vị trí này nằm ngoài tầm phần lớn vũ khí của Trung Quốc. Hơn nữa, việc tiếp cận dễ dàng Ấn Độ Dương -con đường sống còn của Trung Quốc để cung ứng năng lượng - đặt ra những vấn đề tự nhiên về cơ hội phong tỏa. Đến lúc này, Bộ Ngoại giao Trung Quốc chỉ đưa ra tuyên bố công khai với giọng điệu nhũn nhặn, theo đó việc quân đội Mỹ đóng ở Ôxtrâylia là "không thích hợp lắm". Nhưng "Thời báo Hoàn cầu", một nhật báo theo tư tưởng dân tộc chủ nghĩa do Nhà nước kiểm soát và được xuất bản tại Bắc Kinh, đưa ra một thông điệp của phái cứng rắn hơn. Thông điệp đó cảnh báo Ôxtrâylia không nên coi Trung Quốc là "người không biết gì", nếu không sẽ bị kẹt giữa hai làn đạn. Lối nói này có khả năng khiến có thêm nhiều người Ôxtrâylia ý thức được sự cần thiết phải có đồng minh.
http://nghiencuubiendong.vn/images/stories/002_china_us.jpg
Theo chuyên gia các vấn đề quốc tế Peter Symonds, báo cáo về chiến lược quốc phòng của Ôxtrâylia được công bố đầu tháng 2/2012 là bằng chứng mới nhất về cuộc tấn công "thiếu trách nhiệm" và "hung hãn" chống Trung Quốc của Tổng thống Mỹ Barack Obama trên mọi mặt trận: ngoại giao, kinh tế và quân sự. Lý giải trên tạp chí "Mondialisation (http://www.mondialisation.ca/index.php?context=va&aid=29310)", ông Peter Symonds cho biết bản báo cáo này xác định quy mô của thỏa thuận về quân sự được Thủ tướng Ôxtrâylia Julia Gillard và Tổng thống Mỹ Barack Obama công bố vào tháng 11/2011. Trong khi việc đồn trú của gần 2.500 lính thủy đánh bộ Mỹ ở gần thành phố Darwin (Bắc Ôxtrâylia) được báo chí đề cập nhiều, thỏa thuận trên cho phép tàu chiến và máy bay chiến đấu của Mỹ được nhiều quyền tiếp cận các căn cứ hải quân và không quân của Ôxtrâylia. Bản báo cáo trên cũng đề cập rõ ràng đến việc nâng cấp lớn các cơ sở quân sự ở miền Bắc và miền Tây Ôxtrâylia, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho hải quân và không quân Mỹ tiến hành các chiến dịch lớn ở Ấn Độ Dương và dọc các tuyến đường hàng hải quan trọng chạy qua Đông Nam Á. Khi kiểm soát được các "yết hầu" đó, chẳng hạn như eo biển Malắcca, trong trường hợp xảy ra chiến tranh, Mỹ có khả năng ngăn chặn Trung Quốc tiếp cận các nguồn cung ứng năng lượng và nguyên liệu từ châu Phi và Trung Đông. Trong khi việc tăng cường quân sự rõ ràng nằm trong khuôn khổ kế hoạch của Mỹ chống Trung Quốc, báo chí Ôxtrâylia lại chạy những hàng tít lớn coi đó là "quyết định bảo vệ tài nguyên ở miền Bắc" và nói rằng "miền Bắc Ôxtrâylia là vùng dễ bị đánh quỵ". Nhưng không ai trả lời câu hỏi: Bảo vệ miền Bắc nước này là để chống lại ai? Với liên minh quân sự giữa Mỹ và Ôxtrâylia, không một nước ở gần nào, kể cả Trung Quốc, có khả năng chiếm đoạt các mỏ dầu và xâm lược "vùng phía Bắc thưa dân của Ôxtrâylia".
Hành động mở cửa cho quân đội Mỹ vào lãnh thổ mình của Ôxtrâylia là bằng chứng cho thấy đây là thái độ hiếu chiến chứ không phải xuất phát từ ý đồ phòng thủ, đồng thời biến nước này thành tiền đồn trong trường hợp Mỹ phát động một cuộc chiến tranh chống Trung Quốc. Việc báo chí Ôxtrâylia nói một chiều như vậy chỉ nhằm ru ngủ người lao động trước mối đe dọa nghiêm trọng nảy sinh do việc chính phủ Công đảng của nước này ủng hộ vô điều kiện chủ nghĩa quân phiệt Mỹ. Toàn bộ hệ thống chính trị, từ phe đối lập tự do dân tộc bảo thủ đến các nhóm được gọi là cực đoan hay đảng Xanh, đều im lặng trước các quyết định tội ác này. Báo cáo về chiến lược quân sự mới của Ôxtrâylia được công bố một cách vội vã chỉ nhằm mục đích đi trước đối với mọi sự chống đối trong các giới lãnh đạo ở nước này, trong bối cảnh căng thẳng địa chính trị ngày càng tăng. Việc Mỹ và các đồng minh châu Âu chuẩn bị can thiệp chính trị-quân sự vào Xiry, đồng thời tăng cường đe dọa quân sự chống Iran, ngăn cản trực tiếp lợi ích kinh tế và chiến lược của Trung Quốc và Nga. Chính quyền Obama cũng đang tăng cường áp lực đối với Trung Quốc ở khắp nơi tại châu Á. Việc Mỹ chuyển trọng tâm địa chiến lược sang khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương trong 3 năm trở lại đây là lý do giải thích tại sao nước này hung hãn can thiệp về phương diện ngoại giao vào các cuộc xung đột lãnh thổ ở biển Nam Trung Hoa (biển Đông-TTXVN), củng cố các liên minh với Hàn Quốc và Nhật Bản là hai nước tỏ thái độ xung khắc hơn đối với Trung Quốc và đồng minh của nước này là Bắc Triều Tiên, và công bố một sáng kiến kinh tế tầm cỡ - Hiệp định đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương - nhằm xác định phương thức của Mỹ trong thương mại khu vực không cần đến Trung Quốc.
Tại Đông Nam Á, Chính phủ Mỹ khích lệ Philíppin và Việt Nam tiếp tục theo đuổi với thái độ cứng rắn hơn các cuộc xung đột giữa các nước đó với Trung Quốc ở Biển Đông. Philíppin đang thương lượng với Oasinhtơn về một thỏa thuận quốc phòng mới phù hợp với hiệp ước mà Mỹ đã ký với Ôxtrâylia. Thỏa thuận với nước này dẫn tới sự có mặt hùng hậu hơn về quân sự của Mỹ ở ngay những vùng nước nhạy cảm về phương diện chiến lược và ở Biển Đông. Đồng thời, Lầu Năm Góc cũng đang thiết lập mối quan hệ chặt chẽ hơn với Inđônêxia, Thái Lan và Việt Nam. Mặt khác, Chính quyền Obama tìm mọi cách để tạo ra sự thay đổi ở Mianma, nước trước đây là đối tác thân cận nhất của Trung Quốc ở Đông Nam Á và là một hành lang tiềm tàng về vận chuyển và quá cảnh năng lượng từ Ấn Độ Dương về miền Nam Trung Quốc. Sau chuyến thăm nước này vào tháng 12/2011 của Ngoại trưởng Mỹ, Hillary Clinton, Mỹ thông báo thay đổi đại sứ và dỡ bỏ một phần các biện pháp trừng phạt đối với Mianma. Điều có ý nghĩa là kế hoạch của Giám đốc CIA, David Petraeus, sang thăm Mianma nhằm thiết lập mối liên hệ mật thiết hơn với cơ quan tình báo nước này. Các tác giả bản báo cáo về chiến lược của Ôxtrâylia nói trên hoàn toàn ý thức được chiến lược của Mỹ. Họ thận trọng công bố các "nhãn quan chiến lược chủ chốt" được dùng làm cơ sở cho báo cáo này, kể cả việc Trung Quốc mở rộng "tầm bao phủ sức mạnh và năng lực kiểm soát biển". Vấn đề an ninh trên các tuyến đường vận tải biển và cung ứng năng lượng sẽ là một động lực chiến lược của chiến lược này, đồng thời Biển Đông sẽ vẫn là một điểm nóng tiềm tàng chiến lược rộng lớn hơn ở châu Á-Thái Bình Dương. Động lực khiêu khích của Chính quyền Obama chống Trung Quốc làm trầm trọng thêm thế khó lựa chọn hiện nay của Ôxtrâylia. Đó là làm thế nào để cân bằng giữa việc hỗ trợ đồng minh chiến lược lâu dài - là Mỹ - và sự phụ thuộc nặng nề của Ôxtrâylia vào Trung Quốc về xuất khẩu khoáng sản.
Việc Oasinhtơn sẽ không cho phép bất kỳ một thái độ không rõ ràng nào được chứng minh qua việc Mỹ can dự không thể chối cãi được vào việc loại bỏ ông Kevin Rudd khỏi ghế Thủ tướng vào giữa năm 2010. Tội của vị cựu Thủ tướng này là định dung hòa sự căng thẳng giữa Mỹ và Trung Quốc trong khi Tổng thống Obama quyết tâm gia tăng áp lực với Bắc Kinh và đòi các đồng minh phải vững vàng chứ không được làm người trung gian hòa giải ngoại giao. Trong toàn khu vực, vấn đề nan giải đó cũng được đặt ra đối với chính phủ các nước phụ thuộc vào Trung Quốc về kinh tế và sợ đứng về phía đối lập với cường quốc quân sự bao trùm thế giới. Căng thẳng địa chính trị ngày càng tăng lại càng trầm trọng thêm do cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới ngày càng lan rộng. Để ngăn chặn tình trạng suy thoái kinh tế tương đối của mình, Mỹ dùng đến các cuộc phiêu lưu quân sự ngày càng thiếu trách nhiệm nhằm mục đích triệt phá tình trạng gia tăng đối thủ tiềm tàng, trước hết là Trung Quốc. Cạnh tranh quyết liệt trên trường quốc tế đang diễn ra cùng với cuộc tấn công quyết liệt chống quyền dân chủ và lập trường xã hội của giai cấp công nhân ở các nước. Trong khi căng thẳng lại nổi lên, việc kích động thêm chủ nghĩa xôvanh nước lớn và lòng yêu nước chắc chắn sẽ gia tăng trong lúc các giới tinh hoa lãnh đạo tìm cách chế ngự sự phản kháng của người lao động trước các chương trình thắt lưng buộc bụng./.
Theo Mondialisation và Slate
nguồn NCBĐ (http://nghiencuubiendong.vn/quan-h-quc-t/2488-my-trung-uc)

anh2
06-04-2012, 10:25 AM
- Những mảnh của một ống kính vạn hoa chiến lược mới tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương bắt đầu sắp xếp thành hàng khi các đồng minh và đối tác an ninh của Mỹ tìm cách đối phó Trung Quốc để nước này không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực nhằm đạt được các mục tiêu mở rộng của mình, đặc biệt ở Biển Đông.



Nhóm lính thủy đánh bộ Mỹ đầu tiên đã tới Australia. Họ nằm trong số lực lượng lên tới 2.500 quân sẽ triển khai đến châu Đại Dương theo một thỏa thuận tháng 11 giữa lãnh đạo hai nước.

Singapore đang xúc tiến kế hoạch triển khai tàu tuần duyên (LCS) của Mỹ. Trong cuộc gặp ngày 4/4, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Leon Panetta và người đồng nhiệm Singapore Ng Eng Hen đã thảo luận về hợp tác an ninh ở châu Á -Thái Bình Dương.

Theo Lầu Năm Góc, hai bộ trưởng đã nhấn mạnh rằng "sự hiện diện mạnh mẽ của Mỹ tại châu Á -Thái Bình Dương củng cố sự ổn định và an ninh trong khu vực". Hai bên thảo luận về việc đề xuất Mỹ triển khai bốn LCS tại Singapore. Lầu Năm Góc tuyên bố các tàu chiến tiên tiến này sẽ được triển khai luân phiên và sẽ không đóng tại Singapore. Bộ Quốc phòng Mỹ khẳng định, việc triển khai LCS phát đi tín hiệu về "cam kết của Mỹ đối với khu vực và tăng cường năng lực đào tạo và can dự với các đối khác trong khu vực".





http://imgs.vietnamnet.vn/Images/2012/04/05/22/20120405221853_biendong.jpg


Ảnh: AP





Và, đồng minh Philippines của Mỹ cũng đang thương thảo với Washington về khả năng tăng cường các cuộc diễn tập hai bên tại Philippines cũng như gia tăng sự tiếp cận của hải quân Mỹ với các cảng ở quốc gia Đông Nam Á này.

Một số nước khác trong khu vực cũng đang thúc đẩy các khả năng quân sự để bảo vệ lợi ích hàng hải của mình.

Lính thủy đánh bộ Mỹ sẽ luân phiên nhau tới các căn cứ ở phía bắc Australia cho mục tiêu đào tạo và diễn tập, nhấn mạnh những gì mà Tổng thống Mỹ Barack Obama từng tuyên bố rằng, Mỹ quyết tâm đóng một vai trò lớn hơn và lâu dài trong việc định hình khu vực và tương lai của nó, bất chấp việc cắt giảm chi tiêu quốc phòng.

Vòng cung quân sự

Gần đây, tại Hàn Quốc, ông Obama đã lần nữa khẳng định rằng, việc giảm bớt ngân sách quân sự sẽ không bao gồm phạm vi châu Á - Thái Bình Dương. “Các lực lượng vũ trang Mỹ đang sẵn sàng ở lại để đối phó toàn diện với những mối đe dọa và sự việc bất ngờ”, ông nói.

Nhật Bản và Mỹ dự kiến sẽ hoàn tất thỏa thuận vào cuối tháng này về việc di chuyển 4.700 lính thủy đánh bộ Mỹ từ đảo Okinawa của Nhật tới Guam, một căn cứ quân sự chủ chốt của Mỹ ở tây Thái Bình Dương.

Tờ Yomiuri Shimbun thông tin rằng, cách bố trí lực lượng mới này sẽ chia đơn vị chỉ huy lính thủy đánh bộ, lực lượng mặt đất, các đơn vị không quân và hậu cần vào một vòng cung các căn cứ hình thành một sườn dọc theo vùng ven biển phía đông của Trung Quốc.

Lính thủy đánh bộ là mũi nhọn của quân đội Mỹ đã được triển khai ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Yomiuri nói việc trải rộng lực lượng khắp khu vực là để khiến cho bất kỳ vụ tấn công nước ngoài nào vào các căn cứ của họ trở nên khó khăn hơn, cũng còn là để đối phó với sức mạnh quân sự đang trỗi dậy của Trung Quốc và chuẩn bị tốt hơn cho việc đối phó thảm họa, hỗ trợ nhân đạo trong tương lai.

Mỹ cũng đang sắp xếp lại lực lượng ở tây Thái Bình Dương nhằm tập trung nhiều hơn vào việc duy trì ổn định ở Đông Nam Á và bảo vệ các tuyến đường vận chuyển hàng hóa cũng như năng lượng thông qua Ấn Độ Dương tới các nền kinh tế Đông Á - khu vực đang dẫn dắt tăng trưởng toàn cầu.

Trung Quốc cũng biểu lộ rằng, họ muốn hạn chế các hoạt động quân sự nước ngoài ở những khu vực rộng lớn của Biển Đông, cảnh báo Mỹ, Nhật Bản và nhiều nước trong khu vực phụ thuộc vào tự do hàng hải. Phần lớn thương mại của Australia kể cả việc nhập khẩu năng lượng tối quan trọng đều đi qua Biển Đông và giống như Mỹ, Nhật Bản chỉ có thể cung cấp sự hỗ trợ toàn diện cho các đối tác an ninh ở châu Á nếu như không bị hạn chế tiếp cận với các vùng biển quốc.

Cùng với sự hiện diện mới của Mỹ, Australia sẽ tăng cường sự tiếp cận của Mỹ với các sân bay quân sự ở phía bắc Australia và căn cửa hải quân chính của họ ở Ấn Độ Dương gần Perth. Về dài hạn, họ có thể cho phép Mỹ sử dụng một sân bay đã nâng cấp trên vùng lãnh thổ quần đảo Cocos và Keeling ở Ấn Độ Dương nhằm phục vụ cho các chuyến bay do thám hàng hải tầm xa bằng máy bay không người lái.

Mặc dù cả Mỹ và Australia đều thận trọng để tránh việc hiểu rằng việc tăng cường hợp tác an ninh của họ là nhằm đối phó với Trung Quốc, nhưng Bắc Kinh vẫn xem đây là một phần chiến lược ngăn chặn khu vực. Tờ Nhật báo Trung Quốc ngày 29/3 nêu: "Căn cứ mới (trên quần đảo Cocos) sắp tới sẽ cho phép Mỹ thực hiện các chuyến bay do thám ở Biển Đông”.

Mục tiêu Trung Quốc

Trung Quốc có mục tiêu rõ ràng là giành ưu thế ở “các vùng biển gần” gồm Hoàng Hải, Hoa Đông và Biển Đông - biến chúng trở thành vùng đệm an ninh mở rộng để bảo vệ Trung Quốc đại lục và cho phép nước này khai thác các nguồn cá cùng các tài nguyên dưới đáy biển rất giá trị gồm dầu, khí tự nhiên và khoáng sản.

Ba vùng biển này đều là nơi tranh chấp chủ quyền lãnh thổ và tuyên bố hàng hải giữa Trung Quốc với những nước láng giềng.

Tuyên bố chủ quyền của Bắc Kinh ở Biển Đông tới nay là rộng lớn nhất. Bắc Kinh khẳng định chủ quyền với các quần đảo tranh chấp chính cũng như vùng nước xung quanh và đáy biển. Họ cũng tuyên bố các hình thức thẩm quyền khác bao trùm khoảng 80% vùng biển này.

Cơ quan lập bản đồ của Trung Quốc gần đây cho biết sẽ làm rõ các tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc ở Biển Đông. Trong khi đó, một tập đoàn nhà nước dẫn đầu trong lĩnh vực thăm dò và tìm kiếm dầu khí thì tuyên bố, nguồn tài nguyên nước sâu sẽ thúc đẩy tăng trưởng của tập đoàn về trung và dài hạn.

Thời báo Hoàn cầu (Trung Quốc) bản tiếng Anh ngày 27/3 đã dẫn lời Trương Vân Lĩnh, giám đốc Viện Nghiên cứu quốc tế thuộc Viện Khoa học xã hội Trung Quốc: "Đa số các vùng biển tranh chấp đã vượt quá tầm tay của chúng tôi vì chúng tôi hiếm khi đặt tuyên bố chủ quyền của mình vào hành động. Bằng việc vẽ một bản đồ, đất nước có thể củng cố tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông và có những hành động xa hơn như khai thác nguồn tài nguyên gần quần đảo Nam Sa”, ông Trương nói. (Trung Quốc gọi Biển Đông là Biển Nam Trung Hoa, gọi hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa là Tây Sa, Nam Sa - ND).

Thái An (theo Japantimes)
theo VNN (http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/67188/my-va-dong-minh-truoc-mot-trung-quoc-troi-day.html)