PDA

View Full Version : [Thảo luận] [Công hàm 1958]Con tin trong tưởng tượng?!



hhhh
23-03-2012, 08:57 PM
Gần đây sau khi rùm beng về buổi thuyết trình của GS. Nguyễn Quang Ngọc, bên trang Ba Sàm có đăng thêm thông tin bình luận về "Công hàm 1958" với cứ liệu lấy từ trang history.hangqiu.com.




- Bữa kia BS có bình (http://anhbasam.wordpress.com/2012/03/21/tin-thu-tu-21-03-2012/) về cái tử huyệt chính trị của “đảng ta” trong tranh chấp biển đảo với “đảng bạn”, thì đây là thêm một dẫn chứng rất mới “bạn” đang tiếp tục thọc dao vào đó (sau những tiết lộ về màn “đi đêm” để dẫn tới hội nghị Thành Đô (http://vietsuky.wordpress.com/2012/02/29/74-truoc-va-sau-cuoc-gap-cap-cao-trung-viet-o-thanh-do/) và về đời tư CT HCM (http://vietsuky.wordpress.com/2012/01/31/63-mot-nguoi-vo-trung-quoc-khac-cua-ho-chi-minh/)): NĂM 1956 THỦ TƯỚNG VIỆT NAM TỪNG THỪA NHẬN CÁC ĐẢO Ở NAM HẢI THUỘC TRUNG QUỐC (http://vietsuky.wordpress.com/2012/03/22/92-nam-1956-thu-tuong-viet-nam-tung-thua-nhan-cac-dao-o-nam-hai-thuoc-trung-quc/) (Việt sử ký). “Bản đồ, báo chí… Việt Nam vào cùng thời kỳ cũng coi Tây Sa, Nam Sa là lãnh thổ Trung Quốc, chẳng hạn như “Bản đồ thế giới” do Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam vẽ năm 1960 đã chú thích ‘quần đảo Tây Sa (Trung Hoa)’, ‘quần đảo Nam Sa (Trung Quốc)’.”

Hai chữ “con tin” lờ mờ hiện lên sau những trò này, góp phần giải đáp cho câu hỏi “tại sao kẻ cướp vẫn được lớn tiếng la làng, còn người bị cướp thì không những không thèm kháng cự, mà còn cứ bình thản tự bịt miệng mình (và dân mình)?”






92. NĂM 1956 THỦ TƯỚNG VIỆT NAM TỪNG THỪA NHẬN CÁC ĐẢO Ở NAM HẢI THUỘC TRUNG QUỐC

Posted by vietsuky (http://vietsuky.wordpress.com/) on 22/03/2012
Trang mạng về lịch sử của Trung Quốc history.huanqiu.com (http://history.huanqiu.com/globaltimes/2011-07/1821419.html)
NĂM 1956 THỦ TƯỚNG VIỆT NAM TỪNG THỪA NHẬN

CÁC ĐẢO Ở NAM HẢI THUỘC TRUNG QUỐC

Thủ tướng từng thừa nhận thành văn chủ quyền Trung Quốc, sau lại ra văn bản chính thức để lấp liếm
14.7.2011
Tác giả: Tôn Lực Châu
Người dịch: Quốc Thanh


Việt Nam lật lọng về các đảo ở Nam Hải [i] (http://vietsuky.wordpress.com/Users/TinHocVang/Downloads/Ph%E1%BA%A1m%20V%C4%83n%20%C4%90%E1%BB%93ng.doc#_e dn1)

  Năm 1933, Đan Mạch và Na Uy kiện lên Tòa án quốc tế về vấn đề chủ quyền đảo Đông Greenland, cuối cùng Đan Mạch đã thắng. Một trong những căn cứ mà Tòa án quốc tế dựa vào để đưa ra phán quyết là vào năm 1919, Đại thần ngoại giao Na Uy từng bày tỏ với Công sứ Đan Mạch là không phản đối yêu cầu chủ quyền của Đan Mạch đối với Greenland – vụ án này thể hiện nguyên tắc “cấm phủ nhận” trong luật quốc tế. Về vấn đề tranh chấp Nam Hải suốt mấy chục năm qua giữa hai nước Trung-Việt cũng có những điểm tương tự: Trước năm 1974, bất luận là công hàm (bao gồm cả Công hàm của Thủ tướng Việt Nam Phạm Văn Đồng gửi Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai), tuyên bố của chính phủ Việt Nam, hay báo chí, bản đồ chính thức của họ, cũng đều thừa nhận các quần đảo Nam Sa [ii] (http://vietsuky.wordpress.com/Users/TinHocVang/Downloads/Ph%E1%BA%A1m%20V%C4%83n%20%C4%90%E1%BB%93ng.doc#_e dn2), quần đảo Tây Sa [iii] (http://vietsuky.wordpress.com/Users/TinHocVang/Downloads/Ph%E1%BA%A1m%20V%C4%83n%20%C4%90%E1%BB%93ng.doc#_e dn3) là lãnh thổ của Trung Quốc. Nhưng sau đó, ViệtNam lại lật lọng, không chỉ trực tiếp đưa quân đến chiếm Nam Sa, mà còn chuyển sang thái độ lấp liếm.
Trước thập kỷ 70, Việt-Trung không có tranh chấp đảo

Kể từ sau ngày Trung Quốc thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam (chỉ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tức Bắc Việt), trong thời gian suốt hơn 20 năm, Việt Nam luôn ủng hộ chủ trương của Trung Quốc đối với các đảo ở Nam Hải. Ngày 15 tháng 6 năm 1956, Thứ trưởng Bộ ngoại giao Việt Nam Ung Văn Khiêm đã trịnh trọng nói với Đại biện lâm thời Đại sứ quán Trung Quốc tại Việt Nam Lý Chí Dân: “Theo tư liệu từ phía Việt Nam, xét về mặt lịch sử, các quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa nên thuộc về lãnh thổ Trung Quốc”. Vụ trưởng Vụ Châu Á Bộ ngoại giao Việt Nam Lê Lộc có mặt tại đó cũng đã giới thiệu thêm các tư liệu từ phía Việt Nam, nêu rõ “xét về mặt lịch sử, các quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa đã thuộc về Trung Quốc ngay từ thời Tống”.
Ngày 4 tháng 9 năm 1958, chính phủ Trung Quốc ra tuyên bố độ rộng lãnh hải Trung Quốc là 12 hải lí, đồng thời nói quy định này được áp dụng cho tất cả mọi vùng lãnh thổ của Trung Quốc, bao gồm cả các quần đảo Đông Sa, quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa… Về việc này, báo “Nhân dân” của Việt Nam ngày 7 tháng 9 đã đăng bài bình luận nói tuyên bố của chính phủ Trung Quốc “là hoàn toàn chính đáng”, “nhân dân Việt Nam hoàn toàn tán thành”. Ngày 14 tháng 9, Thủ tướng Việt Nam Phạm Văn Đồng đã gửi công hàm cho Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai: “Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định này, đồng thời sẽ chỉ thị cho các cơ quan có trách nhiệm khi có những mối liên hệ trên biển và với nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, phải tôn trọng nghiêm chỉnh quy định độ rộng lãnh hải Trung Quốc là 12 hải lí”[iv] (http://vietsuky.wordpress.com/Users/TinHocVang/Downloads/Ph%E1%BA%A1m%20V%C4%83n%20%C4%90%E1%BB%93ng.doc#_e dn4). Bức thư này do Đại sứ ViệtNam ở Trung Quốc Nguyễn Khang trao cho Thứ trưởng Bộ ngoại giao Trung Quốc Cơ Bằng Phi.   
Bản đồ, báo chí… Việt Nam vào cùng thời kỳ cũng coi Tây Sa, Nam Sa là lãnh thổ Trung Quốc, chẳng hạn như “Bản đồ thế giới” do Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam vẽ năm 1960 đã chú thích “quần đảo Tây Sa (Trung Hoa)”, “quần đảo Nam Sa (Trung Quốc)”; năm 1962, báo “Nhân dân” Việt Nam có bài viết về quần đảo Tây Sa như sau: “Ngày 9 tháng 9 năm 1962, một chiếc máy bay U-2 khác đã xâm phạm vùng trời quần đảo Tây Sa thuộc Quảng Đông Trung Quốc, bị giải phóng quân bắn hạ”. Thậm chí sách giáo khoa của Việt Nam năm 1974 vẫn còn viết: “Từ các đảo Tây Sa , Nam Sa đến đảo Hải Nam, đảo Đài Loan, nhóm đảo Bành Hồ, quần đảo Chu Sơn đã tạo thành một bức trường thành bảo vệ đại lục Trung Quốc”.

Vào trước ngày thống nhất, Võ Nguyên Giáp đã chỉ huy quân xâm chiếm 6 đảo ở Nam Sa

Tháng 1 năm 1974, hải quân Trung Quốc đã đánh một trận với hải quân Việt Nam, đuổi hải quân Việt Nam ra khỏi quần đảo Tây Sa. Cũng có nghĩa là kể từ khi ấy, lập trường của Bắc Việt xuất hiện sự chuyển đổi rõ, tranh chấp đảo giữa hai nước bắt đầu từ đó. Trận hải chiến Tây Sa vừa kết thúc, hãng AFP đã dẫn lời của một “người có thẩm quyền” nói, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ đối với mọi quốc gia đều là “sự nghiệp thiêng liêng”, nhưng tranh chấp cần phải được giải quyết thông qua đàm phán. Điều này đối lập rất rõ với thái độ trước đó của Bắc Việt. Tháng 10 cùng năm, Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng lao động Việt Nam, Tổng biên tập báo “Nhân dân” Hoàng Tùng khi gặp các nhà báo Thái Lan đã nói: “Trung Quốc không phải là quốc gia của khu vực này, không nên có nhiều vùng biển đến thế theo tuyên bố của họ”.
Tháng 4 năm 1975, cùng với sự cận kề vĩ thanh của cuộc chiến tranh thống nhất Việt Nam, nhà lãnh đạo Bắc Việt Võ Nguyên Giáp nhanh chóng chỉ huy quân xâm chiếm Nam Sa. Theo tiết lộ từ đặc san “Về Hoàng Sa và Trường Sa” do Tạp chí “Lịch sử quân sự” thuộc Viện nghiên cứu lịch sử quân sự Bộ quốc phòng Việt Nam xuất bản năm 1988 thì vào đầu năm 1975, Bộ tư lệnh hải quân Việt Nam đã tiến hành công tác chuẩn bị “giải phóng Biển Đông và các đảo ở vùng biển Tây Biển Đông do quân ngụy chiếm giữ”. Ngày 4 tháng 4 năm 1975, Võ Nguyên Giáp đã gửi đến Quân khu 5 và Bộ tư lệnh hải quân một bức điện đặc biệt, yêu cầu nắm chắc kế hoạch tác chiến đã định, để thời cơ đến là kịp thời giải phóng quần đảo Trường Sa. Ngày 14 tháng 3, Võ Nguyên Giáp chỉ thị: “Quân địch (chỉ quân đội Nam Việt) rút khỏi đảo nào, chúng ta liền lập tức chiếm ngay lấy…”.   



Trận giành đảo này diễn ra chưa được bao lâu, thì ngày 7 tháng 5, Thông tấn xã Miền Nam Việt Nam liền phát tin “đã giải phóng” quần đảo Nam Sa. Sau đó, trên các báo “Nhân dân”, “Quân đội nhân dân” của Việt Nam đã cho đăng Bản đồ toàn quốc Việt Nam theo bản đã được chỉnh sửa, nhất là ở Bản đồ Việt Nam đăng trên báo “Quân đội nhân dân” lần đầu tiên đã chú thích quần đảo Nam Sa là lãnh thổ Việt Nam. Thông tấn xã Việt Nam chính thức cũng đưa tin, quân đội Việt Nam“đã giải phóng 6 hòn đảo quý của tổ quốc”. Trên Bản đồ quốc gia Việt Nam xuất bản vào tháng 5 cùng năm, phía Việt Nam ngang nhiên đưa các đảo ở Nam Sa vào bản đồ của mình.

Việt Nam công bố văn bản để lấp liếm sự thay đổi lập trường  

Thực ra, Trung Quốc và Việt Nam lúc này không còn là mối quan hệ “đồng chí anh em” ở thập niên 50 đã từ lâu, xung đột biên giới trên đất liền, Hoa kiều Việt Nam bị bức hại, tranh chấp vùng biển Vịnh Bắc Bộ … đã làm cho hai nước dần đi vào thế thù địch. Nhưng để bảo vệ đại cục Trung-Việt, trong bản tuyên bố công khai có liên quan, Trung Quốc vẫn tránh nhắc đến Việt Nam, mà sử dụng phương thức giao thiệp bí mật. Tháng 9 năm 1975, nhà lãnh đạo Việt Nam Lê Duẩn dẫn đầu Đoàn đại biểu Đảng và Chính phủ đi thăm Trung Quốc, lần đầu tiên chính thức đưa ra yêu cầu chủ quyền đối với các đảo ở Nam Hải. Đặng Tiểu Bình giữ chức Phó thủ tướng khi ấy đã nói với Lê Duẩn, giữa hai nước có sự bất đồng về vấn đề quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa, phía Trung Quốc có đầy đủ bằng chứng để chứng minh Tây Sa và Nam Sa từ xưa đến nay là thuộc về Trung Quốc… Nhưng theo nguyên tắc giải quyết bất đồng thông qua hiệp thương hữu nghị, vấn đề này có thể để lại thảo luận sau.
Tuy nhiên, tranh chấp Trung-Việt sau này lại không ngừng nóng lên, ngày 6 tháng 5 năm 1977, tờ “Daily Telegraph” của Anh với bài viết có tựa đề “Xung đột lợi ích của các nhà nước cộng sản ở Nam Hải” đã nói, cộng sản Hà Nội Việt Nam với sự giúp sức của Liên Xô, đã xây dựng một sân bay gọn nhẹ trên đảo Mỗ Gia Đức [v] (http://vietsuky.wordpress.com/Users/TinHocVang/Downloads/Ph%E1%BA%A1m%20V%C4%83n%20%C4%90%E1%BB%93ng.doc#_e dn5) (tức đảo Phí Tín của ta)”. Ngày 12 tháng 5, Việt Nam ra bản “Tuyên bố của Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam”, đặc biệt nhắc đến Tây Sa và Nam Sa là lãnh thổ Việt Nam.

Khoảng 1 tháng sau, Thủ tướng Việt Nam Phạm Văn Đồng sang thăm Trung Quốc, Phó thủ tướng Lý Tiên Niệm khi gặp mặt ông ta đã nói rõ, phía Việt Nam trước đây từng thừa nhận Nam Sa, Tây Sa là lãnh thổ của Trung Quốc, nhưng từ sau năm 1974 lập trường lại bắt đầu thay đổi, nhất là năm 1975 đã thừa dịp giải phóng Miền Nam xâm chiếm mất 6 đảo thuộc Nam Sa của chúng tôi, “Liên Xô trước năm 1975 luôn thừa nhận Nam Sa, Tây Sa là lãnh thổ của Trung Quốc, sau khi các anh gây chuyện tranh chấp này, họ cũng lập tức thay đổi thái độ”. Phạm Văn Đồng biện giải: “Trong lúc kháng chiến, đương nhiên là chúng tôi phải đặt chuyện đánh đế quốc Mỹ lên cao hơn tất cả”, “về tuyên bố của chúng tôi, trong đó bao gồm cả những điều đã nói trong bức Công hàm mà tôi đã gửi cho Thủ tướng Chu Ân Lai, cần phải được hiểu như thế nào? Cần phải được hiểu từ hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ”. Lý Tiên Niệm vạch rõ lại luôn, cái kiểu giải thích này không thuyết phục, ứng xử với vấn đề lãnh thổ là phải nghiêm túc thận trọng, không thể nói do nhân tố chiến tranh mà lại có thể có lối giải thích khác được. Vả lại khi Thủ tướng Phạm Văn Đồng gửi Công hàm cho Thủ tướng Chu Ân Lai, cuộc đấu tranh chống Mỹ chưa nổ ra.


Sau việc này, quan hệ Trung-Việt lại càng xấu hơn. Năm 1979, Việt Nam công bố Sách trắng, dùng một loạt những điều gọi là “chứng cứ lịch sử” để đòi công bố với thế giới chủ quyền của mình đối với Tây Sa và Nam Sa. Năm 1988, Bộ ngoại giao Việt Nam công bố văn bản thừa nhận trước đây thực tế đã công nhận chủ trương của Trung Quốc, nhưng lại lấp liếm nói, sở dĩ phải làm như vậy là xuất phát từ nhu cầu muốn được Trung Quốc ủng hộ cuộc đấu tranh chống Mỹ của Việt Nam, v.v… và v.v… Ai cũng biết rằng, cuộc đấu tranh chống Mỹ của Việt Nam đến thập niên 60 của thế kỷ trước mới bắt đầu.


Bản tiếng Việt © Quốc Thanh 2012
Bản tiếng Việt © Việt sử ký 2012

Nguồn: trang mạng về lịch sử của Trung Quốc history.huanqiu.com (http://history.huanqiu.com/globaltimes/2011-07/1821419.html)
Tham khảo thêm:
李先念当面质问越南总理 范文同百般狡辩
Lý Tiên Niệm chất vấn ngay tại trận sự lấp liếm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng

http://v.ifeng.com/news/world/201107/494df87e-e9f6-4603-be5a-d4185dbc75d3.shtml
(http://vietsuky.wordpress.com/Users/TinHocVang/Downloads/Ph%E1%BA%A1m%20V%C4%83n%20%C4%90%E1%BB%93ng.doc#_e dnref1) Tức Biển Đông.
[ii] (http://vietsuky.wordpress.com/Users/TinHocVang/Downloads/Ph%E1%BA%A1m%20V%C4%83n%20%C4%90%E1%BB%93ng.doc#_e dnref2) Tức Trường Sa.
[iii] (http://vietsuky.wordpress.com/Users/TinHocVang/Downloads/Ph%E1%BA%A1m%20V%C4%83n%20%C4%90%E1%BB%93ng.doc#_e dnref3) Tức Hoàng Sa.
[iv] (http://vietsuky.wordpress.com/Users/TinHocVang/Downloads/Ph%E1%BA%A1m%20V%C4%83n%20%C4%90%E1%BB%93ng.doc#_e dnref4) Nếu đem đối chiếu phần trích dẫn này với nội dung trong Công hàm của Phạm Văn Đồng (bản chụp), thì sẽ thấy có sự sai lệch. –ND.
[v] (http://vietsuky.wordpress.com/Users/TinHocVang/Downloads/Ph%E1%BA%A1m%20V%C4%83n%20%C4%90%E1%BB%93ng.doc#_e dnref5) Tức đảo Bình Nguyên (tên quốc tế: [I]Flat Island, tên Philippines: Patag) –ND.
http://vietsuky.wordpress.com/2012/03/22/92-nam-1956-thu-tuong-viet-nam-tung-thua-nhan-cac-dao-o-nam-hai-thuoc-trung-quc/








Xét thấy bài trên đầy luận điệu mang tính học giả Trung Quốc nên tôi sẽ có một bài bình với hai mục tiêu:

1. Chứng minh luận điệu của Trung Quốc hoàn toàn mang tính mỵ dân.
2. Chứng minh rằng không có con tin nào xuất hiện từ CH 1958, Bản đò 1960 cả.

Bụi Đời
23-03-2012, 09:24 PM
Viết xong, nhờ ai dịch ra tiếng tàu rồi quăng qua cho dân nó đọc mở mang đầu óc đi bác :12:

Huyền Trân
23-03-2012, 09:39 PM
Vụ Gs Ngọc nếu không làm ra ngô ra khoai sẽ thành tiền lệ rất xấu,sau này những người vốn ngại hai chữ "nhạy cảm" càng khó đăng đàn thuyết trình cho giới trẻ,rồi thì nhân cái lúc chưa có tiền bối vạch lối chỉ đường hội chính trị teen lại bị mấy thằng chí thức yêu nước dởm như Hà Đình Sơn,Nguyễn Xuân Diện hay lão Ba Sàm dắt mũi thôi.

Hai chữ “con tin” lờ mờ hiện lên sau những trò này, góp phần giải đáp cho câu hỏi “tại sao kẻ cướp vẫn được lớn tiếng la làng, còn người bị cướp thì không những không thèm kháng cự, mà còn cứ bình thản tự bịt miệng mình (và dân mình)?”

Cái công hàm này luôn là cái nhọt bọn chí thức wiki lôi ra đâm chọc với mục đích tiểu nhân nhắm tới giới cầm quyền.Rõ ràng vấn đề HS- TS là cực kỳ nhạy cảm,nó không có chỗ cho người giả vờ hiểu hay hiểu nửa vời.Mỗi phát ngôn của các học giả luôn là con dao hai lưỡi dễ bị không chỉ bọn con buôn chính trị trong nước mà cả bọn hộc giả khựa lôi ra làm dẫn chứng gây khó dễ cho các cuộc tranh luận sau này.
Em tự nhận thấy mình không đủ trình độ bàn về công hàm 1958 nên rửa tai nghe bác Tư Ếch chỉ giáo,cũng xin phép bác nếu chỗ nào em ngu muội chưa thông em hỏi bác trả lờii rùm và bỏ quá cho :)

HQ0909
23-03-2012, 09:43 PM
Hung đã nói

23/03/2012 lúc 19:42 (http://vietsuky.wordpress.com/2012/03/22/92-nam-1956-thu-tuong-viet-nam-tung-thua-nhan-cac-dao-o-nam-hai-thuoc-trung-quc/#comment-3004)Tôi sẽ có bài bình luận về chuyện “con tin” này trên trang Hoangsa.org. Nếu anh Ba Sàm chỉ biết đến tài liệu của Hanqiu – trang chuyên dùng để mị dân của TQ thì cũng nên đọc BBc và Newyork Times để nghe cả hai phía PRC và SRV. Rồi sẽ thấy cái chuyện “công hàm 1958″ hay “bản đồ 1960″ chỉ là “con tin” trong tưởng tượng!
Trả lời (http://hoangsa.org/2012/03/22/92-nam-1956-thu-tuong-viet-nam-tung-thua-nhan-cac-dao-o-nam-hai-thuoc-trung-quc/?replytocom=3004#respond)
Hoan hô bác Tư H. Cố lên bác, cho chúng nó hiểu thêm về lịch sử Hoàng Sa-Trường Sa.

hhhh
23-03-2012, 11:23 PM
Trước hết về mặt lô-gic, đã gọi là “con tin” thì “con tin” này phải tạo ra uy hiếp lớn. Nếu “con tin” là thông tin mật tạo scandal chẳng hạn thì (1) nó phải chưa từng được công bố và nếu công bố thì nhiều khả năng sẽ gây bất lợi; hoặc là (2) một phần của thông tin này đã được công bố và phần công bố này đã gây bất lợi lớn cho đối tượng cụ thể.

Theo lô-gic này thì tôi sẽ đi từng phần một:
Thông tin về Công hàm 1958, Bản đồ 1960 và các trích dẫn của Ung Văn Khiêm đã được chính phía Trung Quốc công bố từ năm 1980. Trang BBC đã trích dẫn và dịch lại từ nguồn của Trung Quốc:

Như vậy giả thiết (1) đã không xảy ra vì thông tin này đã được công bố rồi. Vậy sẽ xem giả thiết (2):


BBC Summary of World Broadcasts
February 22, 1980, Friday
Vietnam Unable to Deny Past Recognition of Xisha Sovereignty
SOURCE:
Peking in Vietnamese 1130 gmt 15 Feb 80
Text of commentary by Guo Ping, "Who is deceiving world public opinion?"

The note of 14th September 1958, addressed by Vietnamese Premier Pham Van Dong to Chinese Premier Zhou Enlai, solemnly recognized and supported the Chinese government's declaration on China's territorial sea, which states that the provision regarding the breadth of China's territorial sea applies to all territories, including the Xisha and Nansha islands.

A country's official map is an authoritative document showing the stand of that country's government regarding the issue of territorial ownership, and it also has legal value. The official maps previously printed by Vietnam, including the world atlas drawn up by the VPA General Staff's Bureau of Cartography in 1960, and the world atlas printed in May 1972 by the Survey and Cartography Department under the Vietnamese Premier's Office, explicitly recognize that the Xisha and Nansha islands belong to China. The Chinese Foreign Ministry's document also cited the originals and simultaneously made public the offset facsimile of the maps printed by Vietnam's Survey and Cartography Department. So, how can Vietnam say that they are illegal documents? All this evidence is explicit. Willy-nilly, the Vietnamese rulers cannot deny it.
….
LANGUAGE: ENGLISH

Copyright 1980 The British Broadcasting Corporation


Như vậy, thông tin nghe tưởng chừng mới lạ về Công hàm 1958, Bản đồ Quân đội 1960 v.v…thực ra đã được công bố từ đời tám hoánh trên các phương tiện thông tin đại chúng.

Tiếp theo thông tin trên có gây bất lợi cho phía Việt Nam không? Gây bất lợi cái gì khi mà ngay cả Gazetter của U.S Board of Geographic Names xuất bản năm 1987 cũng vẫn để tên tiếng Việt đối với các đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa?
7784

Nghĩa là không cộng đồng khoa học quốc tế nào công nhận cái tuyên bố trên của Trung Quốc. Như vậy, nó chả gây được bất lợi gì cho tuyên bố chủ quyền của phía Việt Nam hết.

Về mặt pháp lý thì tiến sỹ Từ Đặng Minh Thu và bà Monique cũng phân tích quá rõ:


“Những lời tuyên bố trên không có hiệu lực vì trước năm 1975, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không quản lý những đảo này. Lúc đó, những đảo này nằm dưới sự quản lý của Việt Nam Cộng hoà; mà các chính phủ Việt Nam Cộng hoà luôn luôn khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo.” và “…đứng trên phương diện thuần pháp lý, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lúc đó không phải là một quốc gia trong cuộc tranh chấp. Trước năm 1975, các quốc gia và lãnh thổ tranh chấp gồm: Trung Quốc, Đài Loan, Việt Nam Cộng hoà và Philippin. Như vậy, những lời tuyên bố của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa xem như lời tuyên bố của một quốc gia thứ ba không có ảnh hưởng đến vụ tranh chấp.”


Tạm thời kết luận về tính lô gics: Dù Trung Quốc có đưa bản gốc hay băng ghi âm những thông tin trên đây thì nó chỉ mang tính …chọc cười cho vui đối với những học giả chuyên và các cộng đồng khoa học uy tín về vấn đề chủ quyền. Chứ muốn dùng làm “con tin” thì chắc là “con tin trong tưởng tượng”!

hhhh
23-03-2012, 11:32 PM
Tiếp theo tôi sẽ phản biện vào chính bài viết của trang history.hanqiu.com (Xin phép nói rõ trang này không phải chuyên trang lịch sử gì đâu – nó là trang Trung Quốc dùng để mỵ dân bằng cách đưa các thông tin sai lệch có lợi cho CQ Trung Quốc)

Trước hết xin giới thiệu tài liệu phản bác từ phía ta, cũng được công khai (chứ chả giấu giấu diếm diếm như các bác hay nghi ngờ đâu) trên BBC.



BBC Summary of World Broadcasts
May 11, 1988, Wednesday
SRV FOREIGN MINISTRY DOCUMENT
SOURCE: Text, as received, of document published on 25th April by the SRV Foreign Ministry on the Truong Sa (Spratly) and Hoang Sa (Paracel) archipelagoes (Tạm dịch:tài liệu này đã được xuất bản bởi Bộ Ngoại Giao Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa ngày 25 tháng 4 về vấn đề HS – TS)

Taking advantage of the French withdrawal from Indochina, in 1956 the Peking authorities occupied the eastern cluster of islands of the Hoang Sa archipelago. Their occupation met with a strong protest from the Saigon administration. In 1959, a landing attempt on the western part of the archipelago made by Chinese soldiers disguised as fishermen was smashed by the Saigon forces; 82 Chinese ''fishermen'' were captured.

Peking stresses that Vietnam itself has ''recognised'' the Xisha and Nansha islands as Chinese territories. It cites as evidence a view expressed in 1956 by Vice-Minister for Foreign Affairs of the Democratic Republic of Vietnam, Ung Van Khiem, a note in 1958 of Prime Minister Pham Van Dong approving the statement by the People's Republic of China on her 12-nautical-mile wide territorial waters and the statement in 1965 of the government of the Democratic Republic of Vietnam protesting the USA's delimitation of the fighting zone of the US armed forces in Indochina and which said the zone impinged on ''the Xisha maritime area of China''.
It is true that the above-mentioned facts have occurred, but it is necessary to place them exactly in their historical context. These facts happened between 1956 and 1965 when Vietnam had to fight against US intervention and aggression.



Thứ nhất, chi tiết in đậm đầu tiên:” Vào năm 1959, một nỗ lực đổ bộ lên phần phía tây của quần đảo (Hoàng Sa) của binh lính Trung Quốc giả dạng làm ngư dân, đã bị lực lượng Sài Gòn phá; 82 “ngư dân” Trung Quốc đã bị bắt.

Chi tiết trên đã cho thấy ai là người thực tế thực thi chủ quyền tại cả hai quần đảo HS – TS. Đó chính là chính quyền Sài Gòn.

Và nó cũng chỉ rõ sự xuất hiện lực lượng quân đội Mỹ vào thời điểm này – đập thẳng vào lý luận cùn của Hanqiu rằng:” ….Vả lại khi Thủ tướng Phạm Văn Đồng gửi Công hàm cho Thủ tướng Chu Ân Lai, cuộc đấu tranh chống Mỹ chưa nổ ra….. Ai cũng biết rằng, cuộc đấu tranh chống Mỹ của Việt Nam đến thập niên 60 của thế kỷ trước mới bắt đầu.”

Giờ cùng xem lịch sử của anh Hanqiu và lịch sử được thế giới ghi nhận:

Năm 1955 ở Miền Nam Việt Nam đã diễn ra một sự kiện quan trọng đánh dấu sự xuất hiện của Mỹ tại Việt Nam:
Cuộc tổng tuyển cử năm 1955 tại miền Nam Việt Nam http://vi.wikipedia.org/wiki/Cu%E1%BB%99c_tr%C6%B0ng_c%E1%BA%A7u_d%C3%A2n_%C3%B D_mi%E1%BB%81n_Nam_Vi%E1%BB%87t_Nam,_1955
State of Vietnam referendum, 1955 http://en.wikipedia.org/wiki/State_of_Vietnam_referendum,_1955


The referendum was widely condemned for being fraudulent in a similar way to communist show elections.[52] (http://en.wikipedia.org/wiki/State_of_Vietnam_referendum,_1955#cite_note-mi207-51) Historian and writer Jessica Chapman said "Even Diệm apologists like Anthony Trawick Bouscaren and American CIA officer Edward Lansdale concur with the prime minister's harshest critics on the conclusion that the South Vietnamese government was either incapable of or unwilling to hold a truly free, representative plebiscite"


American CIA xuất hiện từ 1955 dựng lên Chính quyền Sài Gòn đi ngược Hiệp ước Geneve vậy mà anh Hanqiu vẫn còn gào lên: “…cuộc đấu tranh chống Mỹ chưa nổ ra”. Chịu thua anh Hanqiu!!! Và bên Việt Nam nói rõ là :” against US intervention and aggression” (“chống lại sự can thiệp và xâm lược của Mỹ”).

Thứ hai, nguyên nhân đưa đến Công hàm 1958:


During the war of resistance agaisnt the French, in 1949 the Vietnamese armed forces drove the Kuomintang troops out of Chusan (Chinese territory), liberated this region and handed it over to the Chinese People's Liberation Army afterwards. In the same spirit, entitled to take over Northern Vietnam under the 1954 Geneva agreements on Indochina, the Vietnamese government asked China to administer on Vietnam's behalf Bach Long Vi Island in the Bac Bo (Tonkin) Gulf and then regained its administration over the island in 1957. Vietnam put so much confidence in China that when the latter helped Vietnam to reconstruct the railway between Hanoi and Dong Dang, the Vietnam Railway Board even accepted a document saying that the point of junction of the two countries' railways would go ''beyond the national border line'' as far as 326 m into Vietnamese territory in comparison with the official border line between the two countries as was defined in the 25th May 1955 Sino-Vietnamese railway agreement.

Trung Quốc đã giúp Việt Nam quản lý Đảo Bạch Long Vỹ và Việt Nam đã lấy lại từ năm 1957.
Trung Quốc xây đường sắt từ Hà Nội đến Đồng Đăng, và bên Việt Nam tin tưởng Trung Quốc đến mức chấp nhận cho điểm nối của tuyến đường sắt này đi sâu vào biên giới Việt Nam 326 mét so với đường biên giới công nhận trong Hiệp đình về đường sắt giữa Trung Quốc – Việt Nam 25 tháng 5 năm 1955.
Sự tin tưởng vào tình anh em của hai nước cộng sản đã đưa đến quyết định kí Công hàm 1958.

Cuối cùng, về phần bản đồ 1960 và một số bài viết trên báo Nhân Dân là sự việc có thật – nó là sai lầm nhất thời nhưng không phải sai lầm chiến lược ảnh hưởng đến chủ quyền của Việt Nam trong giai đoạn sau. Trong Hiến pháp 1946 của Việt Nam:


http://laws.dongnai.gov.vn/1945_to_1950/1946/194611/194611090001
Điều thứ 22
Nghị viện nhân dân là cơ quan có quyền cao nhất của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà.
Điều thứ 23
Nghị viện nhân dân giải quyết mọi vấn đề chung cho toàn quốc, đặt ra các pháp luật, biểu quyết ngân sách, chuẩn y các hiệp ước mà Chính phủ ký với nước ngoài.

Huhu, cái Công hàm 1958 cũng như mấy cái bản đồ + mấy cái World Atlas hay như ông Ung Văn Khiêm nói thì chẳng khác nào giấy lộn!!! Đố anh Hanqiu tim ra cái dấu chuẩn y của Nghị Viện nhân dân trên mấy văn bản đấy đấy.

Thế nên anh TQ quăng mấy cái này ra chẳng uy hiếp được ai: 1. Nghị viện Nhân dân Việt Nam đâu có ký; 2. Chính quyền Sài gòn mới chính là bên thực thi chủ quyền tại HS -TS.


Kết luận cuối: Không hiểu Trung Quốc dùng “mớ giấy lộn” trên đây để làm “con tin” uy hiếp ai nhỉ????? À có rồi, uy hiếp chính nhân dân Trung Quốc – đối tượng mà CQ Trung Quốc muốn nhắm đến. Cũng nhờ thế mà Trung Quốc mới sinh ra học giả nhớn như Vương Hàn Lĩnh (http://hoangsa.org/forum/archive/index.php/t-44620.html)!

Bụi Đời
23-03-2012, 11:50 PM
BBC: Theo nhận định của ông, lá thư của Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã được viết trong hoàn cảnh nào?

Tiến sĩ Balazs Szalontai: Trước tiên, ta nói về tuyên bố của Trung Quốc. Nó ra đời trong bối cảnh có Hội nghị Liên Hiệp Quốc về Luật Biển năm 1956 và các hiệp định được ký sau đó năm 1958. Lẽ dễ hiểu, Trung Quốc, mặc dù không phải là thành viên của Liên Hiệp Quốc, cũng muốn có tiếng nói về cách giải quyết những vấn đề đó. Vì lẽ đó ta có tuyên bố của Trung Quốc tháng Chín 1958.

Như tôi nói ở trên, trong những năm này, Bắc Việt không thể làm phật ý Trung Quốc. Liên Xô không cung cấp đủ hỗ trợ cho công cuộc thống nhất, trong khi Ngô Đình Diệm ở miền Nam và chính phủ Mỹ không sẵn sàng đồng ý tổ chức bầu cử như đã ghi trong Hiệp định Geneva. Phạm Văn Đồng vì thế cảm thấy cần ngả theo Trung Quốc.

Dẫu vậy, ông ấy có vẻ đủ thận trọng để đưa ra một tuyên bố ủng hộ nguyên tắc rằng Trung Quốc có chủ quyền đối với hải phận 12 hải lý dọc lãnh thổ của họ, nhưng tránh đưa ra định nghĩa về lãnh thổ này. Mặc dù tuyên bố trước đó của Trung Quốc rất cụ thể, nhắc đến toàn bộ các đảo bao gồm Trường Sa và Hoàng Sa mà Bắc Kinh nói họ có chủ quyền, thì tuyên bố của Bắc Việt không nói chữ nào về lãnh hải cụ thể được áp dụng với quy tắc này.

Dù sao trong tranh chấp lãnh thổ song phương này giữa các quyền lợi của Việt Nam và Trung Quốc, quan điểm của Bắc Việt, theo nghĩa ngoại giao hơn là pháp lý, gần với quan điểm của Trung Quốc hơn là với quan điểm của miền Nam Việt Nam.

BBC: Ngoài ra người ta còn nghe nói đến một tuyên bố tán thành với Trung Quốc của Ung Văn Khiêm, đưa ra năm 1956 khi ông này là Thứ trưởng Ngoại giao của Bắc Việt. Phía Trung Quốc đã công khai viện dẫn đến tuyên bố này. Nó có giúp ta hiểu thêm về lá thư của ông Phạm Văn Đồng?

Tiến sĩ Balazs Szalontai: Theo trang web của Bộ Ngoại giao Trung Quốc, vào giữa năm 1956, Ung Văn Khiêm đã nói với đại biện lâm thời của Trung Quốc rằng Hoàng Sa và Trường Sa về mặt lịch sử đã thuộc về lãnh thổ Trung Quốc. Ban đầu tôi nghi ngờ sự chân thực của tuyên bố này. Năm 2004, Bộ Ngoại giao Trung Quốc thậm chí xóa đi những chương tranh cãi của lịch sử Triều Tiên khỏi trang web của họ. Tức là họ sẵn sàng thay đổi quá khứ lịch sử để phục vụ cho mình.

Tôi cũng chấp nhận lý lẽ rằng nếu ông Khiêm quả thực đã nói như vậy, thì có nghĩa rằng ban lãnh đạo Bắc Việt thực sự có ý định từ bỏ chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa. Nhưng nay tôi nghĩ khác, mà một lý do là vì tôi xem lại các thỏa thuận biên giới của Mông Cổ với Liên Xô.

Tôi nhận ra rằng tuyên bố của Ung Văn Khiêm thực ra không có tác dụng ràng buộc. Trong hệ thống cộng sản, tuyên bố của một quan chức như ông Khiêm được coi như đại diện cho quan điểm chính thức của ban lãnh đạo. Nhưng ban lãnh đạo cũng có thể bỏ qua ông ta và những tuyên bố của ông ta bằng việc sa thải theo những lý do có vẻ chả liên quan gì. Đó là số phận của Ngoại trưởng Mông Cổ Sodnomyn Averzed năm 1958. Trong lúc đàm phán về biên giới Liên Xô – Mông Cổ, ông ta có quan điểm khá cứng rắn, và rất có thể là vì ông ta làm theo chỉ thị của ban lãnh đạo. Nhưng khi Liên Xô không chịu nhả lại phần lãnh thổ mà Mông Cổ đòi, và chỉ trích “thái độ dân tộc chủ nghĩa” của Averzed, Mông Cổ cách chức ông ta.

Trong trường hợp Ung Văn Khiêm, ông ta khi ấy chỉ là thứ trưởng, và chỉ có một tuyên bố miệng trong lúc nói riêng với đại biện lâm thời của Trung Quốc. Trong hệ thống cộng sản, tuyên bố miệng không có cùng sức mạnh như một thông cáo viết sẵn đề cập đến các vấn đề lãnh thổ. Nó cũng không có sức nặng như một tuyên bố miệng của lãnh đạo cao cấp như thủ tướng, nguyên thủ quốc gia hay tổng bí thư. Rõ ràng các lãnh đạo Bắc Việt không ký hay nói ra một thỏa thuận nào như vậy, vì nếu không thì Trung Quốc đã công bố rồi.

BBC:Theo ông, lá thư của Phạm Văn Đồng có ý nghĩa pháp lý nào không?

Tiến sĩ Balazs Szalontai: Nó khiến cho quan điểm của Việt Nam bị yếu đi một chút, nhưng tôi cho rằng nó không có sức nặng ràng buộc. Theo tôi, việc các tuyên bố của Trung Quốc nhấn mạnh nguyên tắc “im lặng là đồng ý” không có mấy sức nặng. Chính phủ miền Nam Việt Nam đã công khai phản đối các tuyên bố của Trung Quốc và cố gắng giữ các đảo, nhưng họ không ngăn được Trung Quốc chiếm Hoàng Sa. Trung Quốc đơn giản bỏ mặc sự phản đối của Sài Gòn. Nếu Hà Nội có phản đối lúc đó, kết quả cũng sẽ vậy thôi.

BBC:Ngày nay, người ta có thể làm gì với lá thư của ông Đồng? Trong một giai đoạn dài, ở Việt Nam chỉ là sự im lặng. Ông nghĩ liệu người Việt Nam bây giờ có thể công khai tranh luận về nó mà không sợ là điều này chỉ có lợi cho Trung Quốc?

Theo tôi, do lá thư của Phạm Văn Đồng chỉ có giá trị pháp lý hạn chế, nên một sự thảo luận công khai về vấn đề sẽ không có hại cho cả Việt Nam và Trung Quốc. Nhưng dĩ nhiên chính phủ hai nước có thể nhìn vấn đề này theo một cách khác.

Tiến sĩ Balazs Szalontai từng dạy ở Đại học Khoa học Công nghệ Mông Cổ và hiện là một nhà nghiên cứu độc lập ở Hungary. Ông là tác giả cuốn sách Kim Nhật Thành trong thời kỳ Khruschev (Đại học Stanford và Trung tâm Woodrow Wilson xuất bản, 2006)

BBC
(http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/story/2008/01/080124_vietnamchinaphamvandong.shtml)

Bụi Đời
24-03-2012, 12:12 AM
Huhu, cái Công hàm 1958 cũng như mấy cái bản đồ + mấy cái World Atlas hay như ông Ung Văn Khiêm nói thì chẳng khác nào giấy lộn!!! Đố anh Hanqiu tim ra cái dấu chuẩn y của Nghị Viện nhân dân trên mấy văn bản đấy đấy.

Thế nên anh TQ quăng mấy cái này ra chẳng uy hiếp được ai: 1. Nghị viện Nhân dân Việt Nam đâu có ký; 2. Chính quyền Sài gòn mới chính là bên thực thi chủ quyền tại HS -TS.

Có ý kiến cho rằng, chúng ta nên phủ quyết Công hàm 1958 để xóa bỏ "con tin pháp lý" của TQ nếu cần thiết. Bác Tư thấy phương án này liệu có khả thi?

hhhh
24-03-2012, 12:43 AM
Có ý kiến cho rằng, chúng ta nên phủ quyết Công hàm 1958 để xóa bỏ "đứa con tin pháp lý" của TQ nếu cần thiết. Bác Tư thấy phương án này liệu có khả thi?


1. Giả sử, QH hiện tại bây giờ muốn phủ quyết thì phải xem QH hiện tại phủ quyết trên cơ sở luật gì, luật năm 1946 hay luật bây giờ?
Nếu theo luật năm 1946 thì:


Điều thứ 21
Nhân dân có quyền phúc quyết về Hiến pháp và những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia, theo Điều thứ 32 và 70.

Điều thứ 32
Những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia sẽ đưa ra nhân dân phúc quyết, nếu hai phần ba tổng số nghị viên đồng ý.
Cách thức phúc quyết sẽ do luật định.

Nhân dân sẽ phúc quyết Công hàm này chứ không phải Quốc Hội!!!
Nếu theo luật năm 1992:


9- Bãi bỏ các văn bản của Chủ tịch nước, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái với Hiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội;

Quốc hội sẽ có quyền bãi bỏ Công hàm 1958 vì nó trái với Hiến pháp.

2.Phải xem xét Công hàm 1958 này như một đề xuất của Chính phủ (Đại diện là thủ tướng Phạm văn Đồng), nhưng đề xuất này không hề được Nghị Viện Nhân dân thông qua. Do vậy, đề xuất này chỉ mang giá trị tham khảo, chứ không hề mang giá trị pháp lý!

Bụi Đời
24-03-2012, 12:55 AM
1. Giả sử, QH hiện tại bây giờ muốn phủ quyết thì phải xem QH hiện tại phủ quyết trên cơ sở luật gì, luật năm 1946 hay luật bây giờ?
Nếu theo luật năm 1946 thì:


Điều thứ 21
Nhân dân có quyền phúc quyết về Hiến pháp và những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia, theo Điều thứ 32 và 70.

Điều thứ 32
Những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia sẽ đưa ra nhân dân phúc quyết, nếu hai phần ba tổng số nghị viên đồng ý.
Cách thức phúc quyết sẽ do luật định.

Nhân dân sẽ phúc quyết Công hàm này chứ không phải Quốc Hội!!!
Nếu theo luật năm 1992:


9- Bãi bỏ các văn bản của Chủ tịch nước, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái với Hiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội;

Quốc hội sẽ có quyền bãi bỏ Công hàm 1958 vì nó trái với Hiến pháp.

2.Phải xem xét Công hàm 1958 này như một đề xuất của Chính phủ (Đại diện là thủ tướng Phạm văn Đồng), nhưng đề xuất này không hề được Nghị Viện Nhân dân thông qua. Do vậy, đề xuất này chỉ mang giá trị tham khảo, chứ không hề mang giá trị pháp lý!

Hiến pháp 1992 là sự kế thừa Hiến pháp 1946 mà bác.

E nghĩ nếu tới đây Luật Biển được đưa ra QH xem xét thông qua, thì có lẽ Công hàm 1958 cũng coi như không có giá trị pháp lý gì nữa ---> Chỉ cần 1 động tác "kỹ thuật" là xong, nhưng liệu nó có dễ dàng và thuận lợi?

hhhh
24-03-2012, 01:06 AM
Hiến pháp 1992 là sự kế thừa Hiến pháp 1946 mà bác.

E nghĩ nếu tới đây Luật Biển được đưa ra QH xem xét thông qua, thì có lẽ Công hàm 1958 cũng coi như không có giá trị pháp lý gì nữa ---> Chỉ cần 1 động tác "kỹ thuật" là xong, nhưng liệu nó có dễ dàng và thuận lợi?

Thực tế không cần có Luật biển vì ta có Nghị quyết này rồi:





QUỐC HỘI
********

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********





Hà Nội, ngày 23 tháng 6 năm 1994




NGHỊ QUYẾT
VỀ VIỆC PHÊ CHUẨN CÔNG ƯỚC CỦA LIÊN HỢP QUỐC VỀ LUẬT BIỂN NĂM 1982
QUỐC HỘI NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Căn cứ vào Điều 84 của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992;
Theo đề nghị của Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Sau khi xem xét báo cáo của Chính phủ, báo cáo của Uỷ ban Đối ngoại của Quốc hội và ý kiến của các đại biểu Quốc hội về việc phê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982;

1. Phê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982.
2. Bằng việc phê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982, nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam biểu thị quyết tâm cùng cộng đồng quốc tế xây dựng một trật tự pháp lý công bằng, khuyến khích sự phát triển và hợp tác trên biển.
3. Quốc hội khẳng định chủ quyền của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đối với các vùng nội thuỷ, lãnh hải, quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam trên cơ sở các quy định của Công ước và các nguyên tắc của pháp luật quốc tế; yêu cầu các nước khác tôn trọng các quyền nói trên của Việt Nam.
4. Quốc hội một lần nữa khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và chủ trương giải quyết các tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ cũng như các bất đồng khác liên quan đến Biển Đông thông qua thương lượng hoà bình trên tinh thần bình đẳng, hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau, tôn trọng pháp luật quốc tế, đặc biệt là Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982, tôn trọng quyền chủ quyền và quyền tài phán của các nước ven biển đối với vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa; trong khi nỗ lực thúc đẩy đàm phán để tìm giải pháp cơ bản và lâu dài, các bên liên quan cần duy trì ổn định trên cơ sở giữ nguyên trạng, không có hành động làm phức tạp thêm tình hình, không sử dụng vũ lực hoặc đe doạ sử dụng vũ lực.
Quốc hội nhấn mạnh: cần phân biệt vấn đề giải quyết tranh chấp về quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa với vấn đề bảo vệ các vùng biển và thềm lục địa thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam căn cứ vào những nguyên tắc và những tiêu chuẩn của Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982.
5. Quốc hội giao cho Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Chính phủ nghiên cứu để có những sửa đổi, bổ sung cần thiết đối với các quy định liên quan của pháp luật quốc gia cho phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982, bảo đảm lợi ích của Việt Nam.
Quốc hội giao cho Chính phủ thi hành những biện pháp có hiệu quả nhằm tăng cường bảo vệ và quản lý các vùng biển và thềm lục địa của Việt Nam.
Nghị quyết này đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá IX kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 23 tháng 6 năm 1994.





Nông Đức Mạnh
(Đã ký)





Nghị quyết này là của Quốc hội!

Bụi Đời
24-03-2012, 01:22 AM
Nghị quyết này là của Quốc hội!

Vậy theo bác Nghị quyết này đã đủ cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền biển đảo của Việt Nam chưa?

Luật Biển mà chúng ta đang xây dựng là để cụ thể hóa Nghị quyết này mà bác:


5. Quốc hội giao cho Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Chính phủ nghiên cứu để có những sửa đổi, bổ sung cần thiết đối với các quy định liên quan của pháp luật quốc gia cho phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982, bảo đảm lợi ích của Việt Nam.

Quốc hội giao cho Chính phủ thi hành những biện pháp có hiệu quả nhằm tăng cường bảo vệ và quản lý các vùng biển và thềm lục địa của Việt Nam.

hhhh
24-03-2012, 01:34 AM
Vậy theo bác Nghị quyết này đã đủ cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền biển đảo của Việt Nam chưa?

Luật Biển mà chúng ta đang xây dựng là để cụ thể hóa Nghị quyết này mà bác:



Hic, thực tế trước Nghị Quyết này ta có cả đống



(1) Decision No 193-HDBT of 9th December 1982 by the Council of Ministers of the Socialist Republic of Vietnam on the setting up of the Truong Sa district as part of Dong Nai Province.
(2) Decision No 194-HDBT of 9th December 1982 by the Council of Ministers of the Socialist Republic of Vietnam on the establishment of the Hoang Sa district, as part of Quang Nam-Danang Province.
(3) Resolution adopted by the National Assembly (7th legislature) of the Socialist Republic of Vietnam on 28th December 1982 at its fourth session of detaching the district of Truong Sa from Dong Nai Province and incorporating it into Phu Khanh Province.



Nên Luật Biển chỉ có tác dụng tổng hợp, cụ thể hóa tất cả các VB liên quan lại - chứ khẳng định thì ta vẫn khẳng định từ lâu!

thegioi_nhinnghieng
24-03-2012, 02:14 AM
Cảm phiền bác 4h sửa lại cái tiêu đề là: "Công hàm TT Phạm Văn Đồng - con tin trong tưởng tượng?" để người khác có muốn tìm hiểu, google search cũng nhanh :D

Huyền Trân
24-03-2012, 07:43 AM
thông tin trên có gây bất lợi cho phía Việt Nam không? Gây bất lợi cái gì khi mà ngay cả Gazetter của U.S Board of Geographic Names xuất bản năm 1987 cũng vẫn để tên tiếng Việt đối với các đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa?
Gazetter by U.S. Board of Geographic Name_1987.jpg (http://hoangsa.org/forum/attachment.php?attachmentid=7784&d=1332517426)

Nghĩa là không cộng đồng khoa học quốc tế nào công nhận cái tuyên bố trên của Trung Quốc. Như vậy, nó chả gây được bất lợi gì cho tuyên bố chủ quyền của phía Việt Nam hết.

Hiện nay đã là năm 2012 chứ không còn là năm 1987 nữa,giống như thời điểm năm 1994 và năm 1958 cùng một chế độ cầm quyền có 2 tuyên ngôn trái ngược như thế này:

4. Quốc hội một lần nữa khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và chủ trương giải quyết các tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ cũng như các bất đồng khác liên quan đến Biển Đông thông qua thương lượng hoà bình trên tinh thần bình đẳng, hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau, tôn trọng pháp luật quốc tế, đặc biệt là Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982,
Và sự thực rất nhiều tổ chức vẫn đang công nhận HS-TS là của trung quốc,nên khi vào HSO vẫn thấy nhan nhản topic phản đối cái này cái kia.Rõ ràng chúng ta đang ở thế bất lợi khi mà việc tuyên truyền ra quốc tế của ta thua đứt thằng khựa.Chưa thể khẳng định cái bất lợi này có một phần do CH1958 không, nên phủ nhận nó không gây bất lợi có vẻ mơ hồ.

Tạm thời kết luận về tính lô gics: Dù Trung Quốc có đưa bản gốc hay băng ghi âm những thông tin trên đây thì nó chỉ mang tính …chọc cười cho vui đối với những học giả chuyên và các cộng đồng khoa học uy tín về vấn đề chủ quyền. Chứ muốn dùng làm “con tin” thì chắc là “con tin trong tưởng tượng”!
Nó không là trò cười đâu vì trước thời điểm năm 1975 rõ ràng tuyên bố 1958 là tuyên bố của chính quyền một nước thứ 3 không tham gia tranh chấp nhưng sau 1975 thì nó lại mang ý nghĩa khác.Anh C nói cái hàng rào của nhà anh A là của nhà anh B thì tức là anh C cũng khẳng định nó không thuộc sở hữu của mình.Lấy lý do gì để sau khi mua nhà anh A,anh C lại tuyên bố cái rào đấy thuộc về anh C ? Khi anh đồng thuận với quyền sở hữu của người khác với thứ gì đó thì tức là anh cũng gián tiếp phủ nhận quyền sở hữu của mình với nó.
Chúng ta lấy sự kiện Hội nghị San Fancisco năm 1951 để cho rằng sau Pháp thuộc chúng ta vẫn duy trì chủ quyền trên HS-TS mà thực chất sự duy trì này do chính quyền bảo hộ thực thi do trong hội nghị khi TQ tuyên bố chủ quyền với HS-TS thì bị phản đối,còn chính quyền bảo hộ thì được sự đồng thuận nhất trí cao.Đấy cũng chỉ là sự đồng thuận của các nước thứ 3 không tham gia tranh chấp,nếu nói như vậy nó cũng không có giá trị pháp lý :not-worthy:


Cuối cùng, về phần bản đồ 1960 và một số bài viết trên báo Nhân Dân là sự việc có thật – nó là sai lầm nhất thời nhưng không phải sai lầm chiến lược ảnh hưởng đến chủ quyền của Việt Nam trong giai đoạn sau
Theo tôi chỉ có cái gọi là sai lầm chứ không có cái gọi là sai lầm chiến lược.Rõ ràng nó có ảnh hưởng đến chủ quyền của chúng ta trong thời điểm hiện tại khi mà chính phủ cũ(của Bắc Việt) đang cầm quyền.Đây là cái cớ để khựa gọi chúng ta là những kẻ lật lọng tiền hậu bất nhất.


Huhu, cái Công hàm 1958 cũng như mấy cái bản đồ + mấy cái World Atlas hay như ông Ung Văn Khiêm nói thì chẳng khác nào giấy lộn!!! Đố anh Hanqiu tim ra cái dấu chuẩn y của Nghị Viện nhân dân trên mấy văn bản đấy đấy.

Thế nên anh TQ quăng mấy cái này ra chẳng uy hiếp được ai: 1. Nghị viện Nhân dân Việt Nam đâu có ký; 2. Chính quyền Sài gòn mới chính là bên thực thi chủ quyền tại HS -TS.
Như đã nói,chính chúng ta đã phủ nhận việc thực thi chủ quyền HS-TS của chính quyền Sài Gòn,giờ chúng ta công nhận nó,có vẻ như không logic xanhmat Nếu như dựa vào hiến pháp 1946 thì còn nhiều văn bản pháp lý khác do TT và Chủ tịch nước hay cán bộ đại diện nhà nước đương thời kí cũng đều vi hiến cả sao ? Hiệp định Paris là một ví dụ :banghead:

hhhh
24-03-2012, 01:57 PM
Bác ĐKP có nhắn thêm thông tin quan trọng:"Vì quá tin TQ nên việc in ấn bản đồ của VN đều do TQ in dùm nên mới có cớ sự như vậy nhưng vì đang chống Mỹ cứu nước nên VNDCCH mới ngậm bồ hòn."

hhhh
24-03-2012, 02:34 PM
Hiện nay đã là năm 2012 chứ không còn là năm 1987 nữa,giống như thời điểm năm 1994 và năm 1958 cùng một chế độ cầm quyền có 2 tuyên ngôn trái ngược như thế này:

Và sự thực rất nhiều tổ chức vẫn đang công nhận HS-TS là của trung quốc,nên khi vào HSO vẫn thấy nhan nhản topic phản đối cái này cái kia.Rõ ràng chúng ta đang ở thế bất lợi khi mà việc tuyên truyền ra quốc tế của ta thua đứt thằng khựa.Chưa thể khẳng định cái bất lợi này có một phần do CH1958 không, nên phủ nhận nó không gây bất lợi có vẻ mơ hồ.



Tôi đưa ra thông tin năm 1987 để cho thấy rõ rằng năm 1980 Trung Quốc đã công bố công khai các thông tin về Công hàm 1958, Bản đồ 1960,….nhưng những cơ quan có uy tín tầm cỡ quốc tế không hề ghi nhận.

Nghĩa là ngay tại thời điểm thông tin đó nóng nhất, mới nhất trên các mặt báo thì nó cũng không được ai công nhận cả!


Bạn nên chỉ rõ tổ chức nào công nhận HS – TS là của Trung Quốc? Lo quá! Đừng đưa Google Map vào.
Về bình diện quốc tế, thì Trung Quốc hơn Việt Nam về số lượng bài báo/ tác phẩm quốc tế; chứ các học



Nó không là trò cười đâu vì trước thời điểm năm 1975 rõ ràng tuyên bố 1958 là tuyên bố của chính quyền một nước thứ 3 không tham gia tranh chấp nhưng sau 1975 thì nó lại mang ý nghĩa khác.Anh C nói cái hàng rào của nhà anh A là của nhà anh B thì tức là anh C cũng khẳng định nó không thuộc sở hữu của mình.Lấy lý do gì để sau khi mua nhà anh A,anh C lại tuyên bố cái rào đấy thuộc về anh C ? Khi anh đồng thuận với quyền sở hữu của người khác với thứ gì đó thì tức là anh cũng gián tiếp phủ nhận quyền sở hữu của mình với nó.

Chúng ta lấy sự kiệnHội nghị San Fancisco năm 1951 để cho rằng sau Pháp thuộc chúng ta vẫn duy trì chủ quyền trên HS-TS mà thực chất sự duy trì này do chính quyền bảo hộ thực thi do trong hội nghị khi TQ tuyên bố chủ quyền với HS-TS thì bị phản đối,còn chính quyền bảo hộ thì được sự đồng thuận nhất trí cao.Đấy cũng chỉ là sự đồng thuận của các nước thứ 3 không tham gia tranh chấp,nếu nói như vậy nó cũng không có giá trị pháp lý



Vấn đề nằm ở chỗ anh C cũng thừa nhận hàng rào đó là hàng rào của nhà anh A (Đọc hiệp định Geneve) !!! Thực tế anh C cũng có sở hữu cái hàng rào đó đâu mà nhận vơ?!
Hội nghị San Francisco mang một ý nghĩa khác hoàn toàn so với việc công hàm 1958 trao đổi chỉ giữa Việt Nam và Trung Quốc. Nên đọc kỹ bối cảnh diễn ra Hội nghị San Francisco, những ai tham gia và nó quyết định vấn đề gì!

Nó ghi nhận việc Nhật Bản (nước trước đó thực thi việc quản lý trên hai quần đảo HS – TS) từ bỏ chủ quyền đối với các lãnh thổ trong đó bao gồm Hoàng Sa – Trường Sa. Nghĩa là sau khi Nhật Bản từ bỏ thì Hoàng Sa – Trường Sa sẽ: (1) rơi vào tình trạng vô chủ; (2) có chủ quyền do trước đó đã có nước tranh chấp với Nhật.

Rõ ràng, Hoàng Sa – Trường Sa không thể rơi vào tình trạng vô chủ vì trước 1938 Pháp , với tư cách là nước bảo hộ Việt nam, thực thi quyền quản lý cũng như tuyên bố chủ quyền chính thức với cả Hoàng Sa – Trường Sa. Trung Quốc cũng tuyên bố chủ quyền đối với Hoàng Sa trong thời gian này( nhưng không hề có Trường Sa đâu nhé! – tôi sẽ có bài viết về sự lố bịch của Trung Quốc liên quan đến cái này)

Từ 1938 – 1945, Nhật đã sử dụng vũ lực để chiếm đóng hai quần đảo Hoàng Sa- Trường Sa, sát nhập vào Đài Loan (lúc này cũgn thuộc Đế Quốc Nhật). Nhưng sự chiếm đóng này là bất hợp pháp theo công pháp quốc tế vì dùng vũ lực.

Do vậy, khi Nhật từ bỏ, chỉ còn hai bên tranh chấp tại Hoàng Sa – Trường Sa: Pháp và Trung Quốc. Khi đó, 49 nước phản đối Trung Quốc chỉ có 3 nước ủng hộ Trung Quốc, chưa kể tại Hiệp ước Cairo, hay Postdam cũng không công nhận chủ quyền của Trung Quốc với Hoàng Sa – Trường Sa. Đồng thời, khi Thủ tướng Trần Văn Hữu lên tiếng thì không nước nào phản đối cả.

Như vậy, kết quả ra sao tự hiểu lấy. Nên không thể so sánh giữa Hội nghị San Francisco với công hàm 1958 được!



Rõ ràng nó có ảnh hưởng đến chủ quyền của chúng ta trong thời điểm hiện tại khi mà chính phủ cũ(của Bắc Việt) đang cầm quyền.Đây là cái cớ để khựa gọi chúng ta là những kẻ lật lọng tiền hậu bất nhất.


Chính phủ cũ nào hả bạn? Sau khi tổng tuyển cử 1976 thì làm gì có chính phủ cũ nào đâu? Đến năm 1988 ta vẫn còn ….đa đảng mà! Cái hay là ở chỗ đó đó bạn!


Như đã nói,chính chúng ta đã phủ nhận việc thực thi chủ quyền HS-TS của chính quyền Sài Gòn,giờ chúng ta công nhận nó,có vẻ như không logic .]Nếu như dựa vào hiến pháp 1946 thì còn nhiều văn bản pháp lý khác do TT và Chủ tịch nước hay cán bộ đại diện nhà nước đương thời kí cũng đều vi hiến cả sao ? Hiệp định Paris là một ví dụ

Bó tay, vì bạn đọc mà không hiểu gì!

Bạn phải phân biệt đó là đối nội hay đối ngoại. Đối với các văn bản đối nội, thì Nghị viện Nhân dân không cần chuẩn y vì đã giao quyền cho các cơ quan chính phủ rồi. Nếu phát hiện sai, chính các cơ quan chính phủ này sẽ phải sửa. Đối với các Hiệp ước ký với nước ngoài thì cần Nghị viện nhân dân chuẩn y mới có hiệu lực.

Hiệp định Paris là căn cứ theo Hiến pháp năm 1959 chứ không phải theo Hiến pháp 1946! Hiệp định Geneve 1954 thì Nghị viện nhân dân đã chuẩn y rồi! Vi hiến hay không là do Nghị viện nhân dân phán xét. Công hàm 1958 mang tính chất như một đề xuất/ý kiến của Chính phủ, nó cũng không hẳn là HIệp ước , đồng thời cũng chưa bao giờ được trình lên Nghị viện. Vậy làm sao nó có hiệu lực?!

Nguoi_quan_sat
24-03-2012, 03:35 PM
Hiệp định Paris là căn cứ theo Hiến pháp năm 1959 chứ không phải theo Hiến pháp 1946! Hiệp định Geneve 1954 thì Nghị viện nhân dân đã chuẩn y rồi! Vi hiến hay không là do Nghị viện nhân dân phán xét. Công hàm 1958 mang tính chất như một đề xuất/ý kiến của Chính phủ, nó cũng không hẳn là HIệp ước , đồng thời cũng chưa bao giờ được trình lên Nghị viện. Vậy làm sao nó có hiệu lực?!

Vậy theo anh CH 1958 chỉ là một đề xuất và không có hiệu lực nhưng tại sao QH ngày nay không bãi bỏ nó bằng một nghị quyết có hiệu lực để an dân. Có ý kiến cho rằng có thể còn một "mật ước" quan trọng hơn, là tiền đề của CH1958 sau này, anh có tin điều này không ?

diết_khứa
24-03-2012, 03:37 PM
Có ý kiến cho rằng, chúng ta nên phủ quyết Công hàm 1958 để xóa bỏ "đứa con tin pháp lý" của TQ nếu cần thiết. Bác Tư thấy phương án này liệu có khả thi?


1. Giả sử, QH hiện tại bây giờ muốn phủ quyết thì phải xem QH hiện tại phủ quyết trên cơ sở luật gì, luật năm 1946 hay luật bây giờ?
Nếu theo luật năm 1946 thì:


Điều thứ 21
Nhân dân có quyền phúc quyết về Hiến pháp và những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia, theo Điều thứ 32 và 70.

Điều thứ 32
Những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia sẽ đưa ra nhân dân phúc quyết, nếu hai phần ba tổng số nghị viên đồng ý.
Cách thức phúc quyết sẽ do luật định.

Nhân dân sẽ phúc quyết Công hàm này chứ không phải Quốc Hội!!!
Nếu theo luật năm 1992:


9- Bãi bỏ các văn bản của Chủ tịch nước, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái với Hiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội;

Quốc hội sẽ có quyền bãi bỏ Công hàm 1958 vì nó trái với Hiến pháp.

2.Phải xem xét Công hàm 1958 này như một đề xuất của Chính phủ (Đại diện là thủ tướng Phạm văn Đồng), nhưng đề xuất này không hề được Nghị Viện Nhân dân thông qua. Do vậy, đề xuất này chỉ mang giá trị tham khảo, chứ không hề mang giá trị pháp lý!

1- Tôi cho rẳng Công hàm 1958 không bao giờ là một đề xuất của Chính phủ (Đại diện là thủ tướng Phạm văn Đồng) nhưng nó có giá trị của nó.

2- Bác bỏ cái tờ giấy bị gọi Công hàm 1958 là một sai lầm nghiêm trọng và sẽ rơi vào bẫy của Trung Quốc.

3- Thực ra nghe các bác gọi là Công hàm 1958 nhưng tôi không cho rằng đó không phải là công hàm. Nếu bác nào đã được tận mắt thấy một công hàm nào khác xin so sánh cho tôi biết .

4- Nếu cái tờ giấy đó không phải là Công hàm thì nó là cái gì ?

5- Nó không phải là một công hàm thì cần gì QH phải bãi bỏ nó.>:)

diết_khứa
24-03-2012, 04:25 PM
Xin các vị hộc giả Hắc Sồ xem lại cách dùng từ của BBC nè :


BBC: Theo nhận định của ông, lá thư của Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã được viết trong hoàn cảnh nào?

Tiến sĩ Balazs Szalontai: Trước tiên, ta nói về tuyên bố của Trung Quốc. Nó ra đời trong bối cảnh có Hội nghị Liên Hiệp Quốc về Luật Biển năm 1956 và các hiệp định được ký sau đó năm 1958. Lẽ dễ hiểu, Trung Quốc, mặc dù không phải là thành viên của Liên Hiệp Quốc, cũng muốn có tiếng nói về cách giải quyết những vấn đề đó. Vì lẽ đó ta có tuyên bố của Trung Quốc tháng Chín 1958.

Đấy nhé..lá thư của Thủ Tướng Phạm Văn Đồng.:lele: dek có công hàm gì hết.

Một nước cờ cao,một lá thư không phải là một công hàm được viết của một lãnh đạo cao nhất nhưng vẫn không đủ thẩm quyền quyết định thay cho QH liệu có giá trị thực tế ?

Hãy ví dụ : thằng con trai trưởng của bạn viết giấy bán nhà..nhưng nó hoàn toàn không đứng tên.=)) Thế mà cũng có đứa tin =))

Mr Leo
24-03-2012, 04:40 PM
Kiến thức về mấy vẩn đề này mình không biết được nhiều nên ngồi kê dép hóng chuyện. Lão Tư Ếch quy ẩn một thời gian giờ quay lại HSO có vẻ công lực đã thâm hậu và lợi hại hơn gấp bội. Mong đồng chí Ếch cố gắng phát huy để anh em 4r được mở mang và hiểu biết thêm nhiều, HSO có vẻ như là đang có một làn gió mới thổi vào làm tươi mát lại rồi đây:))

hhhh
24-03-2012, 04:44 PM
Xin các vị hộc giả Hắc Sồ xem lại cách dùng từ của BBC nè :


BBC: Theo nhận định của ông, lá thư của Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã được viết trong hoàn cảnh nào?

Tiến sĩ Balazs Szalontai: Trước tiên, ta nói về tuyên bố của Trung Quốc. Nó ra đời trong bối cảnh có Hội nghị Liên Hiệp Quốc về Luật Biển năm 1956 và các hiệp định được ký sau đó năm 1958. Lẽ dễ hiểu, Trung Quốc, mặc dù không phải là thành viên của Liên Hiệp Quốc, cũng muốn có tiếng nói về cách giải quyết những vấn đề đó. Vì lẽ đó ta có tuyên bố của Trung Quốc tháng Chín 1958.

Đấy nhé..lá thư của Thủ Tướng Phạm Văn Đồng.file:///C:/Users/HPV/AppData/Local/Temp/msohtmlclip1/01/clip_image001.gif dek có công hàm gì hết.
Một nước cờ cao,một lá thư không phải là một công hàm được viết của một lãnh đạo cao nhất nhưng vẫn không đủ thẩm quyền quyết định thay cho QH liệu có giá trị thực tế ?
Hãy ví dụ : thằng con trai trưởng của bạn viết giấy bán nhà..nhưng nó hoàn toàn không đứng tên.file:///C:/Users/HPV/AppData/Local/Temp/msohtmlclip1/01/clip_image002.gif Thế mà cũng có đứa tin file:///C:/Users/HPV/AppData/Local/Temp/msohtmlclip1/01/clip_image002.gif

Đúng là không hiểu gì lại còn hay nói linh tinh. Công hàm là công văn ngoại giao của nước này trao cho nước khác.

Trên Công hàm 1958 có nguyên dấu của Thủ tướng chính phủ đương thời Phạm Văn Đồng. Đã có dấu của chính phủ , đại diện cho quyền hành của Chính phủ, thì đó phải là Công văn.

Và công văn này mang tính ngoại giao vì được Đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc trao cho Chu Ân Lai.

Nếu gọi đó là lá thư thì khác gì thư tay ông Đồng gửi cho…vợ ông ý?! Đọc thì cũng phải nghĩ một chút!!

diết_khứa
24-03-2012, 04:47 PM
Kiến thức về mấy vẩn đề này mình không biết được nhiều nên ngồi kê dép hóng chuyện. Lão Tư Ếch quy ẩn một thời gian giờ quay lại HSO có vẻ công lực đã thâm hậu và lợi hại hơn gấp bội. Mong đồng chí Ếch cố gắng phát huy để anh em 4r được mở mang và hiểu biết thêm nhiều, HSO có vẻ như là đang có một làn gió mới thổi vào làm tươi mát lại rồi đây:))

Đừng ca ngợi tư ếch quá lão Leo mít ...http://hoangsa.org/forum/imagehostnew/165084ea674f795fac.gif có còn ta đây mờ..

Mr Leo
24-03-2012, 04:50 PM
Kiến thức về mấy vẩn đề này mình không biết được nhiều nên ngồi kê dép hóng chuyện. Lão Tư Ếch quy ẩn một thời gian giờ quay lại HSO có vẻ công lực đã thâm hậu và lợi hại hơn gấp bội. Mong đồng chí Ếch cố gắng phát huy để anh em 4r được mở mang và hiểu biết thêm nhiều, HSO có vẻ như là đang có một làn gió mới thổi vào làm tươi mát lại rồi đây:))

Đừng ca ngợi tư ếch quá lão Leo mít ...http://hoangsa.org/forum/imagehostnew/165084ea674f795fac.gif có còn ta đây mờ..
Ta bít nhà ngươi là ai mà;;)

hhhh
24-03-2012, 05:04 PM
Vậy theo anh CH 1958 chỉ là một đề xuất và không có hiệu lực nhưng tại sao QH ngày nay không bãi bỏ nó bằng một nghị quyết có hiệu lực để an dân. Có ý kiến cho rằng có thể còn một "mật ước" quan trọng hơn, là tiền đề của CH1958 sau này, anh có tin điều này không ?

Không có mật ước nào cả. Nếu có mật ước đó thì Trung Quốc đã đưa ra vào quãng thời gian từ 1977-1986, thời gian quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc rất căng thẳng. Hai bên đáp trả nhau trên BBC trong một thời gian dài, và lúc đó Trung Quốc đang chiếm lợi thế lớn với việc chiếm được Hoàng Sa + bắt tay với Mỹ.

Quay lại Hiến pháp 1946, tất cả các vấn đề liên quan đến lãnh thổ, lãnh hải (liên quan đến vận mệnh quốc gia) đều phải có sự xem xét và chuẩn y của Nghị viện. CH 1958 là đề xuất nhưng chưa bao giờ được đưa lên Nghị viện, như vậy nó cùng lắm được coi là một văn bản sai phạm của Chính phủ, đi ngược lại Hiến pháp, nên nó vô hiệu. Và không cần QH phải bãi bỏ cái gì cả.

việt CƯỜNG
24-03-2012, 05:22 PM
vậy em có thể hiểu đơn giản là vầy được ko ah, đại khái đó chỉ là 1 văn bản sai phạm của chính phủ và hoàn toàn chưa được QH năm đó thông qua, và giờ đây, cả QH và CP hiện hành cũng chẳng việc gì phải đem ra để tuyên bố đó là 1 văn bản sai phạm vì đơn giản nó đã là 1 thứ sai phạm, đem nó ra để tuyên bố sai phạm thì chẳng khác nào vả vào mặt mình rằng tao tuyên bố tao sai, và cũng là lúc để tụi nó nói ngược lại chúng ta rằng vậy mày làm sai thì sao giờ tới giờ mới tuyên bố làm sai, chẳng lẽ trước đó tụi mày vẫn cho rằng tụi mày làm đúng, vậy thì rõ ràng tụi mày làm đúng trước khi tụi mày tuyên bố tụi mày làm sai (hỏng não:3_003:), và thêm nữa là tụi mày đang lật lọng, mà cái nòi lật lọng thì ai tin cho được, em hiểu vậy có đúng ko các bác, vậy thì điểm 10 cho CP và QH, cao tay

Huyền Trân
24-03-2012, 07:31 PM
Vấn đề nằm ở chỗ anh C cũng thừa nhận hàng rào đó là hàng rào của nhà anh A (Đọc hiệp định Geneve) !!! Thực tế anh C cũng có sở hữu cái hàng rào đó đâu mà nhận vơ?!
Hiệp định Genève 1954, mà Trung Quốc là một nước tham gia chính thức, cũng thừa nhận chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về người Việt Nam. Các điều khoản trong Hiệp định cũng yêu cầu các quốc gia tham dự Hội nghị cam kết tôn trọng chủ quyền độc lập, nền thống nhất quốc gia và sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Do vậy, phần tuyên bố về chủ quyền của Trung Quốc liên quan tới hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam trong bản tuyên bố ngày 4/9/1958 về cơ sở pháp lý quốc tế đương nhiên được xem là không có hiệu lực.

Ngoài ra em không có gì thắc mắc nữa,cám ơn bác Tư.
Gửi các đồng chí cái này đọc chơi :)

Theo tôi, việc công bố công hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng của Trung tâm dữ liệu Hoàng Sa là hết sức sáng suốt. Tuy chính trị là vấn đề nhạy cảm nhưng vẫn cần thiết được đưa ra bàn luận để mọi người hiểu đúng, có thế mới giải quyết tốt được. Báo chí cũng không nên vì "nhạy cảm" mà "ém" chuyện. Với uy tín và tư cách của một cơ quan hành chính, Trung tâm dữ liệu Hoàng Sa hãy tìm mọi cách đem tiếng nói của mình đến với cộng đồng trẻ tuổi Việt Nam và quốc tế, đồng thời kêu gọi chính phủ cùng nhân dân đấu tranh dựa trên luật pháp quốc tế để bảo vệ đất nước, chống lại các thế lực xấu.
"NƯỚC VIỆT NAM LÀ MỘT, DÂN TỘC VIỆT NAM LÀ MỘT. SÔNG CÓ THỂ CẠN, NÚI CÓ THỂ MÒN, SONG CHÂN LÝ ĐÓ KHÔNG BAO GIỜ THAY ĐỔI"
Nguồn: http://www.vnpressnet.com/2009/02/cong-ham-nam-1958-cua-tt-pham-van-ong_7970.html

hhhh
24-03-2012, 08:32 PM
em chỉ xin phép lưu í bác điểm này đó là về mặt lí luận bác không thể cho rằng vì bọn mĩ nó sai nên mình có quyền sai nhưng hơn thế nữa thằng mĩ nó nói về đất nước mình không thể bằng mình nói về đất nước mình được. nhưng việc này mà nêu ra thì nó chớ chêu lắm vì mình sẽ phải nói với thế giới là quân đội nhân dân VN sai về tên của đất nước mình nên nó không có giá trị mà phải dùng tên do sở đặt tên của thằng mĩ mới đúng nên em sợ nếu bác cứ vịn vào cái đúng của bọn mĩ làm hậu thuẩn để khỏa lấp cái sai của mình thì càng làm cho mình chở thành trò cười cho tụi tàu nên em xin bác lí luận cách khác thì có khi hữu ích hơn

Cậu đọc mà không hiểu cái gì cả.
Tôi không lấy Mỹ làm hậu thuẫn. Tôi lấy Ủy ban về tên địa lý của Mỹ (một cơ quan uy tín có tầm cỡ quốc tế) như một ví dụ điển hình để chứng minh rằng:”Không có ai công nhận cái lý luận của Trung Quốc cả”. Và các cơ quan quốc tế khác cũng chẳng công nhận cái lý luận đó. Đơn giản thế thôi!

Thứ nữa cậu đang phán linh tinh về chuyện dùng tên thằng Mỹ đặt cho. Ủy ban về tên địa lý của Mỹ phải làm nghiên cứu và điều tra xem một địa danh trên thực tế được gọi theo những cách nào. Ví dụ cùng là Robert Island (Tên quốc tế) trên thực tế cũng được gọi là Đảo Hữu Nhật (tên Việt Nam). Chứ chả có thằng Mỹ nào nó tự nghĩ ra tên để đặt cả??? Hic, sao có một số có khả năng đọc hiểu …như vậy chứ?

Chuyện Ủy ban này ghi nhận tên tiếng Việt đối với các đảo thuộc quần đảo HS – TS cho thấy sự công nhận về yêu sách chủ quyền của Việt Nam. Và mấy lời của Tq là vô dụng.

nguyenduyvu2010
24-03-2012, 09:45 PM
Công hàm đó không nói rõ về HS hay TS mà chỉ nói sẽ chỉ đạo ở dưới triệt để tôn trọng lãnh hải 12hl của tq,điều này phù hợp với thời điểm đó là phân chia ranh giới vịnh bắc bộ(ngoài vĩ tuyến 17)chứ không hề nói gì về vấn đề HS hay TS,với lại khi TQ đánh chiếm HS "chính phủ lâm thời cách mạng miền nam" đã lên tiếng phản đối,vào thời điểm đó Chính phủ này đủ pháp lí để phản đối,nếu công hàm của thủ tướng PVĐ mà có giá trị thì TQ đã đem ra LHQ để đòi tranh chấp với VN chứ việc gì nó phải bất chấp luật pháp quốc tế để làm càng

Sự thật về công hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng
Gần đây Trung Quốc luôn rêu rao cái gọi là họ có chủ quyền không thể tranh cãi đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Việc Trung Quốc diễn giải nội dung Công hàm ngày 14/9/1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng như là một chứng cứ cho thấy Việt Nam đã công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là hết sức phiến diện và xuyên tạc nội dung, ý nghĩa của bản Công hàm đó, hoàn toàn xa lạ với nền tảng pháp lý của Việt Nam cũng như luật pháp quốc tế, bất chấp thực tế khách quan của bối cảnh lịch sử đương thời.

Có thể nói, giải thích xuyên tạc Công hàm 1958 là một trong chuỗi những hành động có tính toán nhằm tạo cớ, từng bước hợp thức hóa yêu sách chủ quyền phi lý của họ đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.
Theo lý giải của Trung Quốc, ngày 4/9/1958, Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai đã công khai tuyên bố với quốc tế quyết định của Chính phủ Trung Quốc về hải phận 12 hải lý kể từ đất liền của Trung Quốc và các đảo ngoài khơi, bao gồm cả quần đảo Tây Sa và Nam Sa (tức quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam).

Sau đó, ngày 14/9/1958, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) Phạm Văn Đồng gửi Công hàm cho Thủ tướng Chu Ân Lai, nguyên văn như sau:

"Thưa Đồng chí Tổng lý,

Chúng tôi xin trân trọng báo tin để Đồng chí Tổng lý rõ: Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của Chính phủ nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc.

Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa trên mặt biển. Chúng tôi xin kính gửi Đồng chí Tổng lý lời chào rất trân trọng”.

Cần phải thấy rằng, các tuyên bố nói trên của Trung Quốc cũng như của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời trong bối cảnh có nhiều chuyển biến phức tạp và cấp bách đối với Trung Quốc về tình hình lãnh thổ trên biển theo luật pháp quốc tế cũng như diễn biến căng thẳng của vấn đề quân sự xung quanh eo biển Đài Loan.
Năm 1956, Liên Hợp Quốc bắt đầu tiến hành các hội nghị quốc tế bàn về Luật Biển, sau đó một số hiệp định được ký kết vào năm 1958, tuy nhiên vẫn chưa làm thỏa mãn yêu sách về lãnh hải của một số quốc gia.

Bối cảnh xuất hiện công hàm

Từ đầu thế kỷ 20, nhiều quốc gia đã bắt đầu chú ý tới nguồn lợi to lớn từ khoáng sản và tài nguyên biển, bộc lộ ý đồ mở rộng chủ quyền trên biển. Trung Quốc, dù trong lịch sử ít quan tâm đến biển, cũng bắt đầu chú ý đến việc mở mang, kiếm tìm những đặc quyền trên biển. Mặc dù lúc đó chưa phải là thành viên của Liên Hợp Quốc, nhưng Trung Quốc cũng bắt đầu chú ý đến việc lên tiếng với cộng đồng quốc tế nhằm giải quyết các vấn đề trên biển theo hướng có lợi cho Trung Quốc.

Trong chiến lược cho tương lai, thì việc cạnh tranh trên biển, cũng như tìm kiếm những nguồn tài nguyên trên biển là một vấn đề được Trung Quốc đặt ra. Trên thực tế, cũng từ đầu thế kỷ 20, Trung Quốc đã hình thành ý định nhòm ngó các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.

Rõ ràng, việc nhòm ngó các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam từ thế kỷ 20 đã nằm trong chiến lược "lấn sân” của Trung Quốc về tham vọng mở rộng biên giới quốc gia trên biển.

Ngày 26/5/1950, chiến tranh Triều Tiên bùng nổ, Tổng thống Hoa Kỳ Harry S. Truman đã ra lệnh cho Hạm đội 7 tiến vào eo biển Đài Loan, ngăn chặn cuộc tấn công của Trung Quốc nhắm vào các đảo trên eo biển Đài Loan. Với hành động này, Mỹ đã thực sự bảo hộ Đài Loan, mặc cho Trung Quốc kịch liệt lên án.

Để tỏ rõ quyết tâm giải phóng Đài Loan, ngày 3/9/1954, Trung Quốc đã tấn công trừng phạt đối với các hòn đảo ven biển như Kim Môn, Mã Tổ. Các nhà chép sử gọi đây là cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan lần thứ nhất.
Ngày 11/8/1954, Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai tuyên bố sẽ "giải phóng” Đài Loan, và tăng cường pháo kích vào hai đảo Kim Môn và Mã Tổ.

Ngày 12/9/1954, Chủ tịch Hội đồng Liên quân Hoa Kỳ đưa ra dự tính tấn công Trung Quốc bằng vũ khí nguyên tử nhưng Tổng thống Eisenhower đã do dự sử dụng vũ khí nguyên tử cũng như sự liên can của quân đội Hoa Kỳ vào cuộc chiến này.

Năm 1958, tiếp tục xảy ra cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan lần thứ hai. Ngày 23/8/1958 Trung Quốc đột ngột tăng cường nã pháo vào đảo Kim Môn. Theo Hiệp định Phòng thủ tương hỗ giữa Đài Loan-Hoa Kỳ, Tổng thống Eisenhower đã ra lệnh cho tàu chiến Hoa Kỳ đến bảo vệ đường tiếp tế hậu cần từ đảo Đài Loan đến 2 đảo tiền tiêu Kim Môn và Mã Tổ.

Ngoài bối cảnh "phức tạp và cấp bách” đối với Trung Quốc như đã nêu trên, theo Thạc sĩ Hoàng Việt (Quỹ Nghiên cứu Biển Đông), Công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng ra đời trong bối cảnh quan hệ đặc thù Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – Trung Quốc lúc đó "vừa là đồng chí vừa là anh em”.

Năm 1949, bộ đội Việt Nam còn tấn công và chiếm vùng Trúc Sơn thuộc lãnh thổ Trung Quốc từ tay các lực lượng khác rồi trao trả lại cho Quân giải phóng Trung Quốc. Năm 1957, Trung Quốc chiếm giữ đảo Bạch Long Vĩ của Việt Nam từ tay một số lực lượng khác, rồi sau đó cũng trao trả cho Việt Nam.

Điều này cho thấy quan hệ đặc thù của hai nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – Trung Quốc lúc bấy giờ. Do vậy, trong tình hình lãnh thổ Trung Quốc đang bị đe dọa chia cắt, cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan lần thứ hai khiến Hải quân Hoa Kỳ đưa tàu chiến vào can thiệp, việc Trung Quốc ra tuyên bố về lãnh hải bao gồm đảo Đài Loan trước hết nhằm khẳng định chủ quyền trên biển của Trung Quốc trong tình thế bị đe dọa tại eo biển Đài Loan.

Tuy nhiên, Trung Quốc vẫn không quên mục đích "sâu xa” của họ trên Biển Đông nên đã "lồng ghép” thêm hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam vào bản tuyên bố. Công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng xuất phát từ mối quan hệ rất đặc thù với Trung Quốc trong thời điểm Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đang rất cần tranh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ của các quốc gia trong khối xã hội chủ nghĩa bấy giờ và là một cử chỉ ngoại giao tốt đẹp thể hiện quan điểm ủng hộ của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong việc tôn trọng lãnh hải 12 hải lý của Trung Quốc trước các diễn biến quân sự phức tạp trên eo biển Đài Loan.

Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã phát biểu những lời ủng hộ Trung Quốc trong hoàn cảnh hết sức khẩn trương, chiến tranh chuẩn bị leo thang, Hạm đội 7 của Mỹ đang tiến vào eo biển Đài Loan và đe dọa Trung Quốc.

Nội dung Công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng được thể hiện rất thận trọng, đặc biệt là không hề có việc tuyên bố từ bỏ chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Bởi, hơn ai hết, chính Thủ tướng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thấu hiểu quyền tuyên bố về lãnh thổ quốc gia thuộc thẩm quyền cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất là Quốc hội, và việc bảo vệ tòan vẹn lãnh thổ quốc gia luôn luôn là mục tiêu hàng đầu đối với Nhà nước và nhân dân Việt Nam, nhất là trong hoàn cảnh ra đời của Công hàm như đã nêu trên.

Công hàm 1958 có hai nội dung rất rõ ràng: Một là, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành việc Trung Quốc mở rộng lãnh hải ra 12 hải lý; Hai là, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chỉ thị cho các cơ quan nhà nước tôn trọng giới hạn lãnh hải 12 hải lý mà Trung Quốc tuyên bố.

Trong Công hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng không có từ nào, câu nào đề cập đến vấn đề lãnh thổ và chủ quyền, càng không nêu tên bất kỳ quần đảo nào như Trung Quốc đã nêu.

Do vậy, chỉ xét về câu chữ trong một văn bản có tính chất ngoại giao cũng dễ dàng nhận thấy mọi suy diễn cho rằng Công hàm 1958 đã tuyên bố từ bỏ chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và coi đó là bằng chứng khẳng định Việt Nam đã thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo này là xuyên tạc lịch sử và hoàn toàn không có cơ sở pháp lý.

Việt Nam có chủ quyền không thể chối cãi với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

Tại Hội nghị San Francisco 1951, các quốc gia tham dự đã bác bỏ yêu sách về chủ quyền của Trung Quốc trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Cũng tại hội nghị này, Việt Nam đã long trọng tuyên bố chủ quyền lâu đời và liên tục của mình trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong phiên họp toàn thể mà không có bất kỳ sự phản đối hay ý kiến gì khác của tất cả các quốc gia tham dự. Điều đó có nghĩa là kể từ năm 1951, cộng động quốc tế đã thừa nhận chủ quyền lịch sử và pháp lý của Việt Nam tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Những tuyên bố đơn phương về chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo này theo luật pháp quốc tế là vô hiệu. Hiệp định Genève 1954, mà Trung Quốc là một nước tham gia chính thức, cũng thừa nhận chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về người Việt Nam. Các điều khoản trong Hiệp định cũng yêu cầu các quốc gia tham dự Hội nghị cam kết tôn trọng chủ quyền độc lập, nền thống nhất quốc gia và sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.

Do vậy, phần tuyên bố về chủ quyền của Trung Quốc liên quan tới hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam trong bản tuyên bố ngày 4/9/1958 về cơ sở pháp lý quốc tế đương nhiên được xem là không có hiệu lực.

Trong Công hàm 1958, Thủ tướng Phạm Văn Đồng không hề đề cập đến hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Vì điều đó là không cần thiết, bởi theo Hiệp định Genève 1954, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm phía Nam vĩ tuyến 17 tạm thời thuộc quyền quản lý của Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa (VNCH).

Trong thời điểm đó, dưới góc độ tài phán quốc tế, thì Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không có nghĩa vụ và quyền hạn hành xử chủ quyền tại hai quần đảo này theo luật pháp quốc tế. Công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng đương nhiên chỉ tán thành những tuyên bố của Trung Quốc có nội dung hợp pháp được cộng đồng quốc tế thừa nhận trên cơ sở luật pháp quốc tế cho đến giai đoạn đó.

Một phần nội dung của bản tuyên bố ngày 4/9/1958 của Trung Quốc đã vi phạm nghiêm trọng chủ quyền quốc gia về lãnh thổ của Việt Nam, đồng thời cũng vi phạm nghiêm trọng các cơ sở pháp lý về chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà cộng đồng quốc tế đã thừa nhận cũng như đã nhiều lần tái thừa nhận một cách minh thị là thuộc chủ quyền của Việt Nam.

Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong bối cảnh quan hệ hữu nghị rất đặc thù với Trung Quốc đã khẳng định lập trường ghi nhận, tán thành tuyên bố giới hạn 12 hải lý về lãnh hải của Trung Quốc, còn những nội dung cụ thể diễn giải vượt quá phạm vi chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc theo các hiệp ước quốc tế đã không được đề cập tới như là một sự mặc nhiên thừa nhận sự vô hiệu của nó dưới ánh sáng của pháp luật quốc tế.

Trong khi đó, Chính quyền Việt Nam Cộng hòa, theo Hiệp định Genève 1954, đã liên tục thực thi chủ quyền lâu đời của người Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa bằng các văn bản hành chính nhà nước cũng như bằng việc triển khai thực thi chủ quyền thực tế trên hai quần đảo này.

Đỉnh cao của sự khẳng định chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong giai đoạn này là trận hải chiến quyết liệt của Hải quân Việt Nam Cộng hòa chống lại sự xâm lược của tàu chiến và máy bay Trung Quốc tại quần đảo Hoàng Sa năm 1974

Trong bối cảnh lịch sử đặc biệt nêu trên càng thấy rõ một sự thật hiển nhiên là Công hàm ngày 14/9/1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng đơn giản chỉ ghi nhận lãnh hải 12 hải lý của Trung Quốc, không hề nhắc lại các nội dung mập mờ liên quan đến các quần đảo thuộc chủ quyền của Việt Nam.

Về thực chất, Công hàm 1958 thể hiện một thái độ chính trị, một cử chỉ hữu nghị với tuyên bố giới hạn lãnh hải 12 hải lý của Trung Quốc. Thực là phi lý, nếu cố tình suy diễn và xuyên tạc (như lập luận phía Trung Quốc), cho rằng Thủ tướng Phạm Văn Đồng, người con ưu tú của dân tộc, lại ký văn bản từ bỏ lãnh thổ và chủ quyền của đất nước trong khi chính ông và cả dân tộc Việt Nam đã chiến đấu hết mình để giành độc lập, tự do.

Có lẽ cần phải nhấn mạnh rằng tất cả những hành động ngoại giao của Thủ tướng Phạm Văn Đồng trong Công hàm 1958 có thể hiểu không phải là ông không nhìn thấy mọi ý đồ của Trung Quốc đối với cách mạng Việt Nam vì ông đã có kinh nghiệm trong bàn đàm phán Genève năm 1954, khi mà Trung Quốc đã có không ít động thái rất bất lợi cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Nội dung Công hàm ngày 14/9/1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng phù hợp với hoàn cảnh và mối quan hệ đặc thù giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Trung Quốc bấy giờ, đồng thời cũng hàm chứa thái độ không bao giờ từ bỏ chủ quyền của người Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đó cũng là quan điểm nhất quán của Việt Nam, bởi từ năm 1945 đến nay, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Quốc hội Việt Nam Cộng hòa, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và sau đó là Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và hiện nay là Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam chưa bao giờ lên tiếng hoặc ra nghị quyết từ bỏ chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Về thuyết "estoppel”

Một cơ sở nữa trên phương diện pháp lý, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lúc đó không trực tiếp quản lý đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Trước năm 1975, các quốc gia và lãnh thổ tranh chấp gồm: Trung Quốc, Đài Loan, Việt Nam Cộng hòa và Philippines. Như vậy, những lời tuyên bố của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa xem như lời tuyên bố của một quốc gia thứ ba không có ảnh hưởng đến vụ tranh chấp.

Tuy nhiên, có tác giả đã cố tình nêu thuyết "estoppel” để suy diễn những lời tuyên bố đó có hiệu lực bó buộc đối với Việt Nam.

Theo luật quốc tế, không có một văn bản pháp lý nào có thể gắn cho những lời tuyên bố đơn phương một tính chất bó buộc, ngoại trừ thuyết "estoppel”. Mục đích chính của nó ngăn chặn trường hợp một quốc gia có thể hưởng lợi vì những thái độ bất nhất của mình, và do đó, gây thiệt hại cho quốc gia khác.

Vì vậy, estoppel phải hội đủ các điều kiện chính:

(1) Lời tuyên bố hoặc hành động phải do một người hoặc cơ quan đại diện cho quốc gia phát biểu và phải được phát biểu một cách minh bạch;
(2) Quốc gia nại "estoppel” phải chứng minh rằng mình đã dựa trên những lời tuyên bố hoặc hoạt động của quốc gia kia, mà có những hoạt động nào đó, hoặc không hoạt động;
(3) Quốc gia nại "estoppel” cũng phải chứng minh rằng, vì dựa vào lời tuyên bố của quốc gia kia, mình đã bị thiệt hại, hoặc quốc gia kia đã hưởng lợi khi phát biểu lời tuyên bố đó;
(4) Nhiều bản án còn đòi hỏi lời tuyên bố hoặc hoạt động phải được phát biểu một cách liên tục và lâu dài. Thí dụ: bản án "Phân định biển trong vùng Vịnh Maine”, bản án "Những hoạt động quân sự và bán quân sự tại Nicaragua”, bản án "Ngôi đền Preah Vihear”..

Áp dụng những nguyên tắc trên của estoppel vào những lời tuyên bố của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, chúng ta thấy thiếu điều kiện 2 và 3 đã nêu ở trên. Năm 1956, năm 1958 và năm 1965, Trung Quốc đã không có thái độ nào, hoặc thay đổi thái độ vì dựa vào lời tuyên bố của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trung Quốc cũng không thể chứng minh được rằng mình bị thiệt hại gì do dựa vào những lời tuyên bố đó. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng không được hưởng lợi gì khi có những lời tuyên bố đó.

Trong suốt quá trình thực hiện mưu đồ bá chủ trên Biển Đông, Trung Quốc đã không ít lần đưa ra các tài liệu xuyên tạc lịch sử, biến có thành không, biến không thành có, tung hỏa mù để cố tình làm sai lệch nhận thức của chính nhân dân Trung Quốc cũng như của cộng đồng quốc tế về vấn đề này theo hướng có lợi cho mưu đồ của Trung Quốc.

Tuy nhiên, trước những bằng chứng hiển nhiên của sự thật lịch sử và dưới ánh sáng của luật pháp quốc tế những hành vi xuyên tạc, tung hỏa mù, cố tình làm cho cộng đồng quốc tế ngộ nhận càng khiến cho Trung Quốc lộ rõ âm mưu cũng như thủ đoạn của họ trong suốt quá trình áp đặt ý đồ "nuốt trọn” Biển Đông, theo kiểu "miệng nói hòa bình không xưng bá, tay làm phức tạp hoá tình hình”. Tag: Tranh
nguồn: baodatviet

Bụi Đời
24-03-2012, 11:17 PM
Mãi mới thấy 1 còm tương đối!Cái công hàm đó nó có nói gì tới Trường Sa,Hoàng Sa đâu mà tử huyệt với bổ huyệt=)) Đã thế lại có tồng chí đòi xóa nó đi. Nản với mấy con " chí" thức =))

Gửi bác:


TUYÊN BỐ NGÀY 4/9/1958 CỦA TRUNG QUỐC:




“TUYÊN BỐ CỦA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HÒA NHÂN DÂN TRUNG HOA VỀ LÃNH HẢI (ÐƯỢC THÔNG QUA TRONG KỲ HỌP THỨ 100 CỦA BAN THƯỜNG VỤ ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU NHÂN DÂN TOÀN QUỐC NGÀY 4 THÁNG 9 NĂM 1958)

CỘNG HÒA NHÂN DÂN TRUNG HOA NAY TUYÊN BỐ:

(1) CHIỀU RỘNG LÃNH HẢI CỦA NƯỚC CỘNG HÒA NHÂN DÂN TRUNG HOA LÀ 12 HẢI LÝ. ÐIỀU LỆ NÀY ÁP DỤNG CHO TOÀN LÃNH THỔ NƯỚC CỘNG HÒA NHÂN DÂN TRUNG HOA, BAO GỒM PHẦN ĐẤT TRUNG QUỐC TRÊN ĐẤT LIỀN VÀ CÁC HẢI ĐẢO NGOÀI KHƠI, ÐÀI LOAN (TÁCH BIỆT KHỎI ĐẤT LIỀN VÀ CÁC HẢI ĐẢO KHÁC BỞI BIỂN CẢ) VÀ CÁC ĐẢO PHỤ CẬN, QUẦN ĐẢO BÀNH HỒ, QUẦN ĐẢO ÐÔNG SA, QUẦN ĐẢO TÂY SA, QUẦN ĐẢO TRUNG SA, QUẦN ĐẢO NAM SA, VÀ CÁC ĐẢO KHÁC THUỘC TRUNG QUỐC.

(2) CÁC ĐƯỜNG THẲNG NỐI LIỀN MỖI ĐIỂM CĂN BẢN CỦA BỜ BIỂN TRÊN ĐẤT LIỀN VÀ CÁC ĐẢO NGOẠI BIÊN NGOÀI KHƠI ĐƯỢC XEM LÀ CÁC ĐƯỜNG CĂN BẢN CỦA LÃNH HẢI DỌC THEO ĐẤT LIỀN TRUNG QUỐC VÀ CÁC ĐẢO NGOÀI KHƠI. PHẦN BIỂN 12 HẢI LÝ TÍNH RA TỪ CÁC ĐƯỜNG CĂN BẢN LÀ HẢI PHẬN CỦA TRUNG QUỐC. PHẦN BIỂN BÊN TRONG CÁC ĐƯỜNG CĂN BẢN, KỂ CẢ VỊNH BOHAI VÀ EO BIỂN GIONGZHOU, LÀ VÙNG NỘI HẢI CỦA TRUNG QUỐC. CÁC ĐẢO BÊN TRONG CÁC ĐƯỜNG CĂN BẢN, KỂ CẢ ĐẢO DONGYIN, ĐẢO GAODENG, ĐẢO MAZU, ĐẢO BAIQUAN, ĐẢO NIAOQIN, ĐẢO ÐẠI VÀ TIỂU JINMEN, ĐẢO DADAM, ĐẢO ERDAN, VÀ ĐẢO DONGDINH, LÀ CÁC ĐẢO THUỘC NỘI HẢI TRUNG QUỐC.

(3) NẾU KHÔNG CÓ SỰ CHO PHÉP CỦA CHÍNH PHỦ CỘNG HÒA NHÂN DÂN TRUNG HOA, TẤT CẢ MÁY BAY NƯỚC NGOÀI VÀ TÀU BÈ QUÂN SỰ KHÔNG ĐƯỢC XÂM NHẬP HẢI PHẬN TRUNG QUỐC VÀ VÙNG TRỜI BAO TRÊN HẢI PHẬN NÀY. BẤT CỨ TÀU BÈ NƯỚC NGOÀI NÀO DI CHUYỂN TRONG HẢI PHẬN TRUNG QUỐC ĐỀU PHẢI TUYÊN THỦ CÁC LUẬT LỆ LIÊN HỆ CỦA CHÍNH PHỦ CỘNG HÒA NHÂN DÂN TRUNG HOA.

(4) ÐIỀU (2) VÀ (3) BÊN TRÊN CŨNG ÁP DỤNG CHO ÐÀI LOAN VÀ CÁC ĐẢO PHỤ CẬN, QUẦN ĐẢO BÀNH HỒ, QUẦN ĐẢO ÐÔNG SA, QUẦN ĐẢO TÂY SA, QUẦN ĐẢO TRUNG SA, QUẦN ĐẢO NAM SA, VÀ CÁC ĐẢO KHÁC THUỘC TRUNG QUỐC.

ÐÀI LOAN VÀ BÀNH HỒ HIỆN CÒN BỊ CƯỠNG CHIẾM BỞI HOA KỲ. ÐÂY LÀ HÀNH ĐỘNG BẤT HỢP PHÁP VI PHẠM SỰ TOÀN VẸN LÃNH THỔ VÀ CHỦ QUYỀN CỦA CỘNG HÒA NHÂN DÂN TRUNG HOA. ÐÀI LOAN VÀ BÀNH HỒ ĐANG CHỜ ĐƯỢC CHIẾM LẠI. CỘNG HÒA NHÂN DÂN TRUNG HOA CÓ QUYỀN DÙNG MỌI BIỆN PHÁP THÍCH ỨNG ĐỂ LẤY LẠI CÁC PHẦN ĐẤT NÀY TRONG TƯƠNG LAI. CÁC NƯỚC NGOÀI KHÔNG NÊN XEN VÀO CÁC VẤN ĐỀ NỘI BỘ CỦA TRUNG QUỐC”.


CÔNG HÀM NGÀY 14/9/1958:


"Thưa Đồng chí Tổng lý, Chúng tôi xin trân trọng báo tin để Đồng chí Tổng lý rõ: Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của Chính phủ nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc.

Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa trên mặt biển. Chúng tôi xin kính gửi Đồng chí Tổng lý lời chào rất trân trọng".

Nguyễn_Việt_Nam
24-03-2012, 11:51 PM
Vậy theo anh CH 1958 chỉ là một đề xuất và không có hiệu lực nhưng tại sao QH ngày nay không bãi bỏ nó bằng một nghị quyết có hiệu lực để an dân. Có ý kiến cho rằng có thể còn một "mật ước" quan trọng hơn, là tiền đề của CH1958 sau này, anh có tin điều này không ?

Không có mật ước nào cả. Nếu có mật ước đó thì Trung Quốc đã đưa ra vào quãng thời gian từ 1977-1986, thời gian quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc rất căng thẳng. Hai bên đáp trả nhau trên BBC trong một thời gian dài, và lúc đó Trung Quốc đang chiếm lợi thế lớn với việc chiếm được Hoàng Sa + bắt tay với Mỹ.

Quay lại Hiến pháp 1946, tất cả các vấn đề liên quan đến lãnh thổ, lãnh hải (liên quan đến vận mệnh quốc gia) đều phải có sự xem xét và chuẩn y của Nghị viện. CH 1958 là đề xuất nhưng chưa bao giờ được đưa lên Nghị viện, như vậy nó cùng lắm được coi là một văn bản sai phạm của Chính phủ, đi ngược lại Hiến pháp, nên nó vô hiệu. Và không cần QH phải bãi bỏ cái gì cả.
Mình cũng cùng quan điểm với diệt khứa. Nghị viện năm 1946 cũng như quốc hội sau này đều có chức năng giao nhiệm vụ và kiểm soát chính phủ. 1 văn bản sai phạm của chính phủ như vậy không có lý do gì nghị viện tại thời điểm ấy không biết, và không có biện pháp xử lý. Chí ít, nghị viện cũng cần nên có văn bản đính chính cho rõ lại các khoản trong công hàm 1958 để không gây hiểu nhầm sau này. Còn nữa, trước công hàm vài tháng, trung quốc có tuyên bố về lãnh hải, trong đó nói HS - TS là 1 bộ phận của lãnh hải trung quốc. Ngay trong giai đoạn này, chính phủ và nghị viện chắc chắn phải có biện pháp phản đối, chứ không phải là công hàm mang tính không gàng buộc như bác nói.

Bụi Đời
24-03-2012, 11:56 PM
Lạy hồn. Cái này trên HSO này cãi nhau từ năm ngoái cơ ạ.:not-worthy:


Bác đọc lại ý chủ topic muốn gửi gắm đi ạ:


Xét thấy bài trên đầy luận điệu mang tính học giả Trung Quốc nên tôi sẽ có một bài bình với hai mục tiêu:

1. Chứng minh luận điệu của Trung Quốc hoàn toàn mang tính mỵ dân.
2. Chứng minh rằng không có con tin nào xuất hiện từ CH 1958, Bản đò 1960 cả.

Chỉ vậy thôi.

Bụi Đời
25-03-2012, 12:15 AM
Rứa cả bác ui.
Năm ngoái còn có ý kiến rằng cái công hàm đó bán nước rồi là tại cái công hàm đó nên HS bị mất...nói chung là nhiều và kết quả cũng đã có rồi. CH năm 58 không công nhận chủ quyền của Trung Quốc.
Chỉ cần 1 ý này thôi thì chẳng có cái tử huyệt nào cả. Cũng chẳng có con tin gì sất
P.S: Các bác đọc bài báo bác gì Vũ post ở trang 4 trong đó nói quá rõ rồi còn gì

Các bác ở đây đang cố chứng minh cái kết quả đó đấy ạ. Bác có thể chỉ rõ CH 1958 không công nhận chủ quyền TQ ở điểm nào được không?

Bụi Đời
25-03-2012, 12:35 AM
Rứa cả bác ui.
Năm ngoái còn có ý kiến rằng cái công hàm đó bán nước rồi là tại cái công hàm đó nên HS bị mất...nói chung là nhiều và kết quả cũng đã có rồi. CH năm 58 không công nhận chủ quyền của Trung Quốc.
Chỉ cần 1 ý này thôi thì chẳng có cái tử huyệt nào cả. Cũng chẳng có con tin gì sất
P.S: Các bác đọc bài báo bác gì Vũ post ở trang 4 trong đó nói quá rõ rồi còn gì

Các bác ở đây đang cố chứng minh cái kết quả đó đấy ạ. Bác có thể chỉ rõ CH 1958 không công nhận chủ quyền TQ ở điểm nào được không?
Thế bác có thấy chữ " Chủ quyền" ở cái công hàm đó không? Mà đã không có thì tự nó đã chứng minh rồi còn cần gì nữa :D

Nói như bác thì thằng TQ nó ôm cái CH 1958 làm "bùa hộ mệnh" để làm gì khi mà nó không lợi dụng được gì từ CH đó. TQ có lý lẽ của TQ, VN có lý lẽ của VN, quan trọng là lý lẽ của ai thuyết phục hơn và chứng minh lý lẽ đó như thế nào.

Nguoi_quan_sat
25-03-2012, 12:37 AM
Không có mật ước nào cả. Nếu có mật ước đó thì Trung Quốc đã đưa ra vào quãng thời gian từ 1977-1986, thời gian quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc rất căng thẳng. Hai bên đáp trả nhau trên BBC trong một thời gian dài, và lúc đó Trung Quốc đang chiếm lợi thế lớn với việc chiếm được Hoàng Sa + bắt tay với Mỹ.

Quay lại Hiến pháp 1946, tất cả các vấn đề liên quan đến lãnh thổ, lãnh hải (liên quan đến vận mệnh quốc gia) đều phải có sự xem xét và chuẩn y của Nghị viện. CH 1958 là đề xuất nhưng chưa bao giờ được đưa lên Nghị viện, như vậy nó cùng lắm được coi là một văn bản sai phạm của Chính phủ, đi ngược lại Hiến pháp, nên nó vô hiệu. Và không cần QH phải bãi bỏ cái gì cả.


Theo vài nguồn tin thì năm 1979 đã có một tuyên bố :


TUYÊN BỐ CỦA BỘ NGOAI GIAO
NƯỚC CHXHCN VIỆT NAM
VỀ QUẦN ĐẢO HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA
(Ngày 7 tháng 8 năm 1979)
​Vào ngày 30/7/1979, Trung Quốc đã công khai công bố tại Bắc Kinh một số tài liệu với ý định để minh chứng cho việc tuyên bố chủ quyền của họ trên quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa. Về vấn đề này, Bộ Ngoại giao nước Cộng hoà Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam tuyên bố:

1. Quần đảo Hoàng Sa và Quần đảo Trường Sa là một phần của lãnh thổ Việt Nam. Các Sứ quân Việt Nam đã là những người đầu tiên trong lịch sử đến chiếm đóng, tổ chức, kiểm soát và khai phá các quần đảo này trong chức năng của họ như là các lãnh chúa. Quyền sở hữu này có hiệu quả và phù hợp với luật pháp quốc tế. Chúng tôi có đầy đủ các tài liệu lịch sử và luật pháp để chứng minh chủ quyền tuyệt đối trên hai quần đảo này.

2. Sự diễn giải của Trung quốc về văn bản ngày 14 tháng 9 năm 1958 của Thủ tướng nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà như một sự công nhận chủ quyền của phiá Trung quốc trên các quần đảo là một sự xuyên tạc trắng trợn khi tinh thần và ý nghĩa của bản văn chỉ có ý định công nhận giới hạn 12 hải lý của lãnh hải Trung quốc.

3. Năm 1965, Hoa Kỳ gia tăng cuộc chiến tranh xâm lược tại miền Nam Việt Nam và phát động một cuộc chiến huỷ diệt bằng không quân và hải quân chống lại miền Bắc Việt Nam. Họ đã tuyên bố rằng khu vực chiến trường của quân đội Hoa Kỳ bao gồm Việt Nam và vùng lân cận của khu vực khoảng 100 hải lý tính từ bờ biển Việt Nam. Vào lúc đó, trong cuộc đấu tranh chống Mỹ cứu nước, nhân dân Việt Nam đã phải chiến đấu trong mọi tình huống để bảo vệ chủ quyền đất nước. Thêm nữa, Việt Nam và Trung Quốc lúc đó vẫn duy trì quan hệ hữu nghị. Bản tuyên bố ngày 9/5/1965 của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã đưa ra lý do để tồn tại chỉ với quá trình lịch sử này.

4. Từ năm 1972, theo sau Bản Thông cáo chung Thượng Hải, những kẻ cai trị Trung Quốc đã âm mưu với bọn hiếu chiến Mỹ để phản bội nhân dân Việt Nam, gây ra biết bao nhiêu trở ngại cho cuộc chiến tranh tự vệ của Việt Nam. Ðầu Tháng Giêng 1974, chỉ trước khi nhân dân Việt Nam toàn thắng vào mùa Xuân 1975, Trung Quốc đã chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa bằng biện pháp quân sự, lúc đó vẫn dưới sự quản lý của chính quyền Sài Gòn.

Việt Nam Cộng Hòa lúc đó đã tuyên bố rõ ràng cương vị của họ như sau đây:

- Chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ là những câu hỏi thiêng liêng cho tất cả mọi quốc gia.
- Những khó khăn về biên giới lãnh thổ, thường tồn tại trong các cuộc tranh chấp giữa các nước láng giềng do lịch sử để lại, có thể vô cùng rắc rối và nên được nghiên cứu kỹ càng.
- Các quốc gia quan tâm nên cứu xét vấn đề này trong tinh thần công bằng, tôn trọng lẫn nhau, hòa nhã, láng giềng tốt và giải quyết vấn đề bằng sự thương lượng.

5. Tại các cuộc thảo luận tổ chức vào ngày 24/9/1975 với phái đoàn Ðảng và Nhà nước Việt Nam trong chuyến thăm viếng Trung Quốc, Phó Thủ tướng Ðặng Tiểu Bình đã thú nhận rằng có sự tranh chấp giữa hai bên về vấn đề quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và hai bên sau đó nên bàn thảo với nhau để giải quyết vấn đề

6. Chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa một cách bất hợp pháp bằng quân sự, Trung Quốc đã xâm phạm vào sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam và dẫm chân lên làm cản trở tinh thần của Hiến chương Liên Hiệp Quốc kêu gọi giải quyết tất cả các tranh chấp bằng thương lượng hoà bình. Sau khi phát động một cuộc chiến xâm lược Việt Nam với tầm vóc to lớn, phía Trung Quốc lại nêu ra vấn đề quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, trong khi tạo ra một tình trạng càng ngày càng căng thẳng dọc theo biên giới Việt Nam và từ chối việc thảo luận những giải pháp cấp thiết để bảo đảm hoà bình và ổn định trong khu vực biên giới giữa hai nước. Ðiều rõ ràng là những kẻ cai trị Trung Quốc vẫn không từ bỏ ý định tấn công Việt Nam một lần nữa. Hành động của họ là một sự đe doạ nghiêm trọng cho hoà bình và ổn định trong vùng Ðông Nam Á và làm lộ rõ hơn tham vọng bành trướng, với bản chất bá quyền hiếu chiến của một nước lớn, bộ mặt xảo trá lật lọng và phản bội của họ.

Hà Nội, ngày 7 tháng 8 năm 1979


Thật sự có tuyên bố này không ? nếu có thật sao không thấy bất kỳ tờ báo báo nào khi phản bác việc vô hiệu của CH1958 nêu ra ? vì lẽ gì ?

hhhh
25-03-2012, 12:47 AM
Bác ĐKP có nhắn thêm thông tin quan trọng:"Vì quá tin TQ nên việc in ấn bản đồ của VN đều do TQ in dùm nên mới có cớ sự như vậy nhưng vì đang chống Mỹ cứu nước nên VNDCCH mới ngậm bồ hòn."

cái ni cũng in bên tàu nên chúng chơi sỏ mình hả bác?

Cái nì là thông tin do bác ĐKP đưa ra. Độ chính xác đến đâu, tôi chịu. Nên hiểu nó mang tính chất tham khảo.



Ngay sau chiến thắng Buôn Ma Thuột, Quân ủy Trung ương kiến nghị với Bộ Chính trị "vừa chuẩn bị cho trận quyết chiến chiến lược cuối cùng, vừa tiến hành giải phóng các đảo và quần đảo quân ngụy đang chiếm giữ". Kiến nghị này đã được ghi trong Nghị quyết Bộ Chính trị ngày 25-3-1975(1).Triển khai chủ trương chiến lược đó, đồng chí Hoàng Trà, Chính ủy Quân chủng Hải quân được Quân ủy điều động về làm việc cạnh Bộ Tổng tham mưu, giúp theo dõi tình hình địch trên biển và đề xuất nhiệm vụ của hải quân. Đồng thời, Bộ Tổng tham mưu quyết định đưa Sở Chỉ huy tiền phương của Bộ Tư lệnh Hải quân vào Đà Nẵng xúc tiến công tác chuẩn bị giải phóng khu vực biển, đảo phía nam Tổ quốc. . Ngày 30-3-1975, Quân ủy Trung ương điện gửi các đồng chí Chu Huy Mân, Võ Chí Công, nêu rõ: "Theo chỉ thị của Bộ Chính trị, Thường vụ giao cho Khu ủy và Bộ Tư lệnh B1 nhiệm vụ nghiên cứu, chỉ đạo thực hiện gấp rút, nhằm thời cơ thuận lợi nhất, đánh chiếm các đảo hiện do quân ngụy miền nam chiếm đóng thuộc quần đảo Nam Sa. Trong việc này, anh Nguyễn Bá Phát, phái viên của Bộ Tổng Tham mưu và các cán bộ Hải quân đi cùng sẽ do Khu ủy và Quân khu ủy chỉ đạo để thực hiện kế hoạch"(2). http://www.baomoi.com/Giai-phong-quan-dao-Truong-Sa-va-cac-dao-tren-Bien-Dong/121/4079558.epi



Chuyện báo VN đưa tin sai là chuyện bình thường thôi. Có hẳn một topic về cái này.



CH 1958 là đề xuất nhưng chưa bao giờ được đưa lên Nghị viện



chưa đưa lên Nghị Viện mà đã giao cho tàu! giời ạ mấy bố nàm ăn kiểu gì thế?

Thế nó mới hay!

hhhh
25-03-2012, 12:58 AM
em hiểu chứ bác. rất hiểu là khác. bác muốn bắt bẻ thì em ghi lại như vầy nhé. thằng mĩ nó chọn tên thích hợp cho biển đảo của mình không giá trị bằng cách dùng tên của quân đội mình đâu bác vì như em chích dẫn ở trên quân ủy trung ương tức là lãnh đạo chính trị cao cấp của QDNDVN thì nó co giá trị lắm chứ. hay bác cho rằng cái quyết định đó chưa ra Nghị viện nên không có giá chị gì sất.


Câu trích dẫn từ nguồn nào ý nhỉ? Nguồn đó ở đâu ra thế? Cậu đưa hình ảnh nên đây giúp! Nói bậy!!!! Đừng có nói là baomoi.com viết thế nên tin là thật. Nghe như nó in sai hoặc đọc nhầm là Đảo Trụ thì trên quần đảo HS phải có cái đảo tên Trụ Cậu thật?!



cái lí luận của bác nó lũng to hơn lổ ô giôn nữa vì bác lấy thí dụ của 1 cơ quan của bọn mĩ để chứng minh ”Không có ai công nhận cái lý luận của Trung Quốc cả” thì có hơi tham lam và nguy hiểm vì hóa ra bác cho 1 cơ quan địa lí của mĩ là đại diện của tất cả mọi người ngoài tàu à?

Cậu mới gọi là nguy hiểm vì tôi có viết thế này:"Ủy ban về tên địa lý của Mỹ (một cơ quan uy tín có tầm cỡ quốc tế) như một ví dụ điển hình để chứng minh rằng:”Không có ai công nhận cái lý luận của Trung Quốc cả”.

Ví dụ điển hình là gì? Còn Mỹ chắc cũng đủ đại diện cho một cực thế giới trong thời gian chiến tranh lạnh + Liên Xô ủng hộ HS + TS là của VN từ 1975 -1991 (Liên Xô sụp đổ). Vậy hai thằng lớn trong thời gian thế giới hai cực đều không công nhận lý luận của Trung Quốc thì….đọc hiểu cỡ Han-Che nên suy nghĩ kĩ trước khi hỏi!

Bụi Đời
25-03-2012, 01:02 AM
Bùa hộ mệnh của nó là nó giầu hơn, mạnh hơn và nó muốn mị dân của nó chứ ko phải cái công hàm đâu bác đừng nhầm.
Nó muốngây chiến thì chẳng lẽ lại cứ đem quân sang đánh luôn mà ko có lý do gì dù rằng lý do đó rất dở hơi kiểu cái công hàm ? Bác thử đọc lại cái bài báo trang 4 đi, trong đó đã viết rất đầy đủ rồi. CH năm 1958 chẳng có giá trị xác nhận chủ quyền của Tầu ở trên HS- TS gì cả. Đó chỉ là văn bản ngoại giao mà lời lẽ cũng như cách thức thành lập hết sức mập mờ bác ạ. Tóm lại là bác cứ đọc kỹ đi thì sẽ thấy.

Đã đọc kỹ lắm rồi bác ạ. Thì tôi đã nói rồi đó, TQ nó diễn giải CH theo lý lẽ của nó, VN diễn giải CH theo lý lẽ của VN. Vấn đề là bác có chứng minh được cái CH đó có hiệu lực pháp lý hay không?

1/ TH 1: CH không có hiệu lực pháp lý ---> Không cần quan tâm diễn giải của TQ về chủ quyền HS, TS

2/ TH 2: CH có hiệu lực pháp lý ---> Diễn giải của TQ là có lý lẽ. Mặc dù CH không công nhận chủ quyền HS, TS là của TQ nhưng hiệu quả của CH sẽ được áp dụng trong "bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958" của TQ tức là bao gồm cả HS, TS

hhhh
25-03-2012, 01:03 AM
Bùa hộ mệnh của nó là nó giầu hơn, mạnh hơn và nó muốn mị dân của nó chứ ko phải cái công hàm đâu bác đừng nhầm.
Nó muốngây chiến thì chẳng lẽ lại cứ đem quân sang đánh luôn mà ko có lý do gì dù rằng lý do đó rất dở hơi kiểu cái công hàm ? Bác thử đọc lại cái bài báo trang 4 đi, trong đó đã viết rất đầy đủ rồi. CH năm 1958 chẳng có giá trị xác nhận chủ quyền của Tầu ở trên HS- TS gì cả. Đó chỉ là văn bản ngoại giao mà lời lẽ cũng như cách thức thành lập hết sức mập mờ bác ạ. Tóm lại là bác cứ đọc kỹ đi thì sẽ thấy.
Nói vớ vẩn, đọc cho kỹ vào trước khi nói. Ở đây thằng Tàu nó nêu mấy điểm liền chứ không phải Công hàm 1958 không!


Công hàm 1958 (ok, cứ cho không nói Tây Sa, Nam Sa của Trung Quốc đi)
Thế tại sao: Bản đồ thế giới” do Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam vẽ năm 1960 đã chú thích “quần đảo Tây Sa (Trung Hoa)”, “quần đảo Nam Sa (Trung Quốc)”; năm 1962, báo “Nhân dân” Việt Nam có bài viết về quần đảo Tây Sa như sau: “Ngày 9 tháng 9 năm 1962, một chiếc máy bay U-2 khác đã xâm phạm vùng trời quần đảo Tây Sa thuộc Quảng Đông Trung Quốc, bị giải phóng quân bắn hạ”. Thậm chí sách giáo khoa của Việt Nam năm 1974 vẫn còn viết: “Từ các đảo Tây Sa , Nam Sa đến đảo Hải Nam, đảo Đài Loan, nhóm đảo Bành Hồ, quần đảo Chu Sơn đã tạo thành một bức trường thành bảo vệ đại lục Trung Quốc”.

Chán với mấy ông đọc thì không kỹ, cứ làm như mình hiểu rồi “chủ đề từ năm ngoái”. Nếu không thì người ta tự nhiên mất công viết làm gì?!

hhhh
25-03-2012, 01:09 AM
Đã đọc kỹ lắm rồi bác ạ. ..... Mặc dù CH không công nhận chủ quyền HS, TS là của TQ nhưng hiệu quả của nó sẽ được áp dụng trong "bản
tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958" của TQ tức là bao gồm cả HS, TS.



Bác cũng lưu ý nó nằm trong một chỉnh thể một loạt các tài liệu liên tiếp : 1958, 1960, 1962….chứ không phải CH 1958 không!
Thế nên việc phân tích ở góc độ, pháp lý và cả chính trị mới quan trọng.
Cái vụ CH 1958 có áp dụng cho HS – TS thì tôi có tranh luận với ông @ này từ năm ngoái. Nó rõ rành rành như thế nhưng ông @ này cứ chày cối luanh quanh. Không đọc, không hiểu nhưng làm như hiểu rõ. Cuối cùng topic đóng. Bác cũng không nên tranh luận với ông @ này thêm làm gì. Chờ ông ý giải thích trong chỉnh thể loạt các tài liệu liên tiếp xem sao!

hhhh
25-03-2012, 01:20 AM
Mình cũng cùng quan điểm với diệt khứa. Nghị viện năm 1946 cũng như quốc hội sau này đều có chức năng giao nhiệm vụ và kiểm soát chính phủ. 1 văn bản sai phạm của chính phủ như vậy không có lý do gì nghị viện tại thời điểm ấy không biết, và không có biện pháp xử lý. Chí ít, nghị viện cũng cần nên có văn bản đính chính cho rõ lại các khoản trong công hàm 1958 để không gây hiểu nhầm sau này. Còn nữa, trước công hàm vài tháng, trung quốc có tuyên bố về lãnh hải, trong đó nói HS - TS là 1 bộ phận của lãnh hải trung quốc. Ngay trong giai đoạn này, chính phủ và nghị viện chắc chắn phải có biện pháp phản đối, chứ không phải là công hàm mang tính không gàng buộc như bác nói.

Tất nhiên, Nghị viện cũng có vai trò kiểm soát – nhưng vai trò là hậu kiểm. Thủ tướng cũng có quyền hạn nhất định (rất lớn là đằng khác) tuy nhiên theo Luật thì như đã chỉ ra Hiến pháp không cho phép một văn bản liên quan đến vận mệnh đất nước được ban hành bởi Thủ tướng mà đã có hiệu lực. Nghĩa là văn bản này nằm ngoài quyền hạn được giao của Thủ tướng!

Việt Nam lại rất tin tưởng Trung Quốc (1957: TQ trả Đảo Bạch Long Vĩ cho VN; sau đó là xây dựng tuyến đường sắt Hà Nội – Đồng Đăng) nên mới đưa ra Công hàm+ các tài liệu khác để “vừa lòng” ông anh!

Nghị viện nhân dân cũng không thể công khai phản đối vì theo HIệp định Geneve, HS –TS thuộc miền Nam, có thuộc miền Bắc đâu mà đòi phản đối??? Tất nhiên đây là về mặt lý! Về mặt tình thì có phản đối vẫn tốt hơn. Nhưng vấn đề miền Bắc quá tin Trung Quốc!!!

hhhh
25-03-2012, 01:35 AM
Theo vài nguồn tin thì năm 1979 đã có một tuyên bố :


TUYÊN BỐ CỦA BỘ NGOAI GIAO
NƯỚC CHXHCN VIỆT NAM
VỀ QUẦN ĐẢO HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA
(Ngày 7 tháng 8 năm 1979)
​....
2. Sự diễn giải của Trung quốc về văn bản ngày 14 tháng 9 năm 1958 của Thủ tướng nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà như một sự công nhận chủ quyền của phiá Trung quốc trên các quần đảo là một sự xuyên tạc trắng trợn khi tinh thần và ý nghĩa của bản văn chỉ có ý định công nhận giới hạn 12 hải lý của lãnh hải Trung quốc.

.........

Hà Nội, ngày 7 tháng 8 năm 1979



Thật sự có tuyên bố này không ? nếu có thật sao không thấy bất kỳ tờ báo báo nào khi phản bác việc vô hiệu của CH1958 nêu ra ? vì lẽ gì ?
có tuyên bố này không ? : Có tuyên bố này vì sau đó Bộ Ngoại Giao CHXHCN Việt Nam đã đưa ra Sách trắng về HS – TS năm 1981 – lúc này Việt Nam – Trung Quốc liên tục đáp trả nhau trên mặt báo.

không thấy bất kỳ tờ báo báo nào + vì lẽ gì :Sau cuộc gặp Thành Đô năm 1991, Việt Nam đi vào một con đường khác (cái này theo Nhật ký của Nguyễn Cơ Thạch). Việt Nam có thỏa thuận việc không nhắc tới các vấn đề xung đột lịch sử trong mối quan hệ hai nước.

Do vậy bạn sẽ thấy SGK lịch sử Việt Nam còn không nhắc tới việc TQ xâm lược năm 1974, cuộc chiến Gạc Ma 1988,….Tất nhiên theo tôi đó là sự cực đoan của chính quyền hiện tại, vì mọi người Việt Nam đều nên biết vì nó là một phần của sự thật lịch sử. Người Việt Nam có quyền được biết.
Các báo không nhắc tới các tuyên bố như trên vì như bạn thấy trong Tuyên bố 1979 đều chỉ rõ các vấn đề xung đột lớn giữa VN – TQ trong lịch sử cận đại:
” Trung Quốc đã xâm phạm vào sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam và dẫm chân lên làm cản trở tinh thần của Hiến chương Liên Hiệp Quốc kêu gọi giải quyết tất cả các tranh chấp bằng thương lượng hoà bình. Sau khi phát động một cuộc chiến xâm lược Việt Nam với tầm vóc to lớn, phía Trung Quốc lại nêu ra vấn đề quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, trong khi tạo ra một tình trạng càng ngày càng căng thẳng dọc theo biên giới Việt Nam và từ chối việc thảo luận những giải pháp cấp thiết để bảo đảm hoà bình và ổn định trong khu vực biên giới giữa hai nước. Ðiều rõ ràng là những kẻ cai trị Trung Quốc vẫn không từ bỏ ý định tấn công Việt Nam một lần nữa. Hành động của họ là một sự đe doạ nghiêm trọng cho hoà bình và ổn định trong vùng Ðông Nam Á và làm lộ rõ hơn tham vọng bành trướng, với bản chất bá quyền hiếu chiến của một nước lớn, bộ mặt xảo trá lật lọng và phản bội của họ.”

ragonnet
25-03-2012, 02:13 AM
bàn hoài đóng cái diễn đàn này đi!
chúng ta không nhắc lại chứ có cấm đâu bạn thích tìm hiểu thì sách chính thống rất nhiều! lấy mấy cuốn sahc1 giáo khoa ra làm gì!
một vấn đề khác bản thân công hàm, chính cái tên công hàm đã nói lên nó không có giá trị pháp lý hay rang buộc nào mà chỉ có giá trị về thông báo
trên đởi này có cái công hàm nào là công hàm hòa bình hay không... muốn hòa bình phải có hiệp định hòa bình..... là gì có cái gọi là công hàm pari hay genver mà là hiệp định. Bản thân cái từ đã nói lên nó là gì vậy mà cứ tranh cãi mãi ông thì bảo là bác có chứng minh được nó không có giá trị pháp lý không. Rõ là thiếu hiểu biết!

Nguyễn_Việt_Nam
25-03-2012, 08:13 AM
Mình cũng cùng quan điểm với diệt khứa. Nghị viện năm 1946 cũng như quốc hội sau này đều có chức năng giao nhiệm vụ và kiểm soát chính phủ. 1 văn bản sai phạm của chính phủ như vậy không có lý do gì nghị viện tại thời điểm ấy không biết, và không có biện pháp xử lý. Chí ít, nghị viện cũng cần nên có văn bản đính chính cho rõ lại các khoản trong công hàm 1958 để không gây hiểu nhầm sau này. Còn nữa, trước công hàm vài tháng, trung quốc có tuyên bố về lãnh hải, trong đó nói HS - TS là 1 bộ phận của lãnh hải trung quốc. Ngay trong giai đoạn này, chính phủ và nghị viện chắc chắn phải có biện pháp phản đối, chứ không phải là công hàm mang tính không gàng buộc như bác nói.

Tất nhiên, Nghị viện cũng có vai trò kiểm soát – nhưng vai trò là hậu kiểm. Thủ tướng cũng có quyền hạn nhất định (rất lớn là đằng khác) tuy nhiên theo Luật thì như đã chỉ ra Hiến pháp không cho phép một văn bản liên quan đến vận mệnh đất nước được ban hành bởi Thủ tướng mà đã có hiệu lực. Nghĩa là văn bản này nằm ngoài quyền hạn được giao của Thủ tướng!

Việt Nam lại rất tin tưởng Trung Quốc (1957: TQ trả Đảo Bạch Long Vĩ cho VN; sau đó là xây dựng tuyến đường sắt Hà Nội – Đồng Đăng) nên mới đưa ra Công hàm+ các tài liệu khác để “vừa lòng” ông anh!

Nghị viện nhân dân cũng không thể công khai phản đối vì theo HIệp định Geneve, HS –TS thuộc miền Nam, có thuộc miền Bắc đâu mà đòi phản đối??? Tất nhiên đây là về mặt lý! Về mặt tình thì có phản đối vẫn tốt hơn. Nhưng vấn đề miền Bắc quá tin Trung Quốc!!!
OK ! cám ơn bác ! đã hiểu thêm được một số việc. Hy vọng những chuyện trên là đúng, tại mình chưa kiểm chứng :D
Nhưng giả sử, các luận điểm kể trên là đúng thì đúng rõ, miền Bắc nhận quơ HS - TS, vậy bất kỳ công hàm hay kể cả nghị quyết nào của miền Bắc đều không có giá trị pháp lý xét ở bình diện quốc tế, đúng không bác?
Năm 1974, tq dùng vũ lực chiếm trái phép Hoàng Sa. Vậy, khi quân Giải phóng tiếp quản miền Nam, có văn kiện nào viết về nội dung bàn giao HS - TS cho miền Bắc không hả bác.

nguyenduyvu2010
25-03-2012, 10:34 AM
Nói vớ vẩn, đọc cho kỹ vào trước khi nói. Ở đây thằng Tàu nó nêu mấy điểm liền chứ không phải Công hàm 1958 không!


Công hàm 1958 (ok, cứ cho không nói Tây Sa, Nam Sa của Trung Quốc đi)
Thế tại sao: Bản đồ thế giới” do Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam vẽ năm 1960 đã chú thích “quần đảo Tây Sa (Trung Hoa)”, “quần đảo Nam Sa (Trung Quốc)”; năm 1962, báo “Nhân dân” Việt Nam có bài viết về quần đảo Tây Sa như sau: “Ngày 9 tháng 9 năm 1962, một chiếc máy bay U-2 khác đã xâm phạm vùng trời quần đảo Tây Sa thuộc Quảng Đông Trung Quốc, bị giải phóng quân bắn hạ”. Thậm chí sách giáo khoa của Việt Nam năm 1974 vẫn còn viết: “Từ các đảo Tây Sa , Nam Sa đến đảo Hải Nam, đảo Đài Loan, nhóm đảo Bành Hồ, quần đảo Chu Sơn đã tạo thành một bức trường thành bảo vệ đại lục Trung Quốc”.

Chán với mấy ông đọc thì không kỹ, cứ làm như mình hiểu rồi “chủ đề từ năm ngoái”. Nếu không thì người ta tự nhiên mất công viết làm gì?!
Bác cho em cái tư liệu nói như vậy đi thì em tin còn không thì em không tin nhất là nguồn từ bbc,tq,cộng hành,TQ chỉ nói là bản đồ VN ghi như vậy chứ nó có đưa cái bản đồ tròn méo ra sao đâu,cái này phù hợp với bản chất của người TQ,mấy cái bản đồ trước năm 1943 của nó cũng đâu có HS,TS,ngay cả mấy thư tịch cổ của TQ cũng nói HS và TS là thuộc VN(chiêm thành),nói tóm lại CH của thủ tướng PVĐ không bán nước,cũng chẳng có bản đồ nào cả,bằng chứng pháp lí của TQ không có vì nếu có nó đã đưa ra LHQ để đòi tranh chấp,cái CH đó chỉ là biện pháp mị dân của tq thôi
http://tintuc.hoasen.edu.vn/vi/141/tin-chuyen-de/hoang-sa-va-truong-sa-trong-thu-tich-co-trung-hoa

ragonnet
25-03-2012, 12:24 PM
cái topic này nhặng thật !đã bàn nát bên lichsu với bên ttvol rồi chưa kể m6ot5 đống học giả đã phản bát cái luận điệu ngớ ngẩn và chính thức chính phủ đã lên tiếng và tính chất của công hàm 1958..... bàn tốn thời gian tốn tài nguyên! làm chuyên khác có phải hay hơn không!

nguyenduyvu2010
25-03-2012, 02:36 PM
Bạn phải giải thích thề này nè,vì hồi ấy theo luật pháp quốc tế thì VNDCH ko chủ quyền với HS và TS nên bất kì tuyên bố nào cũng ko bao gồm 2 quần đảo đó.VNDCH sau 1975 thừa kế chủ quyền HS và TS từ VNCH nên mới có chủ quyền với HS và TS.Nên nhớ trước và sau 1945 VN là thống nhất nên chủ quyền là thống nhất.Sau hiệp định Gernever 1954 thì VN tạm thời bị chia cắt Có thể nói hồi ấy VNCH cũng là một nhà nước độc lập với VNDCH nên có chủ quyền độc lập[/QUOTE]
Không thể nói thế được. Chẳng có cái hiệp định nào nói VNCH là nhà nước độc lập nên có chủ quyền độc lập gì cả. Đọc lại cái bài báo ở trang 4 đi đã
Không có cái hiệp định như vậy nhưng hiệp định Genève có nói vùng VNCH quản lí là từ vĩ tuyến 17 trở vào bao gồm 2 quần đảo,VNDCCH không quản lí 2 quần đảo đó được,CH của TTg PVĐ cũng không hề nói tới HS hay TS mà chỉ nói chung là triệt để tôn trọng chủ quyền 12hl,chỉ thị cấp dưới tôn trọng chủ quyền có thể hiểu như chỉ tôn trọng trong phần VNDCCH quản lí mà thôi,cái quan trọng làm nên chủ quyền của ta hiện tại là nhà nước CHXHCN VN không phải là VNDCCH mà là sự kết hợp giữa chính phủ lâm thời CM miền nam việt nam và VNDCCH,khi TQ đánh chiếm HS chính phủ lâm thời CM miền nam việt nam đã lên tiếng phản đối hành động xâm lược của TQ

hhhh
25-03-2012, 02:52 PM
em nghĩ tờ báo mới trích nguyên văn đoạn "Theo chỉ thị của Bộ Chính trị, Thường vụ giao cho Khu ủy và Bộ Tư lệnh B1 nhiệm vụ nghiên cứu, chỉ đạo thực hiện gấp rút, nhằm thời cơ thuận lợi nhất, đánh chiếm các đảo hiện do quân ngụy miền nam chiếm đóng thuộc quần đảo Nam Sa. ………như thế là khá rành mạch nguồn nên em nghĩ khó có khả năng báo mới thay chữ Trường sa thành Nam sa lắm. em nghĩ vì các báo khác khi chính đăng đoạn này thì tự động sửa Nam sa lại thành Trường sa vì họ có í thức hơn tờ báo mới cũng như em tự động viết Biển Đông cho dẫu nguồn có ghi là biển Nam hải hay south chi-na sea. em vì không có ấn bản trên nên không thể khẳng định mà chỉ phóng đoán và lí luận thế thôi
nguồn:http://www.baomoi.com/Giai-phong-quan-dao-Truong-Sa-va-cac-dao-tren-Bien-Dong/121/4079558.epi
Đọc cái này đi đã.
http://hoangsa.org/forum/showthread.php?t=42660&page=2
Việc báo Việt Nam gọi sai tên, viết sai tên cũng không phải chuyện hiếm. Còn rành mạch hay không thì nó đâu có liên quan đến chuyện nhầm tên đảo? Chuyện nhầm do cậu đánh máy ở Việt Nam rất thường xảy ra


em vẫn cho rằng bác sai mà cứ tỏ ra nguy hiểm mới chết hay có khi vì mấy bác kia nâng bác cao quá cho dẫu tự bác đã tự cho là thần gió rồi nên bác tự mãn mà cứ vung vít kiểu này nên em lại phải phản biện.
em chỉ đơn giản nghĩ rằng mình không thể lấy một sự kiện để bảo rằng không có ai khác như thế mà mình chỉ có thể nói vì vì có 1 sự kiện nên không thể nói không có chuyện đó và đó là lập luận cơ bản trong lí luận thì nếu 1 cơ quan như bác cho là có uy tín của mĩ không đồng í với tên tàu mà xài tên ta thì có nghĩa là có ít nhất là 1 hay nhiều hơn 1 tổ chức không đồng í với tàu mà đồng í với ta chứ không thể bảo là vì có 1 tổ chức uy tín không đồng í với tàu mà cả thế giới đều như thế.

Cậu đọc kỹ:
“Ví dụ điển hình là gì? Còn Mỹ chắc cũng đủ đại diện cho một cực thế giới trong thời gian chiến tranh lạnh + Liên Xô ủng hộ HS + TS là của VN từ 1975 -1991 (Liên Xô sụp đổ). Vậy hai thằng lớn trong thời gian thế giới hai cực đều không công nhận lý luận của Trung Quốc thì….đọc hiểu cỡ Han-Che nên suy nghĩ kĩ trước khi hỏi”
Và thực tế đến hiện nay cậu vào đọc những nguồn uy tín như CIA Factbook, hay Encyclopedia v.v…đều ghi nhận đây là quần đảo tranh chấp trong đó một bên là Việt Nam. Hiện tại Liên Hiệp Quốc cũng ghi nhận việc tranh chấp này.
Cả thế giới thì không chắc vì có thể xuất hiện Bắc Triều Tiên thì chắc là “cả thế giới” không thể đồng ý được.


thứ hai cái lí cớ mà tổ chức uy tín của mĩ này đồng í với ta có khi là vì yếu tố pháp lí chứ không phải lí do chính trị như cơ quan này của mĩ là 1 cơ quan độc lập nên chưa chắc gì đây là một quyết định chính trị trong khi đó đối với vấn đề HS-TS và sự ủng hộ của Mĩ cho VN(CH) là quyết định chính trị và vị thế nước mĩ đại diện cho một cực chưa hẵn đã là tối thượng vì em có thể nêu lên hàng tá quyết định của mĩ bị chính đồng minh của họ phản đối và việc liên xô thời đó cũng ủng họ VN(DCCH) là vì họ chống tàu thôichứ chính bọn liên sô này hồi hội nghị xắn phang xich lô file:///C:/Users/HPV/AppData/Local/Temp/msohtmlclip1/01/clip_image001.gifthì chúng ủng hộ bọn tàu thì phải.

Cậu không hiểu gì cả, đến năm 1987 có còn VNCH nữa không mà Mỹ còn ủng hộ???
Tôi đưa ra ví dụ trên là vì U.S. Board of Geographic names là một cơ quan mang tính độc lập cao và uy tín. Còn rất nhiều những cơ quan khác ở các nước Châu Âu cũng không công nhận những tuyên bố của Trung Quốc. Nên tôi mới đề là “VÍ dụ điển hình”. Dù vì bất kỳ lý do gì đi nữa thì tuyên bố của Tàu cũng chẳng xi nhê gì với Việt Nam. Đơn giản thế thôi!


mà em sẽ quay lại vấn đề này trên bình diện lí luận về tính pháp lí trong tranh chấp chủ quyền về HS-TS mà không muốn cái ám ảnh chính chị nó đè nặng vì em thấy có mòi hvb cai mạng đang lo sợ hậu quả chính trị rồi sẽ lèo lái để cải chày cói rồi văng chậu giả lụa để cái mục này tự vẫn quyên sinh thì hết đường mà tranh với biện
Cậu lại nói linh tinh sang vấn đề khác!

hhhh
25-03-2012, 02:59 PM
OK ! cám ơn bác ! đã hiểu thêm được một số việc. Hy vọng những chuyện trên là đúng, tại mình chưa kiểm chứng file:///C:/Users/HPV/AppData/Local/Temp/msohtmlclip1/01/clip_image001.gif
Nhưng giả sử, các luận điểm kể trên là đúng thì đúng rõ, miền Bắc nhận quơ HS - TS, vậy bất kỳ công hàm hay kể cả nghị quyết nào của miền Bắc đều không có giá trị pháp lý xét ở bình diện quốc tế, đúng không bác?
Năm 1974, tq dùng vũ lực chiếm trái phép Hoàng Sa. Vậy, khi quân Giải phóng tiếp quản miền Nam, có văn kiện nào viết về nội dung bàn giao HS - TS cho miền Bắc không hả bác.

Có. Ngay sau khi Trung Quốc đánh chiếm HS năm 1974 thì Mặt trận giải phóng miền Nam Việt Nam có văn bản phản đối hành động của Trung Quốc.
Ngay sau khi Giải phóng, Việt Nam cũng xuất bản bản đồ, nhiều văn bản khẳng định chủ quyền đối với Hoàng Sa- Trường Sa


http://www.vietstamp.net/Product/1014/Việt Nam thống nhất


http://www.vietstamp.net/data%5C2008%5C04%5C16%5C23504268_product.jpg



Mã số :
914


Tên :
Bản đồ - Trống đồng


Giá mặt (VNĐ) :
12 xu


Kích thước (mm) :
31 x 47


Số lượng :











Mẫu thiết kế đoạt giải cuộc thi vẽ mẫu tem.


Tên bộ tem :
Việt Nam thống nhất


Mã số bộ tem :
311


Danh mục Viet Stamp :
914


Loại tem :
Kỷ niệm


Số mẫu :
1


Tổng giá mặt tem (VNĐ) :
12 xu


Ngày phát hành :
24-06-1976


Kích thước tem (mm) :
31 x 47


Số răng tem :
11


Số tem trên mỗi tờ :
25


Họa sĩ thiết kế :
Đỗ Việt Tuấn, Nguyễn Văn Hiệp


Phương pháp in :
Offset 3 mầu


Loại giấy :
Giấy không tráng keo mặt sau


Nơi in :
Nhà in Tiến Bộ


Địa danh trên dấu :
Hà Nội

hhhh
25-03-2012, 03:11 PM
bàn hoài đóng cái diễn đàn này đi!
chúng ta không nhắc lại chứ có cấm đâu bạn thích tìm hiểu thì sách chính thống rất nhiều! lấy mấy cuốn sahc1 giáo khoa ra làm gì!
một vấn đề khác bản thân công hàm, chính cái tên công hàm đã nói lên nó không có giá trị pháp lý hay rang buộc nào mà chỉ có giá trị về thông báo
trên đởi này có cái công hàm nào là công hàm hòa bình hay không... muốn hòa bình phải có hiệp định hòa bình..... là gì có cái gọi là công hàm pari hay genver mà là hiệp định. Bản thân cái từ đã nói lên nó là gì vậy mà cứ tranh cãi mãi ông thì bảo là bác có chứng minh được nó không có giá trị pháp lý không. Rõ là thiếu hiểu biết!

Công hàm chỉ có giá trị thông báo???? Bó tay. Nhờ có công hàm mà các nhân viên ngoại giao Việt Nam mới được thông hành. Và Bộ Ngoại Giao Việt Nam cũng trao công hàm phản đối hành động của Trung Quốc tại HS – TS.



http://www.baomoi.com/Bo-ngoai-giao-Viet-Nam-trao-cong-ham-phan-doi-Trung-Quoc/144/6383735.epi
Ngày 2 - 6, Bộ Ngoại giao Việt Nam đã trao công hàm cho đại diện Đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội để phản đối việc lực lượng hải quân Trung Quốc dùng súng uy hiếp tàu cá PY 92305 TS của ngư dân tỉnh Phú Yên

Công hàm 1958 có đóng dấu của Thủ tướng Chính Phủ mà kêu có giá trị thông báo? Ai thiếu hiểu biết thì càng đọc thì càng biết



cái topic này nhặng thật !đã bàn nát bên lichsu với bên ttvol rồi chưa kể m6ot5 đống học giả đã phản bát cái luận điệu ngớ ngẩn và chính thức chính phủ đã lên tiếng và tính chất của công hàm 1958..... bàn tốn thời gian tốn tài nguyên! làm chuyên khác có phải hay hơn không!

Đang nói đến Công hàm 1958 trong chỉnh thể một loạt các tài liệu:


Bản đồ thế giới” do Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam vẽ năm 1960 đã chú thích “quần đảo Tây Sa (Trung Hoa)”, “quần đảo Nam Sa (Trung Quốc)”; năm 1962, báo “Nhân dân” Việt Nam có bài viết về quần đảo Tây Sa như sau: “Ngày 9 tháng 9 năm 1962, một chiếc máy bay U-2 khác đã xâm phạm vùng trời quần đảo Tây Sa thuộc Quảng Đông Trung Quốc, bị giải phóng quân bắn hạ”. Thậm chí sách giáo khoa của Việt Nam năm 1974 vẫn còn viết: “Từ các đảo Tây Sa , Nam Sa đến đảo Hải Nam, đảo Đài Loan, nhóm đảo Bành Hồ, quần đảo Chu Sơn đã tạo thành một bức trường thành bảo vệ đại lục Trung Quốc”.

Thế anh Ragonet trình độ IQ cao này thử chỉ ra một topic nào ở TTVNOL hay lichsuvn bàn về tất cả những cái trên??? Đố anh chỉ ra đấy. Anh chỉ ra tôi đề nghị đóng topic luôn! Đừng có sang đó lập topic mới thì ngượng lắm. Rõ nhảm!

hhhh
25-03-2012, 03:35 PM
Chán với mấy ông đọc thì không kỹ, cứ làm như mình hiểu rồi “chủ đề từ năm ngoái”. Nếu không thì người ta tự nhiên mất công viết làm gì?!
Vâng, ông thì hiểu. Ông toàn nhai lại bã của người khác thôi. Cãi nhau với ông từ năm ngoái tới giờ chán lắm rồi. Cho ông viết tôi có thèm nói với ông về cái này nữa đâu nhể

Người ta đang bàn Công hàm 1958 trong chỉnh thể một loạt các tài liệu, đọc thì không chịu đọc, cứ nhảy vào nhặng xị cả lên. Sợ thật!



Bản đồ thế giới” do Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam vẽ năm 1960 đã chú thích “quần đảo Tây Sa (Trung Hoa)”, “quần đảo Nam Sa (Trung Quốc)”; năm 1962, báo “Nhân dân” Việt Nam có bài viết về quần đảo Tây Sa như sau: “Ngày 9 tháng 9 năm 1962, ……


CH của TTg PVĐ cũng không hề nói tới HS hay TS mà chỉ nói chung là triệt để tôn trọng chủ quyền 12hl,chỉ thị cấp dưới tôn trọng chủ quyền có thể hiểu như chỉ tôn trọng trong phần VNDCCH quản lí mà thôi,

Thực tế, Công hàm 1958 là trả lời cho "bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958"của TQ bao gồm Hoàng Sa - Trường Sa trong đó.

Uh rồi ní nuận là Công hàm 1958 không nhắc đến Hoàng Sa – Trường Sa chứ gì. Thế tại sao lại xuất bản một cái bản đồ như vầy???? Còn nhiều thứ hay ho nữa


7790


cái quan trọng làm nên chủ quyền của ta hiện tại là nhà nước CHXHCN VN không phải là VNDCCH mà là sự kết hợp giữa chính phủ lâm thời CM miền nam việt nam và VNDCCH,khi TQ đánh chiếm HS chính phủ lâm thời CM miền nam việt nam đã lên tiếng phản đối hành động xâm lược của TQ

Vấn đề nằm ở chỗ quyền thực thi chủ quyền nằm vào tay ai?

Nên nhớ trên danh nghĩa CP lâm thời CM miền Nam Việt Nam là một tổ chức độc lập, không nằm dưới sự lãnh đạo của VNDCCH. CP lâm thời CM miền Nam Việt Nam cũng không thông qua bất kỳ một cuộc bầu cử nào để thành lập nên. Hơn nữa, bên thực thi chủ quyền thực tế trên hai quần đảo HS- TS cho đến tận 30-4-1975 vẫn là VNCH. Chính vì thế, chính thức Bộ Ngoại Giao CHXHCN Việt Nam vẫn phải viện dẫn việc VNCH phản đối Trung Quốc chiếm HS – TS.

f0r3ver
25-03-2012, 04:48 PM
Rứa cả bác ui.
Năm ngoái còn có ý kiến rằng cái công hàm đó bán nước rồi là tại cái công hàm đó nên HS bị mất...nói chung là nhiều và kết quả cũng đã có rồi. CH năm 58 không công nhận chủ quyền của Trung Quốc.
Chỉ cần 1 ý này thôi thì chẳng có cái tử huyệt nào cả. Cũng chẳng có con tin gì sất
P.S: Các bác đọc bài báo bác gì Vũ post ở trang 4 trong đó nói quá rõ rồi còn gì


Các bác ở đây đang cố chứng minh cái kết quả đó đấy ạ. Bác có thể chỉ rõ CH 1958 không công nhận chủ quyền TQ ở điểm nào được không?
Thế bác có thấy chữ " Chủ quyền" ở cái công hàm đó không? Mà đã không có thì tự nó đã chứng minh rồi còn cần gì nữa :D

Nói như bác thì thằng TQ nó ôm cái CH 1958 làm "bùa hộ mệnh" để làm gì khi mà nó không lợi dụng được gì từ CH đó. TQ có lý lẽ của TQ, VN có lý lẽ của VN, quan trọng là lý lẽ của ai thuyết phục hơn và chứng minh lý lẽ đó như thế nào.
TQ nó ôm cái gọi là CH đó làm bùa để hộ cái mệnh nào của nó hả bác, nó ôm cái CH đó chỉ đơn giản là "tự xử" ko hơn ko kém, nó chỉ ra rả điều đó bằng mồm ko hơn, bác Người Việt @@ nói rằng để mị 1,4 tỉ dân của nó là chính xác, vì đó thực tế chứng minh chỉ đơn giản là hành vị "tự xử" trong nội bộ của nó và gây tranh cải trong chính dân mình ko hơn. Chứ nó hoàn toàn ko đem ra tòa quốc tế như 1 chứng cứ pháp lý để đòi hỏi chủ quyền. Cái mà nó khăng khăng trên các diễn đàn quốc tế để biện minh chỉ mơ hồ là "vùng nước lịch sử" mà chính bản thân 1 số vị học rả của nó cũng chẳng thể giải thích rõ ràng rằng "lịch sử" trong cụm từ này là ntn.




Bùa hộ mệnh của nó là nó giầu hơn, mạnh hơn và nó muốn mị dân của nó chứ ko phải cái công hàm đâu bác đừng nhầm.
Nó muốngây chiến thì chẳng lẽ lại cứ đem quân sang đánh luôn mà ko có lý do gì dù rằng lý do đó rất dở hơi kiểu cái công hàm ? Bác thử đọc lại cái bài báo trang 4 đi, trong đó đã viết rất đầy đủ rồi. CH năm 1958 chẳng có giá trị xác nhận chủ quyền của Tầu ở trên HS- TS gì cả. Đó chỉ là văn bản ngoại giao mà lời lẽ cũng như cách thức thành lập hết sức mập mờ bác ạ. Tóm lại là bác cứ đọc kỹ đi thì sẽ thấy.
Nói vớ vẩn, đọc cho kỹ vào trước khi nói. Ở đây thằng Tàu nó nêu mấy điểm liền chứ không phải Công hàm 1958 không!


Công hàm 1958 (ok, cứ cho không nói Tây Sa, Nam Sa của Trung Quốc đi)
Thế tại sao: Bản đồ thế giới” do Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam vẽ năm 1960 đã chú thích “quần đảo Tây Sa (Trung Hoa)”, “quần đảo Nam Sa (Trung Quốc)”; năm 1962, báo “Nhân dân” Việt Nam có bài viết về quần đảo Tây Sa như sau: “Ngày 9 tháng 9 năm 1962, một chiếc máy bay U-2 khác đã xâm phạm vùng trời quần đảo Tây Sa thuộc Quảng Đông Trung Quốc, bị giải phóng quân bắn hạ”. Thậm chí sách giáo khoa của Việt Nam năm 1974 vẫn còn viết: “Từ các đảo Tây Sa , Nam Sa đến đảo Hải Nam, đảo Đài Loan, nhóm đảo Bành Hồ, quần đảo Chu Sơn đã tạo thành một bức trường thành bảo vệ đại lục Trung Quốc”.

Chán với mấy ông đọc thì không kỹ, cứ làm như mình hiểu rồi “chủ đề từ năm ngoái”. Nếu không thì người ta tự nhiên mất công viết làm gì?!
Cái 1 thì như tớ đã nói ở trên. Còn cái 2 (đỏ) thì trong cái thớt này hình như chính bác cũng đã lập luận để phản bác điều này rồi ko nhớ rõ trang nào để trích lại ( và tớ cũng ủng hộ sự cất công nghiên cứu phản biện của bác) đại khái là vì ở vĩ mô của vấn đề thì nó là vi hiến, thì những cái tiểu tiết như vậy chỉ cần khẳng định rằng đó chỉ đơn thuần là trục trặc kỹ thuật trong khâu in ấn thì cũng chẳng thể làm đc khó gì. Đa phần trong cái thớt này bác đã lập luận phản bác vấn đề ở tầm "vĩ mô" của nó rồi mà...

Chính vì vậy thiết nghĩ cái gọi là công hàm đó thứ nhất đối với "nội giao" thì là vi hiến, thứ 2 về "ngoại giao" thì nôm na rằng anh ko quản lý, sở hữu cũng như có tên trong sổ hồng, sổ đỏ mảnh đất đó thì anh có quyền phát ngôn về nó nhưng anh ko có quyền định đoạt mệnh hệ của nó, và vì lẽ đó cái gọi là CH chỉ mang tính "bang giao" mà thôi. Và nhà nước cũng ko cần thiết phải chính thức bác bỏ nó bởi vì vốn đã xem nó là thứ yếu thì ko dại gì đi tô cho nó đậm lên để nâng cao cái vai trò của cái gọi là công hàm đó lên dùm cho thằng tàu cả.

sanleo
25-03-2012, 11:26 PM
cái ni cũng in bên tàu nên chúng chơi sỏ mình hả bác?


Ngay sau chiến thắng Buôn Ma Thuột, Quân ủy Trung ương kiến nghị với Bộ Chính trị "vừa chuẩn bị cho trận quyết chiến chiến lược cuối cùng, vừa tiến hành giải phóng các đảo và quần đảo quân ngụy đang chiếm giữ". Kiến nghị này đã được ghi trong Nghị quyết Bộ Chính trị ngày 25-3-1975(1).Triển khai chủ trương chiến lược đó, đồng chí Hoàng Trà, Chính ủy Quân chủng Hải quân được Quân ủy điều động về làm việc cạnh Bộ Tổng tham mưu, giúp theo dõi tình hình địch trên biển và đề xuất nhiệm vụ của hải quân. Đồng thời, Bộ Tổng tham mưu quyết định đưa Sở Chỉ huy tiền phương của Bộ Tư lệnh Hải quân vào Đà Nẵng xúc tiến công tác chuẩn bị giải phóng khu vực biển, đảo phía nam Tổ quốc. . Ngày 30-3-1975, Quân ủy Trung ương điện gửi các đồng chí Chu Huy Mân, Võ Chí Công, nêu rõ: "Theo chỉ thị của Bộ Chính trị, Thường vụ giao cho Khu ủy và Bộ Tư lệnh B1 nhiệm vụ nghiên cứu, chỉ đạo thực hiện gấp rút, nhằm thời cơ thuận lợi nhất, đánh chiếm các đảo hiện do quân ngụy miền nam chiếm đóng thuộc quần đảo Nam Sa. Trong việc này, anh Nguyễn Bá Phát, phái viên của Bộ Tổng Tham mưu và các cán bộ Hải quân đi cùng sẽ do Khu ủy và Quân khu ủy chỉ đạo để thực hiện kế hoạch"(2). http://www.baomoi.com/Giai-phong-quan-dao-Truong-Sa-va-cac-dao-tren-Bien-Dong/121/4079558.epi





Bác ạ, có một thực tế hơi phũ phàng là trong thời kỳ chính quyền Sài Gòn trước đây và chính quyền VNDCCH ở miền Bắc thời kỳ 1954-1975, cho đến hiện nay, thì vẫn có vô số người và vô số chỗ vẫn sử dụng tên Trung Quốc (Tây Sa, Nam Sa, Cam Tuyền, Tuyên Đức, Vĩnh Lạc, Thái Bình, Vĩnh Hưng.....) cho quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Với công cụ google bác có thể tìm thấy vô số bài báo Việt Nam gọi Hoàng Sa là của Trung Quốc :( Hiện trạng này đã có từ rất lâu và cho đến thời điểm này 2012 chưa thấy có gì chuyển biến :(
Ví dụ như cái này, nhiều người cứ tưởng là thiết tha yêu mến lắm nên vẫn phán bừa
Bên cạnh tài liệu ghi nhận cột mốc, ranh giới Hoàng Sa là nhiều bức ảnh về quần đảo này, cả những con rùa, cánh chim, bóng cây... gắn với các địa danh Quan Hà, Cam Tuyền, Vĩnh Lạc… http://nld.com.vn/20120211101825593p0c1002/gan-lam-hoang-sa.htm :(

MidgetSubmarine
26-03-2012, 01:14 AM
Vậy thì nếu xét về mặt tuyên truyền, chúng ta vẫn đang thua?
Tức là dù chúng ta tự biết và nhắc đi nhắc lại là chúng ta đúng, đúng một cách dữ dội, ghê rợn và khủng khiếp, chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo đã được biên vào sách của Trời (hay còn gọi là God hay Giàng), nhưng Google và Yahoo vẫn thản nhiên nói rằng Trường Sa và Hoàng Sa vẫn là của Trung Quốc?
Tại sao lại như thế, vào năm 2012 này (sau 12 năm bước vào thế kỷ XXI)?

nguyenduyvu2010
26-03-2012, 12:07 PM
Vậy thì nếu xét về mặt tuyên truyền, chúng ta vẫn đang thua?
Tức là dù chúng ta tự biết và nhắc đi nhắc lại là chúng ta đúng, đúng một cách dữ dội, ghê rợn và khủng khiếp, chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo đã được biên vào sách của Trời (hay còn gọi là God hay Giàng), nhưng Google và Yahoo vẫn thản nhiên nói rằng Trường Sa và Hoàng Sa vẫn là của Trung Quốc?
Tại sao lại như thế, vào năm 2012 này (sau 12 năm bước vào thế kỷ XXI)?
Google map vẫn chú thích là hoàng sa và trường sa đó bạn,còn nó nói là biển nam trung hoa chắc là nó nói theo thế giới thôi,nhưng trên google dịch thì khi đánh south china sea nó dịch thành biển đông

toiyeunuoc
24-04-2012, 06:15 PM
thông tin trên có gây bất lợi cho phía Việt Nam không? Gây bất lợi cái gì khi mà ngay cả Gazetter của U.S Board of Geographic Names xuất bản năm 1987 cũng vẫn để tên tiếng Việt đối với các đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa?
Gazetter by U.S. Board of Geographic Name_1987.jpg (http://hoangsa.org/forum/attachment.php?attachmentid=7784&d=1332517426)

Nghĩa là không cộng đồng khoa học quốc tế nào công nhận cái tuyên bố trên của Trung Quốc. Như vậy, nó chả gây được bất lợi gì cho tuyên bố chủ quyền của phía Việt Nam hết.

Hiện nay đã là năm 2012 chứ không còn là năm 1987 nữa,giống như thời điểm năm 1994 và năm 1958 cùng một chế độ cầm quyền có 2 tuyên ngôn trái ngược như thế này:

4. Quốc hội một lần nữa khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và chủ trương giải quyết các tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ cũng như các bất đồng khác liên quan đến Biển Đông thông qua thương lượng hoà bình trên tinh thần bình đẳng, hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau, tôn trọng pháp luật quốc tế, đặc biệt là Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982,
Và sự thực rất nhiều tổ chức vẫn đang công nhận HS-TS là của trung quốc,nên khi vào HSO vẫn thấy nhan nhản topic phản đối cái này cái kia.Rõ ràng chúng ta đang ở thế bất lợi khi mà việc tuyên truyền ra quốc tế của ta thua đứt thằng khựa.Chưa thể khẳng định cái bất lợi này có một phần do CH1958 không, nên phủ nhận nó không gây bất lợi có vẻ mơ hồ.

Tạm thời kết luận về tính lô gics: Dù Trung Quốc có đưa bản gốc hay băng ghi âm những thông tin trên đây thì nó chỉ mang tính …chọc cười cho vui đối với những học giả chuyên và các cộng đồng khoa học uy tín về vấn đề chủ quyền. Chứ muốn dùng làm “con tin” thì chắc là “con tin trong tưởng tượng”!
Nó không là trò cười đâu vì trước thời điểm năm 1975 rõ ràng tuyên bố 1958 là tuyên bố của chính quyền một nước thứ 3 không tham gia tranh chấp nhưng sau 1975 thì nó lại mang ý nghĩa khác.Anh C nói cái hàng rào của nhà anh A là của nhà anh B thì tức là anh C cũng khẳng định nó không thuộc sở hữu của mình.Lấy lý do gì để sau khi mua nhà anh A,anh C lại tuyên bố cái rào đấy thuộc về anh C ? Khi anh đồng thuận với quyền sở hữu của người khác với thứ gì đó thì tức là anh cũng gián tiếp phủ nhận quyền sở hữu của mình với nó.
Chúng ta lấy sự kiệnHội nghị San Fancisco năm 1951 để cho rằng sau Pháp thuộc chúng ta vẫn duy trì chủ quyền trên HS-TS mà thực chất sự duy trì này do chính quyền bảo hộ thực thi do trong hội nghị khi TQ tuyên bố chủ quyền với HS-TS thì bị phản đối,còn chính quyền bảo hộ thì được sự đồng thuận nhất trí cao.Đấy cũng chỉ là sự đồng thuận của các nước thứ 3 không tham gia tranh chấp,nếu nói như vậy nó cũng không có giá trị pháp lý :not-worthy:


Cuối cùng, về phần bản đồ 1960 và một số bài viết trên báo Nhân Dân là sự việc có thật – nó là sai lầm nhất thời nhưng không phải sai lầm chiến lược ảnh hưởng đến chủ quyền của Việt Nam trong giai đoạn sau
Theo tôi chỉ có cái gọi là sai lầm chứ không có cái gọi là sai lầm chiến lược.Rõ ràng nó có ảnh hưởng đến chủ quyền của chúng ta trong thời điểm hiện tại khi mà chính phủ cũ(của Bắc Việt) đang cầm quyền.Đây là cái cớ để khựa gọi chúng ta là những kẻ lật lọng tiền hậu bất nhất.


Huhu, cái Công hàm 1958 cũng như mấy cái bản đồ + mấy cái World Atlas hay như ông Ung Văn Khiêm nói thì chẳng khác nào giấy lộn!!! Đố anh Hanqiu tim ra cái dấu chuẩn y của Nghị Viện nhân dân trên mấy văn bản đấy đấy.

Thế nên anh TQ quăng mấy cái này ra chẳng uy hiếp được ai: 1. Nghị viện Nhân dân Việt Nam đâu có ký; 2. Chính quyền Sài gòn mới chính là bên thực thi chủ quyền tại HS -TS.
Như đã nói,chính chúng ta đã phủ nhận việc thực thi chủ quyền HS-TS của chính quyền Sài Gòn,giờ chúng ta công nhận nó,có vẻ như không logic xanhmat Nếu như dựa vào hiến pháp 1946 thì còn nhiều văn bản pháp lý khác do TT và Chủ tịch nước hay cán bộ đại diện nhà nước đương thời kí cũng đều vi hiến cả sao ? Hiệp định Paris là một ví dụ :banghead:
Bác nói rất đúng. Nhiều bài phân tích hiện nay nói rằng văn bản ấy vô hiệu lực vì Bắc Việt ko tham gia tranh chấp HS TS, Quốc hội ko kí, hoàn cảnh lịch sử... tôi thấy ko thuyết phục.
Vì hoàn cảnh lịch sử mà tuyên bố bây giờ khác ngày xưa thì càng chứng minh cho thế giới biết là chúng ta ba phải, nói linh tinh vì lợi ích cá nhân.
Quốc hội ko kí hay ko ko quan trọng vì lúc ý chúng ta ko tranh chấp cần gì pháp lí. Vấn đề là thủ tướng PVĐ đại diện cho VNDCCH nêu quan điểm, thái độ thừa nhận rồi. Đã là quan điểm thì cần gì pháp lý.