PDA

View Full Version : chiến tranh và màu cờ



tuhaonoigiongtienrong
09-07-2009, 09:50 PM
em post lên để mọi người cùng biết:
giặc cờ đen
Lưu Vĩnh Phúc (tiếng Trung : 劉永福) (1837 - 1917), tự Uyên Đình, người Khâm Châu, Quảng Đông (nay thuộc Quảng Tây), là một quân nhân Trung Quốc thời kỳ nhà Thanh. Ông có thể coi là tổng thống thứ nhì và cũng là cuối cùng của Đài Loan dân chủ từ ngày 5 tháng 6 năm 1895 cho tới ngày 21 tháng 10 năm 1895.


http://upload.wikimedia.org/wikipedia/vi/b/bc/Liuvinhphuc.jpg

Lưu Vĩnh Phúc sinh ra ở vùng cực Tây Nam tỉnh Quảng Đông, giáp giới với Việt Nam và gần biển, thuộc giống Hakka (người "Hẹ", âm Hán Việt : Khách gia). Cha me ông nghèo cùng cực, không có nghề nghiệp, nhà cửa, và Lưu Vĩnh Phúc đến tận cuối đời cũng không biết chữ. Cuối năm 1853, khi cả bố mẹ và chú lần lượt qua đời vì bệnh tật và đói kém, Lưu Vĩnh Phúc thậm chí không có nổi chiếc áo quan để chôn họ. Cậu thiếu niên Lưu Vĩnh Phúc phải sống lang thang trên đường phố để kiếm miếng ăn. Năm 21 tuổi, Lưu Vĩnh Phúc xin làm thuộc hạ của Ngô Lăng Vân (Wu Yuan - ch’ing), người tự xưng là Ngô Vương, là dư đảng Thái Bình Thiên quốc, bản doanh đóng gần Nam Ninh, để nhận được khẩu phần trợ cấp và cuối cùng trở thành một người có ảnh hưởng dưới trướng Ngô Vương. Khi Ngô Lăng Vân bị giết (1863), có thời gian Lưu Vĩnh Phúc đem bộ thuộc của mình đi theo Vương Sĩ Lâm và Hoàng Tư Nùng ở châu Thượng Tư (Quảng Tây) đi cướp ở nhiều nơi, sau mới gia nhập trở lại với Ngô Côn, con trai và là người kế nghiệp Ngô Vương. Do cuộc sống kham khổ, cộng với buồn chán, Lưu Vĩnh Phúc xin với Ngô Á Chung (Wu Ah - chung, tức Ngô Côn) cho tiến hành các cuộc viễn chinh nhằm cướp bóc ở phần bên kia biên giới Đại Nam (Quốc hiệu Việt Nam từ thời vua Minh Mạng), cũng là để tránh sức ép quân sự của nhà Thanh, lúc đó đang tìm cách đặt lại quyền kiểm soát ở vùng Lưỡng Quảng. Dẫn theo 200 đồng đảng thân tín, dùng một lá cờ màu đen làm kỳ hiệu của mình, Lưu Vĩnh Phúc vượt biên giới vào Đại Nam năm 1865.

Lưu Vĩnh Phúc vừa đi vừa tuyển thêm quân từ các toán thổ phỉ khác mà không bị ai chặn lại hay ngăn trở gì. Đến gần Sơn Tây, quân Cờ đen khi đó đã lên tới 500 người dừng lại lập doanh trại. Sự hiện diện của một đội quân vũ trang trong lãnh thổ của các bộ tộc Mông miền núi là một sự đe dọa với họ, nên xung đột vũ trang đã nổ ra. Quân Cờ đen phục kích và đánh bại cuộc tấn công của thổ dân, đồng thời giết chết một thủ lĩnh của hἤiv align="center">http://upload.wikimedia.org/wikipedia/vi/4/44/Dupuis.JPG

Dù chủ lực quân Nam ở Bắc kỳ khi đó vẫn còn tập trung ở thành Sơn Tây, đại úy Garnier vẫn cho xuất quân tiến hành bình định miền châu thổ sông Hồng quanh Hà Nội. Chỉ trong vòng ba tuần, toàn bộ 4 tỉnh miền đồng bằng sông Hồng gồm Hà Nội, Hải Dương, Ninh Bình, Nam Định với 2 triệu dân cư và một số thành lũy đã rơi vào tay đội quân Pháp chỉ chừng 180 người, chỉ huy bởi viên đại úy hải quân chưa tới 35 tuổi[2]. Có thể kể đến trường hợp thành Ninh Bình với 1.700 binh lính hạ vũ khí đầu hàng một toán quân Pháp chỉ có 7 người. Đến giữa tháng 12, Garnier đã có thể quay lại Hà Nội điều hành công việc hành chính. Ông ta cho tổ chức dân quân của những làng công giáo và chọn lựa quan lại cho những vị trí bị bỏ trống.

Triều đình Huế hết sức tức giận vì hành vi tráo trở này, lệnh cho đoàn sứ Đại Nam đang thương nghị ở Sài Gòn phản kháng hành động chiếm thành của F.Garnier, yêu cầu thống đốc Dupré ra lệnh cho Garnier rút quân khỏi thành Hà Nội, đồng thời sai chưởng vệ Phan Đề làm đề đốc, Nguyễn Trọng Hợp làm tán lý cùng với Bùi Ấn Niên làm Khâm phái đưa 1.000 quân từ Huế và Nghệ An ra Bắc tăng cường chống trả quân Pháp. Triều định ra lệnh cho các quan tỉnh ở các khu vực trọng yếu phải đóng cọc xuống các lòng sông thông với sông Hồng để ngăn chận tàu Pháp. Vua Tự Đức cũng sai Trần Đình Túc, Trương Gia Hội cùng với 2 giáo sĩ Công giáo là giám mục Sovier, linh mục Danzelger ra Hà Nội điều đình với Garnier. Các khâm phái, khâm mạng, các quan cũ ở Hà Nội đều bị cách chức chờ xử phạt.

Ngoài ra triều đình Huế cũng phong cho phò mã Hoàng Kế Viêm làm Tiết chế Bắc kỳ quân vụ, chuẩn bị hành động trả đũa. Hoàng Kế Viêm là chỉ huy cao cấp nhất của các lực lượng quân Nam tại Bắc Kỳ, và cũng cấp trên trực tiếp của Lưu Vĩnh Phúc, nên ông cho gọi Lưu Vĩnh Phúc, khi đó đang đóng tại Hưng Hóa về Sơn Tây làm tiền phong để đánh quân Pháp. Hoàng Kế Viêm vì biết được sự hoang mang tinh thần của quân Nam, nên khích lệ quân Cờ đen bằng cách hứa hẹn thưởng rất nhiều vàng cho mỗi binh lính Pháp bị giết, số lượng vàng sẽ tăng lên theo cấp bậc của kẻ bị giết.
giặc cờ vàng
PHONG TRÀO ĐẤU TRANH CHỐNG
GIẶC “CỜ VÀNG”1
TÂY BẮC TỪ 1873 ĐẾN 1880.

TS. Phạm Văn Lực
Khoa Sử - Địa

Abstract. At the end of the 19th century, While the French colonialisls were trying to annex our country, the
Norther people in general and the North-West ethnic groups in particular had to face up with the "Co vang"
brigands (defeated army,s remnants of Thai Binh Thien Quoc). The North-West ethnic groups all together faught
against "Co Vang" brigands under the instruction of Hung Hoa province governor – Nguyen Quang Bich and the
leader of "Co Den" army – Lưu Vinh Phuc. Many decisive battles occurred in Muong La, Mai Son, Tuan Giao,
Van Chan, etc, in Which a lot of leaders such as Bac Cam Ten, Cam Ngoc Hanh and so on laid down courage.
Until 1880 – after 7 year of arduous fighting, the North-West people defeated "Co Vang" brigands, kept the
mountain hamlets and villages in peace, and started a new struggle against the French invaders.
Tóm tắt. Cuối thế kỷ XIX, trong khi thực dân Pháp đang tìm mọi cách để thôn tính toàn bộ đất nước ta thì
nhân dân Bắc Kỳ nói chung, các dân tộc Tây Bắc nói riêng lại phải đương đầu với giặc “Cờ Vàng” (tàn quân của
Thái Bình Thiên Quốc). Dưới sự chỉ đạo của Tuần phủ Hưng Hoá Nguyễn Quang Bích và Lưu Vĩnh Phúc (thủ
lĩnh quân “Cờ Đen”), các dân tộc Tây Bắc đã đứng lên chống giặc “Cờ Vàng”. Nhiều trận chiến đấu quyết liệt đã
diễn ra ở Mường La, Mai Sơn, Tuần Giáo, Văn Chấn, Văn Bàn…Chính trong những trận chiến đấu quyết liệt đó,
nhiều thủ lĩnh nghĩa quân như: Bạc Cầm Ten. Cầm Ngọc Hánh đã dũng cảm hy sinh… Sau hơn 7 năm gian khổ
chiến đấu đến năm 1880 nhân dân Tây Bắc đã đuổi được giặc “Cờ Vàng” giữ yên được bản mường và lại bắt tay
ngay vào cuộc chiến đấu mới chống lại sự xâm lược của thực dân Pháp.
1. Tàn quân Thái Bình Thiên Quốc tràn vào miền Bắc nước ta và sự tàn phá của giặc “Cờ
Vàng” ở Tây Bắc.
Sau 14 năm hoạt động đến 1864 khởi nghĩa Thái Bình Thiên Quốc bị triều đình phong
kiến Mãn Thanh đàn áp đẫm máu; nhiều toán nghĩa quân phải dạt vào miền Bắc nước ta để
tránh sự tàn sát của triều đình, gây lên hoạ thổ phỉ (giặc trốn); khi vào miền Bắc nước ta đám
tàn quân này có sự phân hoá thành nhiều dư đảng khác nhau:
+ Quân “Cờ Đen” do Lưu Vĩnh Phúc chỉ huy, khi dạt vào miền Bắc nước ta vẫn giữ đ-
ược bản chất của đội quân nông dân khởi nghĩa. Tháng 2/1868 Lưu Vĩnh Phúc đã phối hợp
với quân của triều đình Huế dẹp giặc “Cờ Vàng”, “Cờ Trắng” ở vùng Quảng Ninh, Lạng Sơn,
Tuyên Quang và Bắc Ninh. Sau đó Lưu Vĩnh Phúc được gọi về Trung Quốc cùng với Đề đốc
Quảng Tây Phùng Tử Tài nhưng ông đã xin ở lại vùng Bảo Thắng - Lào Cai. Từ đó quân “Cờ
Đen” luôn sát cánh cùng nhân dân ta chống giặc rã ở khu vực Tây Bắc và thượng lưu sông
Đà.
+ Giặc “Cờ Trắng” do Bàn Văn Nhị, Long Văn Lợi, Triệu Tiên Đồng, Triệu Hữu Diền
cầm đầu. Bộ phận này khi vào miền Bắc nước ta đã thoái hoá biến chất thành những toán giặc
rã, chuyên tàn sát cướp bóc nhân dân ở vùng Cao Bằng, Hà Giang, Tuyên Quang, Lạng Sơn,
Quảng Ninh…Sự phá phách, nhũng nhiễu của giặc “Cờ Trắng” đã buộc triều đình Huế phải
nhờ cậy đến Đề đốc Quảng Tây là Phùng Tử Tài mang 16 doanh quân (mỗi doanh có từ 200-
300 quân) sang phối hợp với quân của triều đình Huế đánh đuổi và phải mất hơn một năm đến
1868 mới dẹp được đám tàn quân này…

1
Tàn quân của Thái Bình Thiên Quốc + Giặc “Cờ Vàng” do Ngô Côn, Hoàng Sùng Anh, Diệp Tài cầm đầu lại nổi lên cướp
phá ở vùng Cao Bằng, Lạng Sơn, Tuyên Quang… Năm 1868 Ngô Côn cho quân đánh chiếm
thành Cao Bằng, nhà Nguyễn phải cử quan tổng đốc Phạm Chí Hương viết thư sang nhà
Thanh xin cho quân sang tiễu trừ. Triều đình phong kiến Mãn Thanh đã cho Phó tướng Tạ Kế
Quí đem quân sang phối hợp với Ông Ích Khiêm và quan đề đốc Nguyễn Viết Thành đánh
đuổi nhưng không được. Đến tháng 7/1868, quân tướng nhà Thanh và Triều Nguyễn lại cùng
nhau phối hợp đánh giặc “Cờ Vàng”do Ngô Côn cầm đầu ở Thất Khê nhưng bị thất bại; trong
trận này tham tán Nguyễn Lệ và Phó Đô đốc Nguyễn Viết Thành bị tử trận, còn Tham tán
Phạm Chí Hương bị bắt. Trước tình hình đó nhà Nguyễn lại cử Võ Trọng Bình làm Hà Dinh
Tổng đốc kết hợp với Đề đốc Quảng Tây là Phùng Tử Tài mang 31 quân thứ (gần 1 vạn quân)
đánh bọn Ngô Côn, khôi phục được tỉnh Cao Bằng vào tháng 5/1869.
Tuy bị đánh đuổi khỏi Cao Bằng nhưng dư đảng của giặc “Cờ Vàng” vẫn còn rất mạnh,
năm 1870 Ngô Côn lại đem quân đánh chiếm Bắc Ninh, nhưng lần này y bị ông Ích Khiêm
bắn chết trong một trận giao chiến ở gần sông Đuống … Sau khi Ngô Côn bị chết, toàn bộ tàn
quân “Cờ Vàng” kéo vào Tây Bắc cướp phá.
Có thể nói đi đến đâu chúng cũng thẳng tay cướp bóc, chém giết nhân dân:
“Ai có tiền hối lộ, chúng tha,
Ai không có tiền chúng giết ngay tại chỗ”
Hoặc:
“ Đem tí thịt lợn treo cột nhà
Cô nàng coi như làm vợ cho giặc.
… Đặt bầu ruợu dưới chạn thức ăn
Coi như đám cưới đã xong,
Giặc vào buồng ngủ với con, với cháu ” [8,tr.28].
Tình hình đó đã làm cho dân chúng ở nhiều vùng phải tìm mọi cách chạy vào rừng sâu
để ở:
“ Xóm làng xơ xác, nhân dân đói khổ, nhiều nơi nhân dân đã phải bỏ cả làng, bản rủ
nhau chạy vào rừng sâu để ở ”.
Cuộc sống của các dân tộc cơ cực như con thú trong rừng:
“… dân sống cuộc đời như nai, như hoãng, nay đây mai đó.
Dân như loài cuốc, như cáo, như chồn chui rúc rừng sâu” [8,tr.30].
Sự cướp phá của giặc “Cờ Vàng” đã làm cho đời sống của các dân tộc Tây Bắc trở nên
cùng cực, xóm làng xơ xác, nhân dân đói khổ… nhiều nơi nhân dân đã tự động đứng lên
kháng chiến để bảo vệ bản mường.
2. Phong trào đấu đấu tranh chống giặc “Cờ Vàng” ở Tây Bắc từ 1873 đến 1880.
Trong hoàn cảnh vừa phải lo đối phó với âm mưu xâm lược của thực dân Pháp, lại
phải đương đầu với giặc “Cờ Vàng”, Nguyễn Quang Bích đã tích cực vận động nhân dân chủ
động chuẩn bị mọi mặt để có thể đối phó với mọi tình huống có thể xảy ra. Trước hết ông
lệnh cho các địa phương không ai được hợp tác với giặc và chủ động chỉ đạo nhân dân xây
dựng thêm thành luỹ; một mặt ông cũng cho quân án ngữ các vị trí hiểm yếu ở Văn Chấn, Văn Bàn, Bình Lư, Phong Thổ, Hưng Hoá và dọc tuyến sông Đà… Đặc biệt, để có thể chủ
động đương đầu với giặc “Cờ Vàng” và chống thực dân Pháp, Nguyễn Quang Bích cùng với
Lưu Vĩnh Phúc (thủ lĩnh nghĩa quân “Cờ Đen”) đã kiện toàn và sắp sếp lại các lực lượng quân
sự ở vùng “Thập Châu” Tây Bắc thành 4 đội quân như sau:
1. Đội quân Văn Bàn, Văn Chấn (Yên Bái) tiền thân là đội quân Chinh chiến chống
giặc rã ở Văn Bàn, Văn Chấn (Yên Bái) trước đây. Năm 1873 khi giặc “Cờ Vàng” tràn sang
cướp phá Nguyễn Quang Bích và Lưu Vĩnh Phúc đã tổ chức và thống nhất lại thành đội quân
lớn của cả vùng do Nguyễn Văn Quang chỉ huy; quân số của đội quân này lên đến hơn 400
người.
2. Đội quân Mộc Châu, tiền thân cũng là các đội quân Chinh chiến (Đội quân Áo
Đỏ) trước đây hoạt động ở vùng Mường Sang, Pa Háng, Chiềng Ve, Chiềng Đi… năm 1873
Nguyễn Quang Bích và Lưu Vĩnh Phúc đã kiện toàn lại và giao cho thủ lĩnh Sa Văn Nọi chỉ
huy; tổng số nghĩa quân lúc đông nhất lên đến gần 600 người, bao gồm chủ yếu là dân tộc
Thái, có một số ít là người dân tộc Mường, dân tộc Dao về sau này có thêm dân tộc Mông…
3. Đội quân Tuần Giáo, Thuận Châu, Mai Sơn, Yên Châu, Mường La cũng được
Nguyễn Quang Bích và Lưu Vĩnh Phúc tổ chức lại vào năm 1873 do Cầm Bun Hoan chỉ huy:
“… Nhân dân trong vùng đều hăng hái tham gia nghĩa quân để chống giặc “ Cờ Vàng”…
Tổng số nghĩa quân lúc đông nhất trên 400 người.
4. Đội quân Mường Lay, Phong Thổ do Điêu Văn Toa chỉ huy, nghĩa quân có địa
bàn hoạt động ở khắp vùng Phong Thổ, Bình Lư, Sìn Hồ, Mường Lay và sang cả Lào. Từ khi
giặc “Cờ Vàng” tràn sang cướp phá, dưới sự chỉ đạo của Nguyễn Quang Bích, Lưu Vĩnh
Phúc, nghĩa quân cũng nhanh chóng được kiện toàn và sắp sếp lại; Năm 1875, Điêu Văn Toa
đã cho người đi vận động thanh niên trong vùng gia nhập nghĩa quân, nâng tổng số nghĩa binh
vào thời điểm động nhất đến gần 1000 người. Quam tô mương của Mường La viết:
“…Thanh niên Thái ở các châu, mường mọi người đều hăng hái gia nhập nghĩa quân…”
[7, tr.21].
Trên cơ sở lực lượng được củng cố tăng cường, Nguyễn Quang Bích đã chỉ đạo các cánh
quân của ta phối hợp với quân “Cờ Đen” của Lưu Vĩnh Phúc tổ chức nhiều trận đánh lớn trên
địa bàn Tây Bắc.
Tiêu biểu nhất là ở Mường La (Sơn La), tháng 8/1875 các cánh quân của ta dưới sự chỉ
đạo của thủ lĩnh Cầm Bun Hoan đã liên tục chặn đánh giặc Tàu ô (giặc Cờ vàng) ở khu vực Ít
Ong, Mường Bú khi chúng vừa từ Yên Bái kéo sang, gây cho chúng nhiều thiệt hại. Đặc biệt,
ở vùng Mường Bú lợi dụng địa hình hiểm trở các chiến binh của ta cứ đêm tối lại xông vào
đồn trại của giặc quấy nhiễu, đốt phá làm cho chúng không lúc nào được yên... Do sự chống
trả quyết của các cánh quân ta đã làm cho kẻ địch không dám cướp phá, mà phải co cụm lại ở
chân đèo Cao Pha và cho một bộ phận đi trước để dò la tình hình. Khi kéo quân đến khu vực
xã Chiềng Xôm lại rơi vào ổ phục kích của các nghĩa binh ta, buộc chúng phải chạy thục
mạng về phía Chiềng An… Tại đây quân địch lại bị các cánh quân ta từ trong pháo đài Dua
Cá (bản cá xã Chiềng An – thị xã Sơn La ngày nay) xông ra chặn đánh, cuộc chiến đấu diễn ra
hết sức quyết liệt và kéo dài trong nhiều ngày, cả hai bên đều có những thiệt hại lớn. Vào lúc
cuộc chiến đấu diễn ra hết sức quyết liệt nhất thì các cánh quân ta ở Mường Muổi, Miềng
Piềng (Thuận Châu), Mường Chanh, Chiềng Mai (Mai Sơn) cũng đã kịp thời đến ứng cứu… Cuối cùng các nghĩa binh ta đã đuổi được giặc Tàu ô ra khỏi khu vực Mường La. Quam tô
mương của Mường La ghi lại cuộc chiến đấu hào hùng đó như sau:
“ Các nghĩa binh của ta chiến đấu dũng cảm, mưu trí dùng thủ thuật bắn tỉa tiêu diệt nhiều
kẻ địch… sau đó xông ra khu ruộng Sam Kha đánh nhau giáp lá cà với giặc dồn chúng vào
khu suối nước bản Cá để tiêu diệt…”
Hoặc: “ Trong lúc cuộc chiến đấu đang diễn ra gay go, quyết liệt thì nhiều địa phương
trong vùng như: Mường Piềng, Mường Muổi (Thuận Châu), Chiềng Mai, Mường Chanh (Mai
Sơn) đã kịp thời gửi quân đến ứng cứu…” [10, tr.5]
Ở Mường Muổi (Thuận Châu), Mường Quài (Tuần Giáo) mặc dù giặc Tàu ô đã dùng
nhiều thủ đoạn mỵ dân nhưng không ai chịu hợp tác với giặc. Trong các bản, nhân dân đã tự
tổ chức đặt chông, bẫy và thực hiện ngày đêm canh gác, thường trực chiến đấu không để cho
giặc tràn vào cướp phá. Nhiều địa phương như: Chiền Ve, Chiềng Ly (Mường Muổi), Quài
Tở, Ảng Cang… (Tuần Giáo) nhân dân còn tích cực quyên góp lượng thực, thực phẩm ủng hộ
nghĩa quân. Quam tô mương của Mường Muổi viết:
“ …Nhân dân các bản đã mang thóc, gạo ủng hộ nghĩa quân… Nhiều người còn ủng
hộ cả gà, vịt, ngan ngỗng…” [10, tr.5]
Được sự giúp đỡ của tỉnh Hưng Hoá, tháng 7/1877 các cánh quân Mường Quày đã tổ
chức chặn đánh quân địch ở Mường Chung tiêu diệt hơn 100 tên, số còn lại phải bỏ chạy về
phía Mường Quài… Trong trận chiến đấu quyết liệt này thủ lĩnh Bạc Cầm Ten, Cầm Ngọc
Hánh đã anh dũng hy sinh. Quam tô mương của Mường Quài viết:
“ Hai ông (tức Bạc Cầm Ten và Cầm Ngọc Hánh) khi bị trúng tên của địch vẫn không
chịu lùi về phía sau mà vẫn tiếp tục chỉ đạo các cánh quân của ta xông lên tiêu diệt giặc Tàu ô
(giặc Cờ Vàng)…” [10.tr.12]
Tại Mộc Châu, nhiều nơi nhân dân đã tự tổ chức các cuộc vây giáp quân giặc…Tiêu
biểu nhất là cuộc chiến đấu ở vùng Mường Khoa, các nghĩa binh ta đã chiến đấu hết sức dũng
cảm và mưu trí, lợi dụng mùa mưa nước sông Đà chảy xiết, ta lừa địch xuống thuyền, sau đó
bất ngờ tiến công làm cho kẻ địch không kịp trở tay bị nước sông cuốn chết hơn 200 tên,
trong đó có tên phó tướng của giặc… [10, tr.17]
Tại Mường Lay (Điện biên), Phong Thổ (Lai Châu), Văn Chấn, Văn Bàn (Yên Bái)…
dưới sự chỉ đạo của các thủ lĩnh châu, mường kết hợp với quân của tỉnh Hưng Hoá và quân
“Cờ Đen”, các cánh quân của ta cũng đã liên tục tập kích địch trên đường từ Bình Lư đi
Phong Thổ và Mường So gây cho chúng nhiều thiệt hại… Trong đó trận đánh lớn nhất là ở
Mường So, các cánh quân của ta đã liên tục truy quét quân địch buộc chúng phải chạy dồn về
phía Phong Thổ. Nhưng trên đường rút chạy, đến đâu chúng cũng bị các nghĩa binh của ta
chặn đánh quyết liệt tiêu diệt hơn 100 tên, số còn lại phải tháo chạy vào rừng… (10, Tr.22).
Có thể nói, đến năm 1880 hầu hết các toán giặc “Cờ Vàng” đã bị đánh dẹp; một bộ
phận phải tháo chạy vào rừng tìm cách trốn về nước, một bộ phận quy phục các thủ lĩnh châu,
mường xin ở lại làm ăn và sau này trở thành bộ phận của cư dân Tây Bắc.
Như vậy, sau hơn 7 năm gian khổ chiến đấu, các dân tộc vùng Thập Châu - Tây Bắc
đã đuổi được giặc “Cờ Vàng”, giữ yên được bản mường và lại gấp rút bước ngay vào cuộc
kháng chiến chống lại sự xâm lược của thực dân Pháp.
3. Một số những nhận xét bước đầu được rút ra. Tây Bắc là vùng đất được coi là “địa đầu” của Tổ quốc, nơi có nhiều dân tộc thiểu số
sinh sống… Các dân tộc Tây Bắc tuy còn trong tình trạng nghèo nàn lạc hậu nhưng giàu
truyền thống yêu nước, đã có những đóng góp to lớn vào công cuộc lao động xây dựng đất
nước và đấu tranh bảo vệ tổ quốc.
Cuối thế kỷ XIX, trong khi các dân tộc Tây Bắc đang phải tích cực chuẩn bị mọi mặt
để chống lại sự xâm lược của thực dân Pháp thì giặc “Cờ Vàng” lại tràn sang cướp phá. Sự
cướp phá của giặc “Cờ Vàng” không chỉ làm cho đời sống của các dân tộc trở nên cùng cực
mà còn làm cho tiềm lực của đất nước bị suy kiệt. Trong hoàn cảnh đó, các dân tộc Tây Bắc
đánh đuổi được giặc “Cờ Vàng”, chấm dứt được tình trạng loạn lạc không chỉ có ý nghĩa bảo
vệ được quê hương bản mường ở vùng đất được coi là “địa đầu” của Tổ quốc mà còn trực tiếp
góp phần vào việc củng cố tiềm lực của quốc gia dân tộc. Đây chính là cơ sở nền tảng để các
dân tộc Tây Bắc có thể bắt tay ngay vào công cuộc kháng chiến chống lại sự xâm lược của
Thực dân Pháp.
Phong trào đấu tranh chống giặc “Cờ Vàng” của các dân tộc Tây Bắc thời kỳ từ 1873
đến 1880 đã góp phần làm rạng rỡ thêm truyền thống đấu tranh kiên cường của dân tộc Việt
Nam trong kháng chiến chống ngoại xâm vì tự do độc lập của dân tộc. Truyền thống đó không
ngừng được kế thừa và phát huy trong công cuộc cách mạng hiện nay ở Tây Bắc.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đào Duy Anh (1964): Đất nước Việt Nam qua các đời. Nhà xuất bản
2. (1975) Các tộc người ở Tây Bắc Việt Nam. Ban dân tộc Khu tự trị Tây Bắc xuất bản.
3. (1976) Các dân tộc thiểu số ở miền Bắc Việt Nam (dẫn liệu nhân chủng học). Nhà xuất
bản Khoa học xã hội, Hà Nội.
5. (1974) Địa Chí tỉnh Hưng Hoá (Bản dịch của Nguyễn Xuân Lân), Ty văn hoá Vĩnh Phú.
6. Lã Văn Lô (1973). Bước đầu tìm hiểu các dân tộc thiểu số ở Việt Nam trong sự nghiệp
dựng nước và giữ nước. Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội.
7. (1972) Nhân dân các dân tộc Tây Bắc chống thực dân Pháp xâm lược (1858-1930). Tập 1
(Sơ thảo). Ban dân tộc Khu tự trị Tây Bắc xuất bản.
8. Đặng Nghiêm Vạn, Đinh Xuân Lâm (1975). Điện Biên trong lịch sử. Nhà xuất bản Khoa
học xã hội, Hà Nội.
9. Y. Tsuboi (1992): Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa (1845-1885). Người
dịch: Nguyễn Đình Đầu, Hội Sử học Việt Nam, Hà Nội.
10. Quam tô mương của Mường Piềng, Mường La, Mường Sang, Mường La, Mường Muổi,
Mường Quài…
11. Chương Han. Tài liệu lưu tại Bảo tàng Sơn La.
12. Tài liệu điền dã tại pháo đài Dua Cá, xã Chiềng An – Thị xã Sơn La, tháng 8 năm 2001.