PDA

View Full Version : Tìm về nguổn gốc dân tộc việt nam qua di truyền học một vài phát hiện ban đầu và đườn



huyblog
16-07-2009, 08:35 AM
Có ai có thể kiểm định thông tin này không?


TÌM VỀ NGUỔN GỐC DÂN TỘC VIỆT NAM QUA DI TRUYỀN HỌC
MỘT VÀI PHÁT HIỆN BAN ĐẦU VÀ ĐƯỜNG HƯỚNG NGHIÊN CỨU
Nguyễn Văn Tuấn(
)
Cách đây vài tháng, nhân
điểm qua cuốn sách “Eden
in the East” (tạm dịch: Địa
đàng ở phương Đông) của
Tác giả Stephen
Oppenheimer, tôi có đặt lại
vấn đề nguồn gốc dân tộc
Việt Nam [1]. Bài điểm
sách đã được nhiều bạn
đọc quan tâm đến vấn đề ở
trong và ngoài nước đón
nhận một cách nồng nhiệt.
Một số bạn đọc viết thư
riêng đề nghị chúng tôi nên
tiến hành một nghiên cứu
sinh học để xác định rõ
hơn mối quan hệ giữa dân tộc Việt và các dân tộc khác trong vùng Đông Nam Á
châu. Một số bạn đọc khai triển thêm đề tài này và đề nghị nên cẩn thận trong
khi diễn dịch các số liệu và dữ kiện khảo cổ học. Tuy nhiên bên cạnh đó, cũng có
người cho rằng không cần phải đặt lại vấn đề nguồn gốc dân tộc Việt, vì trong
quá khứ đã có tác giả, chẳng hạn như Bình Nguyên Lộc, đã “chứng minh” nguồn
gốc Mã Lai của dân tộc Việt [2].
Tuy nhiên, người viết bài này tin rằng một quan điểm mang tính khẳng định
cao như thế rất nguy hiểm cho tiến bộ khoa học, vì nó hàm ý cho rằng câu
chuyện đã chấm dứt, câu trả lời đã dứt khoát, không còn vấn đề gì để bàn thảo
nữa, cũng như không có gì để phải nghiên cứu thêm. Thực ra, vấn đề [nguồn
gốc dân tộc Việt] chưa được giải quyết thỏa đáng. Chưa ai chứng minh một cách
khoa học rằng dân tộc Việt có nguồn gốc Mã Lai, và thậm chí câu hỏi vẫn chưa
được đặt ra một cách có hệ thống. Tôi cho rằng vấn đề cần phải được đặt lại.
Tại sao? Ngoài những dữ kiện trong sách “Eden in the East” của Oppenheimer
mà tôi đã trình bày, tôi thấy còn có vài lý do quan trọng khác để chúng ta đặt lại
vấn đề nguồn gốc dân tộc Việt.
• Thứ nhất, giả thuyết về nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt chỉ là một giả
thuyết trong nhiều giả thuyết khác nhau. Giả thuyết này, phần lớn, dựa vào các
dữ kiện khảo cổ và ngôn ngữ. Những dữ kiện về đặc tính cơ thể và các chỉ số
nhân trắc (như màu da, xương, sọ, khuôn mặt, v.v..) từng được dùng làm các
đơn vị thông tin để nghiên cứu nguồn gốc dân tộc và sự tiến hóa của loài người.
Nhưng các đặc tính này thay đổi theo thời gian, và chịu ảnh hưởng vào môi
trường sinh sống. Chẳng hạn như chiều cao của con người trong vòng 200 năm
qua đã tăng một cách đáng kể do những cải thiện về dinh dưỡng và môi trường
sinh sống. Ngay cả cấu trúc xương cũng thay đổi theo thời gian và môi trường.
Do đó các đặc tính nêu trên không phải là những thông tin lý tưởng cho việc
nghiên cứu lịch sử di truyền của con người.
Những dữ kiện về ngôn ngữ cũng có nhiều khiếm khuyết, vì mức độ tương
đương về từ ngữ không thể nói lên một cách đầy đủ khuynh hướng di cư của các
sắc dân. Ngay cả việc xác định mức độ tương đồng từ ngữ giữa các ngôn ngữ
cũng là một vấn đề mang tính kỹ thuật mà các nhà nghiên cứu vẫn chưa đồng ý
về phương pháp làm. Vả lại, sự tương đồng giữa các ngôn ngữ có thể là một
hằng số mang tính văn hóa, chứ không hẳn do các cơ chế sinh học và di truyền.
Nói tóm lại, những bằng chứng khảo cổ và ngôn ngữ không phải là những loại
thông số đáng tin cậy để xác định nguồn gốc dân tộc.
Thứ hai, có thể nói ngay rằng các giả thuyết về nguồn gốc dân tộc Việt Nam
của một số tác giả người Việt trước đây thiếu tính khoa học hay “bán khoa học”
[3]. Những dữ kiện dùng để đặt giả thuyết trước đây chưa bao giờ được xử lý
bằng cách phương pháp khoa học, không đánh giá được mức độ biến thiên của
dữ kiện, nghĩa là định lượng xem mức độ biến chuyển của những dữ kiện đó có
tỷ lệ bao nhiêu là do các yếu tố ngẫu nhiên gây nên, và bao nhiêu là do các yếu
tố không ngẫu nhiên tạo thành.
Người thông minh có thể có nhiều cách giải thích rất hay cho những quan
điểm sai lầm. Ai cũng có thể phát biểu một giả thuyết, nhưng một giả thuyết
khoa học khác với một giả thuyết phi khoa học ở chỗ một giả thuyết khoa học có
thể thử nghiệm được. Điều quan trọng là một giả thuyết khoa học cần phải được
thử nghiệm một cách khách quan, và cần phải được “phản nghiệm” (falsify) một
cách độc lập.
Vì thế, cần phải nói rõ rằng việc phát triển một giả thuyết khoa học không chỉ
đơn thuần gói gọn trong việc in vài ý kiến thành sách và cho đó là “khoa học”, là
những giả thuyết mà ai cũng cần phải đọc, cần phải ghi nhận. Stephen Jay Gould
(nhà tiến hóa học danh tiếng vừa mới qua đời), trước khi phát biểu một giả
thuyết về sinh học tiến hóa đã từng làm nhiều nghiên cứu và từng công bố kết
quả nghiên cứu trong hàng trăm bài báo khoa học trên các tập san chuyên môn.
Stephen Oppenheimer cũng thế: trước khi cho in những giả thuyết của mình
thành sách, ông ta đã phải bỏ ra hàng chục năm đi thu thập dữ kiện, thử
nghiệm, phân tích, và công bố nhiều bài báo khoa học trên các tập san chuyên
môn danh tiếng trên thế giới. Nhìn lại trường hợp Việt Nam, chúng ta có thể nói
không một giả thuyết nào về nguồn gốc dân tộc Việt Nam được kiểm tra bởi các
đồng nghiệp chuyên môn trên thế giới (peer review), hay được công bố trên các
tập san hàn lâm trên thế giới, hay dựa vào những bằng chứng chặt chẽ về sinh
học. Thành ra, chưa một giả thuyết nào của các tác giả Việt Nam được trình bày
một cách có hệ thống và được đồng nghiệp trên thế giới công nhận.
Thứ ba, như đã nói trên nguồn gốc Mã
Lai của dân tộc Việt Nam mà Bình Nguyên
Lộc đề xướng là một giả thuyết. Không có
ai có thể chứng minh một giả thuyết.
Những gì mà người ta có thể “chứng
minh” là các dữ kiện có nhất quán hay
phù hợp với giả thuyết hay không. Khi có
dữ kiện mới giả thuyết sẽ được phát biểu
lại. Do đó, cần phải nhấn mạnh rằng
không có một giả thuyết nào được xem là
bất biến. Ngay cả giả thuyết về nguồn
gốc con người hiện đại cũng đã trải qua
nhiều nghiên cứu, thảo luận hàng nửa thế
kỷ nay, với hàng ngàn bài báo khoa học
và hàng trăm cuốn sách đã viết về đề tài này. Điều này cũng không nên lấy làm
ngạc nhiên, bởi vì quá trình phát triển khoa học nằm trong một chu trình đặt vấn
đề hay giả thuyết, thu thập dữ kiện, thử nghiệm giả thuyết, và đặt lại vấn đề. Sự
tích lũy dữ kiện theo thời gian sẽ soi sáng và góp phần kiểm tra lại giả thuyết
ban đầu. Thành ra, cần phải đặt lại vấn đề, cần phải nêu những câu hỏi tốt để đi
tìm những câu trả lời thích hợp và hữu dụng.
Trong quá khứ, giới khảo cổ học và nhân chủng học dựa vào các bằng chứng
về khảo cổ, xương, hóa thạch, v.v… để phát triển lý thuyết, nhưng những đối
tượng này hàm chứa nhiều hạn chế thông tin về tiến hóa, vì mối quan hệ phức
tạp giữa môi trường và tiến hóa. Hậu quả của sự tập trung vào các đối tượng
như thế trong một thời gian dài đã làm cho chúng ta xao lãng các dữ kiện cho
chúng ta nhiều thông tin hơn: đó là gien. Không giống như xương sọ, những
thay đổi trong gien thường xảy ra theo những qui luật mà chúng ta hiểu khá rõ,
và vì thế gien và các đặc điểm của gien, như tầng số gien, cấu trúc DNA, phân
phối gien, v.v... cho chúng ta những thông tin cực kỳ quí giá về sự tiến hóa của
con người. Ngày nay, những tiến bộ phi thường trong ngành di truyền học và
sinh học phân tử (molecular biology) trong mấy năm gần đây đã cung cấp cho
ngành nhân chủng học một phương tiện cực kỳ quan trọng trong việc xác định
lịch sử tiến hóa của con người và mối liên hệ giữa các dân tộc. Nhưng trong khi
khả năng và kỹ thuật càng ngày càng hiện đại thì những thay đổi trong xã hội
trong các nước đang phát triển có nguy cơ làm nhòa đi tính “tinh khiết” của
những người dân chính gốc ở Việt Nam. Vì thế, đặt vấn đề nguồn gốc dân tộc
cũng có nghĩa là tìm một sự phối hợp có tổ chức để thu thập và duy trì những
thông tin sinh học về quá khứ của chúng ta, những người Việt Nam.
Giá trị của di truyền học trong việc truy tầm nguồn gốc dân tộc đã được đánh
giá cao về mức độ tin cậy. Di truyền học là một cửa sổ để chúng ta nhìn lại quá
khứ của chúng ta. Tuy nhiên, những nghiên cứu về di truyền học trong người
Việt còn cực kỳ khiêm tốn, nếu không muốn nói là không đáng kể. Trong thời
gian khoảng 10 năm trở lại đây, đã có một số bằng chứng, tuy gián tiếp, nhưng
cũng đủ để chúng ta có lý do để xem xét lại lịch sử tiến hóa của dân tộc Việt.
Những bằng chứng này là:
(a) Năm 1998, Giáo sư Chu và đồng nghiệp (thuộc Trường Đại học Texas)
phân tích 15 đến 30 mẫu “vi vệ tinh” DNA (microsatellites) để thử nghiệm sự
khác biệt di truyền trong 24 nhóm dân từ nhiều tỉnh khác nhau ở Trung Quốc, 4
nhóm dân vùng Đông Nam Á (hai thuộc thổ dân Mỹ, một thuộc thổ dân Úc châu,
và một thuộc Tân Guinea), 4 nhóm dân da trắng (Caucasian), và 3 nhóm dân Phi
châu. Bằng một phương pháp phân tích thống kê có tên là “phân tích phát sinh
chủng loại” (Phylogenetic analysis)”, một số kết quả đáng ghi nhận như sau:
􀂷 Hai nhóm dân có sự khác biệt rõ ràng nhất là Phi châu và các dân
không thuộc Phi châu;
􀂷 Tất cả các nhóm dân Đông Nam Á “tập hợp” thành một nhóm, và
nhóm dân có đặc tính di truyền gần họ nhất là người thổ dân Mỹ châu, kế
đến là thổ dân Úc châu, và Tân Guinea (Những kết quả này cũng phù
hợp với thời gian định cư ở Úc châu (khoảng 60,000 đến 50,000 năm
trước đây, và thời gian định cư ở Mỹ châu (từ 30,000 đến 15,000 năm
trước đây);
􀂷 Các nhóm dân miền nam Trung Quốc phân phối thành ba nhóm,
gọi là S1, S2, và S3 (ngoại trừ nhóm S2 là người Hán từ tỉnh Henan, phần
còn lại (S1 và S3) gồm các sắc dân trong vùng Yunnan); và
􀂷 Các sắc dân miền bắc Trung Quốc phân phối thành hai nhóm, gọi
là N1 và N2. Nhóm N1 gồm 6 sắc dân nói tiếng Altaic, một nhóm Hán tộc
miền bắc từ tỉnh Yunnan. Nhóm N2 gồm 4 sắc tộc thiểu số có lịch sử sinh
sống lâu đời ở miền bắc, trong đó có một sắc tộc từ tỉnh Ninxia [4].
Từ những phát hiện trên, chúng ta có thể đặt ra một số mô hình để giải thích
[5], nhưng mô hình thích hợp với dữ kiện của Giáo sư Chu và đồng nghiệp là các
dân tộc miền Bắc Á được tiến hóa từ các dân tộc Đông Nam Á châu. Các dữ kiện
liên quan đến răng, sọ [6,7] cũng nhất quán với mô hình này. Do đó, Giáo sư
Chu và đồng nghiệp kết luận rằng: “Tổ tiên của các nhóm dân Đông Á ngày nay
có nguồn gốc từ Đông Nam Á.” Nói một cách khác, các dữ kiện di truyền học của
Giáo sư Chu và đồng nghiệp cho thấy tổ tiên của những người nói tiếng Altaic từ
Đông Á đã di cư vào Á châu từ ngã Đông Nam chứ không phải từ ngả Trung Á.
(b) Nhưng nghiên cứu của Giáo sư Chu và đồng nghiệp có một điểm yếu, đó
là họ dựa vào vi vệ tinh DNA, một chất liệu di truyền rất “nhạy” (sensitive) và dễ
bị đột biến (mutation [8]). Để khắc phục nhược điểm này, một nhóm nghiên cứu
khác đã tiến hành một nghiên cứu độc lập và qui mô hơn để xác định nguồn gốc
Đông Nam Á của dân tộc Trung Hoa. Nhóm nghiên cứu Mỹ – Trung Quốc phân
tích DNA trong nhiễm sắc thể Y [9] trong các nhóm dân Hán (thuộc 22 tỉnh của
Trung Quốc), 3 nhóm dân Đông Bắc Á (Buryat, Hàn Quốc, và Nhật Bản), 5 nhóm
dân Đông Nam Á (Campuchia, Thái Lan, Malaysia, Batak, và Java), và 12 nhóm
dân ngoài Á châu (3 nhóm từ Phi châu, 3 từ Mỹ châu, 2 từ Âu châu, và 4 từ châu
Đại dương). Các nhà nghiên cứu ghi nhận rằng mức độ biến thiên đa hình thái
(polymorphic variation) trong các nhóm dân Đông Nam Á cao hơn trong các
nhóm dân thuộc vùng Bắc Á. Điều này có nghĩa là các sắc dân ở Đông Nam Á có
một quá trình định cư lâu dài hơn là các nhóm dân Bắc Á. Dùng các phương
pháp phân tích di truyền quần thể (population genetics), các nhà nghiên cứu kết
luận rằng con người thời đó đã di cư từ Phi châu sang đến Đông Nam Á [10] vào
khoảng 60 ngàn năm về trước, và sau đó đã di chuyển lên phía Bắc Á (kể cả
Trung Quốc ngày nay) và Siberia [11]. Ngoài ra, còn có bằng chứng di truyền
cho thấy các nhóm dân Polynesians cũng có nguồn gốc từ Đông Nam Á [12].
(c) Trong một nghiên cứu trên 103 người ở Hà Nội [13], các nhà nghiên cứu
Việt – Pháp phân tích DNA trong hai gien (HLA-DR và DQB1), và so sánh kết quả
này với các sắc dân thuộc châu Đại Dương (Oceania) và Đông Á. Sau khi ước
tính khoảng cách di truyền [14] giữa các sắc dân, các nhà nghiên cứu kết luận
rằng cấu trúc di truyền của hai gien này trong người Việt gần với người Thái và
người Hoa. Các nhà nghiên cứu này kết luận rằng dữ kiện của họ phù hợp với
giả thuyết người Việt có nguồn gốc từ người Trung Hoa và Thái-Nam Dương.
Tuy nhiên, sau khi xem xét kỹ phần phương pháp nghiên cứu, tôi có lý do để
cho rằng kết luận này rất có thể không đúng. Những lý do này là: Thứ nhất,
nghiên cứu này chỉ dựa vào hai gien mà thôi (con người có khoảng 35 đến 39
ngàn gien), và với những yếu điểm của mtDNA, các ước đoán về khoảng cách di
truyền không ổn định. Thứ hai, ngay cả trong bài báo các nhà nghiên cứu không
xây dựng được một cây di truyền nào, và cũng chẳng phân tích phát sinh chủng
loại thì không thể phán đoán về chiều hướng di cư hay nguồn gốc dân tộc được.
(d) Khoảng 2 năm sau, các nhà nghiên cứu này lại tiến hành một nghiên cứu
khác trên 50 người cũng ở Hà Nội [15], và cũng qua dùng kỹ thuật PCR
(polymerase chain reaction) họ phân tích 6 “restriction enzymes”, và ghi nhận
khoảng cách di truyền giữa người Việt và người Hoa rất thấp (chỉ 0.0022), nhưng
giữa người Việt và Ấn Độ thì tương đối cao hơn (0.0468), có nghĩa là quan hệ
giữa giống người Việt và Hoa gần nhau hơn so với quan hệ Việt và Ấn.
Nghiên cứu này cũng có những yếu điểm như nghiên cứu trình bày phần (c),
tức là số lượng gien quá ít (trong trường hợp này chỉ có một gien), và tác giả
cũng không tính toán mức độ biến thiên của chỉ số khoảng cách di truyền, nên
không thể nào phát biểu khoảng cách giữa Việt – Hoa gần hơn khoảng cách giữa
Việt – Ấn. Thực ra, sau khi tính toán lại, tôi thấy hai khoảng cách di truyền (Việt
– Hoa và Việt – Ấn) không có sự khác biệt đáng kể (non-significant)!
(e) Tuy nhiên, một nghiên cứu khác
trên 5 gien trong nhiễm sắc thể Y
trong hai nhóm dân: Bắc Á (Bắc Trung
Quốc, Nhật, Hàn Quốc, và Mông Cổ),
và Nam Á (Indonesia, Philippines, Thái
Lan, và Việt Nam) cho thấy người Việt
gần với các nhóm dân Bắc Á (nhất là
Hàn Quốc) hơn là các nhóm dân Nam
Á [16]! Chúng ta biết rằng, qua nghiên
cứu của Giáo sư Chu, người Hoa phía
Bắc Trung Quốc có cấu trúc di truyền
khác với người Hoa phía Nam Trung
Quốc. Do đó, phát hiện này quả rất
khó giải thích. Càng khó giải thích hơn nữa khi phần lớn những người Việt trong
nghiên cứu này là cư dân ở Hà Nội, tức gần miền Nam Trung Quốc.
(f) Trong một nghiên cứu dùng mtDNA, Ballinger và đồng nghiệp [17] ghi
nhận rằng chỉ số biến thiên (trong di truyền học gọi là F-value) trong người Việt
cao nhất trong các sắc dân vùng Đông Nam Á. Tuy nhiên, các tác giả kết luận
một cách mơ hồ rằng các dữ kiện này cho thấy “người Á châu có nguồn gốc từ
nhóm dân Nam Mông” (nguyên văn: “The greatest mtDNA diversity and the
highest frequency of mtDNA with HpaI/HincII morph 1 were observed in the
Vietnamese suggesting a Southern Mongoloid origin of Asians”).
Thực ra, các dữ kiện mà tác giả trình bày không cho phép họ kết luận như
thế, bởi vì họ chỉ đưa ra 7 nhóm dân Á châu mà thôi, và cũng chỉ nghiên cứu
trên vài mẫu gien rất nhỏ. Nhưng qua số liệu của các nhà nghiên cứu này, chúng
ta có thể phát biểu rằng trong hai gien mà họ nghiên cứu, người Việt có lẽ là
một sắc dân cổ nhất trong vùng Đông Nam Á.
Qua các nghiên cứu di truyền dựa vào nhiễm sắc thể Y và mtDNA mà tôi vừa
tóm lược và nhận xét, chúng ta có thể rút ra một vài điểm chung như sau:
􀂷 Thứ nhất, các nhóm dân Đông Á có cùng một nguồn gốc chung, đó là
tất cả đều xuất phát từ Phi châu. Cũng dựa theo các dữ kiện mới này, các
nhà nghiên cứu ước đoán rằng đợt người đầu tiên di cư đến Đông Nam Á
xảy ra vào khoảng 18.000 đến 60.000 năm trước đây, và sau đó từ đây một
đợt di cư về phía Bắc. Một đợt khác cũng từ Đông Nam Á di cư sang các
quần đảo Thái Bình Dương qua ngả Mã Lai Á ngày nay. Tất nhiên, đây chỉ là
“câu chuyện” mới được phát họa, nhiều chi tiết vẫn còn trong vòng nghiên
cứu thêm.
􀂷 Thứ hai, vấn đề nguồn gốc dân tộc Việt vẫn còn là một bí mật chưa
được khai thác. Tất cả các nghiên cứu qui mô của họ đều không có dữ kiện
gien của người Việt. Ngược lại những nghiên cứu có dữ kiện của người Việt
thì lại chưa được tiến hành có hệ thống và qui mô, nếu không muốn nói là
còn rất hạn chế. Vì thế, các nghiên cứu gần đây hoàn toàn không cho phép
chúng ta phát biểu gì về nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt như có người
đặt giả thuyết.
􀂷 Thứ ba, những kết quả của các nghiên cứu này đã cung cấp thông tin
cho chúng ta để phát biểu một giả thuyết mới, rằng người Hoa ngày nay có
thể xuất phát từ phía Nam, mà cụ thể hơn là Đông Nam Á; và có bằng
chứng [tuy chưa đầy đủ] cho thấy người Việt có thể là một dân tộc cổ nhất
trong vùng Đông Nam Á; cho nên có thể người Việt cũng có thể chính là tổ
tiên của người Hoa ngày nay, nhất là các sắc dân ở miền Nam Trung Quốc.
Cố nhiên, đó chỉ là một giả thuyết cần được thử nghiệm.
Do đó, vấn đề quan trọng trước mắt là cần xác định mối liên hệ di truyền
(genetic relationships) giữa các nhóm dân trong vùng Đông Nam Á (và Việt
Nam), các nhóm dân miền Nam và Bắc Trung Quốc, cũng như các nhóm dân
thuộc Nam Đảo, Polynesians, v.v... Với những kết quả này cộng với các dữ kiện
trình bày trong kho tàng khảo cổ và nhân chủng học cũng như trong cuốn “Eden
in the East” chúng ta sẽ có một phối cảnh rõ ràng hơn về quá khứ. Hiện nay,
chúng tôi đang xúc tiến một nghiên cứu di truyền học và cộng tác với các nhà
nghiên cứu khác trên thế giới để nhằm tìm một câu trả lời cho vấn đề này.
Chúng tôi dự tính sẽ thu thập và phân tích dữ kiện di truyền (chủ yếu qua phân
tích DNA với khoảng 50 gien và các nhiễm sắc thể Y) trong khoảng 200 đến 300
người Việt, và sẽ dùng kết quả này để so sánh với các dân tộc khác trong vùng
Đông Nam Á cũng như người Hoa để xác định xu hướng di cư của các nhóm dân
này. Chúng tôi sẽ dùng những dữ kiện DNA để tiến hành một phân tích phát sinh
chủng loại nhằm thử giả thuyết giả thuyết “Bắc tiến” (người Hoa có nguồn gốc từ
phương Nam) hay “Nam tiến” (người phương Nam xuất phát từ người Hoa). Hy
vọng trong tương lai, chúng tôi sẽ có các dữ kiện di truyền học để đi đến một so
sánh có ý nghĩa và có thể phát biểu một cách có cơ sở khoa học hơn.
Nguồn gốc con người hiện đại, mà đặc biệt là nguồn gốc dân tộc Việt, là một
câu hỏi đơn giản, nhưng câu trả lời thì không đơn giản chút nào. Tổ tiên chúng
ta xuất phát từ đâu, họ đến Việt Nam bằng cách nào, vẫn còn là những vấn đề
khoa học “nóng”, đòi hỏi nhiều nghiên cứu về di truyền học, khảo cổ học, và
ngôn ngữ học. Tuy nhiên, với sự tiến bộ phi thường về khoa học di truyền và
công nghệ sinh học trong khoảng mười năm qua, chúng tôi tin rằng việc nghiên
cứu quá trình lịch sử di truyền của người Việt chúng ta sẽ đem lại nhiều kết quả
thích thú và làm sáng tỏ hơn về nguồn gốc tổ tiên của chúng ta.
Chú thích và tài liệu tham khảo:
[1] Xem “Địa đàng ở phương Đông”, Tập san Khoa học số 3(4)-2005,Đại học
Mở Bán công TP.HCM.
[2] Trong Eden in the East, Stephen Oppenheimer không đưa ra một giả
thuyết Nam tiến hay Bắc tiến nào cả, ông cũng chẳng đưa ra một giả thuyết nào
về nguồn gốc dân tộc Việt Nam. Những luận án chính của Oppenheimer là: (a)
Đông Nam Á là cái nôi của văn minh nhân loại ngày nay; (b) Những dân tộc
thuộc quần đảo Polynesian không phải xuất phát từ Trung Quốc, mà có nguồn
gốc từ Đông Nam Á; và (c) Người Đông Nam Á, chứ không phải Trung Hoa, là
những người đã phát triển kỹ thuật trồng lúa đầu tiên trên thế giới, và là những
nhà canh nông chuyên nghiệp đầu tiên của nhân loại. Dựa vào một số kết quả
nghiên cứu gần đây và luận điểm của Stephen Oppenheimer, tôi muốn đặt lại
vấn đề nguồn gốc Trung Hoa của dân tộc Việt Nam. Cần phải nói thêm rằng đặt
lại vấn đề nguồn gốc dân tộc không phải vì những chuyện nhảm nhí như “lo xa”,
hay trẻ con như “bực bội”, hay để, một cách cải lương, khôi phục “tự hào dân
tộc”, mà để đi tìm sự thật, và để đi tìm phương pháp cho một câu trả lời. Câu trả
lời chỉ có ý nghĩa nếu câu hỏi được suy nghĩ cẩn thận.
[3] Thế nào là “khoa học”? Nói một cách ngắn gọn và theo quan điểm của
người viết bài này, khoa học là tập hợp những phương pháp trí tuệ và phương
pháp thực tiễn dùng để diễn tả và giải thích những hiện tượng quan sát được
hay suy đoán được, trong quá khứ hay hiện tại, nhằm xây dựng một hệ thống tri
thức mà chúng ta có thể bác bỏ hay xác nhận được. Những phương pháp trí tuệ
bao gồm linh cảm, ước đoán, tư tưởng, giả thuyết, lý thuyết, và mô hình. Những
phương pháp thực tiễn bao gồm bối cảnh của nghiên cứu, quá trình thu thập dữ
kiện, hệ thống hóa dữ kiện, cộng tác cùng đồng nghiệp, thí nghiệm, tìm tòi và
khám phá, phân tích thống kê, viết báo cáo khoa học, trình bày trong các hội
nghị khoa học, và công bố kết quả nghiên cứu.
Khoa học dựa vào sự thật (facts). Những sự thật phải được quan sát hay thu
thập bằng những phương pháp khách quan. Điều quan trọng và cần thiết trong
khoa học là không chỉ sự thật, mà là sự thật có liên quan đến vấn đề đang được
điều tra. Những sự thật này phải được thu thập (i) có tổ chức, trực tiếp, và
khách quan; (ii) độc lập với lí thuyết; và (iii) một cách tin cậy để làm nền tảng
cho suy luận. Một đặc tính quan trọng trong phát biểu trên về khoa học là những
lý thuyết của khoa học có thể bác bỏ được. Cụm từ “có thể bác bỏ” ở đây cần
phải hiểu một cách rộng rãi hơn, rằng tất cả các lý thuyết, nếu mang danh nghĩa
khoa học, là những thuyết có thể thử nghiệm được, có thể tái xác nhận được
bằng dữ kiện mới và độc lập. Và chính đặc tính này phân biệt rành mạch sự khác
biệt giữa khoa học và ngụy khoa học (pseudoscience). Trong ngụy khoa học, các
lý thuyết, chẳng hạn như thuyết tạo hóa (creationism) trong tôn giáo, đều không
thể kiểm chứng hay thử nghiệm được. Nói một cách khác, một trong những tiêu
chuẩn cho một lý thuyết khoa học là “khả năng phản nghiệm” (falsibility) của nó.
(Có thể xem thêm vấn đề “phản nghiệm” này trong sách “The logic of scientific
discovery,” Karl Popper, London: Hitchinson, 1972).
[4] Xem bài “Genetic relationship of populations in China,” tác giả J. Y. Chu và
đồng nghiệp, Tập san Proceedings of the National Academy of Science (USA)
1998; số 95, trang 11763-11768.
[5] Chẳng hạn như mô hình thứ nhất: các nhóm dân miền Đông Bắc di cư
xuống miền Nam, và hòa hợp với các nhóm dân Nam Á (Australoids, tức là người
thổ dân Úc và Tân Guinea), những người đã từng định cư tại vùng Đông Nam Á
châu trước đây. Theo mô hình này, có một nhóm người “gây giống” hiện diện ở
Đông Nam Á khoảng 30 ngàn đến 50 ngàn năm trước đây. Mô hình này cũng
phù hợp với bản đồ phân phối các ngôn ngữ ở Trung Quốc. Từ bản đồ này,
chúng ta có thể phỏng đoán rằng miền bắc Trung Quốc từng được các dân tộc
nói tiếng Trung Hoa và các ngôn ngữ Trung Hoa – Tây Tạng (Sino-Tibetan
languages) định cư, còn miền nam Trung Quốc thì được các dân tộc nói tiếng
Nam Á (Austro-Asiatic languages), Austronesian, Miao-Yao, và Daic định cư. Sau
đó (khoảng 3.000 năm trước đây, tức dưới triều đại Zhao) ngôn ngữ Trung Hoa
– Tây Tạng dần dần thay thế các ngôn ngữ khác ở phía nam Trung Quốc, cũng
giống như một quá trình truyền bá của các ngôn ngữ Ấn-Âu ở Âu châu.
Hay mô hình thứ hai: các nhóm dân miền bắc và nam Trung Quốc tiến hóa
cùng một lượt kể từ thời đại Pleistocene (tức khoảng 10.000 năm trước đây). Mô
hình này phù hợp với các dữ kiện khảo cổ học, và theo đó, có ít nhất là ba trung
tâm nông nghiệp và các nền văn hóa Đồ đá mới cùng hình thành ở Trung Quốc.
Đây là các văn hóa: (i) Yangshao (miền bắc, và miền trung sông Hoàng) khoảng
8.000 năm trước đây, nơi mà cây kê là một cây trồng phổ biến nhất, lợn,
được thuần hóa; (ii) Văn hóa Ta-Pen-Keng, cũng hình thành vào khoảng 8.000
năm trước đây dọc theo bờ biển phía nam, kể cả Đài Loan, nơi mà sản phẩm
chính là lúa gạo; (iii) Văn hóa Qing-Lien-Kang, hình thành vào khoảng 1.000 năm
trước đây, trong vùng hạ lưu sông Dương Tử, nơi mà cây lúa được trồng và thú
vật như , lợn được thuần hóa.
[6] Xem bài “Major features of Sundadonty and Sinodonty, including
suggestions about East Asian microevolution, population history, and late
Pleistocene relationships with Australian aboriginals”, C. G. Turner, Tập san
American Journal of Physical Anthropology, năm1990; bộ 82, trang 295-317.
[7] Xem bài “Population prehistory of east Asia and the Pacific as viewed from
craniofacial morphology: the basic populations in east Asia, VII” T. Hanihara,
American Journal of Physical Anthropology, năm1990, năm 1993, bộ 91, trang
173-87.
[8] Đột biến (mutation) là một sự kiện sinh học xảy ra ở trong tế bào. Gien
được cấu trúc bằng một chuỗi DNA gồm 4 mẫu tự A, G, C, T. Khi một chuỗi DNA
bị thay đổi, tức đột biến (chẳng hạn như từ GCAATGGCCC thành GCAACGGCCC)
thì các đặc tính sinh học liên quan đến gien, chẳng hạn như mật độ xương, có
thể bị thay đổi.
[9] Con người được cấu tạo bằng nhiều tỷ tế bào. Tất cả các tế bào đều có
cấu trúc giống nhau: trong mỗi tế bào đều có một cái nhân (nucleus) nằm chính
giữa. Cái nhân này có chứa những chất liệu di truyền mà ta thường gọi là DNA
(viết tắc từ chữ deoxyribonucleic acid). Mỗi nhân thường có hàng triệu DNA. DNA
gồm có bốn mẫu tự (yếu tố hóa học): A (adeline), C (cytosine), G (guanine), và
T (thymine). Một mảng DNA tạo thành một gien. Và nhiều gien tạo thành một bộ
di truyền hay nhiễm sắc thể, còn gọi là chromosome. Con người có 23 nhiễm sắc
thể.
Không như DNA nằm trong nhân của tế bào, Mitochondrial DNA (mtDNA) nằm
ngoài nhân của tế bào. MtDNA chỉ lưu truyền trong giống cái (ví dụ như từ mẹ
sang con gái) do đó chúng rất có ích trong việc truy tìm những mối quan hệ di
truyền giữa các nhóm dân. Nhưng mtDNA có hai nhược điểm: (i) mtDNA có
nhiễm sắc rất nhỏ, chỉ khoảng 16.500 mẫu tự (tức chỉ khoảng 16 kilobases); và
(ii) sự phân phối của các mẫu tự cũng không đồng đều.
Nhiễm sắc thể Y (hay “Y chromosome”) là một đối tượng lý tưởng để truy tầm
nguồn gốc dân tộc, bởi vì nó không có những nhược điểm như mtDNA. Ngược lại
với mtDNA, nhiễm sắc thể Y chỉ lưu truyền trong giống đực. Nhiễm sắc thể Y
chứa nhiều mẫu tự hơn mtDNA (khoảng 60 megebases, tức 4000 lần cao hơn
mtDNA), và do đó cho chúng ta nhiều thông tin về di truyền hơn là mtDNA.
Ngoài ra, khi nhiễm sắc thể Y được phân tích bằng tập hợp nhiều kiểu di truyền
(tức “genotypes”) thành “haplotype”, các nhà nghiên cứu có thể biết được “dấu
vết di cư’” của một nhóm dân, và qua đó có thể ước đoán được tuổi của tổ tiên.
Tuy nhiên, nhiễm sắc thể Y cũng có một vài nhược điểm, nhất là phân phối của
haplotypes có thể bị ảnh hưởng bởi khả năng tái sản sinh của giống đực.
[10] Xem bài “African origin of modern humans in East Asia: a tale of 12000 Y
chromosomes,” tác giả Yuehai Ke và đồng nghiệp, [Tập san] Science, năm 2001,
bộ 292, trang 1151-1153.
[11] Xem bài “Y-chromosome evidence for a northward migration of modern
humans into eastern Asia during the last Ice Age,” tác giả Bing Su và đồng
nghiệp, [Tập san] American Journal of Human Genetics, năm 1999, bộ 65, trang
1718-1724.
[12] Xem bài báo khoa học “Polynesian origins: insights from the Y
chromosome,” tác giả Bing Su và đồng nghiệp, Tập san Proceedings of the
National Academy of Science (USA), năm 2000, bộ 97, trang 8225-8228.
[13] Xem bài “HLA-DR and DQB1 DNA polymorphisms in a Vietnamese Kinh
population in Ha Noi”, tác giả A. Vu-Trieu và đồng nghiệp, Tập san European
Journal of Immunogenetics, năm 1997, bộ 24, trang 345-356.
[14] Khoảng cách di truyền (hay còn gọi là genetic distance) là một thông số
di truyền học đo lường mức độ khác nhau giữa các nhóm dân. Chỉ số này có giá
trị tối thiểu là 0 (tức hai nhóm dân giống nhau về mặt di truyền), và giá trị tối đa
là 1 (tức hai nhóm dân hoàn toàn khác nhau).
[15] Xem bài “Mitochondrial DNA polymorphism in the Vietnamese
population”, tác giả R. Ivanova và đồng nghiệp, Tập san European Journal of
Immunogenetics, năm 1999, bộ 26, trang 417-422.
[16] Xem bài “Y chromosomal DNA variation in East Asian populations and its
potential for inferring the peopling of Korea”, tác giả W. Kim và đồng nghiệp,
Tập san Journal of Human Genetics, năm 2000; bộ 45, trang 76-83.
[17] Xem bài “Southeast Asian mitochondrialDNA analysis reveals genetic
continuity of ancient Mongoloid migration,” tác giả S. W. Ballinger và đồng
nghiệp, Tập san Genetics, năm 1992, bộ 130, trang 139-45.
TÓM TẮT
Người thông minh có thể có nhiều cách giải thích rất hay cho những quan
điểm sai lầm. Ai cũng có thể phát biểu một giả thuyết, nhưng một giả thuyết
khoa học khác với một giả thuyết phi khoa học ở chỗ một giả thuyết khoa học có
thể thử nghiệm được. Điều quan trọng là một giả thuyết khoa học cần phải được
thử nghiệm một cách khách quan, và cần phải được “phản nghiệm” (falsify) một
cách độc lập.
(
) Tiến sĩ, Viện Nghiên cứu Y khoa Garvan Sydney, Australia

click
26-07-2009, 09:52 AM
hicmình nghĩ là sau một bài dài thế này bạn nên có một đoạn tóm lược lạichứ đọc thế này thì...dù sao cũng thanks

antonioto
26-07-2009, 11:26 AM
Tớ tin rằng người Việt Nam ta xuất thân từ người bản xứ ở đây chứ chẳng phải do dân tộc nào di cư đến! :))

yeunuocviet09
26-07-2009, 12:13 PM
có tài liệu nó là từ Phúc kiến, TQ,,, phát triển dọc theo bờ biển, mở cõi, thu phục các dân tộc bản xứ --> thành VN ngày nay

huyblog
29-07-2009, 08:14 PM
Liệu những thông tin này có thể kiểm chứng không nhỉ!

huyblog
29-07-2009, 08:16 PM
Nếu đúng vậy thì người Hoa chỉ là con cháu của người ĐNA, và đương nhiên là người Việt Nam chúng ta nữa.