HOANGSA.ORG ĐÃ CHUYỂN SANG DIỄN ĐÀN MỚI- DIỄN ĐÀN CŨ CHỈ ĐỂ LƯU TRỮ KHÔNG THỂ VIẾT BÀI.

ĐỂ ĐI ĐẾN DIỄN ĐÀN MỚI XIN VUI LÒNG CLICK VÀO ĐÂY HTTP://HOANGSA.ORG/F

HOANGSA.ORG ĐÃ CHUYỂN SANG DIỄN ĐÀN MỚI- DIỄN ĐÀN CŨ CHỈ ĐỂ LƯU TRỮ KHÔNG THỂ VIẾT BÀI.

ĐỂ ĐI ĐẾN DIỄN ĐÀN MỚI XIN VUI LÒNG CLICK VÀO ĐÂY HTTP://HOANGSA.ORG/F

User Tag List

Kết quả từ 1 tới 9 trên 9
  1. #1
    Ngày gia nhập
    Aug 2009
    Nơi cư ngụ
    Tam Giác Vàng
    Bài gửi
    2.202
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    11
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)

    Tạ Đình Đề Huyền Thoại và Sự thật




    Tạ Đình Đề (bí danh Lâm Giang) (8 tháng 8 năm 191717 tháng 1 năm 1998) là nguyên Đội trưởng đội Biệt động Liên khu 3, người nổi danh với những hoạt động cách mạng được xem như huyền thoại. Ông quê tại thôn Đại Định, xã Tam Hưng, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây. Ông bắt đầu tham gia hoạt động cách mạng từ năm 1935, kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam vào năm 1946.
    Với những đóng góp trong kháng chiến chống Pháp, Tạ Đình Đề được nhà nước Việt Nam truy tặng Huân chương Độc lập hạng Ba vào tháng 5 năm 2007

    Thượng tướng Hoàng Minh Thảo (Thứ 3 từ phải sang) cùng các bạn chiến đấu trong buổi lễ truy tặng Huân chương Độc lập hạng 3 cho Đ/C Tạ Đình Đề.

    Huyền thoại về Tạ Đình Đề

    Tạ Đình Đề là người ngang tàng ngay thẳng, không ngại nguy hiểm và dám bảo vệ quan điểm khi sự việc anh cho là đúng. Chính vì tính ngang tàng, thẳng thắn đó, mà trên đường công danh, anh gặp biết bao điều trắc trở. Nhiều người đã được thấy lần anh to tiếng tranh luận với Khu trưởng Hoàng Sâm...
    Có một người không có cấp bậc, chức vụ, không hề giữ trọng trách trong quân đội, trong chính quyền mà đã có nhiều huyền thoại. Trong kháng chiến chống Pháp từ Liên khu 3, Liên khu 4, Bình Trị Thiên, Việt Bắc... các chiến sĩ quân đội, nhân dân đều biết tên ông. Tên tuổi của ông vang mãi tới Nam Bộ xa xôi. Đặc biệt ở miệt Cống Thần, chợ Đại (Hà Nam), Hà Nội... Bà con nhắc đến ông với thái độ khâm phục, kính nể, trân trọng - người đó là ông Tạ Đình Đề.
    Còn quân Pháp trong thời tạm chiếm Hà Nội nơm nớp tưởng chừng như lúc nào ông cũng có mặt giám sát hành động của chúng. Chính bọn chúng thêu dệt nên những huyền thoại “thần xuất, quỷ một” của ông trong nội thành Hà Nội thời tạm chiếm.
    Người viết bài này là người cùng thời với ông, được gặp ông nhiều lần. Bạn bè, đồng đội cung cấp tư liệu và yêu cầu viết về ông. Song, khó quá, ông là người kín đáo ít muốn nói về mình. Người viết chỉ ghi lại những điều bè bạn đồng đội của ông kể lại, cùng những lần tiếp xúc ngắn ngủi với ông trong những ngày học Lục quân ở Trung Quốc (1951-1953), trong những lần họp cựu chiến binh Trung đoàn 52 Tây Tiến.
    Dưới đây chỉ là một vài câu chuyện trong nhiều huyền thoại mà bè bạn, đồng đội kể về ông khi ông còn sống, kể cả chục năm, sau khi ông giã từ cõi nhân thế này.
    Người chiến sĩ Tây Tiến
    Sau ngày 23/9/1945 quân Pháp đánh chiếm Nam Bộ, Chính phủ ta tổ chức lại các lực lượng quân sự thành lập các chiến khu. Chiến khu 2 gồm 8 tỉnh Lai Châu, Sơn La, Hòa Bình, Sơn Tây, Hà Đông, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình.
    Cuối năm 1945, đầu 1946 quân Pháp từ Côn Minh, Vân Nam (Trung Quốc) tràn xuống Bắc Lào chiếm Lai Châu, Điện Biên Phủ làm bàn đạp đánh Sơn La, Hòa Bình. Bộ Tư lệnh Khu 2 đã điều động bộ đội lên đối phó. Có bộ phận đã đặt chân sang đất Lào ngăn chặn quân địch. Bộ đội Tây Tiến 1 hình thành trong tình huống đó.
    Tạ Đình Đề có mặt trong đội quân này và là Phó ban Tình báo Khu 2.
    Sau tết Đinh Hợi 1947, mặt trận Tây Tiến được thành lập.
    Bộ Tư lệnh mặt trận phải đọ sức ngay với quân Pháp. Tháng 3/1947, quân Pháp đánh thông đường số 6, tiến công vùng Mai Châu. Từ hướng Suối Rút tràn lên, từ hướng Mộc Châu kéo xuống, phối hợp với quân nhảy dù, định xóa sổ cơ quan chỉ huy mặt trận. Tư lệnh mặt trận quyết định chuyển Sở chỉ huy về Mường Bi, chuyển quân y xá về Lạc Sơn và tổ chức chiến đấu ở khu vực Bãi Sang, dốc Đẹt.
    Ngày đó, dốc Đẹt là con đường rừng dốc, độc đạo, hiểm trở. Có anh em nói đây là con đường “bách nhân khứ, nhất nhân hồi!” (trăm người tới, chỉ một người về!). Dốc Đẹt đã đi vào huyền thoại với cuộc chiến đấu của đoàn quân Tây Tiến với quân Pháp trên giải đất núi rừng Tây Bắc, chỉ với hai tay súng của Khu trưởng Hoàng Sâm và Tạ Đình Đề. Sau đó, một mình Tạ Đình Đề như con sư tử trên đỉnh dốc chiến đấu, buộc quân địch co cụm về Chiềng Sại!
    Sau trận dốc Đẹt, Trung đoàn 52 Tây Tiến được hình thành, đảm đương nhiệm vụ hoạt động trên địa bàn Tây Bắc. Bộ chỉ huy mặt trận Tây Tiến được giải thể.
    Tạ Đình Đề được Tư lệnh Liên khu 3 điều động về Liên khu, làm Phó ban Tình báo Liên khu (Kim Hùng làm trưởng ban), kiêm Đội trưởng Đội Biệt động Liên khu 3.
    Tạ Đình Đề - Đội trưởng đội Biệt động Liên khu 3
    Đội Biệt động Liên khu 3 lúc đó có người gọi tên là “Đội Biệt động thành Hoàng Diệu”, “Đội trừ gian, diệt ác thành Hoàng Diệu”. Đội được chia thành ba tiểu tổ: Tiểu tổ 1 do Nguyễn Phương chỉ huy (Nguyễn Phương bị địch bắt đày ra Côn Đảo rồi Phú Quốc và được trao trả năm 1954). Tiểu tổ 2 do Hồ Du Tử (Lê Phan) chỉ huy (anh mới mất cách đây không lâu). Tiểu tổ 3 do Trần Văn Đức chỉ huy (anh đã mất ở Sài Gòn năm 1982).
    Đây là giai đoạn tên tuổi Tạ Đình Đề nổi danh trên các ngả đường kháng chiến, tiếng đồn từ Nam ra Bắc, từ Hà Nội đến các thành phố, từ đồng bằng đến khắp rừng núi Tây Bắc, Việt Bắc...
    Bản sao lý lịch của Tạ Đình Đề được lưu trữ ở Tổng cục Đường sắt:
    Đồng chí: Tạ Đình Đề (bí danh Lâm Giang)
    Sinh ngày: 8/8/1917
    Quê quán: Thôn Đại Định, xã Tam Hưng, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây.
    Tham gia cách mạng: 1935
    Vào Đảng: Tháng 6/1946, chính thức tháng 9/1946.
    Gia đình nghèo, nên 16 tuổi Tạ Đình Đề đã lang bạt sang làm công nhân Sở Hỏa xa Vân Nam tại ga Côn Minh (Trung Quốc). Trong những ngày đó, anh tham gia Hội Ái hữu cứu quốc sau đổi thành Việt Nam Giải phóng cứu quốc do Mặt trận Việt Minh tổ chức.
    Năm 1941, anh được tổ chức cử đi học ở Liễu Châu, một phân hiệu chuyên ngành của Trường Quân sự Hoàng Phố. Phân hiệu Liễu Châu là nơi chuyên đào tạo những nhân viên hoạt động trong lòng địch. Ta thường gọi là trường đào tạo gián điệp.
    Học viên học ở Liễu Châu bao gồm các khoa mục: sử dụng các loại vũ khí, chất nổ, lái các loại xe kể cả xe tăng, máy bay..., sử dụng các phương tiện thông tin, điện đài, phi ngựa, bắn súng, luyện khí công, luyện võ...
    Tốt nghiệp Trường Quân sự Hoàng Phố với tấm bằng xuất sắc, anh tham gia các hoạt động vũ trang và được tổ chức phân công hoạt động tình báo cùng phái bộ Mỹ trong phe Đồng minh chống phát xít Nhật. (Lý lịch trích ngang).
    Đội Biệt động Liên khu 3 được hình thành, hoạt động rất nhanh, rất hiệu quả.
    Gọi là Đội Biệt động Liên khu 3, nhưng địa bàn chủ yếu của đội lúc này là nội thành Hà Nội. Hoạt động nội thành Hà Nội lúc ấy có nhiều lực lượng: điệp ngầm của lực lượng Công an, lực lượng Địch vận Trung đoàn 66 do đồng chí Hoàng Giáp và Phúc Đồng Mạc chỉ huy. Lực lượng Địch vận Trung đoàn 48 do Đinh Hùng, Trịnh Vũ chỉ huy.
    Ngoài ra lực lượng hoạt động nội thành của cơ quan Dân vận, Công đoàn... Các lực lượng vũ trang tuy hoạt động độc lập, nhưng vẫn có sự quan hệ chặt chẽ, yểm trợ cho nhau khi cần thiết.
    Tạ Đình Đề là người ngang tàng ngay thẳng, không ngại nguy hiểm và dám bảo vệ quan điểm khi sự việc anh cho là đúng. Chính vì tính ngang tàng, thẳng thắn đó, mà trên đường công danh, anh gặp biết bao điều trắc trở. Nhiều người đã được thấy lần anh to tiếng tranh luận với Khu trưởng Hoàng Sâm.
    Khu trưởng cũng là trang hảo hán, phi ngựa, bắn súng cả hai tay, múa đao thiện nghệ... Có lần trùm phỉ Lý Xíu kéo quân lên Pắc Bó đòi gặp ông Trần (bí danh của Hoàng Sâm) và Lê (Lê Quảng Ba). Hắn cho mời hai ông đến uống rượu, thi bắn súng, ném lựu đạn.
    Ông Trần mới chỉ trổ tài bắn mục tiêu cố định, di động hai tay bằng hai khẩu Pạc Khoọc, Lý Xíu đã phục lăn. Đến lúc uống rượu, ông Trần biểu diễn tiết mục kỳ lạ có một không hai – uống rượu bằng mũi. Lý Xíu kinh ngạc, khi thấy ông Trần rót cốc rượu vào mũi không rớt ra ngoài một giọt.
    Chính vì lần gặp mặt ngoạn mục đó, mà bọn phỉ Vòng A Sáng, Chín Thẩu mời ông Trần tới dự tiệc, nhậu với óc khỉ sống và đề nghị ông kết nghĩa huynh đệ. Những hành động anh hùng, kiếm khách của ông Trần đã góp phần ổn định vùng biên cương của Tổ quốc trong những ngày đầu cách mạng.
    Khu trưởng là người điềm đạm, lịch lãm, thương yêu, quý trọng cấp dưới, ít khi nóng giận. Nhưng khi ông nóng lên thì "trời cũng bé". Là người cùng học ở Trường Hoàng Phố, nên Tạ Đình Đề cũng được Khu trưởng nể vì, yêu mến. Lần nóng giận, to tiếng của Tạ Đình Đề cùng Khu trưởng, làm mọi người chung quanh lắc đầu lè lưỡi. Nhưng, ngay chiều hôm đó, người ta thấy Khu trưởng ôm vai Tạ Đình Đề thủ thỉ:
    - Cậu nói đúng, mình suy nghĩ chưa chín lắm!
    Dọc đường từ Cầu Dậm, Chợ Bến, Chi Nê, Nho Quan, Cống Thần, chợ Đại đến Cầu Bố, Rừng Thông..., những đồn công an nhũng nhiễu bà con, ăn chặn chị em buôn chuyến mang hàng từ vùng địch ra, Tạ Đình Đề đều có mặt. Anh vào đồn công an trao đổi với anh em bằng những lời lẽ chân tình, thuyết phục: Kháng chiến thiếu thốn, thuốc men, đường sữa, thực phẩm, hàng hóa, vải vóc... từ vùng địch đem ra hậu phương là có lợi cho kháng chiến.
    Tiếng tăm của Tạ Đình Đề càng nổi trội trong hàng ngũ anh em công an dọc đường kháng chiến. Tạ Đình Đề đã góp công không nhỏ làm lành mạnh đội ngũ công an. Chính những chốt công an đó đã thành công trong công tác bảo mật, phòng gian, nhiều lần làm thất bại hành động phản quốc của những tên gián điệp, chỉ điểm, làm việc cho Pháp phá hoại hậu phương kháng chiến.
    “Giữa đường gặp chuyện bất bình chẳng tha”
    Tuyến đường Diêm Điền, Nga Sơn, Rừng Thông, Cầu Bố có tên đại gia buôn lậu khét tiếng, hoành hành dữ dội. Hôm đó, ở một cửa hàng ăn gần Cầu Bố có một vị khách người nhỏ nhắn, mặc chiếc áo bông xanh bộ đội phát cho cấp đại đội trở lên bước vào.
    Người khách kéo ghế ngồi trong góc. Ông gọi ly cà phê, rút điếu thuốc châm lửa hút, rồi ném bao Cô-táp lên mặt bàn. Trước mặt ông khách là một người khách cao to như con gấu ngựa, ôm một cô gái ngồi trên đùi, thức ăn ngồn ngộn trên bàn.
    Đây là hình ảnh hiếm gặp trong những năm tháng chống Pháp. Điếu thuốc lá nhiều lần lóe sáng trên môi ông khách. Và, nhiều lần ông khách tỏ vẻ khó chịu, nhấp nhổm trên ghế. Cho đến lúc người khách kia gọi chủ quán quát mắng, hạch sách thì ông khách nhỏ nhắn không chịu nổi. Ông đứng bật dậy.
    Người khách cũng vùng dậy, khẩu Van-te lăm lăm trong tay.
    Trước mặt hắn là một người nhỏ nhắn đôi mắt chứa đầy những ánh lửa, tấm áo bông phanh ra. Tay ông khách đặt lên hai khẩu Côn ngựa bay dắt cạp quần.
    - Mày đã nghe tên Tạ Đình Đề chưa?
    Khẩu Van-te rơi phịch xuống đất. Người khách quỳ xuống chân ông khách, lắp bắp:
    - ...Xin anh tha tội cho em!...
    - Trong khi bà con đang gian khổ kháng chiến, các chiến sĩ hy sinh ngoài mặt trận, mà mày nỡ ngồi đây đú đởn, ăn uống, trai gái. Tao có thể thay mặt nhân dân xử tử mày. Nhưng thôi, tao tha cho cái mạng của mày!
    Người khách cao to định vồ lấy khẩu súng trước mặt thì bàn chân của ông khách đã chặn lấy. Ông khách thong thả nhặt khẩu súng, rút băng đạn lẳng vèo xuống ao cạnh đó. Ông quát rất to:
    - Cút ngay!
    Một cú đá, người khách cao to bật ra cửa.
    Cả vùng Cầu Bố, Rừng Thông ầm ĩ chuyện Tạ Đình Đề đá một phát, tên buôn lậu bắn qua đường, nằm không nhúc nhích. Từ đó, người dân vùng Cầu Bố, Rừng Thông không còn thấy mặt tên buôn lậu khét tiếng.
    Một lần, Tạ Đình Đề họp khá lâu ở Việt Bắc trở về. Anh mặc quần áo chỉnh tề vào trong thành như một chính khách, đàng hoàng ngồi ở hiệu Bô-đê-ga giữa thanh thiên bạch nhật.
    Có tên cảnh sát nhiều lần giáp mặt Tạ Đình Đề. Hắn đứng như trời trồng, khi nhận ra Tạ Đình Đề. Tên cảnh sát quay trở ra, chạy như ma đuổi. Tạ Đình Đề lâm vào thế bất lợi. Anh kiểm tra lại hai khẩu Côn ngựa bay dắt trong bụng. Tạ Đình Đề vẫn ung dung ngồi ăn nghe ngóng, thăm dò động tĩnh. Tiếng ồn ào đầu phố dội vào, một lúc rồi im ắng...
    Hà Nội giải phóng, Tạ Đình Đề gặp tên cảnh sát dã chiến ở ven hồ Hoàn Kiếm. Vừa lạ, vừa cảnh giác, anh tóm tay tên cảnh sát ấn xuống chiếc ghế đá ven hồ.
    - Lạy anh Đề! Em biết anh rồi! Lần trông thấy anh ở cửa hàng Bô-đê-ga, hoảng quá em chạy ra đầu phố thì thấy thằng Gioóc chỉ huy đồn cảnh sát Hàng Trống đang huy động lực lượng để bắt nhân viên Đội Biệt động Hà Nội. Em rỉ tai nó: "Ông Đề đấy! Chúng mày động vào ông là toi mạng!".
    Nghe tên ông Đề, bọn cảnh sát khiếp vía, quay lui có trật tự. Đứng núp bên hè bên kia đường, em còn thấy anh thọc hai tay vào túi quần, huýt sáo vang đi về phía đường Paul - Bert. Em thấy các anh hoạt động trong nội thành Hà Nội mà như ở chỗ không người thế này thì nhất định các anh sẽ chiến thắng. Em tìm cơ sở nội thành, xin được tham gia hoạt động.
    Gần đây, tôi lại được nghe anh Hoàng Giáp, người chỉ huy cơ quan địch vận Trung đoàn 66 hoạt động nội thành kể:
    Năm 1980, anh vào TP HCM thăm bà con, tình cờ gặp Tạ Đình Đề. Hai anh gặp lại các chiến hữu cũ Nguyễn Trần Hồ, Anh Đệ... các anh tổ chức buổi gặp mặt ở quán phở trên đường Lý Chính Thắng. Tạ Đình Đề vào Sài Gòn lần này là tìm cơ sở tổ chức chi nhánh phía Nam cho Nhà máy Dụng cụ cao su Đường sắt.
    Hai vị Tạ Đình Đề, Hoàng Giáp cùng ngồi trên một chiếc xích-lô từ chợ Tân Định đến nơi hẹn. Bước chân xuống xe thì anh đạp xích-lô khoanh hai tay đứng trước mặt Tạ Đình Đề.
    - Thưa chú! Chú có phải chú Tạ Đình Đề ngày xưa hoạt động nội thành Hà Nội không ạ!
    Tạ Đình Đề lấy làm lạ hỏi:
    - Tại sao cậu lại biết tên tôi?
    - Cháu nghe hai chú ngồi trên xe nói chuyện dọc đường, nên cháu biết chú là Tạ Đình Đề, người mà cháu ngưỡng mộ mấy chục năm nay. Hôm nay được gặp chú, quả là may mắn cho cháu. Thưa hai chú, cháu là người miền Bắc bị bắt đi lính. Hà Nội những năm 47, 48, 49, 50 tiếng tăm Tạ Đình Đề nổi như sấm. Bọn Pháp lúc đó vừa sợ, vừa kính phục, khi nghe thấy tên chú.
    Năm 1973, cháu rời bỏ binh nghiệp, trở về đạp xích-lô kiếm sống. Nhà cháu ở hẻm 231 đường Võ Văn Tần, số nhà 5. Cần chi, xin các chú cứ gọi, cháu xin phục vụ tận tình.
    Trước khi bước lên xe. Anh ta còn cúi đầu xá mấy xá


  2. #2
    Ngày gia nhập
    May 2009
    Nơi cư ngụ
    Trong ♥ em
    Bài gửi
    1.574
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    0
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)
    ủa, không phải trước ổng làm cho CIA hả
    Người đàn ông của Thế Kỷ 21 là người đàn ông cần phải [U]có chỗ đứng và..."cứng chỗ đó".

    off 1 thời gian để ổn định cuộc sống

    [Một ngày nào đó, sẽ có 1 thiên thần đưa tay cho mình ,để cùng mình bước ra 1 nơi mà người đời vẫn gọi là Độc Thân Hội

  3. #3
    Ngày gia nhập
    Jun 2009
    Bài gửi
    322
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    0
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)
    Trích dẫn Nguyên văn bởi Nguoi_duongthoi Xem Bài gửi
    ủa, không phải trước ổng làm cho CIA hả
    Hự, nguồn nào nói cụ Tạ Đình Đề làm cho CIA? Phiền bác trưng ra đây

  4. #4
    Ngày gia nhập
    Jun 2009
    Nơi cư ngụ
    Bãi Cát Vàng
    Bài gửi
    426
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    90
    Uploads
    80
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)
    Có nhiều truyền thuyết về ông Tạ Đình Đề, và dựa vào các truyền thuyết đó các tác giả còn sáng tác thêm ca dao như sau:

    Hoan hô anh Tạ Đình Đề
    Trước là thổ phí nay về với ta
    Hoan hô anh Nguyễn Văn Ba
    Trước là thổ phỉ nay ta lại về

    Còn sự thực là Tạ Đình Đề là một chiến sỹ quân báo xuất sắc, một xạ thủ, một người đã viết nên một phần những trang huy hoàng của quân báo
    "...Nguyên xã chúng tôi xưa có hai đội Hoàng Sa và Quế Hương. Vào năm Tân Mùi (1631), Đốc chiến là Võ Hệ đã đệ đơn xin tâu được lập hai đội nữa là đội Đại Mạo Hải Ba và đội Quế Hương Hàm với số đinh 30 người..."
    Phường Cù Lao Ré, xã An Vĩnh

    "...Phường chúng tôi cùng cai đội trước đây là Nguyễn Giai đến gặp cai đội cũ là cụ Nguyễn Thụ, căn cứ lệ quy lập riêng thêm hai đội để quản về các thứ thuế, đó là đội Quế Hương Hàm và đội Phụng Du..."
    Phường An Vĩnh, xã An Vĩnh


  5. #5
    Ngày gia nhập
    Jun 2009
    Bài gửi
    69
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    3
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)
    Hix... nghe các bác nói mà em thấy tủi thân, iem chỉ biết cái tên Tạ Đình Đề thôi, còn những câu chuyện (sự tích hay truyền thuyết) về ông thì iem mù tịt. Mong rằng các bác tiếp tục sưu tầm những câu chuyện về những nhân vật anh hùng như ông Tạ Đình Đề để anh em biết thêm về lịch sử dân tộc - thanks bác nhiều

  6. #6
    Ngày gia nhập
    Jun 2009
    Bài gửi
    322
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    0
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)
    Trích dẫn Nguyên văn bởi chi01968 Xem Bài gửi
    xạo quá ; dòm mặt như là dân homeless
    Đọc đi, đọc kĩ vào
    http://www.cand.com.vn/vi-VN/phongsu/2008/3/86058.cand

  7. #7
    Ngày gia nhập
    May 2009
    Nơi cư ngụ
    Trong ♥ em
    Bài gửi
    1.574
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    0
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)
    Trích dẫn Nguyên văn bởi baolong26_12 Xem Bài gửi
    Trích dẫn Nguyên văn bởi Nguoi_duongthoi Xem Bài gửi
    ủa, không phải trước ổng làm cho CIA hả
    Hự, nguồn nào nói cụ Tạ Đình Đề làm cho CIA? Phiền bác trưng ra đây
    trước trong 4r có 1 bài tương tự, và câu thơ của DQH thì lại khác
    Hoan hô đại tướng Võ Nguyên
    Giáp ta thắng trận Điện Biên trở về
    Hoan hô anh Tạ Đình Đề
    Trước đi theo địch nay về với ta
    topic đâyhttp://hoangsa.org/forum/showthread.php?t=8612
    Phần I - Giai thoại - Kẻ ám sát trở thành người bảo vệ cụ Hồ

    Người ta kể rằng : Vào một ngày đẹp trời , hôm ấy Bác Hồ sau khi giải quyết hết công việc ,Người rời phòng làm việc về phòng ăn sớm hơn mọi ngày.
    Các đồng chí cận vệ chuẩn bị bữa trưa cho Bác . Khi mâm cơm đã chuẩn bị xong , trước khi ngồi vào bàn Bác nói với một anh cận vệ l :
    - Cho Bác xin thêm một cái bát và một đôi đũa nữa !
    Mỗi lần Bác dùng cơm với người này , người khác Bác thường báo cho các cần vụ biết trước để tiện chuẩn bị nên anh cần vụ ngạc nhiên và hỏi lại :
    -- Thưa Bác, hôm nay Bác có khách ạ ?
    Bác gật đầu và nói :
    -- Có , có chứ!
    Mang bát đũa lên anh cần vụ còn hỏi thêm:
    -- Thưa Bác, khách hôm nay là ai, sao chưa tới nơi ?
    Bác Hồ cười và nói :
    -- Khách đã đến từ lâu rồi mà các chú không biết nên không đón tiếp mời vào đấy thôi !
    Các cán bộ cần vụ ngơ ngác nhìn "Bác", chưa hiểu ý "Bác" nói gì , nhưng mặc dù đã đem thêm bát đũa lên, mà "Bác" vẫn chưa bắt đầu ăn, thì rõ ràng là "Bác" còn đợi ai đó rồi .Mọi người lấy làm lo lắng dòm trước, ngó sau song tuyệt nhiên không thấy ai vậy mà "Bác" bảo là khách đã đến từ lâu rồi !
    Hiểu rõ ý nghĩ và tâm trạng của các cần vụ . Bác Hồ quay đầu hướng mắt về phía buồng ngủ, nói lớn tiếng:
    -- Xin mời anh Tạ Đình Đề vào ăn cơm trưa với tôi!
    Các chiến sĩ cận vệ ngạc nhiên vô cùng. Cái tên mới nghe lần đầu, mà theo hướng nhìn của Hồ Chí Minh thì người ấy đang có mặt ở phía buồng ngủ của Bác, song không phải ở trong phòng, mà là... ở trên mái nhà. Mọi người lo lắng thật sự vì cứ như thái độ ,cử chỉ và lời nói của Bác Hồ thì quả thật có một tên Tạ Đình Đề nào đó đã lọt vào được bên trong khu vực cần bảo vệ này rồi.
    Bác Hồ nhỏ nhẹ nói với các cần vụ :
    -- Người này tài tình lắm, các chú không đối phó nổi đâu.
    Nói xong, Người quay đầu và hướng mắt về phía trên mái bếp, nói lớn tiếng:
    -- Tôi mời anh vào phòng ăn, sao anh lại chuyền sang nóc nhà bếp?
    Giọng nói của Bác đầy trách móc, nhưng thân mật, vừa kẻ cả vừa tha thứ.
    Theo phản xạ Cận vệ vừa rút súng ra khỏi bao, vừa chạy đến cầm ống nghe của máy điện thoại định gọi báo động, nhưng Bác đã ra hiệu gác máy, cất súng.
    Các anh cận vệ vẫn ở trong tư thế sẵn sàng bảo vệ Bác , còn Bác Hồ vẫn bình tĩnh ngồi yên trên ghế, xoay nửa người hướng mắt về phía phòng khách, vừa nhìn xuyên qua mái đúc vách xây, vừa dõng dạc nói:
    -- Đấy, anh lại phi thân đến bên trên phòng khách rồi . Tôi thành thật khen anh giỏi ! Anh đã lọt vào được rồi, ngay giữa ban ngày, và mãi cho đến phút này vẫn chưa bị lộ... quả lài có tài

    Thế rồi như tia chớp, một “ Ninh giang “ khỏe mạnh nhanh nhẹn đã bỗng nhảy xoẹt một cái từ trên mái lầu xuống sân, rồi lẹ làng phóng ngay vào trong phòng khách, xông tuốt vào trong phòng ăn, đứng ngay trước mặt Bác Hồ . Sau giây phút yên lặng nhìn nhau , Bác Hồ lên tiếng trước:
    -- Chào anh Tạ Đình Đề! Trông anh già dặn hơn trước nhiều, song có phần gầy ,đen hơn lúc mới ra trường !
    Vị khách, trong bộ đồng phục giống như một môn phái võ nghiêng đầu đáp lễ và nói :Thưa Bác nếu tôi muốn, thì dù Bác có báo động và huy động toàn bộ lực lượng bảo vệ để truy bắt tôi, nhưng tôi vẫn có thể thoát khỏi nơi đây như thường được .
    Bác Hồ đứng dậy ,tiến đến vị khách không mời chìa tay thân thiện nhìn với ánh mắt thật tươi. Bác chỉ ghế, mời Tạ Đình Đề ngồi xuống, bên bàn ăn.

    Tạ Đình Đề vẫn đứng thẳng người, chắp hai tay trước bụng, lễ phép nói:
    -- Thưa Bác, trước hết tôi xin bày tỏ lòng khâm phục của tôi đối với Bác. Thú thật , đứng trước mặt Bác, tôi linh cảm có một sức mạnh vô hình thúc đẩy tôi phải đổi hẳn từ thế thù nghịch sang niềm kính yêu. Vậy tôi quyết định chấm dứt công tác của địch giao cho, và xin đặt mình dưới quyền sử dụng của Bác, kể từ hôm nay.
    Bác Hồ tay tay lên vai Tạ Đình Đề như một cử chỉ thân thiện.
    -- Tôi hiểu, tôi tin anh, và tôi đồng ý nhận anh .

    Tạ Đình Đề rút trong người ra một khẩu súng lục có gắn một ống giảm thanh, tháo những viên đạn có đầu sơn đỏ ra, cùng với một ống nhòm, một bản đồ Dinh Chủ Tịch, một số giấy tờ tùy thân được làm giả v.v... trao cho nhân viên cận vệ . Xong đâu đấy Tạ Đình Đề móc từ trong kẽ răng ra một viên thuốc độc dành cho mình trong trường hợp bại lộ đặt lên thành mâm cơm trên bàn ăn.

    Từ đó Tạ Đình Đề trở thành cận vệ thân tín của Bác Hồ. Và nhiều lần ông đã chứng tỏ tài năng xuất chúng của mình.
    Từ vai của kẻ đi ám sát trở thành người của bảo vệ trung thành của Bác .
    Câu chuyện được thêu dệt như thế đó. Tôi cũng không tin , nhưng coi như một giai thoại , một giai thoại tôn vinh cả hai con người . Một là vị Lãnh Tụ của Chúng ta còn người khác là một con người đơn giản chỉ xứng đáng để hoan hô :
    “ Hoan hô anh Tạ Đình Đề
    Trước đi theo địch nay về theo ta “
    Người đàn ông của Thế Kỷ 21 là người đàn ông cần phải [U]có chỗ đứng và..."cứng chỗ đó".

    off 1 thời gian để ổn định cuộc sống

    [Một ngày nào đó, sẽ có 1 thiên thần đưa tay cho mình ,để cùng mình bước ra 1 nơi mà người đời vẫn gọi là Độc Thân Hội

  8. #8
    Ngày gia nhập
    May 2009
    Nơi cư ngụ
    Trong ♥ em
    Bài gửi
    1.574
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    0
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)
    khặc khặc, sgk làm sao cso những vị này cơ chứ
    Người đàn ông của Thế Kỷ 21 là người đàn ông cần phải [U]có chỗ đứng và..."cứng chỗ đó".

    off 1 thời gian để ổn định cuộc sống

    [Một ngày nào đó, sẽ có 1 thiên thần đưa tay cho mình ,để cùng mình bước ra 1 nơi mà người đời vẫn gọi là Độc Thân Hội

  9. #9
    Ngày gia nhập
    May 2009
    Nơi cư ngụ
    Trong ♥ em
    Bài gửi
    1.574
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    0
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)
    Nguyễn Sơn

    Bách khoa toàn thư mở Wikipedia




    Chân dung "Lưỡng quốc Tướng quân" Nguyễn Sơn (1908-1956)


    Nguyễn Sơn (19081956) là một trong những người Việt Nam được phong quân hàm tướng Quân đội Nhân dân Việt Nam đợt đầu tiên vào năm 1948. Ông cũng được Trung Quốc phong quân hàm tướng vào năm 1955 nên còn được gọi là Lưỡng quốc tướng quân (Tướng quân hai nước).
    Mục lục


    Ngày sinh và ngày mất

    Đa số các tư liệu đều ghi ông sinh ngày 1 tháng 10 năm 1908 và mất ngày 21 tháng 10 năm 1956. Ngày 21 tháng 10 năm 2006, Hội Khoa học lịch sử Việt Nam đã tổ chức Lễ tưởng niệm 50 năm ngày mất của ông. Tại lễ này, ngày sinh của ông được ghi là 1 tháng 10 năm 1908.

    Tuổi trẻ

    Nguyễn Sơn tên thật là Vũ Nguyên Bác, quê tại làng Kiêu Kỵ, huyện Gia Lâm, Hà Nội. Ông là con cụ Vũ Trường Xương, một nhà đại tư sản ở Hà Nội. Khi mới lên 5 tuổi ông đã bắt đầu học tiếng Pháp tại một trường Dòng ở Hà Nội. Mười bốn tuổi ông thi đậu vào Trường Sư phạm Hà Nội [cần dẫn nguồn]. Tính tình nghịch ngợm, cùng với tinh thần chống Pháp được gia đình truyền thụ, ông thường tổ chức học sinh trường Sư Phạm và trường Bảo Hộ sang đánh nhau với học sinh con Tây tại các trường khác. Để khống chế sự nghịch ngợm của ông, cha mẹ ông đã cho ông lập gia đình với bà Nguyễn Thị Giệm, hơn ông bốn tuổi. Sau khi được Nguyễn Công Thu ( người của Nguyễn Ái Quốc cử về Việt nam) giác ngộ, ông bày trò giả vờ uống rượu say, gây sự với bố vợ để lấy cớ bỏ người vợ trẻ cùng cô con gái mới 6 tháng tuổi là Vũ Thanh Các để ra đi.

    Tham gia cách mạng ở Trung Quốc

    Năm 1925, ông theo Nguyễn Công Thu đến Quảng Châu. Ông được nhập vào gia đình họ Lý của Lý Thụy (Hồ Chí Minh), gồm Lý Tống (Phạm Văn Đồng), Lý Tự Trọng, Lý Quý (Trần Phú), Lý Trí Phương (Nguyễn Thị Minh Khai) và một số người khác. Ông được Hồ Chí Minh đặt tên cho là Lý Anh Tự và được học lớp chính trị khóa hai cùng Phạm Văn Đồng, Hoàng Văn Hoan. Tại đây, Vũ Nguyên Bác gia nhập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Đầu năm 1926, ông được cử đi học Trường Sĩ quan Hoàng Phố cùng với Lê Hồng Phong, Phùng Chí Kiên, Lê Thiết Hùng. Trong thời gian học, ông gia nhập Quốc Dân Đảng Trung Quốc.
    Tháng 4 năm 1927, Quốc Dân Đảng do Tưởng Giới Thạch lãnh đạo làm chính biến, đàn áp Đảng Cộng Sản Trung Quốc. Ông bỏ khỏi hàng ngũ Quốc Dân Đảng, gia nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc vào tháng 8 năm 1927. Tháng 12 năm 1927, ông tham gia khởi nghĩa Quảng Châu, gia nhập Đoàn giáo đạo 4, Phương diện quân số 2 do Diệp Kiếm Anh chỉ huy. Sau ba ngày chiến đấu, cuộc khởi nghĩa thất bại, ông bị lộ là đảng viên cộng sản. Để tránh khủng bố trắng, ông phải rời Quảng Châu sang Thái Lan và tổ chức Việt kiều tham gia cách mạng.
    Năm 1928 ông trở lại Trung Quốc, tham gia Hồng quân(红军). Năm 1929, ông giữ chức vụ chính trị viên đại đội trong Trung đoàn 47, chỉ huy đại đội đánh nhiều trận ở Đông Giang. Trong thời gian này ông đổi tên mới là Hồng Thủy (洪水).
    Ông là sĩ quan người nước ngoài duy nhất của Giải phóng quân Nhân dân Trung Quốc, từng làm Chính ủy trung đoàn, Chủ nhiệm chính trị Sư đoàn 34 thuộc Quân đoàn 12 công nông Trung Quốc. Do có nhiều kinh nghiệm thực tiễn và trình độ lý luận, ông được điều động đến giảng dạy tại Trường Quân sự chính trị Trung ương của Hồng quân mới được thành lập ở Thụy Kim. Cuối năm 1932 ông còn tham gia thành lập đoàn kịch đầu tiên của Hồng quân công nông và làm Đoàn trưởng.
    Tháng 1 năm 1934, tại đại hội đại biểu toàn quốc nước Cộng hòa Xô viết Trung Hoa lần thứ hai, Hồng Thủy được bầu là Ủy viên ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản nước Cộng hòa Xô viết Trung Hoa với tư cách là đại biểu "dân tộc ít người", Ủy viên Chính phủ dân chủ công nông ở Khu Xô viết Trung ương.
    Do đường lối tả khuynh thắng thế trong Đảng Cộng sản Trung Quốc, trong thời kỳ 1933-1938 ông đã từng ba lần bị khai trừ khỏi Đảng Cộng sản Trung Quốc, rồi lại được phục hồi đảng tịch.
    Tháng 10 năm 1934, ông tham dự cuộc Vạn lý trường chinh. Thời gian này, ông bị Trương Quốc Đào vu cáo là "gián điệp quốc tế", bị khai trừ khỏi Đảng và suýt bị giết hại. Ông may mắn được Chu ĐứcLưu Bá Thừa che chở nên thoát nạn. Hồng Thủy là người Việt Nam duy nhất đã đi hết cuộc Vạn lý trường chinh của Hồng quân.
    Tháng 12 năm 1935, ông về đến Diên An sau nhiều ngày bị lạc. Tiếp đó ông được vào học khóa một Trường Đại học Hồng quân Trung Quốc tại Ngõa Gia Bào, Thiểm Bắc (sau chuyển về Bảo An, Thiểm Tây), trực tiếp nghe Mao Trạch ĐôngChu Ân Lai giảng bài.
    Tháng 7 năm 1937, bắt đầu thời kỳ chiến tranh chống Nhật, ông theo Tổng tư lệnh Chu Đức cùng sư đoàn 115 Bát Lộ Quân vượt sông Hoàng Hà đến Sơn Tây lập căn cứ chống Nhật ở Ngũ Đài Sơn. Ông được bổ nhiệm làm bí thư khu ủy Đông Dã, Trưởng ban tuyên truyền địa ủy Đông bắc Sơn Tây. Tại Ngũ Đài Sơn, năm 1938 ông đã gặp và kết hôn với bà Trần Kiếm Qua, (tên thật là Trần Ngọc Anh, tên Kiếm Qua do chính ông gợi ý đổi cho bà). Ông bà sinh được hai người con trai, không kể một người con gái mất sau khi mới một tuần tuổi.
    Cũng tại Ngũ Đài Sơn, vì phản đối Diêm Tích Sơn, một "lãnh chúa" ở Sơn Tây, ông bị vu oan, lần thứ ba bị khai trừ Đảng, chuyển về trường Quân chính Hồng quân. Cuối năm đó Hồng Thủy được khôi phục Đảng tịch.
    Năm 1938 ông được giao đảm nhận chức Tổng biên tập báo Kháng Địch biên khu Tấn Sát Ký.
    Tháng 2 năm 1939 ông được điều về làm Phó Chủ nhiệm Khoa giáo dục chính trị tại Phân hiệu 2 Đại học kháng Nhật ở Hàn Tín Đài, Linh Thọ, Hà Bắc, Trung Quốc.

    Về Việt Nam và được phong tướng

    Tháng 11 năm 1945, ông trở về nước hoạt động theo đề nghị của Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, lấy tên mới là Nguyễn Sơn và giữ nhiều chức vụ quan trọng trong quân đội và chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ. Ông từng làm Chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính Miền Nam Việt Nam (từ tháng 12 năm 1945 đến khi giải thể vào tháng 12 năm 1946), Tư lệnh kiêm Chính ủy hai Liên khu 4 và 5, Hiệu trưởng Trường Lục quân trung học Quảng Ngãi (1946), Cục trưởng Cục Quân huấn Bộ Tổng tham mưu (1947), Tư lệnh kiêm Chính ủy Liên khu 4 (1948-1949).
    Năm 1947, ông được tin bà Trần Kiếm Qua và hai con trai của ông chết do bị máy bay Quốc Dân Đảng oanh tạc khi sơ tán khỏi Diên An. Ông cưới bà Huỳnh Thị Đổi. Hai người sinh được cô con gái Nguyễn Mai Lâm, do nhiều nguyên nhân hai người đã chia tay.
    Cũng trong năm này, ông kết hôn với bà Lê Hằng Huân[1]. Ông có 4 người con với bà: Nguyễn Thanh Hà, Nguyễn Cương, Nguyễn Việt Hồng và Nguyễn Việt Hằng. Trong đó bà Nguyễn Thanh Hà học tại Học Viện KTQS ra trường công tác tại Bộ tư lệnh Thông tin và về hưu với quân hàm trung tá. Bà Nguyễn Việt Hồng thì mắc bệnh tâm thần được điều trị dài hạn tại bệnh viện.
    Năm 1948, ông được Nhà nước Việt Nam phong quân hàm Thiếu tướng trong đợt phong quân hàm đầu tiên. Cùng được phong Thiếu tướng trong đợt này có 8 quân nhân khác. Khi biết mình được vinh dự ấy, ông nghĩ mình còn trẻ, mới 39 tuổi đóng góp chưa nhiều, nên dành tiêu chuẩn ấy cho các đồng chí khác. Vì đường sá xa xôi, không đến được tận nơi trình bày với Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông gửi công văn hỏa tốc trình bày mong muốn của mình. Nhận được công văn, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết lên tấm các của mình: “Tặng Sơn đệ” với 12 chữ Hán: “Đảm dục đại, tâm dục tế, trí dục viên, hạnh dục phương”(đại ý: cái gan cần phải lớn; cái tâm nên tế nhị, chín chắn; cái trí phải suy nghĩ trước sau, toàn diện; cái đức hạnh phải đầy đủ, ngang thẳng) khiến ông chịu phục. Thứ trưởng Phạm Ngọc Thạch thay mặt Chính phủ vào tận Thanh Hóa làm lễ tấn phong ông.

    Trở lại Trung Quốc và được phong tướng

    Năm 1950, ông trở lại Trung Quốc công tác, làm Phó Cục trưởng Cục điều lệnh Tổng giám bộ huấn luyện Quân giải phóng Nhân dân Trung Quốc. Được xem là một trong 72 đại công thần Trung Quốc, ngay trong đợt phong quân hàm đầu vào ngày 27 tháng 9 năm 1955, ông được nhà nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa phong quân hàm Thiếu tướng. Ông cũng được chính phủ Trung Quốc tặng Huân chương Giải phóng hạng nhất.
    Ông được mệnh danh là "Lưỡng quốc tướng quân", là người Việt Nam duy nhất được phong quân hàm tướng của hai quốc gia, và đều ngay trong đợt phong quân hàm đầu tiên.

    Về với quê hương


    Bìa sách Hoàng Hà nhớ, Hồng Hà thương


    Năm 1956, do khối u ác tính nằm bên phổi trái, ông xin trở về quê hương. Ông rời Bắc Kinh ngày 27 tháng 9, được Bành Đức Hoài, Diệp Kiếm Anh và nhiều tướng lĩnh, cán bộ cao cấp Trung Quốc ra ga tiễn và về đến Hà Nội ngày 30 tháng 9. Ông mất tại Hà Nội sau đó không lâu.
    góp vô đây luôn cho đỡ tốn tài nguyên, hehe
    Huân Chương Quân công hạng Nhì của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nay là Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Huân chương Bát nhất hạng Nhất, Huân chương Giải phóng hạng Nhất của Nhà nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.

    Có tượng đồng đặt tại Bảo tàng Quân đội Nhân dân Việt Nam (Hà Nội) và Bảo tàng Giải phóng quân Trung Quốc (Bắc Kinh). Tại Thủ đô Hà Nội và TP Hồ Chí Minh có 2 con đường mang tên ông - Nguyễn Sơn - viên tướng duy nhất trên thế giới làm tướng của 2 quốc gia.
    Sửa bởi Nguoi_duongthoi : 16-08-2009 lúc 06:08 AM
    Người đàn ông của Thế Kỷ 21 là người đàn ông cần phải [U]có chỗ đứng và..."cứng chỗ đó".

    off 1 thời gian để ổn định cuộc sống

    [Một ngày nào đó, sẽ có 1 thiên thần đưa tay cho mình ,để cùng mình bước ra 1 nơi mà người đời vẫn gọi là Độc Thân Hội

Chủ đề tương tự

  1. AWM - huyền thoại 1 thời của súng ngắm
    By J®nah™. in forum Tìm hiều về các loại vũ khí quân sự
    Trả lời: 33
    Bài mới gửi: 23-03-2013, 06:00 PM
  2. một huyền thoại đặc công Việt Nam
    By Cánh Chim Việt in forum [Lưu trữ]QS-QP Việt Nam 2010
    Trả lời: 17
    Bài mới gửi: 17-03-2011, 08:25 AM
  3. [Tin tức] Huyền thoại về loài nấm đắt bằng vàng ròng ở Việt Nam
    By Mr.Kin in forum Đất nước và con người Việt Nam
    Trả lời: 12
    Bài mới gửi: 06-03-2011, 10:22 PM
  4. Huyền thoại Việt trên đất Mỹ
    By Người Việt Nam in forum Tán gẫu
    Trả lời: 19
    Bài mới gửi: 02-08-2009, 04:01 PM

Bookmarks

Quyền hạn Gửi bài

  • Bạn không thể gửi chủ đề
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài của mình
  •