HOANGSA.ORG ĐÃ CHUYỂN SANG DIỄN ĐÀN MỚI- DIỄN ĐÀN CŨ CHỈ ĐỂ LƯU TRỮ KHÔNG THỂ VIẾT BÀI.

ĐỂ ĐI ĐẾN DIỄN ĐÀN MỚI XIN VUI LÒNG CLICK VÀO ĐÂY HTTP://HOANGSA.ORG/F

HOANGSA.ORG ĐÃ CHUYỂN SANG DIỄN ĐÀN MỚI- DIỄN ĐÀN CŨ CHỈ ĐỂ LƯU TRỮ KHÔNG THỂ VIẾT BÀI.

ĐỂ ĐI ĐẾN DIỄN ĐÀN MỚI XIN VUI LÒNG CLICK VÀO ĐÂY HTTP://HOANGSA.ORG/F

User Tag List

Kết quả từ 1 tới 6 trên 6
  1. #1
    Ngày gia nhập
    Jul 2009
    Nơi cư ngụ
    64 tỉnh thành trừ Hoàng Sa
    Bài gửi
    1.881
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    0
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)

    Tự hào lịch sử Không Quân nhân dân Việt Nam

    Lâu lắm rồi không được "chiêm ngưỡng" lại Không Quân Việt Nam nên xin post lại cho các bạn quan tâm đỡ nhớ, thiếu sót gì xin góp ý và đừng "bầm dập"

    Không quân Nhân dân Việt Nam là một binh chủng của Quân đội Nhân dân Việt Nam, trực thuộc Quân chủng Phòng không-Không quân-Bộ Quốc phòng, chiến đấu với trang bị là máy bay chuyên dụng. Bảo tàng Không quân trực thuộc Cục Chính trị Quân chủng Phòng không-Không quân, đặt tại 86 đường Trường Chinh, Hà Nội. Ngày thành lập: 3 tháng 4 năm 1985.





    Lịch sử

    Trung tướng Hoa Kỳ Daniel P. Leaf và phái đoàn của ông thăm các chỉ huy Không quân Nhân dân Việt Nam tháng 5/2007

    * Ngày 9 tháng 3 năm 1949: Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam ra quyết định thành lập Ban Nghiên cứu Không quân thuộc Bộ Tổng Tham mưu. Năm 1951 giải thể ban này, nhập vào lực lượng pháo binh và phòng không
    * Ngày 3 tháng 3 năm 1955: Bộ Quốc phòng ra Quyết định số 15/QĐA thành lập Ban nghiên cứu Sân bay trực thuộc Tổng Tham mưu trưởng. Ngày này được lấy làm ngày thành lập Không quân Nhân dân Việt Nam.
    * Ngày 24 tháng 1 năm 1959: Bộ Quốc phòng - Tổng Tư lệnh ban hành Quyết định số 319/QĐ thành lập Cục Không quân thuộc Bộ Tổng Tham mưu trên cơ sở tổ chức và lực lượng của Ban Nghiên cứu Sân bay và Cục Hàng không dân dụng Việt Nam.
    * Ngày 1 tháng 5 năm 1959, tại sân bay Gia Lâm, trung đoàn không quân vận tải đầu tiên, trung đoàn 919 ra đời. (nay là Đoàn bay 919 của Hàng không Việt Nam)
    * Ngày 22 tháng 10 năm 1963: Cục Không quân sáp nhập với Bộ Tư lệnh Phòng không thành Quân chủng Phòng không-Không quân. Lực lượng không quân lúc đó chỉ có 1 trung đoàn vận tải 919 và trung đoàn 910 (trường huấn luyện).
    * Tháng 3 năm 1967: thành lập Bộ Tư lệnh Không quân
    * Ngày 16 tháng 5 năm 1977: thành lập Quân chủng Không quân. Quân chủng Không quân gồm các binh chủng Không quân tiêm kích, Không quân tiêm kích-bom, Không quân vận tải, Không quân trinh sát,... và tồn tại đến năm 1999.
    * Từ ngày 3 tháng 3 năm 1999: trở lại là một thành phần (gồm một số binh chủng) trong Quân chủng Phòng không-Không quân.

    Sự hình thành các trung đoàn không quân tiêm kích đầu tiên


    Đoàn không quân "Sao Đỏ", đơn vị anh hùng lực lượng vũ trang góp phần xứng đáng trong trận Điện Biên Phủ trên không

    Ngay từ tháng 3 năm 1956, các đoàn cán bộ, chiến sĩ thuộc Ban nghiên cứu sân bay được cử đi nước ngoài học tập. Đoàn học lái máy bay tiêm kích có 50 người, do Phạm Dưng làm trưởng đoàn (sau này Đào Đình Luyện thay) được cử sang học tập tại Trung Quốc.

    Lực lượng Không quân Nhân dân Việt Nam đầu tiên được thành lập là Trung đoàn không quân tiêm kích 921, mật danh là Đoàn Sao Đỏ, do Trung tá Đào Đình Luyện làm Trung đoàn trưởng, Thiếu tá Đỗ Long làm Chính ủy, Thiếu tá Trần Mạnh làm Trung đoàn phó. Trung đoàn này được huấn luyện trên cao nguyên Vân Quý - Trung Quốc. Ngày 3 tháng 2 năm 1964, lễ thành lập Trung đoàn không quân đầu tiên được tổ chức tại Mông Tự, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc. Ban đầu Trung đoàn có 32 chiếc máy bay chiến đấu kiểu MiG-17, 4 chiếc máy bay kiểu MiG-15, số phi công có 70 người, được đào tạo ở Trung Quốc trở về nước cùng với số máy bay MiG-17A được viện trợ. Từ tháng 4 năm 1965 chuyển sang máy bay MiG-21.

    Ngày 4 tháng 8 năm 1965, Trung đoàn không quân tiêm kích thứ 2 là Trung đoàn 923, mật danh Đoàn Yên Thế, được thành lập, gồm 2 đại đội 17 phi công MiG-17, do Nguyễn Phúc Trạch làm Trung đoàn trưởng, Nguyễn Ngọc Phiếu làm Chính ủy. Không quân Việt Nam được trang bị thêm một số máy bay MiG-17F có bộ phận tăng lực. Đến cuối năm 1965, Không quân Việt Nam có thêm một số máy bay MiG-21 do Liên Xô viện trợ, tuy nhiên, mãi đến tháng 3 năm 1966, số máy bay này mới về đến Việt Nam. Từ năm 1979 Trung đoàn 923 trang bị máy bay tiêm kích-bom Su-22.

    Ngày 24 tháng 3 năm 1967, Sư đoàn không quân Thăng Long (phiên hiệu là Sư đoàn 371) tức Bộ tư lệnh không quân được thành lập, gồm các trung đoàn 921, 923, 919 và đoàn bay Z. Đây là Sư đoàn Không quân đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam.

    Đến tháng 3 năm 1972, trung đoàn không quân tiêm kích thứ 3 thành lập, trung đoàn 927, mật danh Đoàn Lam Sơn.

    Lấy máy bay đối phương

    Bên cạnh đó, Không quân Việt Nam cũng có một số trường hợp đặc biệt hi hữu. Ngày 7 tháng 11 năm 1973, Hồ Duy Hùng, vốn là một Thiếu úy phi công trực thăng vũ trang của Việt Nam Cộng hòa bị sa thải, thực chất là một điệp viên được cài vào Không lực Việt Nam Cộng hòa, đã đánh cắp một chiếc máy bay trực thăng vũ trang UH-1A tại Đà Lạt và hạ cánh tại Dầu Tiếng, thuộc vùng kiểm soát của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam.

    Đúng 17 tháng sau, ngày 8 tháng 4 năm 1975, Nguyễn Thành Trung, cũng là một một điệp viên được cài vào Không lực Việt Nam Cộng hòa, đã đánh cắp một chiếc máy bay phản lực chiến đấu F-5E, ném bom vào dinh Độc Lập và sau đó hạ cánh tại sân bay dã chiến tại Phước Long. Không lâu sau đó, đúng 20 ngày sau, vào ngày 28 tháng 4 năm 1975, cũng chính Nguyễn Thành Trung dẫn đầu một phi đội gồm 5 chiếc khu trục ném bom A-37 chiến lợi phẩm, đã ném bom sân bay Tân Sơn Nhất, thực hiện trận đánh cuối cùng của Không quân Việt Nam trong cuộc Chiến tranh Việt Nam. Phi đội gồm Nguyễn Thành Trung, Nguyễn Văn Lục, Hán Văn Quảng, Từ Đễ (3 phi công lái MiG-21 vừa mới học chuyển loại) và Trần Văn On (phi công Không lực Việt Nam Cộng hòa được trưng dụng).

    Khu vực đỗ máy bay của không lực Chính quyền Sài Gòn đã bị trúng 6 quả bom làm ít nhất 3 chiếc AC – 119 và một số chiếc C–47 bị phá hủy hoàn toàn. Hai quả bom khác rơi đúng điểm giữa tòa nhà Phòng tác chiến và tháp chỉ huy.

    Những tổn thất và vinh quang

    Chiếc máy bay tiêm kích MIG 17 mang số hiệu 2011 mà Ngô Đức Mai đã lái hôm 12/5/1967 và bắn hạ máy bay của Norman Cagadixo.

    Trước một đối phương chiếm ưu thế tuyệt đối cả về số lượng lẫn chất lượng, với hàng ngàn máy bay và hàng trăm phi công có trên 1.000 giờ bay trên nhiều lọai máy bay khác nhau, Không quân Việt Nam vào lúc cao điểm cũng không có quá 200 máy bay MiG-17/19/21 với chưa đến 100 phi công với số giờ bay ít ỏi, thì những tổn thất của phía Việt Nam là rất khó chịu đựng. Họ đã cố gắng cải thiện vấn đề này bằng nhiều biện pháp tổng hợp từ tinh thần đến chiến thuật đánh nhằm hạn chế tổn thất đến mức tối thiểu. Tuy nhiên, các phi công Mỹ cũng không phải là những kẻ bất tài.

    Phía Mỹ công bố trong thời gian từ 1965 đến 1973, họ đã có 194 phi công, trong đó có 143 là phi công F-4, đã bắn hạ MiG. Một tài liệu khác của Hải quân Mỹ công bố, trong suốt thời gian từ ngày 7 tháng 6 năm 1965 đến 12 tháng 1 năm 1973, các phi công Hải quân Mỹ đã hạ 60 chiếc MiG. Đặc biệt với chiến dịch Bolo vào năm 1967 và chiến dịch TopGun vào năm 1972 của người Mỹ đã làm không quân Việt Nam thiệt hại đến mức khủng khiếp, nhất là trên số lượng phi công ít ỏi của họ.

    Riêng ngày 2 tháng 1 năm 1967, chiến dịch Bolo nhằm gài bẫy các MiG Việt Nam được thực hiện. Trong ngày này, có 6 MiG cất cánh, thì 5 chiếc bị bắn rơi tại chỗ, 4 phi công phải nhảy dù (trong đó có 3 người về sau trở thành hạng "Ách" là Nguyễn Đăng Kỉnh, Nguyễn Văn Cốc, Nguyễn Hồng Nhị) và một phi công thiệt mạng, phía Mỹ không mất máy bay nào. Trong hai ngày sau, riêng đoàn 921 mất thêm 3 chiếc nữa. Trong vòng 3 ngày, Việt Nam tổn thất 9 máy bay trong tổng số 16 máy bay tham gia chuẩn bị chiến đấu. Hoặc trong ngày 10 tháng 5 năm 1972, các phi công Mỹ tốt nghiệp chương trình huấn luyện TopGun đã bắn hạ gần 10 chiếc MiG-17/19. Phía Việt Nam cũng thừa nhận thiệt hại trong vòng 3 ngày liên tiếp, họ mất gần 10 phi công giỏi.
    Máy bay tiêm kích MIG 17 này đã được Nguyễn Văn Bảy B điều khiển ngày 19/4/1972 và ném bom trúng tàu khu trục Hibi đang thực hiện nhiệm vụ pháo kích Đồng Hới.

    Bên cạnh đó, Không quân Việt Nam còn bị tổn thất bởi chính những người đồng đội Phòng không của mình. Do số lượng máy bay Việt Nam rất ít, ngay trong không chiến, giữa đông đảo các máy bay của đối phương, các MiG cũng rất dễ bị lạc đạn trong lưới lửa phòng không Việt Nam. Ngoài ra, do ít thông tin, những người lính phòng không còn bắn nhầm trong nhiều trường hợp đáng tiếc. Ngoài trường hợp 3 máy bay MiG bị rơi, được cho là bị đạn cao xạ bắn nhầm ngày 4 tháng 4 năm 1965, tài liệu phía Việt Nam ghi nhận một trường hợp 2 MiG bị bắn rơi bở tên lửa Việt Nam làm 1 phi công chết, 1 bị thương nặng. Ngoài ra, sự yếu kém do thiếu kinh nghiệm cũng làm phía Việt Nam mất nhiều phi công trẻ và máy bay, có lúc làm cho lực lượng không quân Việt Nam gần như tê liệt.

    Tuy nhiên, các phi công Việt Nam đã thể hiện sự dũng cảm và sáng tạo của họ trong cả hai phương diện chiến thuật và kỹ thuật, làm kinh ngạc đối phương. Trong suốt các cuộc không chiến giữa không quân Việt Nam với quân đội Mỹ, phía Việt Nam có 16 phi công đạt đẳng cấp "Ách" (tức đã bắn hạ được từ 5 máy bay đối phương trở lên), trong đó người cao nhất là phi công MiG-21 Nguyễn Văn Cốc đã bắn hạ 9 máy bay Mỹ. Một phi công huyền thoại khác là Nguyễn Văn Bảy, phi công MiG-17, cũng đã bắn hạ 7 máy bay Mỹ. Trong khi đó, chỉ có 3 nhóm phi công Mỹ đạt đẳng cấp "Ách" (đều là F-4) và người cao nhất là Hoa tiêu, Đại úy Không quân Chuck E. DeBellevue đã bắn hạ được 6 máy bay. Hai tổ lái còn lại là tổ lái của Ritchie Richard (phi công) và Feinstein Jeffrey S. (hoa tiêu) của Không quân và tổ lái Cunningham Randolph (phi công) và Driscoll William (hoa tiêu) của Hải quân, đều hạ 5 chiếc.
    MiG-21 F94 số 5020 của Đoàn 927 Không quân Nhân dân Việt Nam đã được nhiều anh hùng lục lượng vũ trang Việt Nam lái trong thời gian Chiến tranh Việt Nam.

    Các phi công Mỹ còn lưu truyền về một phi công MiG-17 được họ gọi bằng biệt hiệu Đại tá Toon (hay Tomb) với số lần bắn hạ đối phương là 13 lần, về sau bị một "Ách" của Hải quân Hoa Kỳ là Đại úy Randy "Duke" Cunningham bắn rơi. Một số người cho rằng đây là phi công Đinh Tôn, tuy nhiên Đinh Tôn lại lái chiếc MiG-21 và không được xếp vào nhóm "Ách". Trên thực tế, phía Việt Nam không đưa các phi công có cấp bậc Thiếu tá trở lên để tham gia không chiến. Sau này, Đại tá Toon được xác nhận là một nhân vật tưởng tượng của các phi công Mỹ và thường xuyên được họ đưa ra làm đề tài chuyện phiếm. Như là một thiện ý của các phi công Mỹ, Đại tá Toon là một sự tổng hợp của các phi công giỏi của Việt Nam, giống như những "nghệ sỹ sôlô" ném bom đơn độc ban đêm trong Thế chiến thứ hai được gọi là "máy giặt Charlie" vậy.


    Lực lượng máy bay hiện nay( con số ước lượng ):


    Máy bay phản lực chiến đấu :

    * Nga/ 4 Sukhoi Su-30 "Flanker"
    * Nga 12 Sukhoi Su-27 Flanker
    * Liên Xô 150 Mikoyan-Gurevich MiG-21 Fishbed, 100 chiếc đã được nâng cấp phiên bản MiG-21 Bis
    * Liên Xô 80 Sukhoi Su-22 Fitter-C

    Trực thăng

    * Liên Xô 30 Mi-8 Hip Trực thăng vận tải
    * Liên Xô 24Mi-17 Hip-H Trực thăng vận tải
    * Nga Mi-171Sh Trực thăng chiến đấu và vận tải
    * Nga Mi-172 Trực thăng vận tải
    * Liên Xô 3 Kamov Ka-25 Hormone
    * Liên Xô Ka-27 Helix ASW helicopter
    * Liên Xô 26 Mil Mi-24 Hind-A Trực thăng chiến đấu
    * Pháp 6 SA-330J Puma Trực thăng dân sự từ Bộ Quốc phòng
    * Pháp 7 Aérospatiale Super Puma trực thăng vận tải AS-332L2
    * Hoa Kỳ 15 Bell Helicopter UH-1H Huey của Hoa Kỳ.


    Vận tải


    * Liên Xô Antonov An-30 Clank Máy bay vận tải/ trinh sát
    * Liên Xô 12 Antonov An-26 Curl Vận tải
    * Liên Xô/ Flag of Ukraina Ukraina Antonov An-24 Coke Vận tải
    * Flag of Liên Xô Liên XôAntonov An-38 - Phiên bản mở rộng của An-28
    * Ba Lan 2 PZL M-28 Skytruck - Phiên bản mở rộng với tầm bay cao

    Máy bay tự sản xuất

    * Việt Nam HL-1, HL-2, VNS-41 thủy phi cơ, được nghiên cứu từ tháng 6-2003
    * Việt Nam M-400 UAV Máy bay trinh sát không người lái , tự sản xuất

    __________________
    MÁY BAY TIÊM KÍCH


    [hide=0]

    SU-27


    Sukhoi Su-27 (Су-27 trong bảng chữ cái Cyrillic) (tên ký hiệu của NATO 'Flanker' - kẻ tấn công sườn) là một máy bay tiêm kích phản lực Xô Viết độc đáo được thiết kế bởi Phòng thiết kế Sukhoi (SDB) và được sản xuất năm 1977. Nó là đối thủ trực tiếp của những loại máy bay chiến đấu thế hệ mới của Hoa Kỳ (F-14 Tomcat sản xuất năm 1970, F-15 Eagle sản xuất năm 1972, F-16 Fighting Falcon và F/A-18 Hornet), với tầm hoạt động lớn, trang bị vũ khí hạng nặng, và cực kỳ cơ động nhanh nhẹn linh hoạt. Su-27 thường xuyên thực hiện các chuyến bay trong các nhiệm vụ chiếm ưu thế trên không, nhưng nó có thể thực hiện gần như mọi nhiệm vụ chiến đấu.

    Từ thiết kế cơ bản của Su-27, vài mẫu phát triển khác đã được thực hiện. Su-33 'Flanker-D' kà một mẫu máy bay tiêm kích đánh chặn phòng thủ hạm đội được phát triển từ thiết kế của Su-27 và được trang bị trên các tàu sân bay. Sự khác nhau chính bao gồm móc hãm ở đuôi và cánh mũi. Su-30 là một mẫu máy bay tiêm kích đa nhiệm, hai chỗ bay trong mọi thời tiết, chuyên thực hiện các nhiệm vụ không chiến và đánh chặn từ xa. Những phiên bản phát triển xa hơn bao gồm phiên bản tiêm kích-bom Su-34 'Fullback' và phiên bản tiêm kích phòng thủ trên không cải tiến Su-35 'Flanker-E' có những tính năng vượt trội trong mọi mặt.






    Thông số kỹ thuật (Sukhoi Su-27)

    Đặc điểm riêng

    * Phi đoàn: 1
    * Chiều dài: 21.9 m (72 ft)
    * Sải cánh: 14.7 m (48 ft 3 in)
    * Chiều cao: 5.93 m (19 ft 6 in)
    * Diện tích cánh: 62 m² (667 ft²)
    * Trọng lượng rỗng: 16,380 kg (36,100 lb)
    * Trọng lượng cất cánh: 23,000 kg (50,690 lb)
    * Trọng lượng cất cánh tối đa: 33,000 kg (62,400 lb)
    * Động cơ: 2× Saturn/Lyulka AL-31F, 122.8 kN (27,600 lbf) mỗi chiếc

    Hiệu suất bay

    * Vận tốc cực đại: Mach 2.35 (2,500 km/h, 1,550 mph)
    * Tầm bay chiến đấu:
    o Trên biển: 1,340km (800 dặm)
    o Trên đất liền: 3,530 km (2070 dặm)
    * Trần bay: 18,500 m (60,700 ft)
    * Vận tốc lên cao: 325 m/s (64,000 ft/min)
    * Lực nâng của cánh: 371 kg/m² (76 lb/ft²')
    * Lực đẩy/trọng lượng: 1.09

    Vũ khí

    * 1x pháo 30 mm GSh-30-1 với 150 viên đạn
    * 8,000 kg (17,600 lb) vũ khí trên 10 giá treo ngoài
    o Mang được 6 tên lửa không đối không tầm trung R-27, 4 tên lửa không đối không tầm nhiệt tầm gần R-73
    + Su-27SM nâng cấp có thể mang được R-77 thay cho R-27
    o Su-27IB có thể sử dụng để phóng tên lửa chống bức xạ X-31, tên lửa không đối đất X-29L/T (điều khiển bằng laser/TV, có thể chiếu lên mũ), bom KAB-150 và UAB-500 điều khiển bằng laser, TV hay IR




    SU-22


    Sukhoi Su-22 (tên ký hiệu của NATO 'Fitter') được phát triển từ Su-17 là một máy bay tấn công của Liên Xô, ;là máy bay tiêm kích/ném bom. Loại máy bay này rất thành công, với một thời gian dài phục vụ trong không quân Xô Viết và không quân Nga. Dòng máy bay này được xuất khẩu rộng rãi tới các nước Đông Âu, Châu Á, và Trung Đông.




    Thông số kỹ thuật (Su-17M-4)

    Đặc điểm riêng

    * Phi đoàn: 1
    * Chiều dài: 19.03 m (62 ft 5 in)
    * Sải cánh: cánh cụp 10.00 m (32 ft 10 in) và cánh xòe 13.80 m (45 ft 3 in)
    * Chiều cao: 5.13 m (16 ft 10 in)
    * Diện tích cánh: từ 37 m² (398 ft²) đến 40 m² (431 ft²)
    * Trọng lượng rỗng: 10,767 kg (23,737 lb)
    * Trọng lượng cất cánh: 16,400 kg (36,155 lb)
    * Trọng lượng cất cánh tối đa: 19,500 kg (42,990 lb)
    * Động cơ: 1× Lyulka AL-21F-3 76.5 kN (17,200 lbf) - 111.3 kN (24,950 lbf)

    Hiệu suất bay

    * Vận tốc cực đại: 1,837 km/h (1,148 mph)
    * Tầm bay: 1,150 km (715 mi) (tấn công) - 2,300 km (1,430 mi) (tuần tiễu)
    * Trần bay: 15,200 m (49,870 ft)
    * Vận tốc lên cao: 230 m/s (45,276 ft/min)
    * Lực nâng của cánh: 443 kg/m² (90.77 lb/ft²)
    * Lực đẩy/trọng lượng: 0.68

    Vũ khí

    * 2x pháo 30 mm NR-30, 80 viên mỗi súng
    * 2 giá treo dưới cánh mang tên lửa không đối không R-60 (AA-8 'Aphid')
    * 10 giá treo cứng mang được 4,250 kg (9,370 lb) vũ khí (3 vị trí dưới cánh cố định, 4 hoặc 2 trên thân), gồm bom, chùm rocket, bom napalm, vũ khí hạt nhân. Còn có thể mang tên lửa dẫn đường điện tử/quang học Kh-23 (AS-7 'Kerry'), Kh-25 (AS-10 'Karen'), Kh-29 (AS-14 'Kedge'), và Kh-58 (AS-11 'Kilter'); bom điều khiển laser.



    MIG-17


    Mikoyan-Gurevich MiG-17 (tiếng Nga: Микоян и Гуревич МиГ-17, МиГ-17 trong ký tự Kirin) (tên ký hiệu của NATO Fresco) là một máy bay phản lực chiến đấu Liên xô, được đưa vào sử dụng từ năm 1952.




    Đặc điểm kỹ thuật (MiG-17F)


    Thông số riêng


    * Đội bay: một người
    * Chiều dài: 11.36 m (37 ft 3 in)
    * Sải cánh: 9.63 m (31 ft 7 in)
    * Chiều cao: 3.80 m (12 ft 6 in)
    * Diện tích: 22.6 m² (243.2 ft²)
    * Trọng lượng rỗng: 3,930 kg (8,646 lb)
    * Trọng lượng cất cánh: 5,354 kg (11,803 lb)
    * Trọng lượng cất cánh tối đa: 6,286 kg (13,858 lb)
    * Động cơ (phản lực): Klimov VK-1F
    * Kiểu phản lực: đốt nhiên liệu lần hai phản lực turbin
    * Số lượng động cơ: 1
    * Lực đẩy: 33.1 kN (7,440 lbf) với bộ phận đốt nhiên liệu lần hai

    Hiệu suất bay

    * Tốc độ tối đa: 1,144 km/h (711 mph) ở độ cao 3,000 m (10,000 ft)
    * Tầm hoạt động: 1,080 km, 1,670 km (670 mi / 1,035 mi) với thùng dầu phụ
    * Trần bay: 16,600 m (54,500 ft)
    * Tốc độ lên cao: 65 m/s (12,795 ft/min)
    * Lực nâng của cánh: 237 kg/m² (48 lb/ft²)
    * Lực đẩy/trọng lượng: 0.63 (kN/kg)

    Vũ khí

    * súng máy 1x 37-mm Nudelman N-37, 40 viên
    * súng máy 2x 23-mm Nudelman-Rikhter NR-23, 80 viên/súng
    * Lên tới 500 kg (1,100 lb) treo ngoài 2 mấu, gồm 100 kg (220 lb) và 250 kg (550 lb) bom hay thùng dầu phụ.



    MI-24



    Mil Mi-24 là một máy bay trực thăng chiến đấu hạng nặng nhưng có khả năng chở quân thấp bắt đầu hoạt động trong Không quân Xô viết từ năm 1976, sau này là tại các nước cộng hòa và hơn ba mươi quốc gia khác trên thế giới.

    Tên hiệu NATO của nó là Hind và các biến thế được định danh với một chữ cái thêm nữa. Các phiên bản xuất khẩu, Mi-25 và Mi-35, được biểu thị là Hind D và Hind E. Các phi công Xô viết gọi loại máy bay này là 'letayushiy tank' or tăng bay. Một tên hiệu thường gặp khác là 'Krokodil' (Cá sấu) — vì hình dạng ngụy trang và thân của nó




    Đặc điểm kỹ thuật (Mi-24)

    * đội bay: 3 (phi công, sỹ quan điều khiển hệ thống vũ khí và kỹ thuật viên)
    * chiều dài: 17.5 m (57 ft 4 in)
    * sải cánh: 17.3 m (56 ft 7 in)

    * sải cánh: ' 6.5 m (21 ft 3 in)

    * diện tích: 235 m² (2,529.52 ft²)
    * chiều cao: 6.5 m (21 ft 3 in)
    * trọng lượng rỗng: 8,500 kg (18,740 lb)
    * trọng lượng chất tải:
    * trọng lượng cất cánh tối đa: 12,000 kg (26 455 lb)
    * sức chứa: 8 lính hay 4 người bị thương
    * động cơ (cánh quạt): Isotov TV3-117
    * kiểu cánh quạt: tuốc bin
    * số lượng cánh quạt: 2
    * công suất: 1,600 kW (2,200 sức ngựa)
    * tốc độ tối đa: 335 km/h (208 mph)
    * tầm hoạt động: 450 km (280 dặm)
    * trần bay: 4,500 m (14,750 ft)
    * tỷ lệ lên:
    * chất tải:
    * công suất/trọng lượng:
    * hệ thống điện tử:

    Trang bị vũ khí:

    *
    o súng máy 12.7 mm YaKB-12.7 Yakushev-Borzov nhiều nòng
    o 1,500 kg bom
    o 4× Tên lửa điều khiển chống tăng (AT-2 Swatter hay AT-6 Spiral)
    o 4× 57 mm S-5 rocket hay 4× 80 mm S-8 rocket
    o 2× 23 mm pháo hai nòng
    o 4× bình nhiên liệu ngoài


    MI-8



    Một chiếc Mi-8 Nga bị bắn hạ ở Chechnya, 1994

    Mil Mi-8 (tên hiệu NATO "Hip") là một máy bay trực thăng lớn hai động cơ. Mẫu một động cơ đầu tiên (AI-24W), W-8, cất cánh ngày 9 tháng 7, 1961. Chiếc thứ hai với hai động cơ AI-24W cất cánh lần đầu ngày 17 tháng 9, 1962. Sau khi được sửa đổi một số chi tiết, nó được đưa vào phục vụ trong Không quân Sô viết năm 1967 với cái tên Mi-8. Có rất nhiều biến thể, gồm Mi-8T ngoài khả năng vận chuyển 24 binh sĩ còn được trang bị các tên lửa điều khiển chống tăng. Kiểu Mil Mi-14 dùng cho hải quân, và kiểu Mil Mi-24 tấn công cũng là biến thể từ loại Mi-8.

    Mi-8 được sử dụng ở hơn 50 quốc gia, gồm Ấn Độ, Trung Quốc và Iran; biến thể mới nhất Mi-8MT/Mi-17 được trang bị nặng hơn và giới thiệu năm 1981. Mi-17 ít được biết đến hơn, hoạt động ở khoảng 20 nước.

    Các đơn đặt hàng gần đây gồm: 40 chiếc trực thăng Mi-8TV cho Ấn Độ được trang bị tên lửa không đối đất Vikhr-M (AT-16), được chuyển giao vào cuối năm 2001, một số Mi-17 cho Iran, 10 cho Malaysia, 20 cho Colombia, sáu cho Ấn Độ, 12 cho Pakistan và 13 cho Venezuela. Tháng 2 năm 2005, Không quân Iraq đặt hàng mười chiếc Mi-17V-5 từ công ty Bumar Ba Lan. Đến tháng 12, quân đội Séc nhận 16 chiếc Mi-17SH như một phần trong sự giải quyết nợ của Nga.

    Tháng 7 năm 2002, Kazan đã ký một thoả thuận thị trường quốc tế với BAE Systems của Anh Quốc và Kelowna Flightcraft của Canada về một phiên bản cải tiến, máy bay lên thẳng vận tải và các mục đích khác Mi-172. Chiếc The Mi-172 có một hệ thống nhiệm vụ mới từ BAE Systems Avionics, kính buồng lái mới với hệ thống công cụ bay điện tử mới từ Honeywell và tháp đa cảm biến ổn định Titan 385 của BAE Systems.




    Đặc điểm kỹ thuật (Mil 8-T)

    * đội bay=Ba người – hai phi công và một kỹ sư
    * sức chứa=24 hành khách hay 3,000 kg (6,600 lb) bên trong và các điểm treo bên ngoài.
    * chiều dài chính=18.2 m
    * chiều dài quy đổi=59 ft 8 in
    * sải cánh=21.3 m
    * sải cánh quy đổi=69 ft 11 in
    * chiều cao chính=3.00 m
    * chiều cao quy đổi=9 ft 10 in
    * diện tích chính=356 m²
    * diện tích quy đổi=3,830 ft²
    * trọng lượng rỗng chính=6,990 kg
    * trọng lượng rỗng quy đổi=15,410 lb
    * trọng lượng chất tải chính=11,100 kg
    * trọng lượng chất tải quy đổi=24,500 lb
    * trọng lượng cất cánh tối đa chính=12,000 kg
    * trọng lượng cất cánh tối đa quy đổi=26,500 lb
    * thông tin thêm=
    * động cơ (cánh quạt)=Klimov TV2-117
    * kiểu cánh quạt=turbin cánh quạt phản lực
    * số lượng cánh quạt=2
    * công suất chính=1,105 kW
    * công suất quy đổi=1,482 shp
    * tốc độ tối đa chính=250 km/h
    * tốc độ tối đa quy đổi=156 mph
    * tầm bay chính=450 km
    * tầm bay quy đổi=280 mi
    * trần bay chính=4,500 m
    * trần bay quy đổi=14,760 ft
    * tốc độ lên chính=9 m/s
    * tốc độ lên quy đổi=1,770 ft/min
    * chất tải chính=
    * chất tải quy đổi=
    * công suất/khối lượng chính=
    * công suất/khối lượng quy đổi=
    * tính năng thêm=

    * Tiêu thụ nhiên liệu: 600 kg/hr (1,320 lb/hr)

    Trang bị vũ khí

    * 57 mm rockets, bom, hay AT-2 Swatter ATGM.[/hide]
    CƯỜNG KÍCH



    SU-30


    Sukhoi Su-30 (tên ký hiệu của NATO: "Flanker-C") là máy báy quân sự linh hoạt được phát triển bởi Công ty hàng không Sukhoi của Nga và đưa vào hoạt động năm 1996. Nó là loại máy bay chiến đấu đa chức năng tốc độ siêu âm có thể đảm nhiệm cả nhiệm chiếm ưu thế trên không và nhiệm vụ cường kích (tấn công mặt đất).

    Đây là một phiên bản hiện đại hóa của Su-27UB và có vài phiên bản khác. Seri Su-30K và Su-30MK đều có những thành công trong thương mại. Sự khác nhau về tên gọi là do các phiên bản được sản xuất bởi 2 công ty con đang có sự cạnh tranh - KNAAPO và IRKUT Corporation, cả 2 đều nằm dưới sự điều khiển của tập đoàn Sukhoi. KNAAPO sản xuất Su-30MKK và Su-30MK2, chúng được thiết kế và bán cho Trung Quốc và Việt Nam. Irkut sản xuất seri Su-30MK tầm xa đa chức năng, mà bao gồm cả Su-30MKI, một mẫu máy bay được phát triển cho Không quân Ấn Độ và những thiết kế từ Su-30MKI, như Su-30MKM, Su-30MKA và Su-30MKV được xuất khẩu cho riêng Malaysia, Algeria và Venezuela (M-Malaysia, A-Algeria và V-Venezuela).




    Thông số kỹ thuật (Su-27PU/Su-30)


    Đặc điểm riêng
    Phi đoàn: 2
    Chiều dài: 21.935 m (72.97 ft)
    Sải cánh: 14.7 m (48.2 ft)
    Chiều cao: 6.36 m (20.85 ft)
    Diện tích cánh: 62.0 m² (667 ft²)
    Trọng lượng rỗng: 17,700 kg (39,021 lb)
    Trọng lượng cất cánh: 24,900 kg (54,900 lb)
    Trọng lượng cất cánh tối đa: 34,500 kg (76,060 lb)
    Động cơ: 2× động cơ phản lực cánh quạt đẩy tỷ lệ đường vòng thấp AL-31FL
    Lực đẩy: 7,600 kgf (74.5 kN, 16,750 lbf) mỗi chiếc
    Lực đẩy khi đốt nhiên liệu phụ trội: 12,500 kgf (122.58 kN, 27,560 lbf) mỗi chiếc

    Hiệu suất bay
    Vận tốc cực đại: Mach 2.0 (2,120 km/h, 1,320 mph)
    Tầm bay: 3,000 km (1,620 dặm)
    Trần bay: 17,300 m (56,800 ft)
    Vận tốc lên cao: 230 m/s (45,275 ft/min)
    Lực nâng của cánh: 401 kg/m² (82.3 lb/ft²)
    Lực đẩy/trọng lượng: 1.0

    Vũ khí
    Su-27PU có 8 giá treo vũ khí, trong khi Su-30MK có 12 giá treo vũ khí: 2 giá treo ở đầu cánh 3 giá treo dưới mỗi cánh, dưới mỗi động cơ có 1, và 2 giá treo tại điểm tiếp giáp giữa động cơ và cánh. Mọi phiên bản có thể mang 8 tấn vũ khí.

    1× pháo Gryazev-Shipunov GSh-30-1 30 mm 150 viên đạn
    Tên lửa không đối không: 6× R-27ER1 (AA-10C), 2× R-27ET1 (AA-10D), 6× R-73E (AA-11), 6× RVV-AE (AA-12)
    Tên lửa không đối đất: 6× Kh-31P/Kh-31A tên lửa chống [radar]], 6× Kh-29T/L tên lửa dẫn đường bằng laser, 2× Kh-59ME
    Bom: 6× KAB 500KR, 3× KAB-1500KR, 8× FAB-500T, 28× OFAB-250-270



    MIG-21


    Mikoyan-Gurevich MiG-21 (tiếng Nga: Микоян и Гуревич МиГ-21) (tên ký hiệu của NATO: Fishbed) là một máy bay tiêm kích phản lực, được thiết kế và chế tạo bởi cục thiết kế Mikoyan-Gurevich tại Liên bang Xô viết. Hơn 50 quốc gia trên 4 lục địa đã sử dụng loại máy bay này, và hiện nay MiG-21 vẫn đang hoạt động trong không quân một số quốc gia sau 50 năm khi nó bay lần đầu tiên. MiG-21 đã đạt được một số kỷ lục hàng không như 1: máy bay phản lực được sản xuất nhiều nhất trong lịch sử hàng không, 2: máy bay chiến đấu được sản xuất nhiều nhất từ sau Chiến tranh Thế giới II, và 3: máy bay chiến đấu có thời gian sử dụng lâu nhất. MiG-21 có khả năng đạt đến vận tốc Mach 2, vận tốc này vượt qua tốc độ tối đa của nhiều kiểu máy bay chiến đấu hiện đại sau này. Có khoảng 10,352 chiếc MiG-21 được chế tạo.




    Đặc điểm kỹ thuật (Mikoyan-Gurevich MiG-21bis)

    Thông số riêng
    Đội bay: 1
    Chiều dài: 15.76 m (51 ft 8 in)
    Sải cánh: 7.15 m (23 ft 5 in)
    Chiều cao: 4.12 m (13 ft 6 in)
    Diện tích: 23 m² (247.5 ft²)
    Trọng lượng rỗng: 5,350 kg (11,800 lb)
    Trọng lượng cất cánh:8,726 kg (19,200 lb)
    Trọng lượng cất cánh tối đa: 9,660 kg (21,300 lb)
    Động cơ (phản lực): Tumansky R-25-300
    Kiểu phản lực: đốt nhiên liệu lần hai phản lực turbin
    Số lượng động cơ: 1
    Công suất 70 kN (15,700 lbf)

    Hiệu suất bay
    Tốc độ tối đa: 2500 km/h (March 2.35)
    Tầm hoạt động: 450-500 km (280-310 mi)
    Trần bay: 19,000 m (62,300 ft)
    Tốc độ lên cao: 225 m/s (23,600 ft/min)
    Lực nâng của cánh: 379 kg/m² (77.8 lb/ft²)
    Lực đẩy/trọng lượng: 0.82

    Vũ khíMột pháo GSh-23 23 mm trục tâm hai nòng (các biến thể PFM,MF,SMT & BIS) hay một súng NR-30 một nòng (F-13)
    Lên tới 2,000 kg (4,400 lb) các loại vũ khí không đối không và không đối đất treo tại hai hay bốn mấu cứng bên dưới cánh tùy theo từng biến thể. Những chiếc đầu tiên mang hai tên lửa Vympel K-13 AA dưới cánh. Những mẫu sau này mang hai K-13 và hai thùng nhiên liệu dưới cánh hay bốn tên lửa hồng ngoại dẫn đường bằng radar K-13. Tên lửa Molniya R-60 cũng được trang bị cho nhiều mẫu khác. Đa số các máy bay mang một thùng dầu phụ 450 L (119 US gal) ở giữa thân. Các mẫu phát triển MiG-21-93 cho phép mang tên lửa R-77.
    Pháo GSh-23 được lắp ở dưới bụng máy bay phía trên giá treo thùng phụ bụng,một băng đạn pháo có 240 viên đạn,chỉ khi bay càng được thu lên khi đó mớ bắn được (loại đạn 23mm). Hiện nay khi bay, máy bay chỉ mang thùng phụ bụng với dung tích 800lits (chứ không mang thùng phụ bụng 450 lít). Ngoài mang loại tên lửa R-60 còn có P-13M...


    IL-28



    Ilyushin Il-28 là một máy bay ném bom phản lực ban đầu được chế tạo cho Không quân Xô viết và là chiếc đầu tiên kiểu như vậy đi tới giai đoạn sản xuất hàng loạt tại Liên bang Xô viết. Nó cũng được chế tạo theo giấy phép tại Trung Quốc với ký hiệu Hong H-5. Tên hiệu của NATO cho loại máy bay này là Beagle với loại ném bom, Il-28R cho phiên bản trinh sát, và Il-28T ném bom-phóng thuỷ lôi, và Mascot cho phiên bản Il-28U huấn luyện. Ước tính cho thấy tổng số máy bay chế tạo tại cả hai nước trong khoảng 2.000 tới 6.000 chiếc. Trong thập niên 1990, hàng trăm chiếc vẫn hoạt động trong không quân nhiều nước, hơn 40 năm sau lần đầu xuất hiện của Il-28.

    Chiếc máy bay này có hình dáng bên ngoài theo quy ước, với cánh cao, không chéo phía sau mang động cơ lớn phía dưới. Phi công ném bom ngồi phía mũi kính, phía đuôi có hai khẩu pháo 23mm. Những đặc điểm đó giống với kiểu bố trí của máy bay ném bom tầm trung thời Chiến tranh thế giới thứ hai trước đó, nhưng các bề mặt đuôi chéo phía sau và buồng lái kính nổi của phi công và ghế phóng là các đặc điểm tương tự các loại máy bay khác ở thời kỳ của nó, khiến nó vừa mang các đặc điểm mới vừa có những đặc điểm cũ.





    Đặc điểm kỹ thuật (Il-28)


    Đặc điểm chung

    * Phi đội: ba người (phi công, người cắt bom, pháo thủ)
    * Chiều dài: 17.60 m (57 ft 9 in)
    * Sải cánh: 21.50 m (70 ft 6 in)
    * Chiều cao: 6.70 m (22 ft 0 in)
    * Diện tích cánh: 60.8 m² (654 ft²)
    * Trọng lượng rỗng: 11.890 kg (26.210 lb)
    * Trọng lượng chất tải: 17.700 kg (39.000 lb)
    * Trọng lượng cất cánh tối đa: 21.200 kg (46.700 lb)
    * Động cơ: 2xKlimov VK-1, 53.8 kN (12.090 lbf) mỗi chiếc


    Thao diễn

    * Tốc độ tối đa: 900 km/h (486 kt, 560 mph)
    * Tầm hoạt động: 2.180 km (1.177 nm, 1.350 dặm)
    * Trần bay: 12.300 m (40.400 ft)
    * Tốc độ lên: 900 m/min (2.950 ft/min)
    * Chất tải cánh: 291 kg/m² (59.6 lb/ft²)
    * Lực đẩy/Trọng lượng: 1:3.2


    Trang bị vũ khí

    * 4 × pháo Nudelman NR-23 (2 phía mũi, 2 phía đuôi)
    * 3.000 kg (6.600 lb) bom ở khoang trong
    __________________

    Nguồn tổng hợp lichsuvn.info

  2. #2
    Ngày gia nhập
    Jul 2009
    Nơi cư ngụ
    64 tỉnh thành trừ Hoàng Sa
    Bài gửi
    1.881
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    0
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)

    TUẦN TRA - SĂN TÀU NGẦM




    KA-25


    The Kamov Ka-25 (NATO reporting name Hormone) is a Russian naval helicopter, designed by Nikolai Il'yich Kamov or V.A. Glushenkov.





    Specifications
    This aircraft article is missing some (or all) of its specifications. If you have a source, you can help Wikipedia by adding them.
    Data from[citation needed]

    General characteristics

    Crew: Two
    Capacity: 12 passengers
    Length: 9.7 m (31 ft 9 in)
    Rotor diameter: 15.7 m (51 ft 6 in)
    Height: 5.4 m (17 ft 8 in)
    Empty weight: 4,765 kg ()
    Loaded weight: 7,200 kg ()
    Powerplant: 2× Glushenkov GTD-3F turboshafts
    Performance

    Maximum speed: 220 km/h (118 knots, 135 mph)
    Range: 400 km (216 nm, 247 mi)



    KA-28


    Trực thăng Ka-28 được Việt Nam đưa vào sử dụng với nhiệm vụ tuần tra bờ biển và cứu hộ, đây là loại trực thăng có cánh quạt đồng trục rất đặc biệt.





    Crew: Two
    Capacity: 12 passengers
    Length: 9.7 m (31 ft 9 in)
    Rotor diameter: 15.7 m (51 ft 6 in)
    Height: 5.4 m (17 ft 8 in)
    Empty weight: 4,765 kg ()
    Loaded weight: 7,200 kg ()
    Powerplant: 2× Glushenkov GTD-3F turboshafts
    Performance

    Maximum speed: 220 km/h (118 knots, 135 mph)
    Range: 400 km (216 nm, 247 mi)



    KA-32


    Kamov Ka-32 (tên gọi NATO là “HelixC”) là loại máy bay trực thăng phổ thông có nhiều tính năng đặc biệt, dựa trên mẫu máy bay quân sự Ka-27. Các mẫu phiên bản như trực thăng Ka 32A, Ka 32T còn nhận được chứng nhận của Nga vào tháng 6/1993 tương đương với tiêu chuẩn bay US Far Pt 29/Pt 33 và nó được trang bị hệ thống điện tử hàng không chuyên nghiệp.


    DO THÁM


    M-400


    Máy bay không người lái (unmanned aerial vehicle, UAV) hiện đang là một trong những công nghệ hàng không hiện đại hàng đầu. Không chỉ là một công cụ đắc lực cho hoạt động an ninh quốc phòng, nó còn phục vụ một cách hữu hiệu cho đời sống xã hội.

    Việt Nam cũng có dấu hiệu cho thấy giới lãnh đạo đang hứng thú đối với công nghệ UAV. Theo các tin tức ít ỏi được tiết lộ, vào năm 2006, Viện Kỹ thuật Phòng không - Không quân đã cho thử nghiệm hai chiếc UAV, mang tên M400-CT, do chính viện thiết kế và chế tạo [6]. Do vấn đề thiếu thiết bị để tự tạo bộ điều khiển cũng như các thiết bị cơ khí khác dành riêng cho ngành hàng không, quá trình lắp ráp chiếc M400-CT gặp rất nhiều khó khăn.

    Trước M400-CT thì Việt Nam cũng đã cho thử nghiệm chiếc thủy phi cơ VNS-41 vào tháng 12, 2004 [7]. VNS-41 cũng đã từng trải qua những khó khăn mà M400-CT gặp phải. Tính từ ngày dự án được phê chuẩn bởi Quân ủy Trung ương, 4/3/1978, VNS-41 đã mất hơn 26 năm mới được xem là thành công.


    ?


    AN-30


    Antonov An-30 (tên ký hiệu của NATO: Clank) là một loại máy bay chuyên đo đạc bản đồ từ trên không được thiết kế và sản xuất trên cơ sở phát triển 2 loại máy bay gồm Antonov An-24 và Antonov An-26. Ngoài ra, một phiên bản đặc biệt của An-30 để chở VIP cũng được sản xuất với số lượng hạn chế.





    Thông số kỹ thuật (An-30)
    Dữ liệu lấy từ {Jane's All The World's Aircraft 1988-89}


    Đặc điểm riêng
    Phi đoàn: 7
    Chiều dài: 24.26 m (79 ft 7 in)
    Sải cánh: 29.20 m (95 ft 9½ in)
    Chiều cao: 8.32 m (27 ft 3½ in)
    Diện tích cánh: 75 m² (807 ft²)
    Trọng lượng rỗng: 15.590 kg (34.370 lb)
    Trọng lượng cất cánh: 23.000kg (50.706lb)
    Trọng lượng cất cánh tối đa: n/a
    Động cơ: 2× động cơ phản lực cánh quạt ZMKB Progress AI-24T, 2.103 kW (2.803 ehp) mỗi chiếc

    Hiệu suất bay
    Vận tốc cực đại: 540 km/h (291 knots, 335 mph)
    Vận tốc hành trình: 430 km/h (232 knots, 267 mph)
    Tầm bay: 2.630 km (1.420 nm, 1.634 mi)
    Trần bay: 8.300m (27.230 ft)
    Vận tốc lên cao: n/a
    Lực nâng của cánh: n/a
    Lực đẩy/trọng lượng: n/a

    Vũ khí5 camera cỡ lớn

    HUẤN LUYỆN



    YAK-52


    Yakovlev Yak-52 là một máy bay huấn luyện sơ cấp của Liên Xô. Nó bay lần đầu tiên vaòa năm 1976 và cũng được sản xuất ở Romania, bởi hãng Aerostar. Yak-52 được thiết kế ban đầu như một máy bay huấn luyện nhào lộn cho học viên thuộc tổ chức huấn luyện DOSAAF của Liên Xô. Ở tổ chức này, người ta huấn luyện cả phi công thể thao dân sự và phi công quân sự. Loại máy bay này được sử dụng ở các nước khác nhằm mục đích chính là huấn luyện quân sự.




    Thông số kỹ thuật

    Đặc điểm riêng
    Phi đoàn: 2
    Chiều dài: 7.745 m (25 ft 5 in)
    Sải cánh: 9.3 m (30 ft 6 in)
    Chiều cao: 2.7 m (8 ft 10 in)
    Diện tích : 15 m² (161.5 ft²)
    Trọng lượng rỗng: 1,015 kg (2,238 lb)
    Trọng lượng cất cánh: n/a
    Trọng lượng cất cánh tối đa: 1,305 kg (2,877 lb)
    Động cơ: 1× Vedeneyev M-14P, 266 kW (360 hp)

    Hiệu suất bay
    Vận tốc cực đại: 272 km/h (147 kts)
    Tầm bay: 510 km
    Trần bay: 4,000 m (13,123 ft)
    Vận tốc lên cao: 7 m/s (1400 ft/mn)
    Lực nâng của cánh: n/a
    Lực đẩy/trọng lượng: n/a



    L-39


    Aero L-39 Albatros là một chiếc máy bay huấn luyện đa tính năng được phát triển tại Tiệp Khắc để đáp ứng các yêu cầu cho loại "C-39" (C viết tắt của Cvičný - huấn luyện) trong thập niên 1960 để thay thế chiếc L-29 Delfín. Đây là chiếc đầu tiên của thế hệ máy bay huấn luyện phản lực thứ hai, và là chiếc máy bay huấn luyện sớm nhất được trang bị động cơ tuốc bin phản lực cánh quạt, và sau này được nâng cấp thành loại L-59 Super Albatros và L-139. Mẫu thiết kế này vẫn đang được chế tạo ở tình trạng được nâng cấp thành L-159 Alca, 2.800 chiếc L-39 vẫn hoạt động trong hơn 30 lực lượng không quân trên khắp thế giới. Chiếc Albatros rất linh hoạt, có thể đảm đương các phi vụ tấn công hạng nhẹ ban ngày cũng như vai trò huấn luyện phi công, và vai trò thông thường nhất của nó là máy bay huấn luyện.






    AN-2


    (nickname tiếng Nga: кукуру́зник kukuruznik - một nông trang viên trồng ngô (kế thừa từ Polikarpov Po-2) cũng được gọi là Annushka; tên hiệu NATO Colt) là một loại máy bay hai tầng cánh nhẹ, một động cơ, có độ tin cậy rất cao, cất cánh lần đầu năm 1947 và là máy bay đầu tiên được thiết kế bởi Antonov. Nó được sử dụng như một máy bay vận tải hạng nhẹ, có thể chở 12 hành khách, và để chở các đơn vị lính dù cũng như hoạt động trong nông nghiệp. Khả năng bay rất chậm và cất hạ cánh đường băng ngắn của nó khiến nó rất thích hợp để hoạt động tại các đường băng ngắn và dã chiến, và một số biến thể đặc biệt của nó đã được chế tạo để hoạt động tại các điều kiện thời tiết khắc nghiệt. Sách Kỷ lục Guinness đã ghi kỷ lục An-2 là máy bay được chế tạo với thời gian lâu nhất - 45 năm.




    Thông số kỹ thuật (An-2)


    Đặc điểm riêng
    * Phi đoàn: 1-2
    * Sức chứa: 12 hành khách
    * Chiều dài: 12.4 m (40 ft 8 in)
    * Sải cánh:
    o Cánh trên: 18.2 m (59 ft 8 in)
    o Cánh dưới: 14.2 m (46 ft 9 in)
    * Chiều cao: 4.1 m (13 ft)
    * Diện tích cánh: 71.52 m² (ft²)
    * Trọng lượng rỗng: 3.300 kg (7.300 lb)
    * Trọng lượng cất cánh: 5.500 kg (12.000 lb)
    * Trọng lượng cất cánh tối đa: n/a
    * Động cơ: 1× động cơ bố trí tròn tăng nạp Shvetsov ASh-62R, 1.000 hp (750 kW)


    Hiệu suất bay

    * Vận tốc cực đại: 258 km/h (139 knots, 160 mph)
    * Vận tốc hành trình: 190 km/h (100 knots, 120 mph)
    * Vận tốc chòng chành: ~50 km/h (26 knots, 30 mph)
    * Tầm bay: 845 km (456 nm, 525 mi)
    * Trần bay: 4.500 m (14.750 ft)
    * Vận tốc lên cao: 3.5 m/s (700 ft/min)
    * Lực nâng của cánh: n/a
    * Lực đẩy/trọng lượng: 140 W/kg (0.83 hp/lb)
    VẬN TẢI


    UH-1

    The Bell Helicopter UH-1 Iroquois, commonly (or officially in the United States Marine Corps) known as the "Huey", is a multipurpose military helicopter, famous for its use in the Vietnam War.

    The UH-1 was developed from 1955 US Army trials with the Bell Model 204. The initial designation of HU-1 (helicopter utility) led to its nickname, Huey. The nickname became so popular that Bell started putting the Huey name on the anti-torque pedals.

    The aircraft was first used by the military in 1959 and went into tri-service production in 1962 as the UH-1. The last were produced in 1976 with more than 16,000 made in total, of which about 7,000 saw use during the Vietnam War.

    In Vietnam, 2,202 Huey pilots were killed and approximately 2,500 aircraft were lost, roughly half to combat and the rest to operational accidents.




    Đặc điểm kỹ thuật (UH-1)

    Đặc điểm chung:
    Đội bay: 1-4
    Sức chứa: 3,880 lb bao gồm 14 lính, hoặc 6 bị thương, hoặc hàng hóa tương đương
    Chiều dài: 17.4m (57 ft 1 in)
    Chiều rộng: 2.6m (8 ft 7 in)
    Sải cánh: 14.6 m (48 ft 0 in)
    Chiều cao: 4.4 m (14 ft 5 in)
    Trọng lượng rỗng: 2,365 kg (5,215 lb)
    Trọng tải: 4,100 kg (9,040 lb)
    trọng lượng cất cánh tối đa: 4,310 kg (9,500 lb)
    Động cơ: 1× Lycoming T53-L-11 turboshaft
    Công suất: 820 kW (1,100 sức ngựa )

    Hiệu suất bay

    * Vận tốc cực đại: 220 km/h (220 mph)
    * Vận tốc hành trình: 205 km/h (125 mph)
    * Tầm bay: 510 km (315 mi)
    * Trần bay: 5,910 m (19,390 ft)
    * Vận tốc lên cao: 8.9 m/s (1,755 ft/min)
    * Lực nâng của cánh: n/a
    * Lực đẩy/trọng lượng: 0.25 W/kg (0.15 hp)

    Trang bị vũ khí:
    o 2 súng máy 7.62 mm M60 hoặc 2 súng máy 7.62 mm GAU-17/A
    2x 7-round or 19-round 2.75 in (70 mm) rocket pods
    2x 7.62 mm Rheinmetall MG3 (German Army and German Luftwaffe)



    AN-38


    Antonov An-38 (tên ký hiệu của NATO: Cash) là một phiên bản cải tiến và mở rộng của loại An-28 của Antonov trước đó. Nó là một máy bay vận tải sử dụng hai động cơ tuốc bin cánh quạt do phòng thiết kế Antonov tại Kiev, Ukraine chế tạo. Loại máy bay này được dự định thay thế cho loại máy bay cũ có cùng kích thước và tầm hoạt động. Công việc chế tạo diễn ra tại Novosibirsk, Nga, nhưng một số phần quan trọng cũng được sản xuất tại Ukraine và Belarus. Chiếc máy bay này cất cánh lần đầu năm 1994, và đã nhận được chứng nhận bay quốc tế tháng 4 năm 2000. Tổng cộng 11 chiếc đã được chế tạo và 6 chiếc đang hoạt động hàng không cho tới thời điểm tháng 8 năm 2006




    Đặc điểm kỹ thuật (An-38-100)

    Đặc điểm chung
    Đội bay: 2
    Sức chứa: 27
    Tải trọng: 2.500kg (5.500lb)
    Chiều dài: 15.67m (5ft 5in)
    Sải cánh: 22.06m (75ft 5in)
    Chiều cao: 4.60m (15ft 1in)
    Diện tích cánh: m² (ft²)
    Trọng lượng rỗng: 5.300kg (12.000lg)
    Trọng lượng cất cánh tối đa: 9.500kg (21.000lb)
    Động cơ: 2 động cơ tuốc bin cánh quạt Honeywell TPE331-14GR-801E

    Tính năng
    Tốc độ tối đa: 405km/h (220 knots, 250 mph)
    Tốc độ bay tiết kiệm nhiên liệu: 380km/h (205 knots, 235 mph)
    Tầm hoạt động: 945km (510 nm, 590 mi)
    Trần bay: m (ft)


    AN-24

    Antonov An-24 (Tên hiệu NATO: "Coke") là một máy bay vận tải 44 chỗ hai động cơ tuốc bin cánh quạt được sản xuất tại Liên bang Xô viết (nay là Ukraine) bởi Phòng Thiết kế Antonov.



    Thông số kỹ thuật (An-24)

    Đặc điểm riêng
    Phi đoàn: 3-4: 2 pphi công, 1 kỹ sư máy, (tuỳ chọn) 1 sỹ quan radio
    Sức chứa: 52 hành khách
    Trọng tải: 5.500 kg (12.000 lb)
    Chiều dài: 23.53 m (77 ft 3 in)
    Sải cánh: 29.20 m (95 ft 10 in)
    Chiều cao: 8.32 m (27 ft 4 in)
    Diện tích cánh: 75.0 m² (807 ft²)
    Trọng lượng rỗng: 13.300 kg (29.300 lb)
    Trọng lượng cất cánh: n/a
    Trọng lượng cất cánh tối đa: 21.000 kg (46.000 lb)
    Động cơ: 2× động cơ phản lực cánh quạt Ivchenko AI-24A, 2.820 ehp (2.100 kW) mỗi chiếc

    Hiệu suất bay
    Vận tốc cực đại: 500 km/h (270 knots, 310 mph)
    Vận tốc hành trình: 450 km/h (240 knots, 280 mph)
    Tầm bay:
    Tối đa trọng tải: 550 km (300 nm, 340 mi)
    Tối đa nhiên liệu: 2.400 km (1.300 nm, 1.500 mi)
    Trần bay: 4.000 đến 6.000 m (13.000 to 19.700 ft)
    Vận tốc lên cao: n/a
    Lực nâng của cánh: n/a
    Lực đẩy/trọng lượng: n/a


    AN-26



    Antonov An-26 (tên ký hiệu của NATO: "Curl") là một máy bay vận tải hạng nhẹ hai động cơ phản lực cánh quạt, được phát triển từ Antonov An-24, với những sửa đổi đặc biệt để sử dụng trong quân sự. Lần đầu tiên xuất hiện vào năm 1969 tại Triển lãm hàng không Pari, nó được sửa đổi phần thân phía sau với một thang chất hàng hóa lớn. An-26 cũng được sản xuất tại Trung Quốc mà không có giấy phép bởi hãng Xian Aircraft Factory, phiên bản của Trung Quốc có tên là Y-14, tuy nhiên tên gọi này sau đó thay đổi chuyển cho seri Y-7.




    Thông số kỹ thuật (An-26)

    Đặc điểm riêng
    Phi đoàn: 4 (2 phi công, 1 phi công trực radar/kỹ sư, 1 người dẫn đường)
    Sức chứa: 40 hành khách
    Trọng tải: 5.500 kg (12.000 lb)
    Chiều dài: 23.8 m (78 ft 1 in)
    Sải cánh: 29.2 m (95 ft 9½ in)
    Chiều cao: 8.32 m (27 ft 3½ in)
    Diện tích cánh: 74.98 m² (ft²)
    Trọng lượng rỗng: 15.020 kg (33.110 lb)
    Trọng lượng cất cánh: 19.520 kg (43.010 lb)
    Trọng lượng cất cánh tối đa: 24.000 kg (53.000 lb)
    Động cơ: 2× động cơ phản lực cánh quạt Progress AI-24VT 2075kW và 1× động cơ phản lực RU-19-300 8.8kW

    Hiệu suất bay
    Vận tốc cực đại: 540 km/h (336 mph)
    Vận tốc hành trình: 440 km/h (240 knots, 275 mph)
    Tầm bay:
    Nhiên liệu tối đa: 2.550 km
    Tải tối đa: 900 đến 1100 km
    Trần bay: 7500 m (17.000 ft)
    Vận tốc lên cao: n/a
    Lực nâng của cánh: n/a
    Lực đẩy/trọng lượng: n/a


    M-28


    The PZL M28 Skytruck is a Polish STOL light cargo and passenger plane, produced by PZL Mielec, as a development of licence-built Antonov An-28. Early licence-built planes were designated PZL An-28. It has also maritime patrol and reconnaissance variants. In the Polish Navy they are named Bryza ("sea breeze").




    Thông số kỹ thuật (M-28)

    Đặc điểm riêng
    Phi đoàn: 2
    Sức chứa: 18 lính hoặc 12 người bị thương
    Chiều dài: 13.1 m (42 ft 11½ in)
    Sải cánh: 22.06 m (72 ft 5 in)
    Chiều cao: 4.9 m (16 ft 1 in)
    Diện tích cánh: 39.7 m² (427.51 ft²)
    Trọng lượng rỗng: 3,083 kg (6,782 lb)
    Trọng lượng cất cánh: 3,917 kg (8,635 lb)
    Trọng lượng cất cánh tối đa: 7,000 kg (15,432 lb)
    Động cơ: 2× động cơ phản lực cánh quạt Canada PT6A-65B, 820 kW (1,100 shp) mỗi chiếc

    Hiệu suất bay
    Vận tốc cực đại: 350 km/h (189 kt)
    Vận tốc hành trình: 350 km/h (189 kt)
    Tầm bay: 1,365 km (737 nm)
    Trần bay: n/a
    Vận tốc lên cao: n/a
    Lực nâng của cánh: n/a
    Lực đẩy/trọng lượng: n/a


    MI-8


    Mil Mi-8 (tên hiệu NATO "Hip") là một máy bay trực thăng lớn hai động cơ. Mẫu một động cơ đầu tiên (AI-24W), W-8, cất cánh ngày 9 tháng 7, 1961. Chiếc thứ hai với hai động cơ AI-24W cất cánh lần đầu ngày 17 tháng 9, 1962. Sau khi được sửa đổi một số chi tiết, nó được đưa vào phục vụ trong Không quân Sô viết năm 1967 với cái tên Mi-8. Có rất nhiều biến thể, gồm Mi-8T ngoài khả năng vận chuyển 24 binh sĩ còn được trang bị các tên lửa điều khiển chống tăng. Kiểu Mil Mi-14 dùng cho hải quân, và kiểu Mil Mi-24 tấn công cũng là biến thể từ loại Mi-8.




    Đặc điểm kỹ thuật (Mil 8-T)

    * đội bay=Ba người – hai phi công và một kỹ sư
    * sức chứa=24 hành khách hay 3,000 kg (6,600 lb) bên trong và các điểm treo bên ngoài.
    * chiều dài chính=18.2 m
    * chiều dài quy đổi=59 ft 8 in
    * sải cánh=21.3 m
    * sải cánh quy đổi=69 ft 11 in
    * chiều cao chính=3.00 m
    * chiều cao quy đổi=9 ft 10 in
    * diện tích chính=356 m²
    * diện tích quy đổi=3,830 ft²
    * trọng lượng rỗng chính=6,990 kg
    * trọng lượng rỗng quy đổi=15,410 lb
    * trọng lượng chất tải chính=11,100 kg
    * trọng lượng chất tải quy đổi=24,500 lb
    * trọng lượng cất cánh tối đa chính=12,000 kg
    * trọng lượng cất cánh tối đa quy đổi=26,500 lb
    * thông tin thêm=
    * động cơ (cánh quạt)=Klimov TV2-117
    * kiểu cánh quạt=turbin cánh quạt phản lực
    * số lượng cánh quạt=2
    * công suất chính=1,105 kW
    * công suất quy đổi=1,482 shp
    * tốc độ tối đa chính=250 km/h
    * tốc độ tối đa quy đổi=156 mph
    * tầm bay chính=450 km
    * tầm bay quy đổi=280 mi
    * trần bay chính=4,500 m
    * trần bay quy đổi=14,760 ft
    * tốc độ lên chính=9 m/s
    * tốc độ lên quy đổi=1,770 ft/min
    * chất tải chính=
    * chất tải quy đổi=
    * công suất/khối lượng chính=
    * công suất/khối lượng quy đổi=
    * tính năng thêm=
    * Tiêu thụ nhiên liệu: 600 kg/hr (1,320 lb/hr)

    trang bị vũ khí
    * 57 mm rockets, bom, hay AT-2 Swatter ATGM.


    MI-17


    Phiên bản cải tiến của Mi-8 là máy bay trực thăng đa chức năng Mi-17 cũng được gọi là Mi-8TMB. Nó được thiết kế đặc biệt để cải tiến các tính năng ở độ cao lớn và trong các điều kiện thời tiết nóng. Mi-17 có thể được phân biệt so với Mi-8 nhờ các bộ lọc không khí được lắp thêm ở các cửa hút gió turbine, cũng như cánh quạt đuôi ở bên trái, vì động cơ trục turbo TB-3-117A mạnh hơn được trang bị cho nó đòi hỏi.




    Đặc điểm kỹ thuật (Mi-17)

    * đội bay=Ba người – hai phi công và một kỹ sư
    * sức chứa=24 hành khách hay 3,000 kg (6,600 lb) bên trong và các điểm treo bên ngoài.
    * chiều dài chính=18.2 m
    * chiều dài quy đổi=59 ft 8 in
    * sải cánh=21.3 m
    * sải cánh quy đổi=69 ft 11 in
    * chiều cao chính=3.00 m
    * chiều cao quy đổi=9 ft 10 in
    * diện tích chính=356 m²
    * diện tích quy đổi=3,830 ft²
    * trọng lượng rỗng chính=6,990 kg
    * trọng lượng rỗng quy đổi=15,410 lb
    * trọng lượng chất tải chính=11,100 kg
    * trọng lượng chất tải quy đổi=24,500 lb
    * trọng lượng cất cánh tối đa chính=12,000 kg
    * trọng lượng cất cánh tối đa quy đổi=26,500 lb
    * thông tin thêm=
    * động cơ (cánh quạt)=Klimov TV2-117
    * kiểu cánh quạt=turbin cánh quạt phản lực
    * số lượng cánh quạt=2
    * công suất chính=1,105 kW
    * công suất quy đổi=1,482 shp
    * tốc độ tối đa chính=250 km/h
    * tốc độ tối đa quy đổi=156 mph
    * tầm bay chính=450 km
    * tầm bay quy đổi=280 mi
    * trần bay chính=4,500 m
    * trần bay quy đổi=14,760 ft
    * tốc độ lên chính=9 m/s
    * tốc độ lên quy đổi=1,770 ft/min
    * chất tải chính=
    * chất tải quy đổi=
    * công suất/khối lượng chính=
    * công suất/khối lượng quy đổi=
    * Tiêu thụ nhiên liệu: 600 kg/hr (1,320 lb/hr)

    trang bị vũ khí
    * 57 mm rockets, bom, và AT-2 Swatter ATGM.

    AS-332L2


    The Eurocopter Super Puma is a four-bladed, twin-engine, medium-size utility helicopter marketed for civil and military use. Originally designed and built by Aérospatiale as the AS 332 Super Puma, it is an enlarged and re-engined version of the original Aérospatiale Puma. The Super Puma first flew on September 13 1978.


    Thông số kỹ thuật (AS-332L2)

    * Tổ lái: 2
    * Sức chứa: 24
    * Chiều dài: 16.3 m (53 ft 5 in)
    * Rotor diameter: 15.6 m (51 ft 2 in)
    * Chiều cao: 4.6 m (15 ft 1 in)
    * Disc area: 191 m² (2,056 ft²)
    * Trọng tải: 4,460 kg (9,812 lb)
    * Trọng lượng cất cánh tối đa: 8,600 kg (18,940 lb)
    * Động cơ: 2× động cơ 1A1 turboshafts, 1,357 kW (1,819 shp) mỗi chiếc


    Hiệu suất bay:


    * Vận tốc cực đại: 278 km/h (174 mph)
    * Tầm bay: 831 km (519 mi)
    * Trần bay: 7,200 m (19,750 ft)
    * Tốc độ bay lên : 8.2 m/s (1,614 ft/min)


    SA-330J


    The Aérospatiale Puma is a four-bladed, twin-engined medium transport/utility helicopter. The Puma was originally manufactured by Sud Aviation of France under the designation SA 330.


    Thông số kỹ thuật (SA 330 Puma)

    Đặc điểm riêng
    * Tổ lái: 3
    * Sức chứa: 16 passengers
    * Chiều dài: 18.15 m (59 ft 6 in)
    * Sải cánh: 15.0 m (49 ft 3 in)
    * Chiều cao: 5.14 m (16 ft 10 in)
    * Disc area: 176.71 m² (1,905 ft²)
    * Trọng tải: 3,770 kg (8,310 lb)
    * Trọng lượng cất cánh tối đa: 7,400 kg (16,300 lb)
    * Động cơ: 2 động cơ Turmo IVC turboshafts, 1,175 kW (1,575 hp) mỗi chiếc

    Hiệu suất bay:

    * Vận tốc cực đại: 258 km/h (139 knots, 177 mph)
    * Tầm bay: 780 km (430 nm, 500 mi)
    * Trần bay: 4,800 m (15,750 ft)
    * Tốc độ bay lên: 9.2 m/s (1,810 ft/min)

    Vũ khí:

    * Súng:
    o Coaxial 7.62 mm (0.30 in) machine guns
    o Side-firing 20 mm (0.787 in) cannon


    IL-14



    Ilyushin Il-14 (Tên hiệu NATO Crate) là một loại máy bay chở hàng quân sự và hành khách thương mại hai động cơ của Xô viết cất cánh lần đầu năm 1950 và đi vào phục vụ năm 1954. Il-14 cũng được chế tạo tại Đông Đức bởi VVB Flugzeugbau, tại Tiệp Khắc bởi Avia 14, và tại Trung Quốc dưới tên định danh Trung Quốc Y-6.





    Đặc điểm kỹ thuật (Il-14)


    Đặc điểm chung
    * Phi đội: bốn người (phi hành đoàn)
    * Sức chở: 24-28 hành khách
    * Chiều dài: 22.30 m (73 ft 2 in)
    * Sải cánh: 31.70 m (104 ft 0 in)
    * Chiều cao: 7.90 m (25 ft 11 in)
    * Diện tích cánh: 99.7 m² (1.073 ft²)
    * Trọng lượng rỗng: 12.600 kg (27.778 lb)
    * Trọng lượng chất tải: kg (lb)
    * Trọng lượng cất cánh tối đa: 18.000 kg (39.683 lb)
    * Động cơ: 2 động cơ xuyên tâm 14 xi lanh làm mát bằng không khí Shvetsov ASh-82T, 1.417 kW (1.900 hp) mỗi chiếc

    Thao diễn
    * Tốc độ tối đa: 417 km/h (225 knots, 259 mph)
    * Tầm hoạt động: 1.305 km (705 nm, 811 mi)
    * Trần bay: 7.400 m (24.280 ft)
    MÁY BAY VIỆT NAM

    [hide=0]
    VNS-41


    VNS-41 là máy bay lưỡng dụng (thủy phi cơ) nhẹ được nhà máy A41 thuộc cục Kỹ thuật Quân chủng Phòng không - Không quân nghiên cứu sản xuất dựa vào kiễu máy bay của Nga là Che-22 "Korvet" mà Việt Nam đã mua lại từ Philippines.[1]. Đây là một loại máy bay có thể hạ cánh trên mặt đất và mặt nước. Cho đến nay, đây là loại máy bay được sản xuất thành công và được đưa vào sử dụng thương mại tại Việt Nam.

    Máy bay dài 6,970 mét, cao 2,535 mét, tầm bay tối đa 200-300 km, trần bay 3.000m và chở được 2 đến 3 người. Máy bay được gắn hai động cơ Rotax-582 (64 sức ngựa) của Áo.

    Máy bay sẽ được dùng cho tuần tra rừng và các mục đích nông nghiệp cũng như cho thể thao, du lịch và sử dụng thương mại. Máy bay có bình trữ nhiên liệu có khả năng chứa 80 lít, cho phép nó bay trong 4 tiếng đồng hồ và có thể bay được với vận tốc từ 120 đến 135 km một giờ. Máy bay cần lấy đà khoảng từ 50 đến 70 trên mặt đất để cất cánh và 200 đến 300 mét dưới mặt nước. Trọng lượng cất cánh tối đa là 780 kg. Toàn bộ thân chính, thân đuôi, cánh giữa của máy bay được làm bằng vật liệu composite cao cấp với mức độ nội địa hóa là 70%.

    Dự án phát triễn máy bay này bắt đầu vào tháng 6 năm 2003 và tháng 9 năm 2005 thì thực hiện chuyến bay thử nghiệm đầu tiên





    M-400UAV
    MỘT SỐ LOẠI KHÁC



    A-37


    The Cessna A-37 Dragonfly, or Super Tweet, is a United States light attack aircraft developed from the T-37 Tweet basic trainer in the 1960s and 1970s. The A-37 served with distinction during the Vietnam War and in peacetime service afterwards.




    Specifications (A-37B Dragonfly)
    Dorsally projected diagram of the T-37B "Tweet" and A-37B "Super Tweet".


    General characteristics


    * Crew: 2
    * Length: 32 ft 1 in (9.79 m)
    * Wingspan: 38 ft 5 in (11.71 m)
    * Height: 9 ft 3 in (2.82 m)
    * Wing area: 184 ft² (17.1 m²)
    * Empty weight: 6,210 lb (2,815 kg)
    * Max takeoff weight: 15,000 lb (6,800 kg)
    * Powerplant: 2× General Electric J85-GE-17A turbojets, 2,855 lbf (12.7 kN) each

    Performance

    * Maximum speed: 480 mph (420 knots, 770 km/h)
    * Cruise speed: 300 mph (260 knots, 480 km/h)
    * Range: 800 nm (920 mi, 1,480 km)
    * Service ceiling 41,800 ft (12,700 m)
    * Rate of climb: 7,000 ft/min (35.5 m/s)

    Armament
    One GAU-2B/A 7.62mm Minigun mounted in the nose. Four pylons under each wing can carry a range of weapons including 30mm DEFA-553 cannon, 20mm GPU-2/A cannon, the SUU-11/A 7.62mm Minigun pod, 19 shot LAU-32A 2.75 in. rocket pods, Mk.82 bombs, napalm tanks, SUU-14 bomblet dispensers, multiple Ejection Racks with four 500 lb bombs, and AIM-9 Sidewinder missiles.


    A-1


    Chiếc Douglas A-1 (trước đây là AD) Skyraider (Kẻ cướp trời) là một máy bay ném bom cường kích một chỗ ngồi của Hoa Kỳ trong những năm 1950, 1960 và đầu những năm 1970. Một chiếc máy bay động cơ piston cánh quạt lạc loài trong thời đại phản lực, Skyraider có một khoảng thời gian phục vụ dài và thành công kéo dài đến tận thời đại không gian, là nguồn cảm hứng cho việc thiết kế các kiểu máy bay cường kích phản lực thế hệ mới có cánh thẳng và bay chậm hiện vẫn còn đang phục vụ trên tuyến đầu.

    Nó được mang hằng loạt các tên lóng khác nhau: "Spad" (vì giống những kiểu máy bay trong Thế Chiến I), "Able ", "Destroyer," "Hobo", "Firefly", "Zorro", "The Big Gun," "Old Faithful," "Old Miscellaneous," "Fat Face" (AD-5/A-1E, hai chỗ ngồi cạnh nhau), "Guppy" (AD-5W), "Q-Bird" (AD-1Q/AD-5Q), "Flying Dumptruck" (A-1E), "Sandy" (hộ tống máy bay trực thăng tìm kiếm và giải cứu) và "Trâu Điên" (Nam Việt Nam).




    Đặc điểm kỹ thuật (A-1H Skyraider)

    Đặc tính chung

    * Đội bay: 01 người
    * Chiều dài: 11,84 m (38 ft 10 in)
    * Sải cánh: 15,25 m (50 ft 0 in)
    * Chiều cao: 4,78 m (15 ft 8 in)
    * Diện tích bề mặt cánh: 37,19 m² (400,31 ft²)
    * Lực nâng của cánh : 220 kg/m² (45 lb/ft²)
    * Trọng lượng không tải: 5.430 kg (11.970 lb)
    * Trọng lượng có tải: trinh sát 6.315 kg (13.925 lb); ném bom 8.180 kg (18.030 lb)
    * Trọng lượng cất cánh tối đa: 11.340 kg (25.000 lb)
    * Động cơ: 1 x động cơ Wright R-3350-26WA bố trí hình tròn, công suất 2.700 mã lực (2.000 kW)

    Đặc tính bay

    * Tốc độ lớn nhất: 520 km/h (280 knot, 320 mph)
    * Tốc độ bay đường trường: 475 km/h (256 knot, 295 mph)
    * Tầm bay tối đa: 2.115 km (1.142 nm, 1.315 mi)
    * Trần bay: 8.660 m (28.500 ft)
    * Tỉ lệ công suất/khối lượng: 0,25 kW/kg (0,15 hp/lb)

    Vũ khí

    * 4 x pháo 20 mm (0,787 in)
    * 3.600 kg (8.000 lb) vũ khí gắn trên 15 đế bao gồm: bom, ngư lôi, mìn, rocket, hay giá súng rời



    MI-6


    Mil Mi-6 (tên hiệu của NATO "Hook") là một máy bay trực thăng vận tải hạng nặng của Xô viết/Nga do phòng thiết kế Mil thiết kế và chế tạo để hoạt động cả trong vai trò quân sự và dân sự.




    Đặc điểm kỹ thuật (Mi-6)

    * Phi đội: 5 người
    * Sức chở: 61 lính lên tới 12,000 kg (26,400 lb) hàng
    * Chiều dài: 33.18 m (108 ft 10 in)
    * Sải cánh: 35.00 m (114 ft 10 in)
    * Chiều cao: 9.86 m (32 ft 4 in)
    * Diện tích cánh: 962 m² (10,350 ft²)
    * Trọng lượng rỗng: 26,500 kg (58,400 lb)
    * Trọng lượng chất tải: 39,700 kg (87,500 lb)
    * Trọng lượng cất cánh tối đa: 41,700 kg (91,900 lb)
    * Động cơ (cánh quạt): Soloviev D-25V
    * Kiểu cánh quạt: Tuốc bin trục
    * Số lượng cánh quạt: 2
    * Công suất: 4,100 kW (5,500 shp) mỗi chiếc
    * Tốc độ tối đa: 300 km/h (188 mph)
    * Tầm hoạt động: 500 km (310 mile)
    * Trần bay: 4,500 m (14,800 ft)
    * Chất tải cánh: 41 kg/m² (8 lb/ft²)
    * Công suất/trọng lượng: 0.21 kW/kg (0.13 hp/lb)


    MI-4


    The Mil Mi-4 (originally known to US intelligence as the Type-36 and later by the NATO reporting name "Hound") was a Soviet transport helicopter that served in both military and civilian roles.




    Specifications (Mi-4A)

    General characteristics

    * Crew: One or two pilots
    * Capacity: 16 troops or up to 1,600 kg (3,520 lb) of cargo
    * Length: 26.80 m (87 ft 11 in)
    * Rotor diameter: 21.00 m (68 ft 11 in)
    * Height: 4.40 m (14 ft 5 in)
    * Disc area: 346.4 m² (3,727 ft²)
    * Empty weight: 5,100 kg (11,220 lb)
    * Loaded weight: 7,150 kg (15,730 lb)
    * Max takeoff weight: 7,550 kg (16,610 lb)
    * Powerplant: 1× Shvetsov ASh-82V radial engine, 1,250 kW (1,675 hp)

    Performance

    * Maximum speed: 185 km/h (116 mph)
    * Range: 500 km (313 mi)
    * Service ceiling 5,500 m (18,040 ft)
    * Rate of climb: m/s (ft/min)
    * Disc loading: 41 kg/m² (8 lb/ft²)
    * Power/mass: 0.21 kW/kg (0.13 hp/lb)


  3. #3
    Ngày gia nhập
    Apr 2009
    Nơi cư ngụ
    thiền
    Bài gửi
    488
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    2
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    1 Thread(s)
    Trích dẫn Nguyên văn bởi Sutrovekydieu Xem Bài gửi



    .....

    HÃY YÊN LÒNG MẸ ƠI
    Vai khiêng trái đất mong phò chúa,
    Giáp gột sông trời khó vạch mây
    (đặng dung)

  4. #4
    Ngày gia nhập
    Aug 2009
    Bài gửi
    1.321
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    0
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)
    Hè Hè, lúc nhỏ mình có diệp vào xưởng sửa chửa máy bay, do có anh người bạn dẫn vào, do ở nhà quậy quá không ai trônng nên dẫn theo. Mình có trèo lên chiếc L39. nhìn vào toàn là đông hồ, cân lái giống như cân số xe hơi vậy nhưng cao hơn, đặt biệt ở dưới ghế có 2 cái quai nắm màu đỏ, mình tính giật thử xem, thì lúc đó anh cậu bạn mình cũng vừa trèo lên, ảnh thấy ổng la làng " đã bảo cho ngồi xem không rờ mó lung tung, mà rờ mó cái gì lại rờ mó cái của nợ đó, cái đó mày mà giật là mày bay lên trời luôn đó, còn máy bay thì nổ tung luôn" mình lúc đó không biết là cái gì, lúc ăn cơm ổng mới nói " khi máy bay gặp sự cố thì kéo hai tay nắm đó lên, thì cả ghế và người sẽ thoát khỏi máy bay, máy bay sẻ tự hủy, ở trong ghế có sẳn dù", bầy giờ nghĩ lại hú hồn.

  5. #5
    Ngày gia nhập
    Aug 2009
    Bài gửi
    586
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    0
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)
    sao ko kéo luôn để đc ghi tên vào "những tổn thất và vinh quang"
    [LEFT][SIZE=4][U] [COLOR=Red]Hải chiến khi xưa vẫn còn[/COLOR][/U][/SIZE][SIZE=4][COLOR=Red] đó
    [U] Oan hồn năm nào vướng đâu đây[/U]
    [U] Ai oán tội ác lũ mặt quỷ[/U]
    [U]Gầm gừ liệt tội bọn xâm lăng.[/U]

    [U] Súng chắc trong tay chờ biển gọi[/U]
    [U] Anh em ta thề quyết đáp thù![/U][/COLOR][/SIZE][SIZE=1]
    [/SIZE][CENTER][SIZE=1]-14/03/2010[/SIZE]-
    [/CENTER]
    [/LEFT]

  6. #6
    Ngày gia nhập
    Jul 2009
    Nơi cư ngụ
    64 tỉnh thành trừ Hoàng Sa
    Bài gửi
    1.881
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    0
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)
    Phát ngôn hay, biết đâu bi giờ bạn đã trở thành một trong những anh hùng của KQNDVN

Bookmarks

Quyền hạn Gửi bài

  • Bạn không thể gửi chủ đề
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài của mình
  •