HOANGSA.ORG ĐÃ CHUYỂN SANG DIỄN ĐÀN MỚI- DIỄN ĐÀN CŨ CHỈ ĐỂ LƯU TRỮ KHÔNG THỂ VIẾT BÀI.

ĐỂ ĐI ĐẾN DIỄN ĐÀN MỚI XIN VUI LÒNG CLICK VÀO ĐÂY HTTP://HOANGSA.ORG/F

HOANGSA.ORG ĐÃ CHUYỂN SANG DIỄN ĐÀN MỚI- DIỄN ĐÀN CŨ CHỈ ĐỂ LƯU TRỮ KHÔNG THỂ VIẾT BÀI.

ĐỂ ĐI ĐẾN DIỄN ĐÀN MỚI XIN VUI LÒNG CLICK VÀO ĐÂY HTTP://HOANGSA.ORG/F

User Tag List

Kết quả từ 1 tới 8 trên 8
  1. #1
    Ngày gia nhập
    Oct 2009
    Nơi cư ngụ
    Icachao-becmuda
    Bài gửi
    170
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    0
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)

    Các trận đánh trong chiến tranh Việt Nam

    Trong chiến tranh Việt Nam có những trận đánh, chiến dịch rất hay thể hiên rõ quyết tâm và kinh nghiệm của các tướng lãnh Việt Nam, tuy nhiên trong giới hạn topic này mình chỉ tổng hợp vắn tắt và sơ lược diễn biến, đúc kết những bài học thành công và thất bại của mỗi trận đánh. Do tài liệu có từ nhiều nguồn khác nhau, cần nhiều thời gian để nghiên cứu tổng hợp nên không thể sắp xếp theo từng năm mà mình sẽ làm theo trận đánh, chiến dịch nào đó có thể không theo thứ tự truớc sau. Sau khi hoàn tất mình sẽ chỉnh sửa lại theo cột móc từ năm nào đến năm nào.
    [LEFT][B]"Lịch sử không phải là cái sọt rác để phi tang những sai lầm của quá khứ ...." Dương Trung Quốc.[/B][/LEFT]
    [CENTER]Người đi một nửa hồn tôi mất[/CENTER]
    [CENTER]Một nữa bâng khuân đứng chửi thề [/CENTER]

  2. #2
    Ngày gia nhập
    Oct 2009
    Nơi cư ngụ
    Icachao-becmuda
    Bài gửi
    170
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    0
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)
    Từ ngày 14 đến 17 tháng 11 năm 1965

    Là một trận đánh nằm trong chiến dịch tiến công Plây Me, đối tượng tác chiến là quân Mỹ thuộc lực lượng sư đoàn ky binh bay số 1, sư đoàn lục quân đầu tiên của Mỹ đổ bộ vào miền Nam. Quân Mỹ đổ quân xuống Chư Pông vừa đúng lúc trung đoàn 66 vào đến chiến trường, mặc dù vừa vượt qua chặng đường dài, hành quân bộ, sức khỏe giảm sút nhưng trung đoàn đã bước vào trận đánh với phương châm: "Tìm Mỹ mà diệt” trải qua bốn ngày đêm chiến đấu dũng cảm ngoan cường, cùng với một tiểu đoàn của đơn vị bạn, trung đoàn 66 đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Tiêu diệt tiểu đoàn 2, dành thiệt hại nặng tiểu đoàn 1 thuộc lữ 3, sư đoàn ky binh bay số 1 Mỹ. 34 năm đã trôi qua, nhưng thắng lợi và kinh nghiệm của trận đánh vẫn có giá trì đối với việc giáo dục huấn luyện bộ đội thực hiện nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.


    I. Tình hình chung

    A. Địa hình

    Ia đrăng là thung lũng nằm trong khu vực tứ giác Plây Me - Bầu Cạn - Đức Cơ - Plây Thê, rộng chừng 12 km2, nằm ở tây nam thị xã Plây Cu 45km. Khu vực này độ cao trung bình từ 400 đến 500 mét. Phía nam Iađrăng có dãy núi Chư Pông cao đột xuất (732m) nằm vắt ngang giữa đường biên giới Việt Nam - Cam-pu-chia, phía tây đường số 21 có điểm Chư Ré (725m).

    Rừng ở khu vực này có hai dạng: dạng rừng rậm vừa, kín đáo, loại thứ 2 là rừng thộp tha, trống tri chạy dài hai_ bên bờ sông Iađrăng, có những bãi cỏ cao ngập đầu ngời, tạo điều kiện thuận lợi cho bộ đội ta tiếp cận, bám sát địch mà đánh.


    Pleime camp

    Sân bay dã chiến Đức Cơ
    Sông ngòi: Trong khu vực tác chiến ở phía bắc có sông Iađrăng chảy từ đông sang tây, sông rộng có chỗ tới 100m, khi ta tác chiến đã vào mùa khô nên nhiều chỗ lội qua dễ dàng. Không gây trở ngại nhiều cho việc cơ động.

    Playme camp

    Đức Lập camp
    Tóm lại: Khu vực tác chiến chạy ngay dới phân núi Chư Pông, có nhiều suối nhỏ và rừng cây rậm rạp, nơi này xa các căn cứ hậu phương của địch nên chúng khó triển khai các trận địa pháo để chi viện cho lực lượng bộ binh tiến công.


    Nhằm đối phó với cuộc khủng hoảng ở cao nguyên miền Trung, sư đoàn ky binh số 1 Mỹ sau khi đổ bộ vào Quy Nhơn đã được chuyển lên An Khê, đồng thời địch cũng vận chuyển lên Plây Cu hàng ngàn tấn vật chất ky thuật, tại Plây Ku có sân bay quân sự (sân bay Aréa) để trực tiếp chi viện cho các cuộc hành quân vào sâu trong hậu cứ của ta. Bằng chiến thuật "trực thăng vận" ngày 14 tháng 11 tiểu đoàn 1 lữ đoàn 3 ky binh không vận Mỹ nhay xuống khu vực phía bắc Chư Pông 3km? đồng thời chúng đổ xuống tây nam Quynh Kia và đông nam Iađrăng hai trận địa pháo và tiểu đoàn 2. Tiểu đoàn 3 làm lực lượng dự bị.

    Ngày 12 tháng 11 sau khi nhận nhiệm vụ, trung đoàn quyết tâm cho tiểu đoàn 8 đánh địch vào chiều 13 hoặc sáng ngày 14 tháng 11. Đêm 12 làm xong công tác chuẩn bị, sáng 13 tiểu đoàn 8 và 9 bắt đầu hành quân lên khu vực đông bắc Chư Pông, đồng thời trinh sát ở khu vực (08-96). 11 giờ ngày 13 trinh sát báo cáo địch đã rút khỏi khu vực (08-96) trung đoàn quyết định cho tiểu đoàn 8 tạm dừng ở đông bắc Chư Pông để báo cáo lên cấp trên.

    Ngày 13 tháng 11 trung đoàn 33 vẫn ở đông bắc Chư Pông nên hai trung đoàn ở chen vào nhau.

    Ngày 14 trung đoàn đang điều chỉnh lại vị trí trú quân và nhận nhiệm vụ mới, tiểu đoàn 8 đang hành quân bên Ba Bỉ, tiểu đoàn 9 tiếp tục chuyển gạo lên khu vực (02-96) tiểu đoàn 7 và trung đoàn bộ có bộ phận đang đi lấy gạo và đang đứng chân ở phía bắc Làng Tung 1 và Tung 2 .


    [LEFT][B]"Lịch sử không phải là cái sọt rác để phi tang những sai lầm của quá khứ ...." Dương Trung Quốc.[/B][/LEFT]
    [CENTER]Người đi một nửa hồn tôi mất[/CENTER]
    [CENTER]Một nữa bâng khuân đứng chửi thề [/CENTER]

  3. #3
    Ngày gia nhập
    Oct 2009
    Nơi cư ngụ
    Icachao-becmuda
    Bài gửi
    170
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    0
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)
    Sáng 14 tháng 11 , pháo binh địch ở phía Ia me Plây Nso (04-08) bắn về đông bắc dãy Chư Pông, máy bay trinh sát L19 và trực thăng bay thấp bắn phá. 10 giờ, địch đổ tiểu đoàn 1 (thiếu) thuộc trung đoàn 7 lữ 3 sư đoàn không vận xuống khu vực (02 90 9) đông bắc Chư Pông. Một bộ phận đổ xuống gần tiểu đoàn bộ tiểu đoàn 9 tổ chức một mũi đánh vào đại đội 11 (tiểu đoàn 9) ở phía bắc.

    Từ khi chúng đổ quân và tiến vào, tiểu đoàn 9 không hề biết, mãi tới khì chúng vào gần, bắn chết đồng chí trinh sát cảnh giới phía trước của tiểu đoàn, lúc đó ta mới biết bị địch tập kích.

    Thả dù tiếp tế
    Tình hình tiểu đoàn 9: tiểu đoàn trưởng đang đi gặp trung đoàn trưởng để nhận nhiệm vụ. Tham mưu trưởng tiểu đoàn cung đang đi chuẩn bị chiến trường ở Ban Mê Thuộ1, chính trị viên phó cũng đang ở sở chỉ huy trung đoàn, chính trị viên trưởng đang ở chỗ đại đội 12. Chi huy cao nhất lúc bấy giờ có đồng chí trợ lý tác huấn tiểu đoàn .

    Vì chưa ổn định nên tiểu đoàn bộ bố trí đội hình thành hàng dọc theo bờ suối ở đông bắc Chư Pông, khi địch vào ta bị lúng túng. Nhưng với tinh thần tích cực chiến đấu, linh hoạt, đồng chí trợ lý tác huấn đã ra lệnh cho cán bộ phận gồm y tá, anh nuôi, liên lạc v.v. . . chiếm lĩnh công sự kiên quyết chặn đánh quân địch. Ngay sau khi nổ súng được vài phút, đại đội 13 ở phía nam nghe súng nổ đã kịp thời vận động xuống phối hợp, đại đội 1 cũng huy động toàn bộ lực lượng xuất kích đánh vào quân địch từ hướng tây bắc xuống. Đến khoảng 11 giờ, tiểu đoàn trương chạy về đến chỗ đại đội 11 nắm được đại đội 11 và một bộ phận của đại đội 12, một khẩu súng cối 82mm tiếp tục tổ chức đánh vào quân địch, trước sức tiến công mạnh của các cánh quân của ta, cả hai mũi xung phong cuả địch đều bị bẽ gãy chúng phải lui về cụm lại cách tiểu đoàn 9 hơn 1km về phla đông để chống lại ta. 17 gìờ địch dùng phi pháo đánh liên tục vào đội hình ta, các đại đội tự động rút khỏi vị trí (đại đội 11, 12, 15 rút về phla tây bắc suối Khôn Chưa, đại đội 13 rút về hướng tiểu đoàn 7) tiểu đoàn trưởng không nắm được quân. Kết qu tiểu đoàn 9 đa đánh bại cuộc tập kích cua địch diệt khong 150 tên, bắn rơi một máy bay chiến đấu.

    Đại đội 13 trên đường rút về hướng tiểu đoàn 7 gặp đồng chí chính ủy đang trên đường đi đến sở chỉ huy để gặp đồng chí trung đoàn trưởng. Đồng chí chinh ủy biết được tình hình chiến đấu cua tiểu đoàn 9 và địch đã cụm lại, thấy đây là thời cơ tốt cho nên đã lệnh cho đại đội 13 dùng một trung đội ở lại bám địch còn đồng chí quay về báo cáo với cấp trên và điều tiểu đoàn 7 ra tập kích quân địch.

    2 Trận tập kích lần thứ nhất của tiểu đoàn 7 đêm 14 rạng ngày 15 tháng 11

    Tiểu đoàn 7 đã nhích đội hình vào phía bắc Làng Tung 2 (thiếu đại đội 3 đi lấy gạo chưa về kịp).

    Tình hình địch: Sau khi bị tiểu đoàn 9 đánh thiệt hại nặng, chúng cụm lại thành hình vòng, ban đêm dùng máy bay thả dèn dù, dùng pháo binh bắn chặn xung quanh đề phòng tập kích.

    21 giờ 30 phút tiểu đoàn 7 nhận lệnh tổ chức tập kích ngay vào quân địch ở khu vực phía đông tiểu đoàn 9. Lực lượng sử dụng gồm lại đội 1 và 2 có hai khẩu súng cối 82mm cua đại đội 15. 22 giờ 50 phút, chuẩn bị xong bắt đầu xuất phát, các đại đội vừa đi vừa phổ biến nhiệm vụ, động viên và tổ chức bộ đội (các đại đội vẫn có một số anh em đi lấy gạo chưa về và một số đồng chí bị ốm).

    Lệnh của trung đoàn là đúng 2 giờ ngày 15 phải nổ súng nhưng vì chiến sĩ dẫn đường bị lạc, pháo bắn chặn và cây cối đổ ngổn ngang nên mãi 5 giờ mới phát hiện được địch. Tiểu đoàn triển khai cách địch khoảng 150m, dùng hai khẩu cối 82mm bắn 14 qua sau đó lệnh cho đại đội 1 và 2 xung phong. Trung đội 2 đại đội 2 được tăng cường mạnh nên ngay lúc đầu đã nhanh chóng thọc thẳng vào vị tri chỉ huy của địch, diệt bọn điện đài thông tin làm cho chúng chạy tan tác, chỉ sau khoang 1 0 phút chiến đấu đại đội 1 và 2 đã cơbn chiếm được trận địa cua địch, sau 25 phút lùng sục thu dọn chiến trường đến 5 giờ 4(5 phút, ta rời khom trận địa. Trước khi rút, tiểu đoàn lệnh đại đội 1 để lại một trung đội và hai khẩu súng cối để phục kích nếu trực thăng địch xuống lấy xác thì đánh. Trên đường rút, bị máy bay và pháo binh đánh chặn các đại đội của tiểu đoàn 7 dùng súng bắn rơi tại chỗ 4 chiếc trực thăng.

    Suốt ngày 15 địch cho nhiều lần máy bay hạ cánh xuống lấy xác nhưng đều bị cối ta bắn chúng không dám đỗ xuống. 17 giờ 30 phút ngày 15 tháng 11, địch đổ hai đại đội xuống để chiếm lại trận địa và thu dọn xác chết, ta dùng cối bắn cháy hai chiếc trực thăng địch xuống cụm lại thành ba cụm ở phía bắc trận địa cũ.
    [LEFT][B]"Lịch sử không phải là cái sọt rác để phi tang những sai lầm của quá khứ ...." Dương Trung Quốc.[/B][/LEFT]
    [CENTER]Người đi một nửa hồn tôi mất[/CENTER]
    [CENTER]Một nữa bâng khuân đứng chửi thề [/CENTER]

  4. #4
    Ngày gia nhập
    Oct 2009
    Nơi cư ngụ
    Icachao-becmuda
    Bài gửi
    170
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    0
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)
    3. Trận tập kích lần thứ 2 của tiểu đoàn 7 đêm 15 rạng ngày 16 tháng 11

    Hành quân
    Tiểu đoàn 7 còn đại đội 3 và hai khẩu súng cối 82mm chưa tham gia chiến đấu. Căn cứ vào tình hình địch cụm lại, cấp trên quyết định dùng lực lượng này và tăng cường thêm trung đội 1 của đại đội 1 (đánh bám địch) và hai khẩu súng cối 82mm tổ chức trận tập kích ngay trong đêm 15.
    2 giờ 15 phút, đại đội 3 gặp trung đội 1 của đại đội 1 đang bám địch, sau khi nghe đồng chí đội trưởng báo cáo lại tình hình. Đại đội trưởng triển khai ngay đội hình chiến đấu, sau đó đồng chí lên quan sát nhưng không thấy địch nên không cho đại đội nổ súng (địch đã lui vào trong, không ở vị trí ban ngày) bộ đội tiếp tục tiến, sau 10 phút thì phát hiện địch. Tiểu đoàn nhận được điện của đại đội 3 xin phép nổ súng, tiểu đoàn trưởng cho phép bắn 21 quả đạn cối và lệnh cho đại đội 3 xung phong đánh ngay vào cụm 1, trung đội 1 (đại đội 1) đánh vào cụm 2. Sau 10 phút trung đội 1 đã đánh vào trận địa súng cối, phá được ba khẩu và đánh vào một phần của cụm 2, có tác dụng chi viện bên sườn cho đại đội 3 đánh vào cụm 1. Đại đội 3 trong khi tiến, trung đội 3 bị lạc, nhưng khi nổ súng trung đội này đã vận động vòng trở lại hiệp đồng với dại đội tiêu diệt cụm 1 của địch (có sở chỉ huy tiểu đoàn địch) sau khi chiếm cụm 1 đại đội tiếp tục vận động sang chiếm cụm 2 và 3, nhưng bị hỏa lực chặn lại. Căn cứ vào tình hình tiểu đoàn cho phép đại đội 3 rút lui.

    Đêm 16 tháng 11, trung đoàn định tiếp tục tập kích vào quân địch nhưng nghiên cứu lại thấy lực lượng còn ít, đạn dược chưa được bổ sung nên quyết định thôi không đánh mà cho lực lượng vào làm công tác thương binh tử sĩ. Bộ phận này vào bị lộ, địch bắn loạn xạ, các cụm địch bắn nhầm vào nhau làm chúng bị thương vong thêm một số.

    Kết quả hai trận tập kích của tiểu đoàn 7 đã diệt được 250 tên, bắn rơi 6 máy bay trực thăng.

    4. Trận tao ngộ chiến ngày 17 tháng 11 của tiểu đoàn 8 trung đoàn 66 và tiểu đoàn 1 trung đoàn 33

    Tình hình địch: Do bị ta đánh liên tục từ khi chúng mới đặt chân xuống đất đã bị thiệt hại nặng nề, để tránh khu vực ta đang uy hiếp và rút lui an toàn, địch trong khu vực còn lại khoảng 400 tên đã rời chỗ cũ sang bãi trống ở ngã ba Làng Tung và Làng Sinh. Trên đường đi khi qua suối, chúng bắt được hai chiến sĩ của đại dội 1, tiểu đoàn 1 trung đoàn 33 đi săn máy bay, ba chiến sĩ cùng tổ nhanh chóng chạy về báo cáo với tiểu đoàn.

    Tình hình ta: Từ ngày 14 đến 16 tháng 11, tiểu đoàn 9 (trừ đại đội 13) ở tây bắc suối Kun Dra làm công tác thương binh tử sĩ. Tiểu đoàn 8 vẫn ở Ba Bi. Trung đoàn có ý định tập trung toàn bộ lực lượng để tiêu diệt quân địch còn lại cho nên đã phái hai tổ truyền đạt đến hai tiểu đoàn đa mệnh lệnh chiến đấu: Tiểu đoàn 9 nhanh chóng cho bộ đội về Làng Tung đi theo đường làng Sinh, trạm 5. Tiểu đoàn 8 nhanh chóng cơ động xuống nhận nhiệm vụ mới (trên đường đi san sàng chiến đấu vì có thể gặp địch). Tiểu đoàn 8 nhận được lệnh, chiều ngày 16 đã cho bộ đội hành quân ngay về vị trí sở chi huy trung đoàn. Quyết tâm của tiểu đoàn là tìm địch mà đánh, địch lớn nhỏ cũng đánh, không đánh được toàn bộ thì đánh từng bộ phận .

    Sự căng thẳng trên gương mặt người lính
    Lực lượng tiểu đoàn 8 có ba đại đội bộ binh và một đại đội trợ chiến (đại đội 10) ngoài ra còn được tăng cường một đại đội 12,7 mm (6 khẩu, đạn đầy đủ). Đội hình hành quân theo đội hình sẵn sàng chiến đấu cao, đặc biệt khi đi đến ngã ba đường Làng Tung và làng Sinh.

    1. Địch
    Từ ngày 14 đến 17, lữ đoàn 3 bị diệt 300 tên, bị thương 246 (tổng cộng thương vong: 546 tên).
    2. Ta
    Trung đoàn 66 hy sinh 157, bị thương 239 (tổng cộng thương vong 396)
    [LEFT][B]"Lịch sử không phải là cái sọt rác để phi tang những sai lầm của quá khứ ...." Dương Trung Quốc.[/B][/LEFT]
    [CENTER]Người đi một nửa hồn tôi mất[/CENTER]
    [CENTER]Một nữa bâng khuân đứng chửi thề [/CENTER]

  5. #5
    Ngày gia nhập
    Sep 2009
    Nơi cư ngụ
    Sài gòn
    Bài gửi
    193
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    0
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)
    Chiến dịch Trị Thiên là một chiến dịch trong Chiến tranh Việt Nam do Quân đội Nhân dân Việt Nam thực hiện vào năm 1972. Đây là một phần trong Chiến dịch Xuân hè 1972Việt Nam Cộng hòa gọi là Mùa Hè Đỏ Lửa.
    Lực lượng tham chiến
    Quân lực Việt Nam Cộng hòa và Mỹ:
    • 2 sư đoàn bộ binh 1 và3
    • Liên đoàn dù biệt kích 81
    • 2 lữ đoàn thủy quân lục chiến 147 và 258
    • 4 trung đoàn và 2 chi đoàn thiết giáp: thiết đoàn 7,18 kị binh, trung đoàn 51 bộ binh
    • Một số tiểu đoàn pháo binh và công binh
    • Pháo hạm đội 7 và không quân Mỹ với máy bay B52 chiến lược yểm trợ.
    Quân đội Nhân dân Việt Nam:
    • Các sư đoàn bộ binh: 304, 308, 320, 324325, sau được tăng cường thêm 312 tại Lào.
    • 2 trung đoàn tăng, thiết giáp: 202 và 203 với 400 xe tăng T-34, T-54, PT-76
    • Một số tiểu đoàn đặc công
    • Bốn trung đoàn pháo binh cơ giới với hơn 300 pháo các loại
    • Hai sư đoàn phòng không: sư 367 và 376 với 3 trung đoàn pháo phòng không 282, 284, 224 và hai trung đoàn tên lửa 238, 237 với tên lửa đất đối không SAM 2
    • Các lực lượng tại chỗ của B5, B4 và Đoàn 559
    Toàn cảnh
    Năm 1972, nhằm tạo áp lực lên bàn hội nghị hòa bìnhParis, Quân đội nhân dân Việt Nam (QDNDVN) đã mở một chiến dịch lớn đánh vào Quảng Trị (Chiến dịch Nguyễn Huệ), QDNDVN đã chọc thủng phòng tuyến của Việt Nam Cộng hòa (VNCH), chiếm được thị xã Quảng Trịthành cổ, tiến đến bờ bắc sông Mỹ Chánh, uy hiếp Thừa Thiên-Huế. Nhận thấy nguy cơ vùng 1 chiến thuật bị mất vào tay QDNDVN, tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã huy động toàn bộ lực lượng chiếm lại Quảng Trị với sự yểm trợ của hỏa lực Mỹ. Trận chiến diễn ra vô cùng ác liệt và đẫm máu, quân VNCH dưới sự yểm trợ của Mỹ (dùng trọng pháo nã vào thành cổ gần 30.000 quả/phút, kết hợp pháo hạm và pháo trên bộ, dùng B-52 ném bom trải thảm, cứ 30 phút 1 đợt B-52, độ tàn phá bằng 8 quả bom nguyên tử đã thả ở Hiroshima)[3], huy động bộ binh, lính dù, thủy quân lục chiến tấn công dữ dội hòng chiếm lại thành cổ Quảng Trị và cuộc chiến này đã diễn ra suốt 81 ngày đêm từ ngày 28 tháng 6 năm 1972 đến 16 tháng 9 năm 1972.
    [sửa] Diễn biến

    Năm 1972 bộ đội có 3 chiến trường chính, Quảng Trị, Kontum-Pleiku, và Đông Nam Bộ (Bình Long, Bình Phước). trong đó hướng chủ yếu là Quảng Trị.

    Dân chúng Quảng Trị bỏ chạy về phía Nam khi quân Bắc Việt tấn công


    Tại Quảng Trị Quân đội Nhân dân Việt Nam có 4 sư đoàn 304, 308, 324, 325 sau đó thêm 312 từ Lào về trong đó sư 308 có trung đoàn bộ binh cơ giới đầu tiên của họ (kết hợp với trung đoàn 202 tăng thiết giáp) 2 trung đoàn xe tăng 202 và 203, 4 trung đoàn pháo (trên 300 pháo xe kéo, kể cả pháo của các sư đoàn bộ binh), 2 sư đoàn phòng không 367 và 375 ( có cả SAM 2) với khoảng 400 xe tăng các loại. Từ 30.3 đến 30/4 họ tấn công ồ ạt chiếm hàng loạt cứ điểm tại khu giới tuyến như Cồn Tiên, Dốc Miếu, Carol, sau đó chiếm thị xã Đông Hà, ngày 30/4 chiếm Thị xã Quảng Trị, thu được khá nhiều xe tăng, pháo, đạn dược và sử dụng ngay vào cuộc chiến, Sư đoàn 3 VNCH rút lui về bên kia sông Mỹ Chánh, Trung đoàn 56/SĐ3 phải hạ vũ khí đầu hàng. Dân chúng và quân đội Nam Việt Nam khi rút chạy về phía Nam đã bị quân Bắc Việt nã pháo ào ạt, gây thương vong rất lớn trong sự kiện Đại Lộ Kinh Hoàng.
    Tướng Vũ Văn Giai tư lệnh sư đoàn 3 Bộ binh bị cách chức, Tư lệnh quân khu I Hoàng Xuân Lãm bị thay thế bởi tướng Ngô Quang Trưởng
    Tuy nhiên phía Bắc Việt Nam sau các cuộc chiến cũng bị thiệt hại nhiều, bổ xung không kịp vì không quân Mỹ oanh tạc các tuyến vận chuyển kể cả miền Bắc, đánh vào các căn cứ tập kết quân, kho hàng, đường giao thông nên quân Bắc Việt thiếu cả đạn, gạo, thiếu quân bổ xung. Đặc biệt các đơn vị tập kết ở phía tây Huế để chuẩn bị tấn công còn thiếu cả đường đưa xe pháo vào vị trí tập kết, Cầu Quảng Trị qua sông Mỹ Chánh được quân VNCH cho đặt thuốc nổ phá hủy và Thuỷ Quân Lục Chiến ra lập thành phòng tuyến nên bộ binh và xe tăng Bắc Việt không vượt qua được.
    Nhân lúc Bắc Việt không đủ sức tấn công tiếp, quân VNCH với phương tiện vận chuyển và tiếp tế hậu cần dồi dào đã đưa được sư đoàn Dù, thuỷ quân lục chiến ra Vùng 1 cùng với sư đoàn 1 vừa tái tổ chức, các đơn vị tăng thiết giáp với sự hỗ trợ của không quân, hải pháo Mỹ phản kích lại.
    [sửa] Kế hoạch phản kích của Nam Việt Nam

    Kế hoạch tái chiếm Quảng Trị gồm 3 giai doạn.
    • Từ 1 tới 10 tháng 6 Tuớng Truởng cho thay đổi các lực luợng trên những vị trí tiền phuong.
    • Từ 11 tới 18-6 Sư đoàn 1 tấn công vào căn cứ Veghel trong khi TQLC và Nhẩy Dù tấn công dò huớng bắc Mỹ Chánh dể thăm dò lực luợng địch.
    • Từ 19 dến 27-6 Nam quân nghi binh dể đánh lừa các lực luợng đối phương về thời diểm và huớng tiến quân, giả vờ sẽ tấn công Cam Lộ và đổ bộ lên Cửa Việt.

    Thiết giáp xa M-113 của VNCH tại mặt trận bờ sông Mỹ ChánhQuảng Trị năm 1972


    Ngày 28/6 quân VNCH mở cuộc hành quân Lam Sơn 72 với sư đoàn dù (3 lữ đoàn, sư TQLC (4 lữ đoàn), 3 Liên Đoàn Biệt Động Quân, Lữ đoàn 1 Kỵ Binh vượt sông Mỹ Chánh tiến về Quảng Trị dưới sự yểm trợ mãnh liệt của pháo binh, B52, không quân Mỹ và VNCH, hải pháo.
    Hai ngày truớc cuộc tấn công, pháo đài bay B-52, Hải pháo, Không quân chiến thuật và pháo binh oanh kích dữ dội các vùng tập trung quân của Bắc Việt. Lam Sơn 72 gồm 2 gọng kìm Bắc tiến và một nỗ lực phụ Tây Nam Huế , Sư đoàn Dù tấn công từ Tây Nam Quốc lộ 1 về La Vang , TQLC tiến quân bên phải huớng Bắc Quốc lộ 1 trong khi đó Sư doàn 1 kìm chặt VC tại Tây Nam Huế, Sư đoàn 3 bảo dảm an ninh Ðà Nẵng, Sư đoàn 2 lùng diệt đối phươngtại Quảng Ngãi.
    Khi Chiến dịch Lam Sơn 72 bắt đầu thì các đon vị Dù và TQLC đều tiến hành chậm hon dự định. Tại Thạch Hãn Bắc quân phản ứng dữ dội, quyết tâm cố thủ. Đuợc pháo binh yểm trợ mạnh, một tiểu doàn TQLC đuợc trực thăng vận về Ðông Bắc thành phố để cắt đuờng tiếp vận của địch. Bộ đội tử thủ Quảng Trị đến nguời cuối cùng, các mũi tấn công của VNCH bị khựng lại. Tuớng Ngô Quang Truởng quyết tâm tái chiếm Quảng Trị và giao cho TQLC vì Dù đã bị thiệt hại nặng. Sư doàn TQLC đuợc giao trách nhiệm tiêu diệt quân Bắc Việt trong thành phố, nhưng vì họ tử thủ nên tác chiến gặp nhiều khó khăn cho tới tháng 9. Bắc Việt tăng cuờng một đại đơn vị rất to lớn: 6 sư đoàn 304, 308, 324B, 325, 320B, 312 để áp dảo hai Sư doàn tổng trừ bị của VNCH, hai bên đụng độ dữ dội, địch pháo dữ dội hằng nghìn quả mỗi ngày, trong khi ấy Quân đoàn 1 vẫn tấn công đều đặn, các đơn vị tiền phương được hoán chuyển để có cơ hội nghỉ ngơi. Tướng Truởng dự dịnh xin tăng viện một sư đoàn từ Vùng 4 nhưng hoàn cảnh không cho phép, trong khi ấy sự tập trung nhiều Sư đoàn QĐNDVN tại Quảng Trị đã trở thành miếng mồi ngon cho máy bay B-52 trải thảm, không quân chiến thuật và pháo binh VNCH oanh kích bắn phá, đó là lỗi lầm tai hại của miền Bắc.[4] Đến 27/7 TQLC VNCH đổ 2 tiểu đoàn xuống huyện Triệu phong phía sau để cắt đường tiếp tế, đồng thời hoả lực không quân/pháo binh dựng thành hàng rào lửa phía sau để ngăn chặn việc tiếp tế của đối phương, tại thành cổ có lúc mỗi ngày quân Giải phóng bổ sung 100 tay súng mỗi ngày nhưng cũng không đủ thay thế tổn thất, thành cổ mỗi bề khoảng 500 mét đã hứng chịu hoả lực khủng khiếp của cả đôi bên.

    Binh sĩ thuộc Trung đoàn 20 Tăng Thiết giáp thuộc Quân lực Việt Nam Cộng hoà tịch thu 1 xe tăng T-59 của Quân đội Nhân dân Việt NamĐông Hà


    Chiến dịch phản công đến tuần thứ 10 vào tháng 9 không đuợc kết quả cụ thể nào. Ngày 8-9 QÐ-1 đưa ra 3 cuộc hành quân riêng rẽ hỗ trợ cho mục đích chính, Dù chiếm 3 căn cứ La Vang phía Nam cổ thành. Ngày 9-9 Sư doàn TQLC khởi sự tấn công vào Cổ thành. VNCH và Hoa kỳ tấn công nghi binh vào bãi Bắc sông Cửa Việt. Lữ doàn 147-TQLC từ Ðông Bắc dánh xuống, Lữ doàn 258 từ Ðông Nam dánh lên. Khuya 14-9 Tiểu doàn 6 TQLC đột nhập một vách tuờng Ðông Nam Cổ thành rồi tràn vào bên trong, ngày 15-9 hai Tiểu doàn TQLC dàn quân càn quét về huớng Tây thanh toán các ổ kháng cự. Sáng 16-9 Tiểu đoàn 6 TQLC đã dựng cờ chiến thắng trên Cổ thành và nới rộng quyền kiểm soát thành phố nay chỉ còn là đống gạch vụn. Trong 10 ngày cuối cùng có gần 3000 bộ đội tử thương, TQLC thiệt hại khoảng một nửa so với phía Cộng sản.
    Sau 81 ngày đêm phòng ngự, ngày 15 tháng 9 bộ đội rút khỏi thành cổ về bên kia sông Thạch Hãn. Đến đây QLVNCH cũng không đủ sức tấn công tiếp và QĐNDVN cũng cố giữ, đồng thời vào mùa mưa nên việc tấn công rất khó khăn, cuộc chiến giằng co đến tháng 1 năm 1973, quân VNCH mở cuộc tấn công lớn với khoảng 100 xe tăng và Thuỷ Quân Lục Chiến tái chiếm cảng Cửa Việt bị QĐNDVN đẩy lùi thì hiệp định Paris có hiệu lực.
    Để chiếm lại thành cổ, chỉ riêng Thủy quân Lục chiến VNCH có 3.658 binh sĩ tử trận, chiếm 25% quân số toàn binh chủng[5], tổng số thiệt mạng của tất cả các đơn vị là 7.756 [cần dẫn nguồn]. Phía QĐNDVN tử trận trên một vạn người[6] Cả hai phe đều thiệt hại nặng trên chiến trường Thành cổ cho nên đều giữ thế giằng co như vậy cho đến khi hiệp định Paris được ký kết vào tháng 1 năm 1973.
    [sửa] Kết quả


    Tính xác thực của bài hay đoạn này còn đang trong vòng tranh luận.
    Xin vui lòng xem và đóng góp ý kiến ở trang thảo luận.
    Theo nguồn từ VNDCCH [cần dẫn nguồn]
    • VNDCCH: 14.000 chết và bị thương
    • VNCH:200.000 chết và bị thương
    Theo nguồn từ VNCH [cần dẫn nguồn]
    • VNCH: 25.000 chết, 7.500 bị thương
    • VNDCCH: 40.000 chết, hơn 8.000 bị thương

  6. #6
    Ngày gia nhập
    Sep 2009
    Nơi cư ngụ
    Sài gòn
    Bài gửi
    193
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    0
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)
    Trận An Lộc là trận chiến tại An Lộc[2]. Đây là một trận chiến mà phía Việt Nam Cộng hòa xem là đợt 2 trong Chiến dịch Hè 1972 hay "Mùa Hè Đỏ Lửa" trong Chiến tranh Việt Nam [3]. Về phía quân Cộng sản, thì đây là một trận đánh hiệp đồng binh chủng trong đợt 1 của Chiến dịch Nguyễn Huệ (1 tháng 4 năm 1972 - 19 tháng 1 năm 1973).
    An Lộc là địa bàn quân sự chiến lược tối quan trọng đối với Quân lực Việt Nam Cộng hòa vì đây là cửa ngõ Tây Bắc ngăn quân Cộng sản tiến về thủ đô Sài Gòn sau khi quận lỵ Lộc Ninh rơi vào tay quân đội cộng sản ngày 7 tháng 4 năm 1972.
    Phía quân Cộng sản tấn công trực tiếp thị xã An Lộc gồm có Sư đoàn 9, 2 trung đoàn pháo binh 28 và 42, 4 tiểu đoàn pháo phòng không[4] và 1 tiểu đoàn tăng thiết giáp 20, về sau tăng cường thêm tiểu đoàn tăng thiết giáp 21[5]. Ngoài ra còn có các đơn vị khác tham chiến ở vòng ngoài là Sư đoàn 5, 7 và Đoàn C30B.
    Phòng thủ thị trấn An Lộc, phía Quân lực Việt Nam Cộng hòa có Sư đoàn 5 Bộ binh, Liên đoàn 3 Biệt động quân cùng lực lượng Nhân dân Tự vệĐịa phương quân tỉnh Bình Long.
    Đợt tấn công đầu tiên do Sư đoàn 9 Quân đội Nhân dân Việt Nam khai pháo. Vì tin rằng sẽ chiếm được An Lộc, cùng ngày hôm đó tại Paris, Nguyễn Thị Bình đại sứ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tại hòa đàm Paris tuyên bố chỉ trong vòng 10 ngày nữa An Lộc sẽ là thủ đô của chính phủ Cách mạng Lâm thời Miền Nam Việt Nam.
    Mục lục

    [ẩn]

    [sửa] Bối cảnh trước trận đánh

    Tháng 8 năm 1971, Bộ Chính trị ra Nghị quyết mở cuộc tiến công chiến lược 1972 trên các hướng Đông Nam Bộ, Tây Nguyên và Trị Thiên (chiến dịch Trị Thiên), trong đó Đông Nam Bộ là hướng tiến công chính nhằm tiêu diệt 1 số lượng lớn quân địch và mở rộng vùng Giải phóng. Chủ trương ở Đông Nam Bộ là đánh gục Quân đoàn III và lực lượng tổng trù bị của VNCH.
    Cuối tháng 2, khi quá trình chuẩn bị đã hoàn tất, Bộ Tư lệnh Miền quyết định mở chiến dịch Nguyễn Huệ với lực lượng hùng hậu tương đương cấp Quân đoàn. Bộ chỉ huy chiến dịch gồm có:
    Thường trực tại Bộ chỉ huy còn có:Hoàng Văn Thái, Phạm Hùng, Trần ĐộHoàng Cầm[6].
    Trực tiếp chỉ huy các đơn vị chiến đấu tại trận An Lộc có sư đoàn trưởng sư đoàn 9 Bùi Thanh Vân và sư đoàn trửong sư đoàn 7 Nguyễn Thới Bưng.
    Lực lượng tấn công được chuẩn bị kỹ lưỡng, gồm 3 Sư đoàn 5, 7, 9; 3 Trung đoàn bộ binh 24, 271, 205[7]; Trung đoàn đặc công 429; 2 Trung đoàn 28 và 42 Pháo binh Miền; 2 tiểu đoàn Tăng thiết giáp 20 và 21 và Đại đội 33 độc lập; Đại đội 52 Cao xạ tự hành; 4 tiểu đoàn pháo phòng không; 20 tiểu đoàn và 63 đại đội bộ đội địa phương. Quân số lên tới 40.000 chiến sĩ tham dự chiến dịch này.
    Lúc 1 giờ sáng ngày 1 tháng 4, Đoàn C30B quân Cộng sản gồm Trung đoàn 24 và 271, phối thuộc Đại đội xe tăng 33 tấn công cứ điểm Sa Mát, do Chiến đoàn 49 trấn giữ, với mục đích nghi binh. Tuy bị bất ngờ, nhưng lực lượng đồn trú cũng đã trống trả mãnh liệt, dùng M72 bắn hỏng 3 xe tăng, trước khi rút lui khỏi cứ điểm.
    Rạng sáng ngày 5 tháng 4, 1972, vào lúc bình minh, Bộ Tư lệnh Chiến dịch hạ quyết tâm: "Phải chiếm An Lộc trước ngày 20 tháng 4, 1972, nghĩa là phải đè nặng áp lực tối đa lên một vùng hơn 100 km nằm về phía Bắc Sài Gòn, để cầm chân một số lớn lực lượng nòng cốt của địch tại đây."
    Ngày 5 tháng 4 năm 1972, quân Cộng sản sử dụng lực lượng của Sư 5, tăng cường Trung đoàn 3 Bộ binh (Sư đoàn 9), Trung đoàn pháo binh 28 và 2 đại đội xe tăng, do Thượng tá Bùi Thanh Vân [8], Sư trưởng sư 5, làm tư lệnh mặt trận, tấn công mạnh vào Lộc Ninh, một quận nằm về phía Bắc của An Lộc.
    Trong trận đánh tại Lộc Ninh, Quân giải phóng giao chiến với lực lượng phòng thủ của Chiến đoàn 9 gồm Trung đoàn 9 Bộ Binh và 30 chiến xa của Thiết đoàn 5, phối thuộc thêm các đơn vị Biệt động quân Biên phòng, Địa Phương Quân và Nghĩa quân ở Lộc Ninh. Do trận đánh kéo dài, bộ đội lui trở ra, để rồi pháo kích ào ạt vào các ổ kháng cự của quân trú phòng.
    Lúc 15 giờ ngày 6 tháng 4 năm 1972, một đơn vị trinh sát của Trung đoàn đặc công 429 bất ngờ tấn công phá hủy sân bay Quản Lợi, thăm dò từ phía bắc, đồng thời nhằm chặn đường tiếp viện cho Lộc Ninh, cắt đứt tuyến tiếp viện bằng đường không của thị xã An Lộc. Đoạn đường từ An Lộc đi Lộc Ninh bị gián đoạn hoàn toàn, chỉ có thể liên lạc bằng điện thoại.
    Lúc 5 giờ 30 phút ngày 7 tháng 4 năm 1972, quân Cộng sản mở đợt tấn công tổng lực vào chi khu Lộc Ninh. Sau 3 ngày bị tấn công và bị cắt đứt tiếp viện, quân trú phòng được lệnh di chuyển dần dần về phía Nam để lùi về An Lộc. Toàn bộ 30 chiến xa của Việt Nam Cộng Hòa, một số bị phá hủy, một số đành bỏ lại. Đến 14 giờ, Quân Giải phóng mới chiếm lĩnh hoàn toàn chi khu Lộc Ninh. Đại tá Nguyễn Công Vĩnh, Chiến đoàn trưởng Chiến đoàn 9 bị bắt sống. Ngày 8 tháng 4 năm 1972, Lộc Ninh hoàn toàn thuộc quyền kiểm soát của Quân Giải phóng.
    Chỉ trong vòng 3 ngày giao tranh, tại Lộc Ninh, thống kê quân Cộng sản có 2.150 bộ đội tử thương[cần dẫn nguồn], tương đương quân số của một trung đoàn. Phía Việt Nam Cộng Hòa có 600 binh sĩ chết, cùng với 30 xe tăng và một pháo đội 105 ly bị mất.
    Sau khi chiếm được Lộc Ninh, Sư đoàn 5 Quân Giải phóng tiếp tục hành quân tiến theo Quốc lộ 13 xuống phía Nam, uy hiếp mặt Bắc An Lộc. Sư đoàn 7 xuất phát từ vùng biên giới Campuchia, đi vòng qua An Lộc, tiến xuống phong tỏa Quốc lộ 13 ở phía Nam An Lộc, tức là con đường bộ duy nhất tiếp tế cho thị trấn này, đồng thời uy hiếp các căn cứ Katum, Bổ Túc, Tống Lê Chân, Thiện Ngôn, phối hợp với Đoàn C30B để cầm chân Sư đoàn 25 Bộ binh VNCH tại Tây Ninh, ngăn cản không cho tiếp viện An Lộc. Các chiến sĩ hạ quyết tâm: "Dựng bức tường thép trên Quốc lộ 13, không để 1 chiếc xe, 1 tên địch nào vượt qua trận địa". Sư đoàn 9 là lực lượng chủ lực tấn công An Lộc, cũng xuất phát từ vùng biên giới Campuchia, tiến xuống và tấn công An Lộc từ phía Tây.
    Cùng lúc đó, trước áp lực mỗi ngày một mạnh của Quân Giải phóng, để tránh bị bao vây tiêu diệt, Chiến đoàn 52 VNCH phải rút bỏ cứ điểm Cần Lê, lui về phòng thủ mạn Bắc An Lộc. Chiến đoàn 8 cũng được tăng cường phòng thủ ở hướng Tây Bắc An Lộc, án ngữ điểm cao núi Đồng Long, cùng phối hợp chống đỡ hướng tấn công chính của quân Cộng sản. Liên đoàn 3 Biệt động quân phòng thủ phía Đông, án ngữ điển cao Núi Gió. Chiến đoàn 7 phòng thủ hướng Tây Nam, đề phòng tập hậu, đồng thời sẽ tập kích khi có điều kiện để mở thông tuyến tiếp viện từ phía Nam.
    Tại tuyến phòng thủ An Lộc, quân trú phòng rơi vào thế bất lợi khi toàn bộ 24 khẩu đại bác 105mm của Tiểu đoàn 52 Pháo binh VNCH đã bị quân Giải phóng pháo kích phá hủy gần hết, chỉ còn lại một khẩu duy nhất may mắn "còn sống sót". Ngoài ra, một pháo đội 6 khẩu của quân Nhảy dù được trực thăng vận xuống Đồi Gió, về phía Đông An Lộc, mấy ngày sau cũng bị quân Cộng sản triệt tiêu luôn.
    [sửa] Diễn biến trận đánh

    Trước sức ép gia tăng của quân Cộng sản vào thị xã An Lộc, Tổng tham mưu trưởng và Tư lệnh Quân đoàn III VNCH đã điều động binh lực tiếp viện cho An Lộc. Toàn bộ Lữ đoàn 1 Nhảy dù VNCH, gồm ba tiểu đoàn 5, 6 và 8 được gởi đến tăng viện. Toàn bộ Sư đoàn 21 Bộ binh cùng với Trung đoàn 15 của Sư đoàn 9 Bộ binh từ vùng miền Tây sông Cửu Long cũng được trực thăng bốc lên Lai Khê.
    Tuy nhiên, kể từ đây, quãng đường Chơn Thành đi Lộc Ninh đã bị tắc nghẽn. Các đơn vị tăng viện của Việt Nam Cộng Hòa cố tiến từng bước một để đến gần đơn vị bạn An Lộc, nhưng mỗi bước tiến đều liên tục bị các ổ phục kích ven đường đánh trả quyết liệt, thương vong rất lớn. Tiến lên không nổi, phải quay trở lại, để rồi tìm cách tiến lên. Gần trọn các chiến sĩ của Sư đoàn 7 đã dồn nỗ lực chính vào tuyến phục kích dài 26 km từ Chơn Thành đến An Lộc. Suốt quãng đường này, nơi nào cũng có thể là mục tiêu của pháo binh giải phóng. Họ rải quân dài dài dọc theo quốc lộ để sẵn sàng chỉ điểm tọa độ cho pháo binh bắn từ xa tới.
    Cuộc giao tranh vẫn tiếp diễn ác liệt. Dần dần, lực lượng bên trong An Lộc đã có thể khởi lại thế công, dù phải hết sức chật vật. Do bộ đội phải chuyển quân đi chặn lực lượng giải vây nên lực lượng bao vây bị phân tán, quân VNCH ở An Lộc thừa cơ phản kích, mở rộng vòng vây. Vòng bán kính bao vây thị trấn chỉ chừng 500 mét nhưng tới ngày 11 tháng 4/1972, vòng đai kiểm soát được nới rộng thêm hơn 3 km đường bán kính.
    Bên ngoài, Lữ Ðoàn 1 Dù vượt khỏi Chơn Thành được 7 km về hướng Bắc, sau khi giải tỏa áp lực địch từ Lai Khê đến Chơn Thành. Sau một trận đụng độ ác liệt với địch quân tại vùng này, Lữ Ðoàn 1 Dù thiệt hại nặng phải giao lại trách nhiệm cho các đơn vị của Sư Ðoàn 21 Bộ Binh giữ an ninh trục lộ, những đoạn đường đã được giải tỏa.
    Riêng trong ngày 11 tháng 4, 27 pháo đài bay B-52 đã trút gần 800 tấn bom xuống các vị trí đối phương. Có lẽ nhờ thế, buổi chiều hôm đó, mức độ pháo kích đã giảm sút nhiều.
    Sư Ðoàn 21 Bộ Binh VNCH được tăng phái Trung Ðoàn 15 thuộc Sư Ðoàn 9 và một tiểu đoàn Nhảy Dù, lãnh nhiệm vụ khai thông Quốc Lộ 13. Nhưng mãi 2 tháng sau đến ngày 8 tháng 6[cần dẫn nguồn] mới hoàn thành nổi.
    Ngày 12 tháng 4/1972, Bộ Tư Lệnh Cộng Sản ra khẩu lệnh cho chiến sĩ của họ: "Cán bộ và binh sĩ phải tấn công trên khắp mặt trận. Chắc chắn quân ta sẽ thắng."[cần dẫn nguồn] Ngay ngày hôm sau 13 tháng 4, xe tăng của họ bắt đầu tiến vào thị xã An Lộc.
    Mở màn cho trận đánh khốc liệt đầu tiên bằng chiến xa này, hồi rạng sáng, bộ đội từ mạn Bắc thành phố tiến chiếm đồi Đồng Long và chiếm phi trường Quản Lộc[9]. Lúc ấy, toàn thể kho nhiên liệu, đạn dược gần sân bay bị pháo kích phát hỏa bốc cháy dữ dội. Hàng ngàn quả pháo bắn vào An Lộc dọn đường. Sau đó, đoàn chiến xa lù lù tiến vào.
    Đoàn chiến xa tiến theo đường Ngô Quyền, sát cạnh Bộ Chỉ Huy của Đại Tá Mạch Văn Trường, Trung Ðoàn Trưởng của Trung Ðoàn 8 Bộ Binh VNCH.
    Khi còn cách Bộ Chỉ Huy của Đại Tá Mạch Văn Trường 20 mét thì đoàn chiến xa bị khựng lại bởi một loạt đạn M-72 (vũ khí cá nhân dùng để chống xe tăng), xe tăng dẫn đầu bốc cháy, trườn tới mấy thước rồi ngừng hẳn. Bộ đội trong xe nhảy ra, cháy nám, lăn lộn trên lề đường. Các xe tăng còn lại cũng rơi vào ổ phục kích. Trong trận này, có 15 xe đã bị bắn cháy sát cạnh Bộ Chỉ Huy của Trung Ðoàn 8 Bộ Binh. Ðoàn xe tăng lùi lại để rồi tìm đường khác tiến vào. Tiếng súng vang rền trong phân nửa phía Bắc thị xã An Lộc.
    Trong lúc giao tranh ác liệt tiếp tục, Đại Tá Trương Hữu Đức, Thiết Ðoàn Trưởng Thiết Ðoàn 5 VNCH, đang ngồi trên trực thăng quan sát, bị trúng đạn pháo của bộ đội tử thương.
    Trở lại An Lộc, sau 30 giờ ác chiến đẫm máu bằng đủ mọi hình thức, xáp lá cà, cận chiến bằng lựu đạn, súng dài, súng ngắn thi nhau nổ, trong phân nửa thị xã phía Bắc, hai bên đều bị thiệt hại nặng, và kiệt lực, cần phải nghỉ ngơi và chỉnh đốn lại. Bộ Tư lệnh Miền giao cho Sư đoàn 7 và Trung đoàn 209 chốt tại Tàu Ô trên đường 13, hạ quyết tâm không cho địch giải cứu An Lộc và bảo vệ 3 huyện mới giải phóng.
    [sửa] Cuộc tấn công An Lộc lần thứ 2

    Ngày 14 tháng 4 năm 1972 An Lộc vẫn bị xiết chặt trong vòng vây chừng vài cây số vuông. Quân trú phòng không bung ra ngoài được để hoạt động. Trung tướng Nguyễn Văn Minh, Tư lệnh Quân khu 2 muốn lập một đầu cầu mở cửa ra vào An Lộc, nới rộng tầm hoạt động của quân trú phòng. Mặt bắc, mặt tây, mặt nam đều bị bít kín, chỉ còn mặt đông nam, với những ngọn đồi thoai thoải. Tướng Minh trao nhiệm vụ này cho Lữ Ðoàn 1 Nhảy Dù dưới quyền Đại tá Lê Quang Lưỡng.
    Cuộc họp mặt tại căn cứ Lai Khê giữa Trung tướng Dư Quốc Đống, Tư Lệnh Sư Ðoàn Nhảy Dù, Trung tướng Nguyễn Văn Minh và Đại tá Lê Quang Lưỡng kết thúc mau chóng. Sau 5 vòng bay trực thăng quan sát, Đại lá Lưỡng chọn ấp Srok Ton Cui làm bãi đáp, nơi này nằm về phía Đông cách An Lộc 4 km.
    Ngày 14 tháng 4 năm 1972, Tiểu đoàn 6 Dù được trực thăng vận xuống trước để dọn bãi đáp. Ngày hôm sau, Tiểu đoàn 5, Tiểu đoàn 8 cùng Bộ chỉ huy của Lữ đoàn 1 nhảy dù xuống theo. Sau đó Tiểu đoàn 6 Nhảy Dù ở lại Ðồi Gió trấn giữ đoạn hậu (về sau bị quân giải phóng đánh tả tơi). Còn hai tiểu đoàn kia chia làm hai cánh quân song song tiến vào An Lộc nhưng gặp sự phản kích quyết liệt của quân giải phóng, 2 đơn vị này không tiến vào được An Lộc và cũng đứt liên lạc với nhau.
    Sáng 15 tháng 4, quân giải phóng lại ồ ạt tấn công vào mặt bắc thị xã An Lộc. Một số xe tăng Cộng sản đã chọc thủng phòng tuyến phía Bắc, di chuyển xuống đến nửa phía nam thành phố, nhưng một số xe tăng cũng bị bắn cháy.
    Rút kinh nghiệm lần trước, quân trú phòng tập trung bắn chiến xa, không phải chỉ bằng M-72 mà bằng cả súng phóng hỏa tiễn B-40B-41 tịch thu được của Giải phóng quân khi họ xâm nhập thành phố. Trong các cuộc giao tranh này, Giải phóng quân để lộ rõ một khuyết điểm trầm trọng trong kỹ thuật tác chiến trong thành phố: thiếu phối hợp giữa bộ binh và cơ giới. Quân trú phòng ẩn nấp trên các cao ốc, trong các hầm trú ẩn, tại bất cứ nơi nào kín đáo mà họ thuộc nằm lòng để chĩa tất cả họng súng đủ loại vào một mục tiêu quá lớn, và quá rõ ràng đang di chuyển trên đường phố, trong lúc đôi bên chỉ cách nhau trong vòng 10 mét thì quân trú phòng tấn công.
    Do Giải phóng quân từ xa tới, không thông thạo đường xá, không biết rõ địa thế bằng những binh sĩ VNCH đang sinh sống tại An Lộc, do đó đã phát sinh thêm 1 số thiệt hại không đáng có.
    Theo tài liệu từ phía quân giải phóng thì:
    "Riêng Mặt trận Bình Long ta không dứt điểm được. Giữa tháng 4/1972 địch tập trung cố thủ với 5 Lữ đoàn, lực lương Không quân chi viện tăng gấp nhiều lần trong khi ta bị thương vong hao hụt, sức tiến công giảm sút. Rõ ràng thời cơ dứt điểm Bình Long không còn, ta chuyển sang bao vây cô lập."[10]
    Ngày 9 tháng 4/1972 tại Quảng Trị, Tiểu Ðoàn 6 Thủy Quân Lục Chiến dùng M-72 (súng phóng hỏa tiển chống chiến xa, thuộc loại vũ khí cá nhân) đã hạ khá nhiều xe tăng của quân giải phóng. Chiến thắng đầu tay này được loan truyền mạnh mẽ trên hệ thống truyền thanh Quốc Gia.
    Cũng trên làn sóng này, kỹ thuật bắn chiến xa cũng được phổ biến, hướng dẫn, giải thích tường tận. Binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa, hầu như mỗi người đều có một máy thu thanh bỏ túi dể nghe âm nhạc. Họ biết được hiệu quả của vũ khí chống chiến xa, và các cấp chỉ huy mặt trận cũng không bỏ lỡ cơ hội huấn luyện thêm ngay tại chỗ, như trường hợp của Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng, ngay sau trận tấn công bằng xe tăng đầu tiên của Cộng Sản Bắc Việt vào An Lộc.
    Ngày 15 tháng 4/1972, Trung tướng Nguyễn Văn Minh dời Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn 3 đến Lai Khê để trực tiếp chỉ huy mặt trận Bình Long. Một lực lượng với 20.000 binh sĩ gồm Nhảy Dù, Bộ Binh, Thiết Kỵ được huy động để giải tỏa Quốc Lộ 13.
    Cuộc đổ quân của Lữ Ðoàn 1 Nhảy Dù bị thiệt hại nặng ở Đồi Gió. Tiểu Ðoàn 6 Dù và một pháo đội gồm 6 khẩu đại bác 105 ly bị bộ đội đánh tan nát vào lúc 17 giờ ngày 21 tháng 4/1972.
    Lúc ấy, Liên đoàn 81 Biệt Cách Dù, đang hoạt động bên trong phòng tuyến địch, cũng được trực thăng bốc hết về An Lộc vào ngày 16 tháng 4/1972, để tiêu diệt các tổ đặc công của địch lọt được vào thị xã sau hai lần tấn công.
    Lính Biệt Cách Dù được huấn luyện để đơn độc chiến đấu, quen cách tác chiến, thói quen và vũ khí của bộ đội để có thể giả dạng quân "giải phóng," nên kỹ thuật tác chiến cá nhân của họ khá cao. Chính các binh sĩ Biệt Cách Dù đã tỉa các đặc công Cộng Sản cố bám vào dân, và nhờ đó, tránh một số thiệt hại cho số dân còn kẹt lại bên trong thành phố.
    Sau khi quân Nhảy Dù bắt tay được với quân trấn thủ, họ liền nới rộng vòng đai về phía Nam. Không lực Việt Nam Cộng Hòa và Hoa Kỳ hoạt động mạnh. Pháo đài B-52 dội bom nhiều nơi chỉ cách An Lộc một cây số về phía Bắc, gây nhiều thiệt hại cho quân tấn công. Quân trú phòng cố nới rộng vòng đai phòng thủ, đồng thời di chuyển được chừng 2.000 dân chúng ra khỏi An Lộc để chạy về Chơn Thành.
    "Trận tấn công Bình Long lần 2 của ta bất thành. Sau 4 ngày đột phá liên tục, 18 trên 25 xe tăng bị cháy hoặc bị hư hỏng nặng..."[11]
    [sửa] Cuộc tấn công lần thứ 3

    Ngày 18 tháng 4/1972, đợt tấn công thứ ba của bộ đội vào An Lộc bắt đầu. Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng, Tư Lệnh Sư Ðoàn 5 Bộ Binh, chỉ huy toàn bộ lực lượng trú phòng, đã cam kết: "Ngày nào tôi còn, An Lộc còn."
    Thêm 1 số xe tăng Cộng Sản bị hạ gần Bộ chỉ huy của Chuẩn Tướng Hưng. Pháo đài B-52 tiếp tục dội bom chung quanh. Không lực Việt Nam Cộng Hòa dồn dập yểm trợ và tiếp tế. Nhưng trước một hàng rào phòng không hùng hậu của quân giải phóng, từ đại liên 12.7 ly, các pháo phòng không 37 ly và 100 ly, hỏa tiễn tầm nhiệt cầm tay SA-7 lố nhố trong rừng cao su bao vây An Lộc, không quân VNCH chịu nhiều tổn thất, nhưng cũng chỉ có thể tiếp tế "nhỏ giọt" cho chiến trường.
    Phần lớn kiện hàng tiếp tế cho quân VNCH (thả lơ lửng bằng cánh dù) từ phi cơ thả xuống đều rơi tạt ra ngoài hàng rào phòng thủ và rơi vào tay bộ đội. Nguồn tiếp tế bị cản trở, Quốc Lộ 13 vẫn tắc nghẽn trong khi quân giải toả vẫn tiến lên 1 cách ì ạch trước sức chiến đấu dữ dội của các ổ đề kháng do các chiến sĩ Sư đoàn 7 miền Bắc đảm nhận.
    [sửa] Cuộc tấn công lần thứ 4


    Binh sĩ VNCH đang cứu thương cho đồng đội tại An Lộc


    Nửa đêm về sáng ngày 21 tháng 4/1972, quân giải phóng pháo kích trên 2.000 trái đạn đủ loại vào những địa điểm trú phòng của quân đội Việt Nam Cộng Hòa, rồi đánh vào thị xã từ bốn nơi khác nhau. Bốn mũi tiến quân cùng khởi động từ ở mặt Ðông: tại 2 km về phía Đông Nam An Lộc, tại 3 km về phía Đông Nam, tại 1 km về phía Đông Nam, và tại 5 km cũng phía Đông Nam đều là những nơi có binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa trấn đóng. Tại mỗi địa điểm tấn công, họ xử dụng 5 hoặc 6 chiến xa cùng với một tiểu đoàn bộ đội đi theo hỗ trợ. Và lần này, đặc công Cộng Sản bên trong thị xã bắt đầu hoạt động mạnh trở lại để ăn nhịp với các hoạt động bên ngoài.
    Tuy nhiên, do thiếu sự phối hợp, các mũi này không khai diễn đồng loạt, mà lại cách quãng nhau. Mũi thứ nhất lúc 4 giờ sáng, và mũi sau cùng hồi 13 giờ chiều. Nhờ thế, quân trú phòng có thể yểm trợ cho nhau một phần hỏa lực còn lại, và nhất là hỏa lực của không quân.
    Có đến 17 phi vụ B-52 để yểm trợ cho An Lộc trong ngày hôm ấy. Trong số đó có 3 "pass" yểm trợ cho Tiểu Ðoàn 6 Dù rút khỏi Đồi Gió, nằm 4 km về phía Đông An Lộc. Nhưng tiểu đoàn này gặp phải hỏa lực hùng hậu của địch gờm sẵn để tấn công mặt Ðông Nam An Lộc đúng vào ngày này nên bị đánh tan. Tiểu Ðoàn 6 Dù đã "tan hàng" hoàn toàn. Dù vậy, những đơn vị còn lại đều đẩy lui được các đợt tấn công của đối phương.
    Trong lòng nửa phía Bắc thành phố An Lộc, cuộc giao tranh giữa Biệt Cách Dù và đặc công Cộng Sản tiếp tục với mức độ ác liệt, tạo thành những mảng "da beo" trên phần đất này. Hàng ngàn xác chết của cả hai bên, của thường dân, của người lớn, của trẻ em la liệt trong thành phố.
    Đêm 22 rạng 23 tháng 4/1972, Bộ Tư lệnh Miền tung thêm 2 cánh quân, một đánh vào Tiểu Ðoàn 8 Dù ở cửa Nam An Lộc, và một cánh quân khác đánh vào Trung Ðoàn 15 của Sư đoàn 9 Bộ Binh trên Quốc Lộ 13. Cánh quân đánh Tiểu Ðoàn 8 Dù có 2 xe tăng T-54 và 2 chiếc BTR-60 (cũng thiết giáp, nhưng sức nặng và hỏa lực đều nhẹ hơn xe tăng) yểm trợ. Lúc này, quân trú phòng đã có loại súng bắn chiến xa mới mang tên XM202 từ M-72 biến cải (do lính Dù đem theo lúc đổ bộ lên An Lộc), có thể bắn liên tiếp 4 phát, với sức nóng 3.600 độ Fahrenheit mỗi trái.
    Do bất ngờ mà cả 4 chiếc xe tăng đều bị cháy rụi. Bộ đội tùng thiết mất tinh thần lại không được xe tăng yểm trợ nên bị đánh bật trở ra. Vị sĩ quan chỉ huy trưởng của Tiểu Ðoàn 8 Dù còn liên lạc và hướng dẫn phi cơ AC-130 (có gắn pháo 105 ly bắn theo sự hướng dẫn của radar) tiêu diệt luôn 5 xe tăng khác đang chạy về phía đóng quân của Trung Ðoàn 15 Bộ Binh VNCH.
    Sau đợt tấn công lần thứ tư, phe Cộng Sản thay đổi chiến thuật, tiếp tục pháo kích vào thành phố.
    Trong khi đó, đoạn đường Quốc Lộ 13 giữa Chơn Thành và An Lộc vẫn tiếp tục đánh nhau ác liệt. Bên Việt Nam Cộng Hòa cố tiến lên. Quân Cộng Sản cố sức giữ lại, nhiều binh sĩ của họ trong các hố chiến đấu cá nhân nằm rải rác dọc Quốc Lộ 13 để cản đường, và chỉ điểm cho pháo binh của họ từ xa bắn tới.

    Binh sĩ VNCH nhảy dù xuống An Lộc


    Ngày nào cũng có một số trực thăng VNCH bị rớt nhưng không có chiếc nào hạ cánh nổi xuống An Lộc. Các cuộc chuyển quân cấp đại đội của Nhảy Dù đều bị đánh bật. Về sau, họ phải di chuyển ở cấp tiểu đoàn. Mãi đến ngày 8 tháng 5/1972, lực lượng giải tỏa Quốc Lộ 13 mới tiến thêm được 6 km nữa để chiếm làng Tàu Ô, nằm giữa Chơn Thành và An Lộc. Trận giao tranh đẫm máu kéo dài 3 ngày đã gây thiệt hại nặng cho cả đôi bên. Quân Cộng Sản đã xây những hầm chiến đấu kiên cố sâu đến 6 mét dưới lòng đất khiến phi cơ không thể nào phá nổi. Quân giải tỏa phải đánh cận chiến, đánh bằng lựu đạn, và chiếm cứ từng hầm hố, từng địa đạo, từng căn nhà, từng thước đất một.
    Lúc ấy, hai trung đoàn của Sư Ðoàn 21 Bộ Binh VNCH tức tốc được trực thăng vận xuống phía Bắc của làng Tàu Ô để rồi đánh thốc xuống, trong khi đó một cánh quân khác từ phía Nam đánh lên. Trước khi chiếm làng này, lực lượng giải tỏa đã phải đối đầu với 4 tiểu đoàn Cộng Sản và 2 tiểu đoàn pháo và đặc công tăng cường mạn Bắc làng Tàu Ô. Lực lượng giải tỏa của quân đội Việt Nam Cộng Hòa cố lập một phòng tuyến tại đây, tạo một đầu cầu trên đường tiến vào An Lộc.
    [sửa] Cuộc tấn công lần thứ 5

    Đúng 0 giờ ngày 11/5/1972, giờ khởi đầu của tình trạng thiết quân luật trên toàn lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa, bộ đội mở một màn pháo kích ào ạt thị xã An Lộc. Đến 4 giờ sáng, pháo binh ngừng bắn. Sau khi chịu đợt "tiền pháo," tất cả binh sĩ VNCH đều vọt ra khỏi hầm trú ghìm súng chờ đợi "hậu xung."
    Không lâu sau đó bộ đội Sư đoàn 5 QDND chia 3 cánh từ hướng chính Bắc, Ðông Bắc, và Tây Bắc với quân số của mỗi cánh quân ở cấp trung đoàn, được yểm trợ bởi các xe tăng T-54 dẫn đầu đánh ập xuống nửa thị xã phía trên. Ở ngã Đông Bắc, họ đột nhập vào khu Chợ Mới, sát bên phòng tuyến của quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Trận giao tranh tại đây càng lúc càng kéo dài, mãi đến 8 giờ 30 sáng. Mặt Bắc thành phố là mặt bị uy hiếp nặng nhất ngay từ đầu cuộc chiến. Các cánh quân tấn công ẩn phục trong đồn điền cao su Quản Lợi và từ Quốc Lộ 13 bây giờ đồng lượt kéo ra như vũ bão.
    Tập tin:Anloc10.jpg Hỏa tiễn M-72 tiêu diệt 1 nhóm xe tăng T-54 trên đường phố thị xã


    Ở mặt chính Bắc và Tây Bắc, bộ đội huy động một lực lượng hùng hậu có chiến xa dẫn đầu để tiến công. Các xe tăng dẫn đầu đã chọc thủng thành công phòng tuyến Tây Bắc. Theo sau là hai trung đoàn bộ binh miền Bắc. Tuy nhiên đoàn xe tăng phóng quá nhanh làm các bộ đội theo không kịp. Chiến xa tách rời bộ binh, liền lập tức bị các binh sĩ VNCH dùng hỏa tiễn M-72, XM202 và cả súng B-40 (tịch thu lúc trước) bắn hạ luôn một lúc 8 chiếc. Tuy nhiên, bộ đội kịp thời tràn đến áp đảo, quân VNCH rút lui.
    Đúng lúc hai trung đoàn bộ đội từ mạn Tây Bắc tràn vào thành phố, hàng loạt bom B-52 thả xuống trúng đích, và chỉ cách bìa thành phố một cây số khiến quân giải phóng không thể mở rộng, tạo đột phá khẩu vào thành phố. Chỉ trong ngày này, Bộ Tư Lệnh Hoa Kỳ tại Việt Nam đã dành cho chiến trường An Lộc 20 phi vụ B-52 với 2.000 tấn bom đủ loại. Một lần nữa quân VNCH lại thoát hiểm.
    Cùng lúc đó, cánh quân thứ tư của Sư Đoàn 9 QDND với một trung đoàn được yểm trợ bởi 10 xe tăng dẫn đầu, đã đánh thốc từ dưới lên trên, theo ngã Tây Nam vào lúc 6 giờ 30 sáng. Lực lượng trú phòng giữ mặt này chống trả dữ dội nên mũi tấn công không thể tiến thêm được. Tuy nhiên, ở cả hai mặt Bắc lẫn Nam, một số đơn vị đã xâm nhập được vào thành phố và chia thành nhiều tổ chiến đấu nhỏ, buộc quân VNCH suốt ngày 12 tháng 5/1972, phải cố sức đánh cận chiến để đẩy các toán quân giải phóng ra ngoài. Mãi cho đến tối, chiến trường mới tạm lắng dịu. Pháo binh lại bắn liên hồi vào bên trong An Lộc.
    [sửa] Cuộc tấn công lần thứ 6

    Sau 4 tiếng đồng hồ để cho pháo binh tác xạ, đồng thời xếp đặt lại đội ngũ, bộ đội lợi dụng thời tiết xấu với những cơn mưa như trút tấn công vào, từ cả ba mặt Ðông Bắc, Tây và Nam. Như vậy, họ đã liên tục tấn công vào 6 mặt chung quanh An Lộc trong 3 ngày liên tiếp. Trong 3 ngày giao tranh, có đến 600 binh sĩ của đôi bên chết ngổn ngang trên đường phố, chưa kể số tổn thất của phía Cộng Sản vì B-52. Do thiệt hại nhiều, binh lính Biệt Cách Dù phải tạo dựng được một nghĩa địa để chôn cất người chết. Nghĩa địa Biệt Cách Dù nằm sát ngôi chợ Bình Long và được khắc 2 câu thơ :
    An Lộc địa, sử ghi chiến tích
    Biệt Cách Dù vị quốc vong thân
    Gần 40 ngày đã trôi qua, và lực lượng tấn công dù chuẩn bị kỹ càng cũng gặp khó khăn do lương thực và đạn dược cho một trận chiến quá lâu dài với một cường độ khốc liệt như vậy. Bom đạn hàng ngày tàn phá các vị trí tiếp liệu, đánh phá các đường tiếp tế. Vũ khí, đạn dược mỗi ngày một hao mòn. Trên 50 chiến xa bị bắn cháy. Bộ đội miền Bắc lớp chết, lớp bị thương phải lo di tản... Bao nhiêu sự khó khăn dồn dập trong lúc hậu phương lại quá xa. Mỗi ngày qua đi là gánh nặng càng thêm chồng chất.
    Tập tin:Anloc1.jpg Xác 1 người lính tăng thiết giáp Bắc Việt bị bắn chết ở An Lộc bên cạnh chiếc xe bốc cháy


    Hàng này, các chiến sĩ giải phóng đã chia nhau đi lượm những cánh dù tiếp tế bị gió thổi bay ra khỏi vòng đai an ninh của VNCH. Quân trú phòng Việt Nam Cộng Hòa cũng chẳng hơn gì. Hàng trăm thương binh không được di tản từ 40 ngày qua nằm dài chung quanh các phi trường để mỏi mòn chờ đợi trực thăng. Nhưng sân bay nào cũng là mục tiêu chọn sẵn của pháo binh giải phóng. Vừa thấy bóng trực thăng thấp thoáng ở đâu là pháo binh câu ngay đến đó. Tuy vậy, thỉnh thoảng một vài phi công gan lỳ cũng đáp xuống được, di chuyển được một số binh sĩ.
    Trong khi đó, càng tiến đến An Lộc, đoàn quân giải tỏa càng bị thiệt hại nặng. Trung Tướng Nguyễn Văn Minh đành thay đổi chiến thuật: Ưu tiên vào việc càn quét những đơn vị chung quanh An Lộc và dọc theo quốc Lộ 13, sau đó dọn đường cho lực lượng Bộ Binh tiến vào An Lộc. Toàn bộ Sư Ðoàn 21 Bộ Binh và các lực lượng tăng phái gồm Trung Ðoàn 9, Biệt Động Quân Biên Phòng, Thiết Giáp, Nhảy Dù quyết thu ngắn khoảng cách.
    Pháo đài bay B-52, phản lực cơoanh tạc cơ đã ráo riết tấn công để dọn đường. Quân giải tỏa ào ạt tiến lên, vượt được suối Tàu Ô, qua Tân Khai, Xa Cát, Xa Trạch. Nhưng đến trưa 16 tháng 5/1972, đoàn quân này chỉ còn cách An Lộc khoảng 3 km thì bị khựng lại bởi sức phản kích quyết liệt của bộ đội.
    [sửa] Cuộc tấn công lần thứ 7

    Ngày 19 tháng 5/1972 là ngày mừng sinh nhật chủ tịch Hồ Chí Minh. Theo tin tức của một tù binh cao cấp miền Bắc bị bắt tại An Lộc thì bộ tham mưu phe Cộng sản [cần dẫn nguồn] sẽ cử hành lễ này trước đó 3 ngày, để khích lệ tinh thần chiến sĩ lần chót quyết chiếm thị trấn này vào ngày 19 tháng 5/1972, mừng sinh nhật Bác Hồ.
    Nhưng do một toán Biệt Kích VNCH khi được tung vào vùng tình nghi 16 km về phía Tây Nam tỉnh Bình Long đã phát hiện vị trí của ban tham mưu nên sau khi nhận đúng tọa độ, toán Biệt Kích gọi về Bộ Chỉ Huy Hành Quân. Sáu phi vụ B-52 đã liên tiếp dội bom xuống vùng này. Do đó, bộ đội đã không thể mở được trận đánh vào ngày 19 tháng 5/1972 như đã dự định.
    Tuy nhiên, sau khi mau chóng sắp xếp lại lực lượng, ngày 23 tháng 5/1972, từ rạng sớm cho đến xế chiều, quân miền Bắc lại mở liên tiếp 4 đợt tấn công bằng xe tăng vào các đơn vị Việt Nam Cộng Hòa tại khu vực Nam và Tây Nam An Lộc, cách thị trấn này từ 1 đến 5 km, nhưng những mũi tiến công của họ không còn sắc bén như lúc đầu, nên 1 lần nữa, họ bị đẩy lui. Sau khi trận đánh này kết thúc, có thêm 13 xe tăng Cộng Sản bị hạ, gồm 5 chiếc T-54 và 8 chiếc PT-76.
    Trong lúc này, lực lượng cố thủ tại An Lộc đã rất kiệt quệ, nếu có thể mở thêm 1 đợt tấn công lớn nữa, ắt An Lộc sẽ thất thủ. Tuy nhiên, do những thắng lợi vượt ngoài dự đoán của quân giải phóng ở mặt trận Trị Thiên (chiến dịch Trị Thiên) mà những lãnh đạo cấp cao của quân đội ở Hà Nội quyết định chuyển hướng, không tập trung tấn công ở Đông Nam Bộ nữa mà ưu tiên chuyển quân lính, trang thiết bị và binh khí kỹ thuật hiện đại sang chiến trường Trị Thiên[cần dẫn nguồn]. Không nhận được tiếp liệu đầy đủ, quân giải phóng ở An Lộc gặp nhiều khó khăn.
    Lúc này, lực lượng giải tỏa vẫn ì ạch tại đồn điền Xa Cam và Quốc lộ 13 vẫn bị mai phục bằng pháo và các ổ phục kích. Hai trung đoàn Bộ Binh Việt Nam Cộng Hòa vẫn tiếp tục lục soát, tảo thanh chung quanh vòng đai phía Nam An Lộc. Qua máy truyền tin, các lực lượng An Lộc biết được quân tiếp viện còn cách họ không xa mấy.
    Không quân chiến thuật yểm trợ quân Việt Nam Cộng Hòa tại vùng Nam An Lộc, trong lúc không quân chiến lược với B-52 liên tiếp dội bom xuống phía Bắc thị trấn, phá vỡ các kho vũ khí, đạn dược ít ỏi vừa mới được miền Bắc chuyển tới.
    Theo phía VNCH, Trung Ương Cục R (bộ chỉ huy của toàn thể lực lượng quân giải phóng tại miền Nam Việt Nam) khẩn báo về Trung Ương Đảng ngoài Bắc về sự thiệt hại nặng nề của các đơn vị tham chiến tại An Lộc. Bản báo cáo này nêu rõ trường hợp điển hình là Trung Ðoàn 209, sau một thời gian trấn giữ ở hai địa danh Bầu Bàng và Tàu Ô đã tan nát[cần dẫn nguồn]. Mỗi đại đội còn không đầy 30 người, và mỗi tiểu đoàn chỉ còn khoảng 90 so với quân số lúc đầu là 350 người. Cục R cũng than phiền khả năng chiến đấu của Sư đoàn Bình Long quá yếu kém, vì phân nửa lực lượng này là lính Khmer Đỏ[cần dẫn nguồn], tinh thần kém.
    Trong tình thế này, quân lực Việt Nam Cộng Hòa tại mặt trận An Lộc dần dần chuyển từ thế thủ ra công, giải tỏa được vòng vây đối phương.
    Trung Tướng Nguyễn Văn Minh, khi tiếp xúc với báo chí tại Lai Khê ngày 31 tháng 5/1972 đã mô tả trận chiến này là trận đánh khó khăn nhất và dài nhất trong cuộc đời binh nghiệp của ông. Ông thừa nhận:
    "Cộng Sản Bắc Việt đã đạt được một lợi thế ngay từ đầu với quân số đông gấp bốn lần, và quân đội Việt Nam Cộng Hòa đã phải chấp nhận khá nhiều tổn thất. Tuy hiên, sau 54 ngày giao tranh, Cộng quân đã thiệt hại ít nhất là 30.000 bộ đội trong tổng số 4 sư đoàn (trên thực tế chỉ có 10.000 chiến sĩ chết và 15.000 bị thương, không đến 30.000 như tướng Minh nói). Mưu đồ của Cộng Sản Bắc Việt mong tiến đánh thủ đô Saigon đã hoàn toàn bị chặn đứng tại An Lộc."

    Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu (phải) và Tướng Lê Văn Hưng gặp lại nhau sau chiến thắng An Lộc


    Trung tướng Trần Văn Trà nhận xét về trận An Lộc
    "Trận An Lộc, quân giải phóng đã chịu nhiều bất lợi: hành quân gấp; vũ khí, đạn dược thiếu thốn; công tác tiếp vận kém. Địch có hỏa lực áp đảo do Hoa Kỳ hỗ trợ, đặc biệt là máy bay B-52. Quân giải phóng đã chịu một thiệt hại không nhỏ nhưng từ đó chúng ta đã rút ra được những bài học vô giá cho các chiến dịch sau này, đồng thời cũng nhận ra sự yếu kém của địch nếu không có sự yểm trợ từ hoa lực Hoa Kỳ"
    Cũng vào ngày cuối tháng 5/1972, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã bay thị sát hai mặt trận Kontum và Thừa Thiên, cả hai mặt trận đều đang đắm chìm trong lửa đạn. Ðồng thời tổng thống cũng phát động chiến dịch 18 ngày thi đua "giết giặc" mừng ngày quân lực 19 tháng 6. Chiến dịch sau đó có kết quả tốt; giải tỏa thị xã Kontum, khắc phục Quốc Lộ 13 để mở đường tiếp viện cho An Lộc một tuần sau đó[cần dẫn nguồn].
    [sửa] Kết thúc trận An Lộc

    Số liệu về lực lượng của Quân đội Nhân dân Việt Nam trong trận An Lộc[12]


    Quân đội Nhân dân Việt NamQuân sốSư đoàn 59.230Sư đoàn 78.600Sư đoàn 910.680Đơn vị pháo binh 693.830Các đơn vị độc lập khác3.130
    Trung Ðoàn 33 thuộc Sư Ðoàn 21 Bộ Binh và Trung Ðoàn 15 thuộc Sư Ðoàn 9 cùng tiểu đoàn Nhảy Dù song song tiến lên, khởi đầu từ Xa Trạch. Tiểu Ðoàn 6 Nhảy Dù bị đánh tan nát từ ngày 21 tháng 4/1972 tại Đồi Gió cũng đã được tái bổ sung.
    Với sự hỗ trợ của hai trung đoàn bạn, Tiểu Ðoàn 6 Nhảy Dù càn quét các đơn vị Cộng Sản cản đường, và chiều tối ngày 8 tháng 6/1972, Ðại Ðội 62 của Tiểu Ðoàn 6 Dù bắt tay được với một đại đội của Tiểu Ðoàn 8 Dù trấn giữ vùng Nam An Lộc từ ngày 17 tháng 4/1972.
    Trước đây hai Tiểu Ðoàn 6 và 8 đã được trực thăng vận xuống ấp Srok Ton Cui ngày 15 tháng 4, nhưng lạc nhau kể từ đó. Đến nay lại gặp nhau trên cửa ngõ An Lộc, các binh sĩ của hai tiểu đoàn đến ôm chầm lấy nhau, siết chặt tay nhau, mừng mừng, tủi tủi. Trung Ðoàn 15 thuộc Sư Ðoàn 9 và Trung Ðoàn 33 thuộc Sư Ðoàn 21 Bộ Binh, những đơn vị kềm chặt bộ đội để tiểu đoàn Nhảy Dù tiến lên, cũng cử những đơn vị đại diện đến bắt tay với lực lượng bên trong An Lộc.
    Vòng đai bảo vệ thị trấn An Lộc được mở rộng, trực thăng có thể đáp an toàn để tải thương, đồng thời tiếp viện và tiếp tế cho chiến trường. Hàng chục ngàn binh sĩ được đổ vào An Lộc với đầy đủ lương thực, để thay thế bớt cho những binh sĩ đã kiệt sức, hoặc quá mệt mỏi. Tuy nhiên, phần lớn lực lượng của Sư Ðoàn 21 Bộ Binh của Tướng Hồ Trung Hậu, vẫn ở ngoài thị trấn.
    Sau cuộc giao tiếp đối với cánh quân giải tỏa Quốc Lộ 13, quân VNCH dồn mọi nỗ lực để tiêu diệt địch chung quanh An Lộc, nhất là những ổ phòng không và đại pháo của Cộng Sản còn sót lại.
    Ngày 9 tháng 6/1972, lần đầu tiên kể từ hai tháng qua, một đoàn trực thăng 23 chiếc hạ cánh an toàn xuống An Lộc, vừa tiếp tế, vừa đổ quân, để rồi bốc thương binh ra. Quân trú phòng phấn khởi, tiến lên chiếm lại những vị trí của đối phương cố thủ tại phía Bắc An Lộc. Những tổ kháng cự bên trong thị trấn cũng lần lượt bị hạ. Cuộc di tản thương binh và thường dân vẫn được tiếp diễn đều đặn.
    Ngày Chủ nhật 11 tháng 6/1972, Tổng Thống Thiệu chuyển lời khen ngợi nồng nhiệt của ông đến Trung Tướng Nguyễn Văn Minh, Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng, Chuẩn Tướng Hồ Trung Hậu (tư lệnh Sư Ðoàn 21 Bộ Binh), và tất cả các đơn vị trưởng cùng toàn thể các chiến sĩ thuộc mọi quân binh chủng đã chiến đấu bảo vệ thị xã An Lộc và khai thông Quốc Lộ 13.
    Trong lúc đó, Liên Ðoàn 81 Biệt Cách Nhảy DùLiên Ðoàn 3 Biệt Động Quân đã cùng song song tiến lên mặt Bắc An Lộc. Tiểu Ðoàn 36 Biệt Động Quân cắm ngọn cờ vàng ba sọc đỏ đầu tiên tại trại gia binh pháo binh ngày 12 tháng 6/1972. Kế đó, Tiểu Ðoàn 52 Biệt Động Quân đánh lên mặt Tây Bắc, sát sân bay và cạnh đồi Đồng Long. Tiểu Ðoàn này đã chế ngự một cao điểm sát đồi Đồng Long để yểm trợ cho lực lượng Biệt Cách Dù tấn công chiếm được ngọn đồi, cắm cờ trên đồi này. Ngọn đồi này cao 128 mét, và là nơi quân giải phóng đặt pháo binh bắn vào An Lộc từ mấy tháng qua.
    Sau cái bắt tay giữa hai tiểu đoàn Nhảy Dù vào ngày 8 tháng 6/1972 lực lượng trú phòng tại An Lộc dò dẫm tiến lên mạn Bắc Quốc Lộ 13 và nới rộng thêm vòng đai phòng thủ. Ngày 12 tháng 6/1972 khi quốc kỳ Việt Nam Việt Nam Cộng Hòa bay trên đỉnh đồi Đồng Long, Tướng Lê Văn Hưng tuyên bố với phái viên Vô Tuyến Việt Nam, "Thành phố An Lộc được hoàn toàn giải tỏa."
    Tuy Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa tuyên bố chiến thắng nhưng từ trận đánh này những điểm yếu chết người của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa bị phơi bày là họ quá phụ thuộc vào sự hỗ trợ của Mỹ như từ những vũ khí hạng nặng như B52, những điểm yếu này cũng là là tiền đề dẫn đến thảm bại và tan rã hòan tòan của đội quân này sau khi không còn sự hỗ trợ của Mỹ[13] .

  7. #7
    Ngày gia nhập
    Sep 2009
    Nơi cư ngụ
    Sài gòn
    Bài gửi
    193
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    0
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)
    Thảm sát tại Huế Tết Mậu Thân (tiếng Anh: Hue massacre) là tên gọi một sự kiện trong Chiến tranh Việt Nam về việc tìm thấy một số lượng lớn các ngôi mộ tập thể của những người đã chết tại Huế. Việc phát hiện này bắt đầu được tiến hành sau khi Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đã có một cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân vào Huế và đã rút lui sau một tháng chiếm đóng.
    Một số nhà chức trách MỹViệt Nam Cộng hòa và một số nhà báo đã coi các phát hiện này cùng với các chứng cứ khác là bằng chứng cho khẳng định rằng một hành động tàn bạo ở quy mô lớn đã được thi hành ở Huế và vùng lân cận trong 4 tuần do Quân giải phóng miền Nam chiếm giữ. Một vài nguồn trong số đó cho rằng các vụ giết người này là có chủ tâm và là một phần của một cuộc thanh trừng quy mô lớn cả một tầng lớp trong xã hội. Một số nguồn khác, trong đó có những người phản đối chiến tranh, thì khẳng định rằng số lượng và hoàn cảnh của những người bị thiệt mạng đã bị khuếch đại và ngụy tạo để phục vụ mục đích tuyên truyền trong chiến tranh.
    Bối cảnh
    Sáng sớm ngày 31 tháng 1 năm 1968, trong dịp Tết Nguyên Đán, quân đội Bắc Việt và quân Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (MTDTGPMNVN) cùng lúc tấn công bất thình lình tại nhiều thành phố và địa phương trên miền Nam Việt Nam - trong đó có Sài Gòn và Huế. Cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân tuy được xem là một thất bại quân sự nhưng lại là một chiến thắng có tầm vóc lớn về chính trị[cần dẫn nguồn]. Sau các thành công quân sự ban đầu, họ lập tức bị đẩy lui khắp nơi, trừ Huế.
    Với mục đích giành giật chủ quyền tại Huế, trận chiến 28 ngày giữa MTDTGPMNVN với Quân đội Hoa KỳQuân lực Việt Nam Cộng hòa (QLVNCH) đã diễn ra và kết quả là 40% thành phố bị tàn phá, 116.000 người mất nhà ở. Quân đội Hoa Kỳ và QLVNCH báo cáo có khoảng 5.000 lính MTDTGPMNVN bị giết bên trong Thành nội Huế và 3.000 người khác ở các vùng lân cận. Cũng trong cuộc tái chiếm này, trong số 17134 ngôi nhà tại Huế, 9776 bị phá hủy hoàn toàn, 3169 bị hỏng nặng; số thường dân thiệt mạng theo ước tính đầu tiên của chính phủ Việt Nam Cộng hòa là 3776 người; MTDTGPMN nói rằng họ đã chôn cất rất nhiều nạn nhân bom đạn tại các khu mộ tập thể cùng với binh sĩ tử trận của chính họ[1].
    Số liệu về các hố chôn tập thể

    Sau sự kiện Tết Mậu Thân khoảng một tháng, một số lượng lớn các ngôi mộ tập thể của những người đã chết tại Huế đã dần được tìm thấy. Số liệu từ các nguồn khác nhau có sự không thống nhất.
    Theo báo cáo tổng kết của Douglas Pike[2], lúc bấy giờ là nhân viên hành chính ngoại giao của cơ quan thông tin Hoa Kỳ, năm 1970:
    "Câu chuyện (về Huế) chưa chấm dứt. Nếu ước đoán của giới chức Huế được coi như gần đúng, khoảng 2.000 người vẫn còn mất tích. Tổng kết về người chết và mất tích như sau:
    • Tổng số dân sự tử vong: 7.600 - chết lẫn mất tích
    • Chiến trường: - 1.900 bị thương vì chiến cuộc; 944 thường dân chết vì chiến cuộc
    • Nạn nhân của những vụ giết tập thể:
    1.173 - số tử thi tìm trong đợt đầu sau cuộc chiến, 1968 809 - số tử thi tìm trong đợt nhì, kể cả tìm thấy ở đụn cát, tháng 3-7 năm 1969 428 - số tử thi tìm trong đợt thứ ba, trong khe Đá Mài (khu Nam Hoa) - tháng 9 năm 1969 300 - số tử thi tìm trong đợt thứ tư, khu Phu Thu, tháng 11 năm 1969 100 - số tử thi tìm thấy các nơi trong năm 19691.946 - mất tích (tính đến năm 1970)"Theo Gareth Porter[3], một học giả Mỹ, các ước lượng ban đầu của Bộ Di dân và An sinh Xã hội Việt Nam Cộng hòa, số dân thường thiệt mạng do giao tranh và bom pháo là 3.776, trên tổng số dân thường bị thương, chết hoặc mất tích là 6700 người[4], chứ không phải các con số 944 và 7600 do Tiểu đoàn Chiến tranh Chính trị số 10 của Quân lực Việt Nam Cộng hòa đưa ra[5]. (Các con số 944 và 7600 này đã được Pike Douglas dùng trong thống kê của mình.)
    Về các con số cụ thể tại các địa điểm khai quật, Gareth Porter[3] viết:
    "...tại địa điểm trường trung học Gia Hội, báo cáo chính thức của Mỹ, dựa trên thông tin cung cấp bởi Tiểu đoàn Chiến tranh Chính trị số 10, đưa ra tổng số 22 mộ tập thể và 200 tử thi, với bình quân 9 tử thi mỗi mộ. Nhưng khi Steward Harris [phóng viên Thời báo Luân Đôn] được đưa đến địa điểm đó, người sĩ quan Việt Nam hộ tống nói với anh ta rằng mỗi ngôi mộ trong số 22 ngôi có từ 3 đến 7 xác, cho ra tổng trong khoảng từ 66 đến 150. Cũng khoảng trong thời gian đó, Tiểu đoàn Chiến tranh Chính trị số 10 xuất bản một cuốn sách nhỏ dành cho người đọc Việt Nam, trong đó nói rằng tại trường học có 14 mộ (chứ không phải 22), con số này còn làm giảm tổng số hơn nữa."Cũng theo Gareth Porter, Alje Vennema[6], một bác sỹ làm việc cho một đội y tế Canada tại bệnh viện Quảng Ngãi và đã tình cờ có mặt tại Bệnh viện Huế trong thời gian xảy ra sự kiện Tết Mậu Thân, nói tổng số tử thi tại bốn địa điểm chính được phát hiện ngay sau Tết là 68, chứ không phải con số 477 như đã được tuyên bố chính thức.
    Nguyên nhân

    Pike


    " ... có 3 giai đoạn đưa đến những vụ xử tử.Giai đoạn đầu là một loạt các cuộc xử án bất hợp pháp công cộng kéo dài khoảng 5 - 10 phút do giới chức trong quân Bắc việt hay Việt cộng dựng lên. Bị cáo luôn bị kết án 'có tội với nhân dân'.Giai đoạn nhì, khi họ cho rằng họ sẽ giữ được Huế lâu dài, quân Bắc việt / Việt cộng bắt đầu tiến hành công tác giáo dục tư tưởng yêu nước cho quần chúng. Những ai bị tình nghi có thái độ chống cách mạng từ từ bị truy lùng trong giai đoạn này. Người theo đạo công giáo, các nhà trí thức, thương gia, và đám người bị tội làm 'tay sai Đế quốc' bị chiếu cố để 'tạo dựng xã hội mới'Giai đoạn sau cùng, khi thấy rõ họ đang bị đánh bật ra khỏi Huế, quân Bắc việt / Việt cộng thi hành những vụ thủ tiêu nhân chứng - bất cứ ai biết mặt họ, nhìn thấy những tội ác trong lúc Huế bị chiếm đều bị giết và chôn mất xác."Nhiều tác giả sử dụng báo cáo của Pike, trong khi nhiều người khác thì phủ nhận, cho rằng đây là một chiêu bài tuyên truyền của Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa để tạo hỗ trợ cho sự hiện diện của quân đội Mỹ tại Việt Nam. Trong những thời gian đầu cuộc chiến, nhiều phóng viên chiến trường phải viết phóng sự tuân theo một quy định áp đặt từ chính phủ Hoa Kỳ.
    Porter

    Về sau có khảo cứu của Gareth Porter[3] về vụ thảm sát Huế, trong đó, ông chỉ trích những phóng đại tuyên truyền từ Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hòa. Ông nói các thông tin về cái gọi là đàn áp tôn giáo là thiếu chính xác[7]. Ông đã nêu ra các nguồn gốc không xác thực của những thông tin về vụ "thảm sát"[8]; sự không rõ ràng trong việc điều tra tại thực địa các ngôi mộ tập thể[9]; những mâu thuẫn trong các báo cáo về số lượng tử thi tìm thấy; những mâu thuẫn với kết quả tìm hiểu của một bác sỹ y khoa làm việc tại Huế lúc đó; một số chi tiết đáng chú ý xung quanh các cuộc khai quật vào năm 1969; những mâu thuẫn giữa bài viết của Douglas Pike với các nguồn thông tin khác[10]; những mâu thuẫn trong các lời khai của "người làm chứng" cho vụ thảm sát[11]; và kết quả của những trận bom của Mỹ tại Huế[12].
    Gareth Porter cho biết rằng một người bác sỹ có mặt tại Huế vào thời điểm tìm thấy các mộ chôn, Alje Vennema[6], viết rằng đối với các địa điểm trong khu lăng vua, hầu hết các tử thi có dấu vết của quân phục. Vennema kể rằng đã hỏi chuyện các dân làng gần đó, họ nói rằng trong các ngày 21 đến 26 tháng 2 khu vực trung gian đã bị bom và pháo dữ dội. Và, trái với các tuyên bố của chính phủ rằng nhiều nạn nhân đã bị chôn sống tại đó, Vennema nói rằng tất cả các tử thi đều có các vết thương.
    Trong kết luận của bài viết, Gareth Porter đồng ý rằng có những vụ xử tử, giết người tại Huế trong giai đoạn chiếm đóng; tuy nhiên không có bằng chứng cụ thể về nguyên nhân của những cái chết.
    "Các bằng chứng có được -- không phải từ nguồn của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam, mà từ nguồn chính thức của Hoa KỳViệt Nam Cộng Hòa và từ các quan sát viên độc lập -- cho thấy rằng câu chuyện chính thức về một cuộc tàn sát bừa bãi đối với những người được cho là không thích hợp với Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam là hoàn toàn bịa đặt. Không chỉ số lượng các thi thể được tìm thấy trong và xung quanh Huế đáng nghi vấn, mà quan trọng hơn, nguyên do của các cái chết có vẻ như là bị chuyển từ chính các trận đánh quân sự sang việc xử tử của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam. Và tường trình chi tiết nhất "có thẩm quyền" mà các chính phủ Mỹ hay Việt Nam Cộng hòa đưa ra về sự việc được cho là vụ thảm sát này đã không đứng vững trước các thẩm định Young

    Marilyn B. Young trong sách tựa đề The Vietnam Wars, 1945-1990[14]ghi lại:
    "Trong những ngày đầu của cuộc chiếm đóng quả thực có những vụ xử tử công khai tại chỗ ... khi trận chiến gần kết thúc bởi cuộc công pháo, lính miền Bắc trên đường rút lui xử tử những người họ đang giam giữ thay vì thả họ ra hay bắt theo làm tù binh - với con số người chết không nhiều như chính phủ Sài gòn và Washington công bố, nhưng nhiều đủ để tạo những câu hỏi tang thương cho những người sống sót ở Huế..."Philip W. Manhard, một cố vấn cao cấp Hoa Kỳ tại Huế bị bắt đem ra trại tù binh ở miền Bắc Việt Nam (được thả năm 1974). Ông còn nhớ rõ những vụ bắn giết tại chỗ những người già yếu không đủ sức đi theo cuộc di tản tù nhân.
    Năm 1969, phóng viên Don Oberdorfer sang ở Huế 5 ngày với Paul Vogle, giáo sư dạy Anh Văn người Mỹ tại Đại học Huế, và phỏng vấn nhiều nhân chứng trong thời gian Huế bị quân MTDTGPMNVN chiếm đóng. Theo Oberdorfer, các vụ giết người chia làm hai loại:
    1. Loại xử tử có kế hoạch cho những giới chức chính phủ nam Việt Nam và gia đình thân quyến của họ, nhân viên chính phủ và dân sự và những người "theo Mỹ".
    2. Loại bắn tại chỗ những ai chạy trốn không trả lời thẩm vấn, những ai nói xấu về cuộc chiếm đóng Huế, những ai có thái độ "không tốt" với quân cai quản.
    Tuy không thể minh định bằng nguồn tin nào khác, Oberdorfer báo cáo rằng hầu hết những người nam trên 15 tuổi trốn tránh trong một nhà thờ khu Phú Cam đều bị đem đi và bắn chết. Khi Oberdorfer phỏng vấn Hồ Tý, một chỉ huy Việt Cộng trong cuộc tổng tấn công 1968 đã đào ngũ, ông này cho biết Đảng Cộng sản Việt Nam có lưu ý đặc biệt về khu công giáo Phú Cam vì "người công giáo là kẻ thù của chúng tôi".
    Chú thích

  8. #8
    Ngày gia nhập
    May 2009
    Nơi cư ngụ
    HCMC
    Bài gửi
    4.407
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    43
    Uploads
    52
    Mentioned
    1 Post(s)
    Tagged
    2 Thread(s)
    Hì nhiều trận đánh lắm nên chỉ cần một bảng liệt kê cùng với link là OK. Khỏi C&P chi cho chật đất. Tuy nhiên những trận nào còn sơ lược nay bổ xung thêm hay có thêm minh họa vì OK (có creative của các bác trong đó)

Chủ đề tương tự

  1. Chiến thuật - chiến lược trong chiến tranh hiện đại .
    By hoanglongvn in forum Hỏi đáp, trao đổi kiến thức Quân sự - Quốc phòng
    Trả lời: 61
    Bài mới gửi: 21-05-2012, 09:25 AM
  2. Trả lời: 78
    Bài mới gửi: 12-05-2012, 04:18 PM
  3. Trả lời: 19
    Bài mới gửi: 14-06-2010, 05:26 AM
  4. Gián - chiến binh quả cảm trong chiến tranh hạt nhân
    By Quân_Đội_Anh_Hùng94 in forum Hỏi đáp, trao đổi kiến thức Quân sự - Quốc phòng
    Trả lời: 26
    Bài mới gửi: 05-06-2010, 03:11 PM

Bookmarks

Quyền hạn Gửi bài

  • Bạn không thể gửi chủ đề
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài của mình
  •