HOANGSA.ORG ĐÃ CHUYỂN SANG DIỄN ĐÀN MỚI- DIỄN ĐÀN CŨ CHỈ ĐỂ LƯU TRỮ KHÔNG THỂ VIẾT BÀI.

ĐỂ ĐI ĐẾN DIỄN ĐÀN MỚI XIN VUI LÒNG CLICK VÀO ĐÂY HTTP://HOANGSA.ORG/F

HOANGSA.ORG ĐÃ CHUYỂN SANG DIỄN ĐÀN MỚI- DIỄN ĐÀN CŨ CHỈ ĐỂ LƯU TRỮ KHÔNG THỂ VIẾT BÀI.

ĐỂ ĐI ĐẾN DIỄN ĐÀN MỚI XIN VUI LÒNG CLICK VÀO ĐÂY HTTP://HOANGSA.ORG/F

User Tag List

Trang 1 trong 4 123 ... Cuối cùngCuối cùng
Kết quả từ 1 tới 10 trên 32
  1. #1
    Ngày gia nhập
    May 2009
    Nơi cư ngụ
    HCMC
    Bài gửi
    4.407
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    43
    Uploads
    52
    Mentioned
    1 Post(s)
    Tagged
    2 Thread(s)

    Tìm kiếm chủ quyền HS-TS từ phía Chăm pa

    Trong lịch sử, người Việt chưa bao giờ là một dân tộc đi biển giỏi. Thế nhưng trên đất nước Việt Nam đã từng có những tộc người biết làm chủ biển cả. Họ đã dong thuyền đi đến Nhật Bản, TQ, Mã lai, Philippin...từ hàng nghìn năm trước.
    Do đó ta có thể thử tìm kiếm chủ quyền TS-HS cho Việt Nam thông qua những cuộc hải hành của họ
    Sửa bởi vaputin : 21-10-2009 lúc 08:48 AM

  2. #2
    Ngày gia nhập
    May 2009
    Nơi cư ngụ
    HCMC
    Bài gửi
    4.407
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    43
    Uploads
    52
    Mentioned
    1 Post(s)
    Tagged
    2 Thread(s)
    Người Sa Huỳnh và tầm nhìn hướng biển

    Đồ trang sức Sa Huỳnh: khuyên tai 3 mấu nhọn bằng đá, đất nung, hạt chuỗi bằng đá mã não, hạt cườm thuỷ tinh... khai quật được tại khu mộ Động Cườm (Bình Định).

    (LĐCT) - Cách đây nửa thế kỷ, một nhà khoa học Mỹ đã nhận thấy có sự giống nhau lạ lùng giữa đồ gốm của văn hoá Sa Huỳnh (Việt Nam) và đồ gốm ở Kalanay (Philippines). Theo ông có thể giữa hai vùng xa xôi cách biển này có những mối quan hệ giao lưu văn hoá mật thiết...
    Sa Huỳnh - Trường Sa - Palawan

    Ông là nhà khảo cổ học dạy ở Đại học Hawaii (Mỹ), tên là W.G. Solheim II. Theo ông, gốm của hai nơi giống nhau đến nỗi có thể xếp chung vào một nhóm mà ông đặt tên và khảo cứu công phu trong nhiều bài viết: nhóm "phức hệ gốm Sa Huỳnh-Kalanay".

    Những đồ gốm của hai nơi này đều có những kiểu dáng giống nhau, cách trang trí hoa văn bằng mép vỏ sò biển hay bằng cách tô màu, đồ gốm có chân đế cao được trổ lỗ thủng... Công trình của ông đã được nhiều nhà khảo cổ học nước ngoài thừa nhận.

    Bốn mươi năm sau phát hiện về mối liên hệ văn hoá cổ đại giữa miền Trung Việt Nam và quần đảo Philippines, năm 2000, với những tài liệu mới, ông lại khẳng định một cách rõ rệt hơn: tổ tiên của một số tộc người sử dụng gốm cổ ở Philippines đến từ Việt Nam. Con đường đó được ông giả định là con đường biển băng qua Borneo theo cả hai hướng bắc và nam đảo này để đến Philippines.

    Một nhà khảo cổ học nổi tiếng khác người Australia - ông P. Bellwood - trong cuốn sách "Tiền sử vùng quần đảo Indo-Malaysian" cũng khẳng định con đường giao lưu Việt Nam và Philippines qua vùng đảo Borneo theo góc nhìn khảo cổ học, dân tộc học và ngôn ngữ học.

    Các nhà khoa học Philippines cũng hoàn toàn ủng hộ quan điểm giữa hai vùng biển này có mối quan hệ mật thiết trong thời cổ đại. Học giả Eusebio Z. Dizon ở Bảo tàng Quốc gia Philippines nghiên cứu các loại khuyên tai đá ngọc ở quần đảo này đã khẳng định một số khuyên tai độc đáo như khuyên tai hai đầu thú tìm được ở hang Duyong là do người cổ đại ở đây có sự tiếp xúc với người ở vùng lục địa Đông Nam AÁ theo con đường biển vào khoảng thời gian 500 năm trước Công nguyên cho đến 500 năm sau Công nguyên.

    Vậy là, từ bên ngoài và từ các học giả nước ngoài, văn hoá Sa Huỳnh đã được nhìn nhận như một nền văn hoá hướng biển, có mối giao lưu rộng rãi đến tận các vùng quần đảo xa xôi.

    Ba chục năm gần đây, các nhà khoa học trong nước đã nghiên cứu văn hoá Sa Huỳnh một cách hệ thống hơn, hàng chục di tích văn hoá Sa Huỳnh được khai quật. Diện mạo nền văn hoá này đã được làm sáng tỏ nhiều phần.

    Những tư liệu mới đã cho thấy dự cảm khoa học của học giả W.G. Solheim II là có cơ sở, nhiều đồ gốm của hai nước trong thời cổ đại khá giống nhau từ chất liệu, cách chế tác đến kiểu dáng, hoa văn trang trí. Có thể đã có những đồ gốm văn hoá Sa Huỳnh được đem sang Philippines trong thời cổ đại. Những tín hiệu rõ ràng hơn về mối liên hệ này lại là những chiếc khuyên tai hai đầu thú và khuyên tai ba mấu nhọn, đặc sản của Sa Huỳnh có mặt ở đây. Các nhà khoa học đều thừa nhận, các loại khuyên tai này chỉ có người Sa Huỳnh cổ đại chế tạo ra.

    Với những tài liệu khảo cổ mới, con đường biển từ Sa Huỳnh đi Philippines đã dần được chắp nối các tuyến hải hành. Dựa vào các dòng hải lưu trên biển, người Sa Huỳnh cổ đã thành thạo đi thuyền dọc biển xuôi nam, bằng chứng là mộ chum và khuyên tai Sa Huỳnh tìm được ở vùng ven biển Cần Giờ (TPHCM).

    Từ cả một dọc bờ biển miền Trung và miền Nam VN có thể người Sa Huỳnh đã đến vùng biển Indonesia, đảo Borneo để có mặt tại Philipines hoặc có thể băng ngang biển Đông để đi tắt đến vùng đảo này. Nhưng dẫu bằng con đường nào thì cũng qua quần đảo Trường Sa của nước ta. Đảo Palawan của Philippines là nơi tìm được khuyên tai hai đầu thú chính là đảo cực tây của Philippines cũng là nơi gần vùng Trường Sa hơn bất cứ đảo nào khác của vương quốc đảo này.

    Trong những năm gần đây, các nhà khảo cổ học đã từng lặn lội 3 lần ra Trường Sa, đã từng khai quật 50 mét vuông trên đảo Trường Sa lớn, thu được một số gốm thô mang đặc trưng của "phức hợp gốm Sa Huỳnh-Kalanay" mà nhà khảo cổ học Mỹ đã nói tới. Một số mảnh sứ tìm được trong hố khai quật cũng được xác định là sứ của người Chăm - hậu duệ của người Sa Huỳnh. Những mảnh sứ này cùng loại với gốm Chăm tìm được ở Cù Lao Chàm (Quảng Nam).

    Còn phải nghiên cứu sâu hơn nữa, nhưng với những tư liệu khảo cổ ở đảo Trường Sa lớn đã hé mở một điều là từ cách đây hàng ngàn năm, có thể người Sa Huỳnh và sau đó là người Chăm ở miền Trung nước ta đã có mặt ở quần đảo Trường Sa và nơi này là đầu cầu để giao lưu văn hoá, trao đổi vật phẩm với đảo Palawan của Philippines, nơi phát hiện khuyên tai hai đầu thú.

    Vậy là, với những chứng tích khảo cổ học, các nhà khoa học đã khôi phục được một tuyến đường biển từ cách đây hơn 2000 năm của người Sa Huỳnh: Sa Huỳnh - Trường Sa - Palawan. Điều đó cũng chứng minh được rằng từ thời văn hoá Sa Huỳnh, trải qua thời các Vương quốc Chăm, quần đảo Trường Sa đã mặt những cộng đồng người miền Trung nước ta khai phá, chỗ dừng chân trong những chuyến đi biển xa về phía tây.

    Khai thác biển Đông

    Cộng đồng người cổ Sa Huỳnh có cả người làm nông nghiệp nương rẫy trên núi cao, như ở các vùng núi Quảng Ngãi, Quảng Nam, Thừa Thiên-Huế. Nhưng tập trung nhất vẫn là các làng xóm ven biển. Họ ưa thích và khéo chọn các thế đất ven biển để quần cư, nhất là vùng các cửa sông lớn đổ ra biển như sông Thu Bồn, sông Trà Bồng, Trà Khúc... Những cửa sông này đều có những làng đông dân mà ngày nay dấu vết còn để lại khá rõ rệt.

    Họ cũng là người ở đảo ven bờ, mà điển hình là 2 làng cổ trù phú ở đảo Lý Sơn, Quảng Ngãi có tên gọi là Xóm Ốc và Suối Chình. Nhiều hòn đảo ven bờ biển Đông ở miền Trung cũng mang nhiều dấu ấn của văn hoá Sa Huỳnh, nơi là làng xóm, nơi là dấu tích mộ táng.

    Nhưng đảo xa cũng chưa phải là nơi người Sa Huỳnh cư trú nhiều lắm mà chính là ven bờ biển, quanh các cồn cát, nơi có nguồn nước ngọt và có những nơi chôn cất cao ráo, sống trên biển để rồi chết được vùi mình trong cát trắng. Chính vậy mà đã tạo ra hàng loạt các "bãi mộ chum" dọc bờ biển Đông, một trong những đặc trưng của nền văn hoá này.

    Người Sa Huỳnh đã là một cư dân có đời sống vật chất cao. Nhưng dấu ấn rõ rệt nhất của họ chính là nghề khai thác biển. Biển còn cho họ dài thêm bước chân trong các chuyến đi các vùng xa để đánh bắt hải sản và trao đổi buôn bán với các tộc người láng giềng.

    Căn cứ vào các loại đồ vật của riêng người Sa Huỳnh chế tạo, đặc biệt là các loại khuyên tai hai đầu thú, khuyên tai hai mấu nhọn, người ta đã biết đến sự giao lưu văn hoá của người Sa Huỳnh không chỉ với người Philippines mà với người trên đảo Đài Loan, người Đông Sơn phía bắc nước ta, người Malaysia, người Thái Lan ven các bờ vịnh biển.

    Các dòng hải lưu "chảy" trên biển đã như các xa lộ đưa người Sa Huỳnh đến nhiều vùng biển còn xa hơn thế, nếu như chúng ta thấy được những nét tương đồng của đồ trang sức hạt chuỗi mã não, các hạt cườm thuỷ tinh hay đá ngọc nhỏ ly ti mà cực kỳ tinh xảo mà người Sa Huỳnh đeo hàng ngày lại khá giống với đồ trang sức đây đó trong các vùng biển xa hơn ở miền tây Ấn Độ, thậm chí cả ở thế giới Arab nữa.

    Biển Đông ngày ấy hẳn là tấp nập với những đoàn thuyền ra khơi tung lưới bắt cá, nhiều chì lưới to nặng đã tìm thấy trong văn hoá Sa Huỳnh chứng tỏ là bắt được nhiều cá biển to. Một số lưỡi câu, mũi lao cũng làm bằng xương cá to nặng chứng tỏ họ cũng đã tận dụng vật dụng lấy từ biển để khai thác biển.

    Người Sa Huỳnh đã thực sự là một trong những tộc người giỏi đi biển nhất bấy giờ ở Đông Nam Á. Biển đối với họ là nhà và cũng giúp họ có được cái "quảng giao" khắp một vùng biển rộng lớn. Khảo cổ học đã giúp chúng ta ngày càng thấy được diện mạo của những người đi biển Sa Huỳnh.


    PGS.TS Trịnh Sinh



    http://www.laodong.com.vn/Home/Nguoi...148262.laodong
    Sửa bởi vaputin : 22-10-2009 lúc 08:16 PM

  3. #3
    Ngày gia nhập
    May 2009
    Nơi cư ngụ
    HCMC
    Bài gửi
    4.407
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    43
    Uploads
    52
    Mentioned
    1 Post(s)
    Tagged
    2 Thread(s)
    Các di vật khảo cổ đào được ở TS cũng thuộc về người Sa Huỳnh


    Họa sĩ khảo cổ Nguyễn Sơn Ca đo đạc để vẽ lại những hiện vật đá- Ảnh: Thế Anh

    Di vật ở Trường Sa

    Đến nay họa sĩ khảo cổ Nguyễn Sơn Ca, người đã gắn bó với nghề suốt gần 30 năm qua, không thể nhớ mình đã thổi hồn cho bao nhiêu ngàn viên đá, mảnh gốm ở các di chỉ trên mọi miền Tổ quốc. Nhưng có một chuyến đi mà ông nhớ rất rõ, đó là chuyến vượt biển Đông cùng đoàn ra khai quật ở quần đảo Trường Sa. Ông nói đó là chuyến đi nhớ đời và đáng giá nhất của mình, bởi nó là dấu ấn quan trọng để đem về đất liền những bằng chứng chủ quyền của Việt Nam ở Trường Sa.
    Ông nói: “Nhớ lại chuyến đi ấy tôi vẫn còn xúc động, vì biết được hàng trăm năm trước ông cha ta đã vượt sóng lớn, biển cả để đến với đảo xa. Điều đó thể hiện tinh thần dân tộc của cha ông thật bất khuất. Chúng tôi luôn lặng người đi mỗi khi phát hiện được những di vật còn sót lại ở Trường Sa. Lặng đi vì thương người xưa, lặng đi vì tình Tổ quốc thiêng liêng. Và vui mừng hơn là từ những dấu vết tìm được ở quần đảo Trường Sa cho biết từ rất sớm người Sa Huỳnh đã hình thành một trục giao thương giữa miền Trung với Trường Sa và đảo Palawan của Philippines. Đó là những phát hiện đáng cho đoàn khảo cổ lưu vào tâm khảm”.
    Nhưng để đưa được những di vật còn sót lại của cha ông từ đảo xa ra ánh sáng là cả một hành trình đầy gian khổ. Họa sĩ Ca nhớ lại: “Ngày đó còn khó khăn nhiều lắm, giấy mực phải tằn tiện từng tí, có khi phải nhịn ăn để mua mực mua giấy đi khai quật. Ở đảo mưa nắng thất thường, sóng lại lớn nên họa sĩ như chúng tôi luôn tâm niệm thà để người ướt chứ không bao giờ để giấy vẽ bị ướt.
    Lúc ấy chưa có phương tiện kỹ thuật hỗ trợ, mọi thứ đều phải vẽ bằng tay. Mỗi cổ vật được đưa lên đều được đo đạc cẩn thận từng tí một, sau đó mới cảm lấy cái hồn mà phác họa. Cả ngày trần mình giữa nắng biển Đông cũng chỉ vẽ được vài cái, cứ thế kéo dài cả tháng trời. Khi cuộc khai quật vừa kết thúc, anh em lên tàu chuẩn bị vào bờ thì thiên tai ập đến, một cơn bão lớn kéo dài cả tuần lễ. Chiếc tàu của đoàn khảo cổ bị bão đánh rệu rã, trôi dạt qua một hòn đảo khác.
    Khi đó chỉ huy trên tàu đã nói anh em ghi lại tên tuổi đề phòng tình huống xấu nhất có thể xảy ra. Ai cũng lo cho mạng sống của mình, lo cho những cổ vật, những mảnh gốm sẽ chìm xuống biển sâu. Nhưng có lẽ tổ tiên đã phù hộ, đã thương Trường Sa xa xôi mà tha cho chúng tôi”.
    Một đời với nghiệp họa sĩ khảo cổ nhưng ông vẫn luôn cảm thấy điều mới trước bàn tay khéo léo của tiền nhân. Cầm trên tay một chiếc khuyên tai bằng đá, ông tâm sự: “Cái này có niên đại đến hàng ngàn năm, vậy mà những họa tiết trang trí của nó vẫn làm người nay rung động. Hay những bức họa trên chiếc trống đồng Đông Sơn, hình ngôi nhà sàn, cái khèn... được vẽ cách điệu, trải qua hàng ngàn năm mà chẳng hề lỗi thời. Ngắm nghía nó, ngẫm nghĩ mới thấy sự tài tình của người xưa. Càng đi càng tiếp cận với di sản cha ông để lại, tôi lại càng bị mê hoặc bởi sự giàu có và phong phú của cái đẹp đến từ ngàn xưa. Đó là cái thú của những người làm công tác khảo cổ”.
    THẾ ANH


    ĐẢO NAM YẾT


    Nằm trong quần đảo Trường Sa, huyện đảo Trường Sa, ở tọa độ 10 độ, 10 phút 15 giây vĩ độ Bắc và 114 độ, 22 phút khinh độ Đông. Năm 1993 khai quật diện tích hố 28 mét vuông ; tầng văn hóa dày từ 35-50cm, thu về 184 hiện vật chủ yếu là đồ sứ và sành. Qua nghiên cứu, các hiện vật có những nét tương đồng với những hiện vật tìm thấy ở di chỉ Thanh Hà (Huế). Chủ nhân là người Việt từng đến sinh sống ở đây từ thế kỷ XIV-XV.

    ĐẢO TRƯỜNG SA

    Trong quần đảo Trường Sa, thuộc huyện đảo Trường Sa, tọa độ 8 độ, 30 phút 50 giây vĩ độ Bắc và 111 độ, 55 phút kinh độ Đông, có tổng diện tích là 171 mét vuông. Khai quật 70 mét vuông năm 1993. Hiện vật tìm thấy là 331 mảnh đồ gốm đồ sành, đồ sứ ; qua nghiên cứu thì chủ nhân của hiện vật là cư dân Việt từng đến và sinh sống ở đây các thế kỷ XIV-XV.
    Sửa bởi vaputin : 22-10-2009 lúc 08:17 PM

  4. #4
    Ngày gia nhập
    May 2009
    Nơi cư ngụ
    HCMC
    Bài gửi
    4.407
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    43
    Uploads
    52
    Mentioned
    1 Post(s)
    Tagged
    2 Thread(s)
    Bản đồ do nhà xuất bản Covens and Mortier tại Amsterdam vào năm 1760 .
    Tựa là "Carte d'une partie de la Chine, les Isles Philippines, de la Sonde, Moluques, de Papoesi, &c. [cartographic material] / dressee sur les relations les plus nouvelles ; I. Condet s. Scale: Scale [ca. 1:8 000 000]."
    Kích thước 52.4 x 48.9 cm. hay 66.0 x 55.0 cm.

    Bản đồ này thuộc tập Atlas nouveau contenant toutes les parties du monde. Amsterdam : Covens & Mortier, (ca. 1760).


    Thực trạng biên giới giữa Đàng Trong và Chiêm Thành (đi ngang qua vịnh Cam Ranh) trên bản đồ cho thấy bản đồ được vẽ trong khoảng thời gian sau năm 1653 khi chúa Hiền (Nguyễn Phúc Tần) tiến sâu vào Nam và lập thêm 2 phủ Thái Khang (Ninh Hòa) và Diên Ninh (Diên Khánh) và trước năm 1693 khi chúa Nguyễn Phúc Chu bắt vua Chiêm, chiếm đất Bình Thuận.

    Cái hay là bản đồ này khẳng định quần đảo Hoàng sa thuộc chủ quyền của xứ Đàng Trong và của Chiêm Thành, Mỗi nước có một số đảo trong quần đảo này.

    Bản đồ này mở ra một hướng mới cho bạn nào muốn chứng minh Champa từng phát hiện, khai thác và thiết lập chủ quyền ở HS và TS rồi sau đó người Việt Nam kế thừa sau khi chiếm Champa .























  5. #5
    Ngày gia nhập
    May 2009
    Bài gửi
    2.718
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    6
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)
    Trên bản đồ, thì TS hình như thuộc về Cham!

  6. #6
    Ngày gia nhập
    May 2009
    Bài gửi
    2.718
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    6
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)
    Chủ đề hấp dẫn! Đề nghị bác chủ thớt tiếp tục đi ạ!

  7. #7
    Ngày gia nhập
    May 2009
    Nơi cư ngụ
    HCMC
    Bài gửi
    4.407
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    43
    Uploads
    52
    Mentioned
    1 Post(s)
    Tagged
    2 Thread(s)
    Hì hì đâu có dễ mà một sớm một chiều tìm ra manh mối vậy bác. Ngay cả "người Sa Huỳnh" đến nay các học giả vẫn chưa xác định chính xác được họ là ai, người Việt cổ hay người Chăm hay sắc dân nào.
    Sửa bởi vaputin : 22-10-2009 lúc 01:44 PM

  8. #8
    Ngày gia nhập
    May 2009
    Nơi cư ngụ
    HCMC
    Bài gửi
    4.407
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    43
    Uploads
    52
    Mentioned
    1 Post(s)
    Tagged
    2 Thread(s)
    Văn hóa Sa Huỳnh là một nền văn hóa được xác định ở vào khoảng năm 1000 TCN đến cuối thế kỷ thứ 2. Nền văn hóa Sa Huỳnh là một trong ba cái nôi cổ xưa về văn minh trên lãnh thổ Việt Nam, cùng với: Văn hóa Đông Sơn, Văn hóa Óc Eo (Đồng Nai), tạo thành tam giác văn hóa của Việt Nam.

    Đánh cá và đi biển


    Trước năm 1975, các nhà khảo cổ trên thế giới mới chỉ biết đến văn hóa Sa Huỳnh qua hoạt động của cư­ dân đi biển. Họ chỉ lên đất liền đặt mai táng ng­ười chết trong những mộ chum. Những mộ chum đư­ợc tìm thấy ở Palavan (Philippines), Bondontaphet (Thái Lan), Sa Huỳnh (Việt Nam). Sau năm 1975 các nhà khảo cổ Việt Nam đã bỏ nhiều công sức tim hiểu, nghiên cứu nền văn hóa này và bư­ớc đầu đã có những đóng góp quan trọng giúp chúng ta có cái nhìn chính xác và toàn diện hơn về nền văn hóa Sa Huỳnh. Đặc biệt trong những năm gần đây, tại Hội An, các nhà nghiên cứu khảo cổ đã phát hiện nhiều di chỉ cư­ trú của ngư­ời Sa Huỳnh với nhiều hiện vật phong phú và đa dạng. Các phát hiện cho thấy ngư­ời Sa Huỳnh cổ là những cư­ dân nông nghiệp, và đi biển chỉ là một trong những sinh hoạt của họ. Các đồng tiền Ngũ Thủ và Vư­ơng Mãng (đầu thế kỷ thứ 1 TCN), các gư­ơng đồng của nhà Tây Hán, đỉnh đồng nhà Đông Hán có trong các mộ chum chứng tỏ họ đã có một nền sản xuất hàng hóa cùng với sự giao thư­ơng khá phát triển.

    Bình loạn:
    Từ Sa Huỳnh mà sang Palawan hẳn là các vị này phải đi qua Trường sa rồi.
    Họ đã đến TS vào khoảng năm 1000 TCN đến cuối thế kỷ thứ 2 thì đủ sớm hơn mọi sắc dân Tàu khựa nào
    Vì họ có tiền và đồ đạc Tàu đầu thế kỷ thứ 1 TCN có khi họ cũng đã từng dong thuyền đến Sơn Đông và Bắc Kinh và do đó đã phát hiện HS
    Nếu nói về người phát hiện đầu tiên ra TS và HS phải nói là người Sa Huỳnh
    Sửa bởi vaputin : 22-10-2009 lúc 08:18 PM

  9. #9
    Ngày gia nhập
    May 2009
    Nơi cư ngụ
    HCMC
    Bài gửi
    4.407
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    43
    Uploads
    52
    Mentioned
    1 Post(s)
    Tagged
    2 Thread(s)
    Trăm năm Sa Huỳnh

    Năm 1909, nhà khảo cổ học người Pháp - M.Vinet đã tình cờ phát hiện tại động cát cạnh đầm An Khê thuộc xã Phổ Thạnh, H.Đức Phổ (Quảng Ngãi) một khu mộ chum với rất nhiều hiện vật giá trị.

    Bắt đầu từ đó, cụm từ “văn hóa Sa Huỳnh” đã trở thành ma lực đối với giới khảo cổ học. Suốt 100 năm qua là những cuộc kiếm tìm không mệt mỏi của các nhà khảo cổ về nguồn gốc của nền văn minh này, cùng tung tích những chủ nhân của nó. Những thông điệp mà người xưa muốn gửi cho hậu thế qua các hiện vật tìm thấy dần dần được giải mã.

    Thế nhưng, để có một định danh “văn hóa Sa Huỳnh” như ngày hôm nay là cả một cuộc cày xới trường kỳ của các nhà khoa học trong và ngoài nước. Hàng chục tham luận của các nhà khảo cổ, các nhà nghiên cứu về văn hóa Sa Huỳnh trên thế giới đã gửi về hội thảo “Một trăm năm phát hiện và nghiên cứu di chỉ khảo cổ học Sa Huỳnh” được tổ chức vào ngày 22-24.7 tới đây tại Quảng Ngãi, cũng đủ nói lên điều đó.

    Vì sao văn hóa Sa Huỳnh được sự quan tâm đặc biệt của các nhà khoa học đến vậy? Vì trước hết, đây là một trong những cái nôi của nền văn minh nhân loại. Chủ nhân của những hiện vật được phát hiện qua các cuộc khai quật, sống cách nay trên 2.500 năm nhưng đã biết chế tác một cách tinh xảo những công cụ phục vụ cho sản xuất cũng như các đồ trang sức hết sức vi diệu.

    Chính sự tinh xảo trong chế tác các hiện vật đã khiến không ít người hoài nghi về chủ nhân của nền văn minh ấy có phải là người bản địa hay di cư từ nơi khác đến? Có giả thiết cho rằng, số mộ chum này là của các thuyền nhân từ những tàu buôn ngang qua biển Đông, họ tạt ngang qua động cát cạnh đầm An Khê và chôn cất những người xấu số chứ không phải là của dân bản địa.

    Song những bí ẩn ấy lần lượt lộ sáng sau những thu lượm từ các cuộc khai quật khảo cổ sau năm 1975 ở Bình Châu và Bình Đông huyện Bình Sơn (Quảng Ngãi), ở xóm Ốc, đảo Lý Sơn, ở Động Cườm huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định cùng hàng loạt các cuộc khai quật khác ở Tây Nguyên, Nam Trung Bộ và Đông Nam Bộ. Hiện vật thu lượm được từ các cuộc khai quật này đã có mối liên hệ mật thiết với những hiện vật phát hiện đầu tiên tại gò Ma Vương.

    Thông điệp từ những hiện vật qua các cuộc khai quật này còn mách bảo cho hậu thế rằng, chủ nhân của văn hóa Sa Huỳnh còn có một mối giao thương mạnh mẽ với các nền văn minh khác như Đông Sơn phía bắc và Óc Eo ở phía nam. Thậm chí một số đồ gốm sứ của Trung Hoa đã có mặt, nằm lẫn với đồ gốm Việt trong các mộ chum. Điều ấy nói lên rằng, ngay từ hàng ngàn năm trước, con người đã biết “mở cửa” để giao lưu với thế giới bên ngoài rồi. Vậy là, sức lan tỏa của văn hóa Sa Huỳnh không chỉ bó hẹp trong phạm vi một tỉnh hay một vùng miền mà nó đã vượt ra khỏi biên giới quốc gia.

    Trà Sơn
    (Nguồn Thanh Niên)
    =================
    Kết luận của các nhà khảo cổ, người Sa Huỳnh là cư dân bản địa ở Việt Nam nhưng sau đó tại sao họ biến đâu mất thì chưa biết

  10. #10
    Ngày gia nhập
    May 2009
    Nơi cư ngụ
    HCMC
    Bài gửi
    4.407
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    43
    Uploads
    52
    Mentioned
    1 Post(s)
    Tagged
    2 Thread(s)
    Bài này nói về giao lưu Văn Hóa giữa người Sa Huỳnh và các sắc dân miền núi ở miền Trung, lúc đó thì người Việt còn quanh quẩn ở đồng bằng Bắc bộ

    ---------------

    Có một Sa Huỳnh trên núi

    25/07/2009
    Ở miền Trung nước ta, văn hóa Sa Huỳnh chẳng những phân bố dọc miền duyên hải, hải đảo mà còn đi sâu vào miền bán sơn địa, lên tận dãy Trường Sơn, nơi thượng nguồn sông Vu Gia, Thu Bồn, định hình nên một dấu ấn Sa Huỳnh trong đời sống văn hóa các tộc người đang sinh sống trên vùng núi phía tây Quảng Nam.

    Thiếu nữ Cơtu với trang sức mã não.

    “Vết tích” mã não xưa và nay


    Với một số người chuyên tìm kiếm “đồ cổ”, mã não cũng là món hàng có thể mang lại cho họ nhiều lợi nhuận, nên trước đây tại một số địa phương trong tỉnh, họ lén lút thuê nhân công đào bới các di chỉ khảo cổ học để tìm kiếm hạt mã não cung cấp cho đồng bào miền núi. Mã não là hiện vật có giá trị lớn trong cách trao đổi, mua bán “vật đổi vật” theo tập quán của đồng bào. Một chuỗi mã não tròn xưa (17 hạt to bằng ngón tay cái) có thể đổi được một trâu 8 gang, đổi vải dèng có trang trí hoa văn bằng cườm chì được 7 sải...

    Trải qua mấy nghìn năm lịch sử, mặc dù nền văn hóa Sa Huỳnh không còn nữa nhưng dấu ấn của nó vẫn còn bảo lưu trong nền văn hóa của các tộc người thiểu số, thể hiện trong tập quán trang sức, nghề thủ công truyền thống, nghệ thuật trang trí, công cụ sản xuất... Tập quán trang sức bằng chuỗi hạt mã não (agate) xuất hiện rất sớm trong cuộc sống của người Sa Huỳnh và được họ sử dụng khá phổ biến. Cho đến nay, mã não vẫn con nguyên giá trị, là thứ trang sức, tài sản không thể thiếu của các dân tộc thiểu số đang sinh sống ở vùng Trường Sơn - Tây Nguyên như Cơtu, Tà Ôi, Bru-Vân Kiều... Vậy những hạt mã não có từ đâu?

    Người Cơtu đã từng quan hệ, giao lưu lâu đời với người Chămpa, họ cho rằng mã não là sản vật do ông bà, tổ tiên họ trao đổi với người “Zoát Hời” (Chăm) trước đây. Sau này, khi thiết lập mối quan hệ buôn bán với người Kinh ở đồng bằng, đồ mã não được họ “tích lũy” nhiều hơn từ nguồn hàng của các thương lái. Là địa bàn cư trú của người cổ Sa Huỳnh, người Kinh ở lưu vực sông Thu Bồn cũng thu nhặt được nhiều đồ trang sức mã não từ các mộ chum và mang lên cung cấp cho người miền núi để đổi trâu bò, lâm thổ sản quý. Trong các di chỉ khảo cổ học thuộc văn hóa Sa Huỳnh được khai quật ở Quảng Nam, đồ trang sức chôn theo trong các mộ chum chiếm số lượng nhiều nhất và chủ yếu là hạt mã não. Di chỉ Lai Nghi (Điện Bàn) có đến hàng trăm chuỗi hạt mã não. Các di chỉ khảo cổ học ở Đại Lãnh (Đại Lộc) cũng phát hiện nhiều chuỗi hạt mã não.

    Khai quật khảo cổ học ở Tà Bhing (Nam Giang).

    Người Cơtu được sở hữu thứ trang sức ưa thích này một cách tình cờ khi họ nhặt nhạnh những hạt mã não có màu huyết dụ rơi rớt ở các bờ suối, triền sông hay đào bới được ở các khu cư trú, mộ táng của người Sa Huỳnh xưa kia. Kết quả điều tra khảo cổ học cho thấy, các huyện miền núi Quảng Nam, trong đó có Nam Giang, Đông Giang, vùng Đại Lãnh (Đại Lộc), Tiên Phước... cũng là một trong những địa bàn phân bố của nền văn hóa Sa Huỳnh. Đến nay, các nhà khảo cổ học đã phát hiện các di chỉ của người Sa Huỳnh ở Brang (xã Cà Dy, huyện Nam Giang), Pa Xua, Zơ Ra (xã Tà Bhing, huyện Nam Giang). Các di chỉ này có niên đại vào khoảng trước và sau Công nguyên.
    Đối với đồng bào Cơtu, mã não là vật trang sức quý giá nhất trong các đồ trang sức. Cùng với hạt cườm ngũ sắc, mã não là thứ trang sức trên cổ được ưa dùng nhất của nam nữ Cơtu. Các cô gái trẻ hay phụ nữ lớn tuổi đều đeo trang sức mã não. Nó tượng trưng cho vật trang sức có giá trị lớn nhất của người Cơtu. Do đó, mã não cũng là sính lễ không thể thiếu trong cưới hỏi của đồng bào (Báo Quảng Nam từng có bài phản ánh).
    Bà cụ Cơtu với những vòng mã não quý.

    Những nét tương đồng thú vị
    Cũng như đá mã não, thủy tinh cũng là chất liệu phổ biến trong bộ sưu tập trang sức của người Cơtu. Từ thời xa xưa (thời đại Sắt muộn), thủy tinh cũng được người cổ Sa Huỳnh dùng làm đồ trang sức hàng ngày như khuyên tai, vòng đeo tay. Theo các nhà nghiên cứu, đồ trang sức thủy tinh có nguồn gốc địa phương chứ không phải qua con đường nhập khẩu mà có. Một số nhà nghiên cứu cho rằng thủy tinh và kỹ thuật chế tác thủy tinh đầu tiên được người cổ Sa Huỳnh tiếp nhận rồi chúng lan tỏa đến phía Bắc (văn hóa Đông Sơn) và phía Nam (văn hóa Đồng Nai). Đồ thủy tinh hấp dẫn họ vì có vẻ đẹp long lanh, bóng, mịn, độ phản quang tốt, màu sắc quyến rũ. Có loại trong suốt hoặc trắng đục, có loại màu xanh lơ, xanh đen, xanh lá mạ hoặc màu nâu, da cam, đỏ tía hay xám tro. Ở Quảng Nam, có nhiều địa điểm khảo cổ thuộc nền văn hóa Sa Huỳnh có đồ thủy tinh. Đặc biệt, tại Tà Bhing (Nam Giang), khi khai quật các khu mộ cổ các nhà khảo cổ học cũng tìm thấy nhiều khuyên tai và chuỗi hạt bằng thủy tinh... Qua đó cho thấy, cùng với đá mã não, đồ thủy tinh của người Sa Huỳnh cũng có ảnh hưởng đến tập quán trang sức của người Cơtu hiện nay, một truyền thống trang sức có lịch sử hơn 2.000 năm.

    Nhiều hiện vật, dụng cụ lao động như giáo, cuốc tìm thấy trong các di chỉ văn hóa Sa Huỳnh thì cũng lại thấy khá phổ biến trong các công cụ dùng để đi săn bắt, canh tác nương rẫy của đồng bào miền núi. Đồng bào đã “sao chép” một số công cụ của người xưa để phục vụ cho cuộc sống hôm nay. Các nhà khảo cổ học rất ngạc nhiên khi chiếc cuốc cào cỏ của người Cơtu không khác với cái cuốc đồng tìm thấy trong di chỉ gò Mã Vôi thuộc văn hóa Sa Huỳnh; ngọn giáo người Cơtu dùng để đi săn, đâm trâu, vũ khí tự vệ không lạ so với đồ vật cùng dạng của người cổ Sa Huỳnh. Nhìn chung, một số dụng cụ bằng sắt của người Sa Huỳnh đã được một số tộc người ở Trường Sơn - Tây Nguyên tiếp tục chế tác và sử dụng.
    Những tinh hoa của văn hóa Sa Huỳnh vẫn được các tộc người bảo lưu, gìn giữ, tiếp nhận và sáng tạo với những hình thức mới có thể nhận dạng, tìm thấy trong phục sức, nghệ thuật trang trí, nghề thủ công truyền thống, đồ dùng sinh hoạt và công cụ lao động. Đặc biệt, tập quán trang sức mã não của người cổ Sa Huỳnh được các dân tộc ngày nay kế thừa và phát huy, tô điểm thêm sắc màu văn hóa của mỗi tộc người.


    Nguồn: TẤN VỊNH

Trang 1 trong 4 123 ... Cuối cùngCuối cùng

Chủ đề tương tự

  1. [Quyên góp-Ủng hộ] Hai người “bố” chăm sóc linh hồn những bào thai xấu số
    By dongminh in forum Nối nhịp yêu thương
    Trả lời: 11
    Bài mới gửi: 21-11-2010, 07:27 PM
  2. Trả lời: 2
    Bài mới gửi: 08-02-2010, 03:36 PM
  3. Hàng trăm tấm lòng đến với bé 5 tuổi chăm mẹ ung thư
    By virut-07 in forum Nối nhịp yêu thương
    Trả lời: 2
    Bài mới gửi: 19-09-2009, 06:43 PM
  4. Nghẹn lòng trước cảnh con 5 tuổi chăm mẹ ung thư
    By forever... in forum Nối nhịp yêu thương
    Trả lời: 11
    Bài mới gửi: 17-09-2009, 12:52 PM

Bookmarks

Quyền hạn Gửi bài

  • Bạn không thể gửi chủ đề
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài của mình
  •