HOANGSA.ORG ĐÃ CHUYỂN SANG DIỄN ĐÀN MỚI- DIỄN ĐÀN CŨ CHỈ ĐỂ LƯU TRỮ KHÔNG THỂ VIẾT BÀI.

ĐỂ ĐI ĐẾN DIỄN ĐÀN MỚI XIN VUI LÒNG CLICK VÀO ĐÂY HTTP://HOANGSA.ORG/F

HOANGSA.ORG ĐÃ CHUYỂN SANG DIỄN ĐÀN MỚI- DIỄN ĐÀN CŨ CHỈ ĐỂ LƯU TRỮ KHÔNG THỂ VIẾT BÀI.

ĐỂ ĐI ĐẾN DIỄN ĐÀN MỚI XIN VUI LÒNG CLICK VÀO ĐÂY HTTP://HOANGSA.ORG/F

User Tag List

Kết quả từ 1 tới 2 trên 2
  1. #1
    Ngày gia nhập
    Sep 2009
    Nơi cư ngụ
    Việt Nam dấu yêu
    Bài gửi
    1.642
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    1
    Uploads
    4
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)

    Exclamation Biển Đông: Từ tranh chấp công khai tới quản lý xung đột

    Tác giả: Nguyễn Hồng Thao - Ramses Ammer


    Để đạt mục tiêu kiềm chế các tranh chấp, các bên liên quan cần không được hài lòng chỉ với Tuyên bố về ứng xử tại Biển Đông của ASEAN - Trung Quốc - TS Nguyễn Hồng Thao và GS Ramses Ammer viết.
    LTS: Từ 26-27/11, Hội thảo quốc tế về Biển Đông sẽ được Học viện Ngoại giao Việt Nam cùng Hội Luật sư Việt Nam phối hợp tổ chức, với sự tham gia của các học giả trong nước và quốc tế. Nhân dịp này, Tuần Việt Nam giới thiệu bài viết của TS Nguyễn Hồng Thao và GS. Ramses Ammer về vấn đề biển Đông và việc tìm kiếm một dàn xếp pháp lý mới cho vấn đề tranh chấp phức tạp, lâu dài này.
    Phần 1: Từ tranh chấp công khai tới quản lý xung đột
    Biển Đông từ lâu được xem là một trong những khu vực chính gây căng thẳng và bất ổn định tại Châu Á - Thái Bình Dương. Có nhiều nhân tố dẫn đến thực trạng đó. Thứ nhất, vị trí địa chiến lược của biển Đông. Thứ hai là những tranh chấp lãnh thổ đối với quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa cũng như các tranh chấp vùng biển tại biển Đông. Nhân tố thứ ba là cuộc chạy đua giành quyền kiểm soát các tài nguyên thiên nhiên trong vùng biển này. Nhân tố thứ tư là sự phát triển của Luật Biển.
    (...)
    Các tranh chấp về đảo trong biển Đông bao gồm cả hai bên, ba bên hoặc đa phương. Tình hình này cùng với các yêu sách chồng chéo đối với các vùng biển xung quanh quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa không thể giải quyết nếu không giải quyết câu hỏi về chủ quyền. Ngoài các tranh chấp có liên quan trực tiếp tới các yêu sách về chủ quyền đối với các nhóm đảo, còn các tranh chấp khác liên quan tới các vấn đề về vùng biển vẫn chưa được giải quyết.
    Hơn nữa, vấn đề cướp biển và cướp có vũ trang đang tăng lên trong khu vực với khoảng một nửa số vụ cướp biển được ghi nhận trên thế giới xảy ra ở khu vực này.13
    Các quốc gia ven biển cũng đang phải đương đầu với các vấn đề xuyên biên giới như ô nhiễm biển, quản lý các nguồn lợi hải sản.
    Biển Đông tạo nên một trường đấu tranh cho các lợi ích an ninh. Việc tích cực tìm kiếm các giải pháp nhằm tránh các hoạt động quân sự là lợi ích của tất cả các bên tranh chấp và các bên có liên quan, nhằm bảo vệ quyền tự do hàng hải và thúc đẩy việc giải quyết hòa bình các tranh chấp cũng như thúc đẩy hợp tác.
    Từ tranh chấp công khai tới quản lý xung đột
    Làn sóng chiếm đảo
    Làn sóng chiếm đóng các đảo bắt đầu từ giữa những năm 1950 sau khi Pháp rút khỏi Việt Nam. Việt Nam Cộng hòa chiếm phần phía tây của quần đảo Hoàng Sa trong khi Trung Quốc chiếm phần phía đông. Sau đó, năm 1974 Trung Quốc chiếm luôn cả phần phía tây bằng một chiến dịch quân sự đánh đuổi Việt Nam Cộng hòa.
    Tại Trường Sa, vào đầu những năm 1970, Việt Nam Cộng hòa thực hiện yêu sách của mình bằng việc chiếm một số đảo - các đảo chiếm giữ này được chuyển sang cho nước Việt Nam thống nhất sau năm 1975. Philippines cũng tiến vào Trường Sa vào những năm cuối thập kỷ 1970s, trong khi Malaysia giành quyền kiểm soát một đảo lần đầu tiên vào năm 1983. Trung Quốc không giành được vị trí nào tại Trường Sa cho tới đầu năm 1988 sau một trận thủy chiến với Việt Nam tại khu vực này.
    Mặc dù quan hệ Việt Nam - Trung Quốc đã bình thường hóa hoàn toàn vào tháng 11/1991, các tranh chấp trên biển Đông vẫn tạo nên nhiều căng thẳng trong phần lớn những năm 1990.
    Được báo chí đề cập nhiều hơn cả là tranh chấp và căng thẳng nghiêm trọng giữa Trung Quốc và Philippines sau khi Trung Quốc chiếm dải Vành Khăn vào năm 1995.
    Các bên tuyên bố chủ quyền đều có những động thái để củng cố và duy trì yêu sách của mình. Năm 1978 Philippines tuyên bố các giới hạn của KIG. Malaysia đưa ra bản đồ thể hiện các yêu sách của mình về lãnh hải và thềm lục địa năm 1979. Như đã nêu ở trên, Việt Nam tuyên bố vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý và thềm lục địa bằng tuyên bố của Chính phủ năm 1977.
    Xung đột hải quân giữa Việt Nam và Trung Quốc năm 1988 tại Trường Sa làm dấy lên lo ngại giữa các quốc gia ASEAN rằng tình hình biển Đông có thể sẽ trở thành mối đe dọa đối với an ninh khu vực.
    Nỗ lực kiểm soát tình hình
    Nỗ lực khu vực đầu tiên nhằm kiểm soát tình hình là sáng kiến của Indonesia và Canada tổ chức Hội thảo đầu tiên về quản lý các xung đột tiềm tàng tại biển Đông vào năm 1990. Hội thảo này là một tiến trình không chính thức nhằm tạo dựng một diễn đàn cho các thảo luận có tính định hướng chính sách và các hợp tác tiềm năng. Đây được coi là một trong những Biện pháp Xây dựng Lòng tin trong khu vực.
    Các nước ASEAN, Việt Nam, Trung Quốc và Đài Loan cử người tham gia Hội thảo trên cơ sở không chính thức của kênh hai. Hội thảo kết thúc với các tuyên bố nhấn mạnh sự cần thiết giải quyết các tranh chấp biển Đông thông qua các biện pháp hòa bình, các bên không được sử dụng vũ lực trong tranh chấp và các bên cần kiềm chế không làm phức tạp thêm tình hình.14
    Nỗ lực thứ hai của khu vực là Tuyên bố ASEAN năm 1992 về biển Đông. Tuyên bố nhấn mạnh " sự cần thiết giải quyết mọi vấn đề chủ quyền và quyền tài phán liên quan tới biển Đông bằng các biện pháp hòa bình, không sử dụng vũ lực". Bản tuyên bố yêu cầu "các bên liên quan kiềm chế với mục tiêu thiết lập một môi trường tích cực cho một giải pháp cuối cùng cho tất cả các bên".15
    Trong thời kỳ này, UNCLOS vẫn chưa có hiệu lực và một số nước có yêu sách chủ quyền vẫn chưa phê chuẩn công ước này. Các nước yêu sách cũng tiếp tục thực hiện và áp dụng UNCLOS theo cách có lợi cho quyền lợi của mình và trong một số trường hợp mâu thuẫn với tinh thần giải quyết cả gói của UNCLOS. Có thể nói rằng hệ thống các giải pháp hòa bình cho các tranh chấp được nêu trong phần 15 của UNCLOS vẫn chưa được thực thi.
    Tàu tuần tra của Trung Quốc ở Biển Đông. Sự kiện Vành Khăn năm 1995 được coi là một sự cảnh báo đối với các nước trong khu vực rằng họ phải tự có những sáng kiến của mình để ngăn chặn các tranh chấp biển trong khu vực biển Đông leo thang trở thành các vụ đụng độ. Nếu họ không làm điều đó, tình hình có thể xấu đi và hòa bình ổn định sẽ bị đe dọa nghiêm trọng. Theo đó, ASEAN cần tăng cường các biện pháp xây dựng lòng tin để ứng phó với tình hình tại Biển Đông. Tiến trình Hội thảo nhằm quản lý các xung đột tiềm tàng trên biển Đông đã gần như hoàn thành vai trò lịch sử của mình và được thay thế bằng các cuộc thương thảo song phương. Sau sự kiện Vành Khăn, ASEAN ra Tuyên bố 1995 của các Ngoại trưởng ASEAN về những phát triển gần đây tại Biển Đông nhấn mạnh rằng các bên liên quan phải áp dụng các nguyên tắc có trong Hiệp ước thân thiện và hợp tác tại Đông Nam Á (TAC) như là cơ sở xây dựng quy tắc ứng xử quốc tế tại biển Đông vì mục tiêu xây dựng một không khí an ninh và ổn định trong khu vực.
    Các cuộc đàm phán song phương riêng rẽ giữa Trung Quốc và Philippines và giữa Philippines và Việt Nam đã cho ra đời hai bộ quy tắc ứng xử - một bộ Quy tắc ứng xử gồm tám điểm trong Tuyên bố chung giữa Cộng hòa Philippines và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa về Tham vấn về biển Đông và các khu vực hợp tác khác tháng 8/1995 và bộ quy tắc ứng xử 9 điểm trong Tuyên bố chung của cuộc gặp tham vấn song phương hàng năm lần thứ 4 giữa Philippines và Việt Nam tháng 10/1995.16
    Việc Việt Nam gia nhập ASEAN năm 1995 đã thúc đẩy tổ chức này trở nên tích cực hơn trước tình hình biển Đông. Dưới chiếc ô của tổ chức này, Bộ quy tắc ứng xử ASEAN do Philippines và Việt Nam chuẩn bị đã được thông qua và được chuyển cho Trung Quốc năm 1999.
    Bộ quy tắc ứng xử ASEAN dựa trên các tài liệu của ASEAN, thí dụ như: 5 nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình, TAC, Tuyên bố của ASEAN về biển Đông 1992, Tuyên bố chung ASEAN - Trung Quốc 16/12/1997; Tuyên bố chung Philippines - Trung Quốc về biển Đông và các khu vực hợp tác khác tháng 8/1995; bộ quy tắc ứng xử thỏa thuận giữa Philippines và Việt Nam tháng 11/1995; và kế hoạch hành động Hà Nội thông qua tại Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 6 năm 1998.17
    Lúc đầu, ý tưởng về một bộ quy tắc ứng xử ASEAN - Trung Quốc đã bị Bắc Kinh gạt bỏ. Đối thoại ASEAN - Trung Quốc dẫn tới sự hiểu biết về sự cần thiết phải có một bộ quy tắc ứng xử có tính khu vực trong tương lai. Tuy nhiên, trong tương lai gần, một giải pháp thỏa hiệp về một văn bản chung với các điều khoản ít có tính ràng buộc hơn có thể dễ được các bên chấp nhận hơn.
    Trong Hội nghị cấp cao ASEAN tại Phnompênh - Campuchia, ASEAN và Trung Quốc đã thông qua "Tuyên bố về ứng xứ của các bên tại Biển Đông" (ASEAN - Trung Quốc DOC).18 Đây là văn bản chính trị đầu tiên liên quan tới biển Đông được thông qua giữa ASEAN và Trung Quốc. ASEAN - Trung Quốc DOC là bước đi cần thiết trong một tiến trình dài hơn nhằm xây dựng và thống nhất về một "bộ quy tắc ứng xử" tại biển Đông.
    ASEAN - Trung Quốc DOC là một khung ứng xử cho các bên, thành viên của ASEAN, trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan tới các tranh chấp, và Trung Quốc, nhằm tránh các hoạt động quân sự và thúc đẩy việc thực hiện các biện pháp xây dựng lòng tin trong các lĩnh vực ít nhạy cảm hơn và tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau giữa ASEAN và Trung Quốc. Các bên có liên quan có thể thăm dò và thực hiện các hoạt động hợp tác trên các lĩnh vực bảo vệ môi trường biển, các hoạt động nghiên cứu biển; an toàn hàng hải và thông tin trên biển; các hoạt động tìm kiếm và cứu trợ; và chống tội phạm xuyên quốc gia, bao gồm nhưng không chỉ riêng buôn lậu ma tuý, cướp biển và cướp có vũ trang trên biển, và buôn lậu vũ khí.
    Các cuộc đàm phán song phương riêng rẽ giữa Trung Quốc và Việt Nam, Malaysia và Việt Nam, Thái Lan và Việt Nam, Indonesia và Việt Nam đã đưa tới những kết quả tích cực trong việc giải quyết các vùng biển chồng lấn giữa các nước phù hợp với UNCLOS.
    Ngày 5/6/1992, Malaysia và Việt Nam ký thỏa thuận về khai thác chung triển tại các khu vực chồng lấn trên khu vực thềm lục địa phía tây nam Việt Nam và vùng biển phía đông - bắc - đông ngoài khơi bờ biển phía đông của bán đảo Malaysia trong vịnh Thái Lan.19
    Ngày 9/8/1997, Thái Lan và Việt Nam đạt được thỏa thuận xác định thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế trong vịnh Thái Lan.20

    Ngày 11/6/2003, Việt Nam và Indonesia ký thỏa thuận về xác định ranh giới thềm lục địa trên khu vực phía bắc đảo Natuna.
    Hai thỏa thuận khác cũng đáng được ghi nhận là hai thỏa thuận giữa Việt Nam và Trung Quốc liên quan tới vịnh Bắc bộ ký ngày 25/12/2000. Hiệp định về phân định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa trong vịnh Bắc bộ - giải quyết các tranh chấp biên giới biển trong vùng Vịnh với những hiệu lực hợp lý dành cho các đảo trong phân định.21 Hiệp định về hợp tác đánh cá trong vùng Vịnh Bắc bộ đã thiết lập được một "khu vực đánh cá chung", "một vùng đệm" cho các tàu thuyền đánh cá nhỏ và "vùng đánh cá tạm thời" trong 4 năm.22
    Những thỏa thuận đạt được giữa Việt Nam và các nước láng giềng liên quan đến quản lý và phân định các vùng biển chồng lấn đã góp phần làm rõ các điều khoản tương ứng trong UNCLOS trong việc giải quyết các tranh chấp biển.
    ASEAN - Trung Quốc DOC và UNCLOS cũng được coi là cơ sở pháp lý cho Hiệp định 3 bên về các khảo sát địa chấn biển chung trong khu vực xác định trên biển Đông (JSMU) được ký ngày 14/3/2005 giữa các công ty dầu khí quốc gia của Trung Quốc, Philippines và Việt Nam. Hiệp định cho thấy quyết tâm của các bên có liên quan trong việc tuân thủ ASEAN - Trung Quốc DOC. Tất cả các hoạt động trong khu vực đều cần tham khảo ý kiến các bên liên quan.
    Hiệp định 3 bên bao gồm ba năm tiến hành đo địa chấn và nghiên cứu trên một khu vực rộng 143 ngàn km vuông trên biển Đông, bao gồm cả một phần quần đảo Trường Sa còn đang tranh chấp. Ba công ty dầu khí quốc gia cùng nhau chia sẻ các chi phí liên quan tới nghiên cứu địa chấn trong khu vực thỏa thuận, lên tới khoảng 7,14 triệu đô la trong thời gian 3 năm.23
    Tổng thống Philippines Gloria Arroyo gọi hiệp định ba bên này là "một sự kiện lịch sử", "một bước đột phá" trong việc thực hiện các điều khoản của ASEAN - Trung Quốc DOC. Việc ký kết hiệp định "không làm tổn hại đến lập trường của mỗi bên đối với vấn đề biển Đông". Các bên bày tỏ "quyết tâm biến biển Đông thành một khu vực hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển".24
    Sự hợp tác của 3 công ty dầu khí quốc gia nằm trong khuôn khổ các nghiên cứu khoa học biển và không bao gồm bất kỳ một sự dàn xếp nào liên quan tới việc khai thác tài nguyên của khu vực.
    Chương trình nghiên cứu khoa học biển chung tại biển Đông (JOMSRE-SCS) là một thí dụ khác về sự hợp tác theo tinh thần của ASEAN - Trung Quốc DOC. Sáng kiến này được khởi xướng theo thỏa thuận năm 1994 giữa Tổng thống Philippines lúc đó là Fidel V. Ramos và Chủ tịch nước Việt Nam Lê Đức Anh về hợp tác trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học biển và bảo vệ môi trường trên biển Đông.
    Từ năm 1996, đã có 4 đợt hoạt động: tháng 4/1996, tháng 5/2000, tháng 4/2005 và tháng 4/2007. Các bên tham gia các đợt hoạt động nghiên cứu ngày càng mở rộng, không chỉ bao gồm Phillippines, Việt Nam, Trung Quốc mà còn các thành viên bên ngoài khác, trong đó có Mỹ và Canada với tư cách quan sát viên.25
    Nhiều tuyến đường hàng hải quan trọng đi qua biển Đông. Việc thiết lập đường dây nóng, việc tổ chức tuần tra chung, việc tham gia vào các hoạt động chống cướp biển và xây dựng cơ chế đối thoại an ninh là các bằng chứng của thái độ tự kiềm chế của các bên trong việc gìn giữ hòa bình và ổn định tại khu vực theo tinh thần ASEAN-Trung Quốc DOC. ASEAN - Trung Quốc DOC cũng đóng vai trò kiềm chế. Theo DOC, các bên có liên quan phải cho thấy thái độ tự kiềm chế khi thực hiện các hoạt động có thể gây nên hoặc làm phức tạp thêm các tranh chấp và làm ảnh hưởng đến hòa bình và ổn định, trong đó bao gồm: các hoạt động đưa người đến ở trên những đảo, bãi đá nửa nổi nửa chìm hiện không có người sinh sống. Thêm vào đó, các bên có liên quan cần giải quyết tranh chấp theo một cách xây dựng.
    Tuy nhiên, các điều khoản của ASEAN - Trung Quốc DOC chưa đưa ra được câu trả lời rõ ràng cho các vấn đề như các loại hoạt động nào có thể bị coi là làm phức tạp hoặc làm phức tạp thêm các tranh chấp.
    Do vậy, các nước có yêu sách theo đuổi các hoạt động như "các hành động dân sự với các mục tiêu quân sự" tại quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, từ các hoạt động như nghiên cứu, du lịch, mời thầu và đấu thầu các lô dầu khí, đặt mốc chủ quyền, cấm đánh cá, xây dựng đường bay, tới các đài giám sát chim và xây dựng hoặc củng cố các cơ sở đã có tại các phần đảo đã chiếm đóng.26
    Cho đến hết năm 2008, các dự án hợp tác trong khuôn khổ ASEAN - Trung Quốc DOC chỉ mới tồn tại trên giấy. Lý do là có sự thiếu hụt tài trợ tài chính và sự nhiệt tình của các bên liên quan. Các điều khoản không rõ ràng của DOC cũng làm cho tình hình thêm phức tạp.
    Để đạt được mục tiêu kiềm chế các tranh chấp, các bên có liên quan cần không được hài lòng chỉ với ASEAN - Trung Quốc DOC. Họ cần phát triển thêm các chủ trương mới cho việc triển khai DOC và thúc đẩy nó lên một mức cao hơn nhằm đạt được một bộ quy tắc ứng xử ASEAN - Trung Quốc tại biển Đông.
    Tình hình gần đây dường như đòi hỏi những nỗ lực mới nhằm thiết lập một thể chế pháp lý mới phù hợp cho hợp tác giữa các bên có liên quan tại biển Đông27.
    Phần tiếp: Tìm kiếm một dàn xếp pháp lý mới
    Phản động - làm cho người Việt cãi nhau
    Phản động - làm cho người Việt chia rẽ
    Phản động - làm cho người Việt không tập trung
    Phản động - gây rối, đả kích, đánh lạc hướng.
    Phản động - làm người Việt mất bình tĩnh.

  2. #2
    Ngày gia nhập
    May 2009
    Bài gửi
    241
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    1
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)
    Biển Đông: Tìm kiếm một dàn xếp pháp lý mới

    Tác giả: Nguyễn Hồng Thao - Ramses Ammer
    Bài đã được xuất bản.: 3 giờ trước

    TIN LIÊN QUAN

    TRONG MỤC NÀY

    (Đọc thêm...)

    Các diễn biến trong năm 2008 và năm 2009 tạo nên một làn sóng căng thẳng mới tại biển Đông. ASEAN và Trung Quốc sẽ phải năng động hơn nhằm tiến tới một bộ quy tắc ứng xử mới hoặc một thỏa thuận có tính ràng buộc tương đương, bao gồm những hướng dẫn cụ thể cần thiết cho việc tự kiềm chế, cho hợp tác và áp dụng luật quốc tế.
    Hướng tới một bộ quy tắc ứng xử ASEAN - Trung Quốc tại biển Đông
    Các diễn biến trong năm 2008 và năm 2009 tạo nên một làn sóng căng thẳng mới tại biển Đông. Sự lên xuống của giá dầu đặc biệt là sự lên giá nhanh chóng vào khoảng giữa năm 2008 là một vấn đề lớn đối với Trung Quốc và các nước khác trong khu vực. Trung Quốc cần năng lượng để giúp nền kinh tế phát triển nhanh chóng. Với mức tiêu thụ dầu là 6 534 000 galon mỗi ngày (đứng thứ hai trên thế giới sau Mỹ), nhập khẩu dầu của Trung Quốc tăng gần 13% trong 5 tháng đầu năm 2008.28 Nếu xu hướng hiện nay tiếp tục, tiêu dùng dầu của Trung Quốc dự kiến sẽ bằng Mỹ vào giữa những năm 2020.29
    Dường như Trung Quốc muốn thúc đẩy việc mở rộng thăm dò và khai thác dầu khí đặc biệt là ở biển Đông. Các nghiên cứu về Trung Quốc đánh giá dự trữ tài nguyên dầu tại quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa khoảng từ 105 đến 213 tỷ thùng và mức sản xuất dầu tại Trường Sa có thể đạt 1,4 đến 1,9 triệu thùng mỗi ngày.30 Việc giành quyền kiểm soát đối với các vùng biển là một phần trong chính sách đảm bảo năng lượng. Trung Quốc đã nhiều lần nhắc lại yêu sách của họ đối với phần lớn biển Đông trong vùng đường đứt khúc 9 đoạn.31 Yêu sách này chồng lấn với yêu sách của Indonesia tại đông bắc đảo Natuna của Indonesia, nơi được coi là giàu tiềm năng dự trữ dầu khí. Yêu sách này cũng một phần chồng lấn với mỏ khí tự nhiên của Philippines ở Malampaya và Camago, với mỏ khí tự nhiên của Malaysia ngoài khơi Sarawak, với mỏ Tư Chính và Đại Hùng của Việt Nam. Năm 2007 và 2008, Trung Quốc đã gây sức ép với BP, Conoco Phillíp, Exxon Mobil và Oil and Natural Gas Company - một công ty nhà nước của Ấn Độ đang làm việc ngoài khơi bờ biển phía Nam Việt Nam phải ngừng hoạt động hợp tác với Việt Nam theo giấy phép do chính phủ Việt Nam cấp.32
    Chương trình do Quốc hội Trung Quốc thông qua nhằm xây dựng khu vực hành chính Tam Á, kiểm soát Hoàng Sa, Trường Sa và Trung Sa với quy chế "thành phố cấp khu vực" thuộc tỉnh Hải Nam đã gây ra biểu tình phản đối. Các bức ảnh chụp qua vệ tinh cũng cho thấy Trung Quốc đã xây dựng một căn cứ tàu ngầm hạt nhân dưới lòng đất gần Tam Á (Hải Nam) giúp Trung Quốc kiểm soát biển Đông và các eo biển có tầm quan trọng chiến lược sống còn trong khu vực.33 Diễn biến mới này xảy ra rất gần với các đường giao thông trên biển có tầm quan trọng sống còn đối với tự do hàng hải đã gây lo ngại không chỉ với các nước trong khu vực.
    Một điều cũng đáng lưu ý là Hiến chương ASEAN thông qua vào 20/11/2007 tại Singapore và có hiệu lực từ 1/1/2009 sau khi được phê chuẩn tại 10 nước thành viên. Một Cộng đồng ASEAN sẽ được thiết lập vào năm 2015 sẽ thúc đẩy hội nhập khu vực trên cả ba lĩnh vực an ninh, kinh tế và văn hóa. Theo Hiến chương ASEAN, mục tiêu của cộng đồng ASEAN là: "Duy trì và củng cố hòa bình, an ninh, ổn định và tăng cường hơn nữa các giá trị hướng tới hòa bình trong khu vực".34
    Lập trường của ASEAN đối với các tranh chấp tại biển Đông sẽ nhất quán hơn, đoàn kết hơn và hiệu quả hơn. ASEAN - Trung Quốc DOC sẽ được thay thế bằng các văn bản pháp lý và chính trị mạnh mẽ hơn. Bước đầu tiên có thể là một bộ quy tắc ứng xử ASEAN - Trung Quốc trên biển Đông với các cam kết cụ thể và chính xác hơn từ các bên. Một bộ quy tắc ASEAN -Trung Quốc như vậy phải vượt qua được những hạn chế của ASEAN -Trung Quốc DOC cũng như đáp ứng được những thách thức hiện tại và tạo nên một hướng hiệu quả cho việc giải quyết các tranh chấp trên biển Đông trong tương lai.
    Khái niệm về khai thác chung đã được nêu lên và phát triển tại điều 74 và 83 của UNCLOS và thông qua thực tiễn các quốc gia. Biển Đông là khu vực có nhiều đóng góp hơn cả trong việc phát triển khái niệm này. Một số thỏa thuận song phương khai thác chung đã được ký kết, thí dụ như thỏa thuận giữa Malaysia và Thái Lan năm 1979 và giữa Việt Nam và Malaysia năm 1992, chủ yếu liên quan tới thăm dò và khai thác dầu khí và giữa Trung Quốc và Việt Nam trong Vịnh Bắc Bộ năm 2000 liên quan tới đánh cá. Khai thác chung cũng được đề cập đến trong cái gọi là thuyết "Bánh Donut" do Indonesia đề xuất, theo đó các vùng nằm ngoài 200 hải lý tính từ đường bờ biển và đảo nhiều nước có yêu sách sẽ là khu vực hợp tác của tất cả các nước xung quanh biển Đông.
    Khai thác chung hay hợp tác cùng phát triển
    Kể từ những năm 1990, Trung Quốc đã đưa ra ý tưởng "chủ quyền của Trung Quốc, gác tranh chấp cùng khai thác".50 Trên thực tế, đề nghị này nhằm hợp pháp hóa các yêu sách chủ quyền của Trung Quốc theo đường đứt khúc 9 đoạn bao gồm tới hơn 80% Biển Đông.51 Rõ ràng là "chủ quyền trên biển Đông thuộc Trung Quốc" là điều tiên quyết trong mọi giải pháp của Trung Quốc, bao gồm cả khai thác chung. Công thức khai thác chung của Trung Quốc được miêu tả với sự tham gia của nước ngoài vào sự phát triển và khai thác các tài nguyên của Trung Quốc nằm trên thềm lục địa của nước khác.52 Cần lưu ý rằng Trung Quốc chưa bao giờ đề cập chính xác mức độ hay khu vực, hình thức, nội dung và bộ máy quản lý khai thác chung. Chính sách khai thác chung do Trung Quốc đề nghị là không nhất quán và có sự chọn lọc. Đề nghị này dường như không bao gồm Hoàng Sa mặc dù đây là quần đảo có tranh chấp. Trên thực tế ý tưởng khai thác chung nhằm vào các khu vực mà theo luật quốc tế nằm dưới quyền tài phán của các quốc gia khác như bãi Tư Chính của Việt Nam hay khu vực đông bắc đảo Natuna của Indonesia.53
    JMSU, hiệp định ba bên giữa các công ty dầu khí quốc gia của Philippines, Trung Quốc và Việt Nam về việc khảo sát chung trên một khu vực nhất định của biển Đông chưa được coi là "khai thác chung" và mỗi bên đều đưa ra những toan tính riêng.
    Các bình luận báo chí cho rằng Trung Quốc có thể giải thích rằng đây là một phần của "gác tranh chấp cùng khai thác"; Việt Nam tin rằng JMSU có cơ sở dựa trên khái niệm "hợp tác cùng phát triển" mà Việt Nam đưa ra và các điều khoản của DOC; Philippine hoan nghênh Hiệp định như một thành công của ngoại giao Philippin mở ra một xu thế mới để giải quyết vấn đề biển Đông. Vấn đề hoàn toàn không như bình luận. Trước hết, đây không phải là một "biên bản ghi nhớ" ở cấp chính phủ.
    Thứ hai, thỏa thuận này chỉ đề cập đến việc khảo sát địa chấn chứ không phải là thăm dò nguồn tài nguyên. Thứ ba, JMSU có thời hạn ba năm đã kết thúc hiệu lực ngày 1/7/2008 và từ đó đến nay vẫn chưa có thông tin công khai nào về khả năng có một thỏa thuận mới. Báo chí Philippines vẫn tiếp tục chiến dịch về khía cạnh pháp lý của việc ký một thỏa thuận song phương giữa PNOC và CNOOC vào 1/9/2004. Lực lượng chính trị đối lập tại Philippines muốn sử dụng vấn đề này để cáo buộc Tổng thống Arroyo về việc cho phép ký kết hiệp định này. Hiệp định cho phép Trung Quốc thực hiện việc thu thập dữ liệu trên một khu vực thuộc biển Đông, bao gồm cả quần đảo Trường Sa để đổi lấy việc Trung Quốc tài trợ cho một số dự án của Philippines. Thượng viện nước này không được thông báo về nội dung của hiệp định.54
    Hiện nay, Hiệp định năm 2004 giữa Philippines và Trung Quốc có điều khoản cho phép Trung Quốc thăm dò trong "vùng lãnh hải và tài nguyên của Philippines" được coi là sự vi phạm các điều khoản hiến pháp có liên quan tới quản lý lãnh thổ quốc gia và di sản. Các lời chỉ trích cũng đề cập đến cả các điều khoản của JSMU.55
    Cũng cần ghi nhận rằng Việt Nam phản ứng trước hiệp định 9/2004 bằng việc nhắc lại đòi hỏi chủ quyền đối với cả Trường Sa và Hoàng Sa. Việt Nam cũng tuyên bố rằng thỏa thuận đạt được mà không có sự tham khảo của các bên là không đúng với tinh thần của ASEAN - Trung Quốc DOC.56 Thoả thuận ba bên JSMU giữa ba công ty dầu khí quốc gia đã "khai tử" cho Thoả thuận Trung Quốc-Philippín năm 2004.
    Tháng 6/2008, Trung Quốc và Nhật Bản đạt được thỏa thuận về hợp tác trên biển Hoa Đông. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc ngày 18/6/2008 nói đây là bước đi đầu tiên tiến tới khai thác chung tại biển Hoa Đông giữa Trung Quốc và Nhật Bản.57 Bà cũng nói đây là "một bước đi quan trọng" trong giai đoạn chuyển tiếp trước khi có phân định trên biển. Theo Masahiko Koumura của Bộ Ngoại Giao Nhật Bản thỏa thuận là bước đầu tiên tiến tới sự hiểu biết chung giữa lãnh đạo hai nước rằng biển Hoa Đông là "biển hòa bình, hợp tác và hữu nghị". Ông này cũng tuyên bố rằng nội dung của hiệp định "có lợi cho cả hai bên".58 Trên thực tế, tranh chấp Trung Quốc - Nhật Bản tập trung trên các khu vực thuộc biển Hoa Đông mà cả hai bên đều có yêu sách. Nhật Bản chia biển Hoa Đông bằng đường trung tuyến, phân định khu vực đặc quyền kinh tế của hai nước theo UNCLOS. Trung Quốc yêu sách quyền tài phán với toàn bộ biển Hoa Đông trên cơ sở kéo dài tự nhiên của thềm lục địa.
    Trung Quốc bắt đầu khoan thăm dò khu vực này năm 2003, khiến Nhật lên tiếng phản đối. Nhật bác bỏ đề nghị khai thác chung của Trung Quốc đối với hai mỏ khí gần đảo Senkaku do Nhật Bản quản lý trong khi Trung Quốc cũng bác bỏ đề nghị của Nhật về khai thác chung bốn mỏ khí gần đường trung tuyến do Nhật vạch ra. Trung Quốc nói Nhật không có quyền phản đối hoạt động của Trung Quốc vì các hoạt động này nằm trong khu vực vùng đặc quyền kinh tế không tranh chấp của Trung Quốc.
    Các nhà hoạch định chính sách và công luận Nhật lo ngại các hoạt động này có thể mở rộng tới vùng đặc quyền kinh tế của Nhật, do vậy ảnh hưởng đến nguồn tài nguyên của nước này.59
    Sau nhiều năm tranh chấp, hai nước đã đạt được thống nhất trên cơ sở cùng có lợi, thông qua thỏa thuận 6/2008.60 Theo thỏa thuận này, một lô khai thác chung được xác định trong đó, hai bên thông qua thăm dò chung, sẽ lựa chọn các khu vực thỏa thuận chung trên cơ sở cùng có lợi. Hai bên thông qua tham khảo ý kiến sẽ quyết định các vấn đề cụ thể. Các công ty Nhật Bản có thể khai thác chung với Trung Quốc khu mỏ khí Shirakaba/Chunxiao và khu nam mỏ khí Asunaro. Shirabaka/Chunxiao chủ yếu nằm ở phía Trung Quốc của "đường trung tuyến" do Nhật khởi xướng, trong khi khu phát triển chung nam Asunarro nằm tương đối đều hai bên đường trung tuyến. Hai nước phải tiếp tục giải quyết những vấn đề, thí dụ như quyết định tỷ lệ đóng góp tài chính của hai nước và giải pháp với ba khu mỏ khí khác là Asunaro/Longjing, Kashi/Tianwaitian và Kusunoki/Duanqiao.
    Thỏa thuận này gặp phải sự chỉ trích mạnh mẽ của cư dân mạng ở Trung Quốc và báo chí Hồng Kông ngay lập tức sau khi công bố. Để tìm cách xoa dịu sự phản đối của công luận, Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc đã tìm cách giải thích rõ lập trường của Trung Quốc. Thứ nhất, chủ quyền đối với mỏ dầu và khí đốt Chunxiao thuộc Trung Quốc. Thứ hai, cả Trung Quốc và Nhật Bản thỏa thuận rằng các công ty Nhật sẽ tham dự các hợp tác thích hợp tại mỏ dầu khí này phù hợp với những quy định của luật pháp Trung Quốc về hợp tác quốc tế trong phát triển các nguồn tài nguyên dầu khí ngoài khơi và chấp nhận quyền tài phán của Trung Quốc. Điều mà các công ty Nhật Bản và Trung Quốc thực hiện tại khu mỏ này là phát triển thông qua hợp tác, phù hợp với luật pháp Trung Quốc.61
    Thỏa thuận Trung Quốc - Nhật Bản sẽ được các bên liên quan tới các tranh chấp trên biển Đông quan tâm. Công thức khai thác chung có lê không được hoan nghênh ở biển Hoa Đông khi Trung Quốc quay sang giải thích trên cơ sở khái niệm "hợp tác cùng phát triển". Công thức khai thác chung càng không được hoan nghênh ở biển Đông khi Trung QUốc vân theo đuổi yêu sách đường đứt khúc 9 đoạn. Điều cần thiết là phải khôi phục lòng tin và sự trung thực, phát triển các tiêu chí khách quan của khai thác chung hay hợp tác cùng phát triển.
    Kết luận
    Tranh chấp trên biển Đông đã và sẽ còn là một mối quan tâm của khu vực và các nước bên ngoài khu vực. Nhiều giải pháp có thể đã được nêu lên như việc chia sẻ các nguồn tài nguyên 62, kế hoạch Antartic, học thuyết bánh Donut, khai thác chung, hợp tác cùng phát triển, hay sự can thiệp của bên thứ ba. Tuy nhiên các hình thức giải pháp được nêu lên chưa được thực hiện do thiếu lòng tin và sự tin cậy giữa các nước có liên quan.
    Ý tưởng thiết lập một bộ quy tắc giữa các bên liên quan được ASEAN ủng hộ đã được thực hiện thông qua đối thoại với Trung Quốc và dẫn tới việc ký kết ASEAN - Trung Quốc DOC năm 2002. Đây có thể được coi đã đạt được nửa đường trong tiến trình tiến tới một bộ quy tắc ứng xử đầy đủ cho biển Đông. ASEAN - Trung Quốc DOC đã thiết lập một cơ sở quan trọng cho việc giảm thiểu căng thẳng và hợp tác cho các bên có yêu sách.
    ASEAN - Trung Quốc DOC là tín hiệu rõ ràng cho cộng đồng quốc tế rằng ASEAN -Trung Quốc có thể cùng nhau hướng tới một giải pháp hòa bình và chấp nhận được cho các tranh chấp trên biển Đông.
    Việc triển khai các dự án trong khuôn khổ ASEAN - Trung Quốc DOC xây dựng trên cơ sở các hoạt động trong quá khứ và hiện tại giữa ASEAN và Trung Quốc sẽ tạo nên mối liên hệ thường xuyên và liên tục hơn giữa các nước có yêu sách, tăng cường hơn sự tin tưởng lẫn nhau. Tuy nhiên, việc thực hiện ASEAN -Trung Quốc DOC đã cho thấy một số hạn chế. Không có những hướng dẫn cụ thể, không có điều khoản tăng cường, chủ yếu dựa trên "thiện chí" của các nước tranh chấp. Khai thác chung theo UNCLOS cũng cho thấy một số hạn chế trong triển khai thực hiện.
    Yếu tố dầu lửa đã và đang tiếp tục ảnh hưởng tới chính sách biển các bên tại biển Đông. Yếu tố này cũng có tiềm năng làm trầm trọng thêm sự tranh giành các nguồn tài nguyên năng lượng và có thể làm tăng mức độ căng thẳng giữa các nước có yêu sách chồng lấn hoặc cùng phát triển hoặc thăm dò thông qua hợp tác giữa các nước tranh chấp.
    ASEAN và Trung Quốc sẽ phải năng động hơn nhằm tiến tới một bộ quy tắc ứng xử mới hoặc một thỏa thuận có tính ràng buộc tương đương, bao gồm những hướng dẫn cụ thể cần thiết cho việc tự kiềm chế, cho hợp tác và áp dụng luật quốc tế. Điều này cũng giúp định hình mới những dàn xếp hợp tác chức năng và chấp nhận được.
    Trong tiến trình này, các nhà làm luật châu Á có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc phát triển luật quốc tế tại châu Á và khởi xướng những sắp xếp luật pháp mới cho quan hệ hợp tác giúp biến biển Đông thành khu vực hòa bình và ổn định hình thành trên tinh thần hợp tác.
    [SIZE=3][COLOR=blue]Mũi Cà Mau: mầm đất tươi non[/COLOR][/SIZE]
    [SIZE=4][COLOR=red]Mấy trăm đời lấn luôn ra biển[/COLOR][/SIZE]

Chủ đề tương tự

  1. [Thảo luận] [NCBĐ] Xung quanh việc Trung Quốc triển khai các dự án năng lượng ở Biển Đông.
    By longtt88 in forum Thảo luận về Hoàng Sa - Trường Sa
    Trả lời: 11
    Bài mới gửi: 14-04-2011, 07:13 AM
  2. Cạnh tranh và xung đột sau chiến tranh lạnh
    By boyscout086 in forum [Lưu trữ]QS-QP Thế giới từ 2009 trở về trước
    Trả lời: 6
    Bài mới gửi: 15-11-2009, 04:08 PM
  3. “Các xung đột trên biển và tranh chấp chủ quyền tại châu Á”
    By vietnamvietnamvietnam in forum Thảo luận về Hoàng Sa - Trường Sa
    Trả lời: 7
    Bài mới gửi: 26-07-2009, 10:21 PM

Bookmarks

Quyền hạn Gửi bài

  • Bạn không thể gửi chủ đề
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài của mình
  •