HOANGSA.ORG ĐÃ CHUYỂN SANG DIỄN ĐÀN MỚI- DIỄN ĐÀN CŨ CHỈ ĐỂ LƯU TRỮ KHÔNG THỂ VIẾT BÀI.

ĐỂ ĐI ĐẾN DIỄN ĐÀN MỚI XIN VUI LÒNG CLICK VÀO ĐÂY HTTP://HOANGSA.ORG/F

HOANGSA.ORG ĐÃ CHUYỂN SANG DIỄN ĐÀN MỚI- DIỄN ĐÀN CŨ CHỈ ĐỂ LƯU TRỮ KHÔNG THỂ VIẾT BÀI.

ĐỂ ĐI ĐẾN DIỄN ĐÀN MỚI XIN VUI LÒNG CLICK VÀO ĐÂY HTTP://HOANGSA.ORG/F

User Tag List

Trang 1 trong 64 1231151 ... Cuối cùngCuối cùng
Kết quả từ 1 tới 10 trên 634
  1. #1
    Ngày gia nhập
    Dec 2007
    Bài gửi
    81
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    0
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)

    Tìm hiểu về chiến tranh biên giới bảo vệ Tổ Quốc giai đoạn 1975-1990

    Chủ đề này nhằm tập hợp và chia sẻ tất cả thông tin liên quan đến chiến tranh biên giới bảo vệ Tổ Quốc giai đoạn 1975-1990.
    Sửa bởi littlehorsefish : 16-09-2009 lúc 09:29 AM

  2. Thanks lovevn thanked for this post
  3. #2
    Ngày gia nhập
    Dec 2007
    Bài gửi
    81
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    0
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)

    Re: Chiến tranh bí mật

    Từ sau năm 1979, quân TQ tiếp tục tấn công lấn chiếm vào đất ta ở nhiều điểm.
    Ở địa bàn QK1, địch đánh chiếm bình độ 400 (Lạng Sơn), cao điểm 820, 630.
    Ở địa bàn QK2, tháng 8-1980, địch đánh cao điểm 1992 (Sín Mần, Hà Tuyên). Tháng 5-1981 đánh cao điểm 1800A-1800B (Lào Chải, Hà Tuyên). Tháng 2-1982 tấn công vào Đồng Văn, Mèo Vạc. Tháng 4-1983 tấn công vào Mường Khương.
    Đặc biệt từ tháng 4-1984 địch tập trung tấn công lớn vào Vị Xuyên.

    Thời điểm này, ta bố trí dọc tuyến biên giới 3 quân đoàn, 11 sư đoàn, 13 trung đoàn và 70 tiểu đoàn độc lập. Các lực lượng bảo đảm, phục vụ... tuyến sau tương đương 4-6 sư đoàn. Tổng quân số khoảng 300.000 người. Ngoài ra, sâu trong nội địa còn có 3 quân đoàn chủ lực Bộ làm dự bị.
    Mặt trận biên giới Vị Xuyên diễn ra từ tháng 4-1984 đến tháng 4-1989, chia thành 4 thời kỳ :
    - Từ 2-4-1984 đến 16-5-1984 : địch tiến công lớn, ta phòng ngự.
    - Từ 16-5-1984 đến 7-1-1987 : ta củng cố phòng ngự, tổ chức tiến công một số điểm bị chiếm đóng, địch tiếp tục tấn công lấn chiếm.
    - Từ tháng 2-1987 đến tháng 12-1988 : ta và địch đều ngừng tiến công lớn, chủ yếu củng cố phòng ngự và bắn pháo.
    - Từ tháng 12-1988 đến tháng 4-1989 : địch ngừng bắn phá và bắt đầu rút dần một số điểm.
    Trong 5 năm từ 1984-1989, địch đã dùng 20 lượt sư đoàn, 171 lượt trung đoàn đến đại đội tấn công lấn chiếm vào đất ta 1-2km.
    Phía ta cũng 7 lần thay phiên các sư đoàn chủ lực lên chiến đấu.
    Về phía QK1 có trung đoàn bộ binh 981, 982, 983.
    QK2 có sư đoàn bộ binh 313, 314, 316, 356; lữ đoàn công binh 543, lữ đoàn pháo binh 168, lữ đoàn cao xạ 297, trung đoàn xe tăng 406. trung đoàn thông tin 604, trung đoàn vận tải 652, các tiểu đoàn đặc công, trinh sát, các đơn vị địa phương của BCHQS tỉnh Hà Tuyên và trung đoàn bộ binh 754 của BCHQS tỉnh Sơn La.
    Đặc khu Quảng Ninh có trung đoàn bộ binh 568 (sư đoàn bộ binh 328).
    QĐ1 có sư đoàn bộ binh 312, QĐ2 có sư đoàn bộ binh 325, QĐ3 có sư đoàn bộ binh 31, lữ đoàn pháo binh 368 thuộc BTL Pháo binh...

    Ngoài ra còn nhiều đơn vị lên với hình thức quân tăng cường, lên vẫn lấy phiên hiệu đơn vị phòng ngự cũ.
    Bố trí lực lượng phòng ngự có 2 khu vực :
    Khu vực Tây sông Lô :
    - Từ đầu năm 84 đến 12-85 : F313 và 356 + 1 E của QK1.
    - Tháng 12-85 : F31 thay F313.
    - Tháng 6-86 : F313 thay F31.
    - Tháng 2-87 : F356 thay F313.
    - Tháng 8-87 : F312 thay F356.
    - Tháng 1-88 : F325 thay F312.
    - Tháng 9-88 : F316 thay F325.
    - Tháng 5-89 : F313 thay F316.
    Ở hướng này khoảng 6 tháng ta thay quân một lần. Riêng F313 có đợt chiến đấu kéo dài liên tục gần 1 năm, gặp rất nhiều khó khăn.
    Khu vực Đông sông Lô :
    - Từ đầu năm 84 : E266 (F313).
    - Tháng 7-84 : E141 (F312) thay E266 (F313).
    - Tháng 4-85 : E568 (F328) thay E141 (F312).
    - Tháng 11-85 : E818 (F314) thay E568 (F328).
    - Tháng 2-87 : E881 (F314) thay E818 (E314).
    - Tháng 9-87 : E818 (F314) + 1D tăng cường của E754 thay E881 (F314).
    - Tháng 6-88 : E728 (F314) thay E818 (F314).
    - Tháng 10-88 : E247 (BCHQS tỉnh Hà Tuyên) thay E728 (F314).

    Hướng phòng ngự Đông sông Lô gặp nhiều khó khăn hơn phía Tây, nhiều đơn vị phải chiến đấu những đợt kéo dài 7-10 tháng.

    Diễn biến chính :
    Từ ngày 2-4 đến 28-4-1984, địch tập trung pháo binh bắn phá khu vực Vị Xuyên, từ điểm cao 1545 đến điểm cao 1030. Trong 26 ngày đêm địch đã bắn tổng cộng 30.000 viên đạn pháo cối các loại. Riêng từ ngày 28-4 đến 30-4-1984, địch bắn 12.000 quả đạn pháo vào 6 điểm tựa của ta để chi viện cho bộ binh của chúng (thuộc sư đoàn 40, quân đoàn 14 ĐQK Côn Minh) tấn công đánh chiếm các điểm cao 226, 233, bình độ 300-400, 1509, 772, 685. Trong 2 ngày địch đã đánh chiếm được 226, 233, 772, 1509, bình độ 300-400, E1, 685 do trung đoàn 122 (sư đoàn 313 QK2) của ta phòng ngự, lấn vào lãnh thổ VN khoảng 2km.

    Ngày 15-5-1984, địch mở đợt tiến công Đông sông Lô (từ điểm cao Si Cà Lá đến M13) với lực lượng 1 trung đoàn tăng cường (sư đoàn 40, quân đoàn 14 ĐQK Côn Minh). Sau 1 ngày chiến đấu, địch đã chiếm được các điểm cao 1030, Si Cà Lá, 1250, đài 2, M13 do trung đoàn 266 (sư đoàn 313 QK2) của ta phòng ngự.

    Như vậy, từ 28-4 đến 16-5-1984, địch đã chiếm 18 điểm, triển khai phòng ngự chốt giữ 29 điểm trên lãnh thổ VN. Trong đó có khu 1509, 772 mà chúng gọi là Lão Sơn, khu 1250, 1030, Si Cà Lá (Núi Bạc) mà chúng gọi là Giả Âm Sơn.
    Tháng 6-1984, Bộ Tư lệnh mặt trận của ta quyết định tổ chức tiến công để giành lại các chốt bị chiếm đóng. Lực lượng tham gia đợt tiến công này gồm 3 trung đoàn .
    - Trung đoàn 141 (sư đoàn 312 QĐ1) đánh 1030, Si Cà Lá.
    - Trung đoàn 174 (sư đoàn 316 QK2) đánh 233, bình độ 300-400.
    - Trung đoàn 786 (sư đoàn 356 QK2) đánh 772 phát triển sang 685.

    Cần lưu ý rằng tuy gọi là trung đoàn nhưng lực lượng thực sự tham gia chiến đấu chỉ có 1-2 tiểu đoàn.
    Ngày 12-7-1984, ta nổ súng tiến công địch. Tuy đã chiến đấu rất quyết liệt nhưng đợt tiến công của ta đã không thành công.

    Đến tháng 11-1984, Bộ Tư lệnh mặt trận hạ quyết tâm mở tiếp một đợt tấn công vây lấn. Lần này các đơn vị có 4 tháng chuẩn bị.
    - Các đơn vị thuộc sư đoàn 313 QK2 vây lấn địch ở bình độ 300-400.
    - Các đơn vị thuộc sư đoàn 356 QK2 vây lấn địch ở 685.
    Đợt chiến đấu kéo dài từ 18-11-1984 đến 18-1-1985 (ta ngừng tiến công vào dịp Tết Nguyên đán). Mặc dù chưa khôi phục hoàn toàn khu vực A5, 300-400, 685 nhưng ta đã giành lại được một số chốt, hình thành thế phòng ngự xen kẽ, bám sát địch, có nơi chỉ cách địch 15-20m như đồi Chuối, đồi Cô X, đồi Đài, A4, khu Cót Ép, khu E và mỏm E2, E3, E5 của 685. Cá biệt có những nơi như ở Bốn hầm, chốt của ta và địch chỉ cách nhau 6-8m.

    Trong 2 năm 1985-1986, địch tiếp tục mở nhiều đợt tiến công lấn chiếm trận địa của ta. Chiến sự diễn ra khá quyết liệt, có những nơi như ở Bốn hầm ta địch giành giật nhau tới 38 lần, điểm cao 685 41 lần, đồi Cô X 45 lần. Pháo cối địch tiếp tục bắn phá hàng vạn quả đạn vào lãnh thổ ta. Riêng trong 3 ngày từ 5-1 đến 7-1-1987, pháo địch đã bắn 100.000 quả đạn.

    Kể từ năm 1987 trở đi, chiến sự ở mặt trận biên giới Vị Xuyên dần dần lắng xuống. Ngày 21-12-1988, lần đầu tiên địch ngừng bắn pháo vào Vị Xuyên, nơi chưa hề có một ngày im tiếng pháo kể từ năm 1984 (nhưng sau đó thì chúng tiếp tục bắn). Từ năm 1989, địch giảm bắn pháo và rút khỏi một số điểm ở phía Bắc suối Thanh Thủy.

    Ngày 13-3-1989, địch rút khỏi 20 điểm chiếm đóng và đến tháng 9-1989, địch rút khỏi 9 điểm còn lại.
    Kết quả chiến đấu :
    - Trong 5 năm tác chiến, ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 15.000 tên địch, bắt 325 tù binh (bắt 6 tên trong chiến đấu và 319 tên thám báo, trinh sát đột nhập).
    - Đánh thiệt hại nặng 4 trung đoàn, 43 tiểu đoàn, 18 đại đội, 10 trung đội; đánh thiệt hại vừa 4 tiểu đoàn, 5 đại đội, 4 trung đội; đánh thiệt hại nhẹ 4 tiểu đoàn, 7 đại đội, 10 trung đội.
    - Phá hủy 100 khẩu pháo các cỡ, 100 khẩu súng cối các cỡ, tiêu diệt 13 trận địa pháo cối, 170 xe vận tải, 130 kho tàng, 1.550 ụ súng, lô cốt, hoả điểm, đài quan sát của địch...
    - Thu 50 khẩu súng bộ binh, 50 máy thông tin cùng một số khí tài khác.
    Tổng cộng trong thời gian từ 1984-1989, địch đã bắn vào khu vực Vị Xuyên 1.858.613 quả đạn pháo cối các loại. Trung bình mỗi ngày từ 10.000-20.000 quả. Có đợt 3 ngày (5 đến 7-1-1987) bắn 100.000 quả. Có ngày bắn tới 61.115 quả.
    Theo nguồn tin BBC, thiệt hại là quân ta: 35-40 ngàn, Trung Quốc: 25-30 ngàn. Và sau khi kết hiệp định biên giới năm 1990, ta mất núi Lão Sơn. Về chiến lược và sức mạnh quân sự TQ thắng ta hoàn toàn.
    Sau năm 1990 đến nay TQ vẫn tiếp tục xây dựng sân bay, pháo đài và liên tục tăng cường hạm đội ở quần đảo Hoàng Sa. Hải quân và lực lượng biên phòng của ta ở Trường Sa vẫn luôn trong tình trạng cảnh giác cao độ.
    [FLASH][FLASH]http://www.nhaccuatui.com/l/fwk7WLNhlrhQ[/FLASH][/FLASH]

  4. #3
    Ngày gia nhập
    Dec 2007
    Bài gửi
    81
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    0
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)

    Re: Chiến tranh bí mật

    Đọc lại lịch sữ ta thấy được TQ đã ngang ngược cở nào.Ý đồ bành trướng đã thể hiện sẵn qua các cuộc chiến.Chúng ta phải làm gì đó trước những hành động cướp nước này.
    Còn tiểu thuyết đoàn rồng tôi đã tìm kiếm nhưng không thấy.Mong bạn nào có hãy chia sẽ để chúng ta thấy rõ hơn về bộ mặt thật của TQ
    Có 1 số mảng của lịch sữ Việt Nam bị che dấu bởi quan hệ ngoại giao với TQ mà chúng ta không được dạy trong lịch sữ,1 phần đó nằm trong tiểu thuyết đoàn rồng.
    [FLASH][FLASH]http://www.nhaccuatui.com/l/fwk7WLNhlrhQ[/FLASH][/FLASH]

  5. #4
    Ngày gia nhập
    Dec 2007
    Bài gửi
    81
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    0
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)

    Re: Chiến tranh bí mật

    Hải chiến Hoàng Sa 1974
    Hải chiến Hoàng Sa là một trận chiến giữa Hải quân chế độ cũ (CĐC) và Hải quân Trung Quốc từ 17 đến 19 tháng 1 năm 1974 trên quần đảo Hoàng Sa. Sau khi Pháp rút khỏi Đông Dương, CĐC đã thu hồi chủ quyền toàn bộ quần đảo này từ chính phủ bảo hộ Pháp nhưng một phần quần đảo đã bị Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa cho quân ra chiếm giữ khi người Pháp rút đi, CĐC chỉ chiếm giữ và thực hiện chủ quyền được một phần quần đảo cho đến khi cuộc hải chiến xảy ra. Sau trận chiến, Trung Quốc đã chiếm đóng 1 phần quần đảo cho đến nay.

    Bối cảnh
    Quần đảo Hoàng Sa gồm hai nhóm đảo, nhóm đảo mà CĐC bảo vệ và thực hiện được chủ quyền là nhóm Nguyệt Thiềm hay Trăng Khuyết (Crescent group) và nhóm Bắc đảo hay An Vĩnh/Tuyên Đức (Amphitrite group). Dưới thời CĐC đã có đài khí tượng do Pháp xây, trực thuộc ty khí tượng Đà Nẵng và được bảo vệ bởi một tiểu đoàn thủy quân lục chiến.

    Năm 1956, Hải quân Trung Quốc chiếm đóng đảo Phú Lâm (Woody Island) thuộc nhóm Bắc đảo.

    Năm 1958, Trung Quốc cho công bố bản Tuyên ngôn Lãnh hải 4 điểm, trong đó có tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc bao gồm các đảo Đài Loan, Tây Sa (tức Hoàng Sa của Việt Nam) và Nam Sa (tức Trường Sa của Việt Nam), đảo Macclesfield (Trung Sa), quần đảo Bành Hồ (Pescadores)[1].

    Vào giai đoạn này, Trung Quốc vẫn là đồng minh hậu thuẫn cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiến hành cuộc Chiến tranh Việt Nam chống lại CĐC và Hoa Kỳ.

    Ngày 22 tháng 9 năm 1958, báo Nhân Dân đăng công hàm của Thủ tướng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Phạm Văn Đồng gửi Thủ tướng Quốc vụ Viện Trung Quốc, ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của chính phủ Trung Quốc quyết định về hải phận[2].

    Năm 1961, CĐC ban hành sắc lệnh khẳng định chủ quyền Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Nam của CĐC.

    Trong thời gian 1964-1970, Hải quân Trung Quốc và Hải quân CĐC chạm súng liên tục trên hải phận Hoàng Sa, nhưng không đưa đến thương vong[3]. Trong thời điểm đó, CĐC cũng thiết lập một sân bay nhỏ tại đảo Hoàng Sa.

    Năm 1970, Hoa Kỳ và Nhật Bản ký Hiệp ước trao trả Okinawa (Okinawa Reversion Treaty) trao trả quần đảo Điếu Ngư (Diaoyu) (tức Sento Shosho hay Senkaku Retto của Nhật Bản) về dưới chủ quyền của Nhật Bản với sự phản đối của Đài Loan và Trung Quốc; và cùng năm Đô đốc Elmo Zumwalt, cựu Tham mưu trưởng Hải quân Hoa Kỳ họp báo tuyên bố tại Guam rằng Hoàng Sa và Trường Sa không nằm trong chiến lược triển khai các hải đảo tiền đồn của Đệ thất Hạm đội Hoa Kỳ. Theo nhận định của Hải quân CĐC thì đây là sự kiện trao đổi giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc, và là nguy cơ cho CĐC trong việc bảo vệ Hoàng Sa.[4].


    Tuần dương hạm Lý Thường Kiệt (HQ-16)Năm 1971, Hải quân Trung Quốc và Hải quân CĐC tiếp tục chạm súng trên hải phận Hoàng Sa. [5] Những năm cuối của cuộc Chiến tranh Việt Nam, vì nhu cầu chiến trường, tiểu đoàn thủy quân lục chiến của CĐC tại Hoàng Sa được đưa vào đất liền, chỉ còn một trung đội địa phương quân trấn giữ nhóm Nguyệt Thiềm.

    Năm 1973, với Hiệp định Paris, Hoa Kỳ và Đệ thất Hạm đội sau khi rút quân và thiết bị của Hoa Kỳ ra khỏi quần đảo Hoàng Sa. Như vậy Hoa Kỳ đã xem việc bảo vệ quần đảo này là việc riêng của CĐC.

    Năm 1974 Bộ tư lệnh Hải quân CĐC quyết định thiết lập một phi trường trên đảo Hoàng Sa có khả năng chuyên chở vận tải cơ hạng nặng C-7 Caribou để chuyển quân nhanh ra nhóm Nguyệt Thiềm. Khi một phái đoàn của Quân lực CĐC thăm dò một số đảo Hoàng Sa trong việc chuẩn bị thiết lập phi trường nói trên thì khám phá ra sự hiện diện của Hải quân Trung Quốc, và giao tranh xảy ra sau đó.


    Tương quan lực lượng

    Khu trục hạm Trần Khánh Dư (HQ-4)Phía Việt Nam có Tuần dương hạm Trần Bình Trọng (HQ-5), Tuần dương hạm Lý Thường Kiệt (HQ-16), Khu trục hạm Trần Khánh Dư (HQ-4), Hộ tống hạm Nhật Tảo (HQ-10), một đại đội hải kích thuộc Hải quân CĐC, một số biệt hải (biệt kích hải quân) và một trung đội địa phương quân đang trú phòng tại đảo Hoàng Sa.

    Phía Trung Quốc có Liệp tiềm đĩnh số 274, Liệp tiềm đĩnh số 271, Tảo lôi hạm số 389, Tảo lôi hạm số 391, Liệp tiềm đĩnh số 282, Liệp tiềm đĩnh số 281 và hai chiến hạm số 402 và số 407 chở quân (không rõ loại), Tiểu đoàn 4 và Tiểu đoàn 5 thuộc Trung đoàn 10 Hải quân lục chiến, và hai đội trinh sát.


    Diễn tiến

    Ngày 16 tháng 1 năm 1974, Tuần dương hạm Lý Thường Kiệt sau khi đưa một phái đoàn của Quân lực Việt Nam Cộng hòa thăm dò một số đảo Hoàng Sa phát hiện hai chiến hạm số 402 và số 407 của Hải quân Trung Quốc gần Cam Tuyền, và phát hiện quân Trung Quốc chiếm đóng hoặc cắm cờ Trung Quốc tại các đảo Quang Hòa, Duy Mộng, Vĩnh Lạc.


    Sau khi cấp báo về Bộ tư lệnh Hải quân Vùng 1 Duyên hải tại Đà Nẵng, HQ-16 dùng quang hiệu yêu cầu các chiến hạm Trung Quốc rời lãnh hải Việt Nam. Các chiến hạm Trung Quốc không rời vùng, và cũng dùng quang hiệu yêu cầu phía CĐC rời lãnh hải Trung Quốc.

    Ngày 17 tháng 1 năm 1974, Khu trục hạm Trần Khánh Dư (HQ-4) đến Hoàng Sa đổ bộ một toán biệt hải và một đội hải kích xuống Cam Tuyền để nhổ cờ Trung Quốc. Sau đó lính hải quân CĐC rút trở lên tàu. Cùng trong ngày Liệp tiềm đĩnh số 274 và Liệp tiềm đĩnh số 271 của Trung Quốc xuất hiện.


    Ngày 18 tháng 1 năm 1974, Đề đốc Lâm Ngươn Tánh, Tư lệnh phó Hải quân CĐC bay ra Bộ tư lệnh Hải quân Vùng 1 Duyên hải tại Đà Nẵng để trực tiếp chỉ huy trận đánh. Ông ban hành lệnh hành quân Hoàng Sa 1 nhằm chiếm lại các đảo Cam Tuyền, Quang Hòa, Duy Mộng, Vĩnh Lạc. Lực lượng hành quân Hoàng Sa 1 được tăng cường thêm Tuần dương hạm Trần Bình Trọng (HQ-5) làm soái hạm cho cuộc hành quân, và Hộ tống hạm Nhật Tảo (HQ-10). Do hải hành lâu ngày chưa kịp tu bổ, HQ-10 tham chiến với một máy bất khiển dụng, chỉ còn một máy hoạt động.

    Ngày 19 tháng 1 năm 1974, các nhóm biệt hải và hải kích của CĐC từ HQ-5 đổ quân lên mặt Nam đảo Quang Hòa, Hải quân Trung Quốc đổ quân xuống mặt Bắc đảo. Hai bên giao tranh và phía CĐC có 3 chết và 2 bị thương. Do quân Trung Quốc quá đông, quân CĐC rút trở lên HQ-5.

    Ngay sau đó chiến hạm hai bên triển khai đội hình gần đảo Quang Hòa và chiến hạm CĐC khai hỏa trước. Hai bên chạm súng từ 30 đến 45 phút, cùng thời điểm đó Bộ tư lệnh Hải quân CĐC nhận được thông báo của Văn phòng Tùy viên Quân sự Hoa Kỳ (DAO) tại Sài Gòn, cho biết radar Đệ thất Hạm đội ghi nhận một số phóng lôi hạm (guided missile frigate) và chiến đấu cơ MIG từ Hải Nam đang tiến về phía Hoàng Sa. Bộ tư lệnh Hải quân CĐC sau đó yêu cầu Đệ thất Hạm đội trợ giúp, nhưng không thành công. Các chiến hạm CĐC được lệnh rút bỏ quần đảo Hoàng Sa[6].


    Kết quả

    Theo tài liệu của CĐC thì 274 trúng đạn, tay lái bất khiển dụng phải ủi vào bãi san hô để thủy thủ đoàn đào thoát, 271 hoặc 389 bị chìm tại trận, và 389 và 391 bị hư hại nặng. HQ-10 trúng đạn vào pháo tháp bị chìm tại trận, HQ-16 bị hư hại nặng nghiêng 15 độ, HQ-5 và HQ-4 bị hư nhẹ. Gần 50 thủy thủ và hạm trưởng Ngụy Văn Thà của HQ-10 tử vong. Ngoài ra HQ-5 có 3 quân nhân tử vong và 16 bị thương. Hai ngày sau trận hải chiến, ngày 20 tháng 1, tàu chở dầu Hòa Lan "Kopionella" vớt được 23 người thuộc thủy thủ đoàn của HQ-10 đang trôi dạt trên biển. Đến mười ngày sau, ngày 29 tháng 1, ngư dân Việt Nam vớt được một toán lính CĐC gần Mũi Yến (Qui Nhơn), gồm 1 sĩ quan, 2 hạ sĩ quan và 12 lính thuộc lực lượng đổ bộ lên Quang Hòa, đã dùng bè vượt thoát đảo sau trận hải chiến[7].

    Theo tài liệu của Trung Quốc thì 274, 271, 389, 391 đều trúng đạn, 281, 282 và 402, 407 bị hư hại trung bình, HQ-10 bị chìm tại trận. Trung Quốc bắt giữ 48 tù binh, trong đó có một người Mỹ[8]. Trung Quốc có trao trả tù binh sau đó tại Hồng Kông qua Hội Chữ thập đỏ.

    Trung Quốc chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa từ thời điểm này. Sau trận chiến, CĐC đã ra nhiều tuyên bố cũng như trưng ra các chứng cớ lịch sử về chủ quyền của mình[cần dẫn chứng] và đã được Chính phủ Pháp ủng hộ vì trước đây theo Hòa ước Pháp Thanh thì người Pháp đã thực hiện chủ quyền ở quần đảo này. Tuy nhiên, Trung Quốc đã cho đập phá các bia chủ quyền tại quần đảo Hoàng Sa, đào các mộ của người Việt đã chôn ở đây, xóa các di tích lịch sử của người Việt.

    Phản ứng trước vụ việc, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chỉ tuyên bố rằng "các nước liên quan nên giải quyết mâu thuẫn bằng đàm phán trên tinh thần bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, và quan hệ láng giềng". Họ đã không thể làm gì hơn, do tại thời điểm giữa cuộc chiến tranh đó, họ vẫn cần đến viện trợ quân sự và kinh tế của Trung Quốc. Ngay sau khi chiến tranh Việt Nam kết thúc, Việt Nam đã tuyên bố chủ quyền đối với cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Việc này đã gây ra sự bất bình lớn của Trung Quốc và bắt đầu một thời kì quan hệ căng thẳng giữa hai nước Việt Nam - Trung Quốc[9].

    Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay vẫn khẳng định chủ quyền hợp pháp đối với toàn bộ quần đảo Hoàng Sa và vùng lãnh hải liên quan trên biển Đông.



    Tài liệu được lấy từ http://vi.wikipedia.org
    Các bạn đọc sẽ thấy dã tâm của TQ ,đồng thời khẳng định 1 điều duy nhất Hoàng Sa,Trường Sa mãi mãi là máu thịt của Việt Nam,ko ai có thể cướp HS và TS của Việt Nam được.

    Techno đã chỉnh lý các từ ngữ nhậy cảm và một số lỗi type
    [FLASH][FLASH]http://www.nhaccuatui.com/l/fwk7WLNhlrhQ[/FLASH][/FLASH]

  6. Thanks CoDaiNhaTrang_VietNam thanked for this post
  7. #5
    Ngày gia nhập
    Dec 2007
    Bài gửi
    57
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    0
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)

    XUNG ĐỘT BIÊN GIÓI VN-TQ LẦN THƯ NHẤT 1979

    TÔI XIN PÓT BÀI NÀY ĐỂ CHO CÁC BAN THẾ HỆ 8X VÀ 9X HIỂU BIẾT VỀ LS GIÀNH ĐỘC LẬP NƯỚC NHÀ, vì tôi các em tham gia biểu tình hôm chủ nhật 16/12/2007 còn mơ hồ về việc này.


    Chiến tranh biên giới Việt - Trung, 1979 (còn gọi là Chiến tranh biên giới phía Bắc, 1979 hay Công cuộc phòng thủ biên giới phía Bắc, 1979) là tên gọi cuộc chiến tranh của Trung Quốc nhằm đánh chiếm 6 tỉnh biên giới của Việt Nam vào năm 1979 (còn có tên gọi khác là Chiến tranh bành trướng Bắc Kinh, 1979).

    Nguyên nhân xảy ra cuộc chiến

    Nhận thấy Việt Nam đưa quân vào Campuchia lật đổ chính quyền diệt chủng Khmer Đỏ do Trung Quốc bảo trợ trong cuộc chiến tranh giữa Việt Nam và Campuchia, Trung Quốc quyết định tấn công xâm lược Việt Nam với lý do "dạy cho Việt Nam một bài học" (lời Đặng Tiểu Bình) nhưng mục đích chính là phân chia lực lượng quân đội của Việt Nam để giúp chính quyền diệt chủng Khmer Đỏ. Đồng thời, Trung Quốc muốn thử nghiệm chiến thuật quân sự phòng thủ chủ động, đưa cuộc phòng thủ biên giới vào sâu lãnh thổ đối phương.

    Ngoài ra, theo một số nhà nghiên cứu quân sự Tây phương, về mặt chiến lược, Trung Quốc thử nghiệm một cuộc chiến tranh biên giới có giới hạn để thăm dò khả năng tương trợ của Liên xô, sau khi Việt Nam gia nhập Hội đồng Tương trợ Kinh tế SEV, và ký hiệp ước hữu nghị và hợp tác với Liên Xô (1978), trong đó có điều khoản về tương trợ quân sự . Nếu thảo ước này được tuân thủ nghiêm ngặt, theo nhận định của Quân ủy Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, nó sẽ là hiểm họa quốc phòng lớn vì đặt Trung Quốc vào tình thế lưỡng đầu thọ địch khi xảy ra chiến tranh với Việt Nam hoặc Liên Xô.

    Tương quan lực lượng tham chiến

    Để tiến công Việt Nam, Trung Quốc sử dụng 9 quân đoàn chủ lực và một số sư đoàn bộ binh độc lập (tổng cộng 32 sư đoàn), 6 trung đoàn xe tăng, 4 sư đoàn và nhiều trung đoàn pháo binh, phòng không. Lực lượng được huy động khoảng 600.000 binh sĩ, 550 xe tăng, 480 khẩu pháo, 1.260 súng cối[1] và dàn hỏa tiễn, chưa kể hơn 200 tàu chiến của hạm đội Nam Hải và 1.700 máy bay sẵn sàng phía sau. Tướng Hứa Thế Hữu, tư lệnh Đại Quân khu Quảng Châu chỉ huy hướng tiến công vào đông bắc Việt Nam với trọng điểm là Lạng Sơn và Cao Bằng. Tướng Dương Đắc Chí, tư lệnh Đại Quân khu Côn Minh đảm nhiệm hướng tây bắc với trọng điểm là Hoàng Liên Sơn (nay là Lào Cai). Đây là đợt huy động quân sự lớn nhất của Trung Quốc kể từ Chiến tranh Triều Tiên.

    Về phía Việt Nam, do phần lớn các quân đoàn chính quy (3 trong số 4 quân đoàn) đang chiến đấu ở Campuchia nên phòng thủ ở biên giới với Trung Quốc chỉ có một số sư đoàn chủ lực quân khu (chủ yếu là tân binh) của Quân khu I và II cùng các đơn vị bộ đội địa phương tỉnh, huyện, công an vũ trang (biên phòng) và dân quân tự vệ. Lực lượng biên giới có khoảng 70.000 quân, sau được hai sư đoàn từ miền xuôi lên tiếp viện[2]. Quân đoàn 1 vẫn đóng quanh Hà Nội đề phòng Trung Quốc đổi ý tiến sâu vào trung châu

    Diễn biến

    Sáng ngày 17 tháng 2 năm 1979, quân đội Trung Quốc áp dụng chiến thuật biển người bất kể tổn thất tiến công trên toàn tuyến biên giới phía Bắc Việt Nam.

    Hướng Lạng Sơn có quân đoàn 43, 54, 55.
    Hướng Cao Bằng có quân đoàn 41, 42, 50.
    Hướng Hoàng Liên Sơn có quân đoàn 13, 14.
    Hướng Lai Châu có quân đoàn 11.
    Hướng Quảng Ninh, Hà Tuyên (nay là Hà Giang) mỗi nơi cũng có từ 1-2 sư đoàn.
    Tất cả các hướng tấn công đều có xe tăng, pháo binh hỗ trợ. Không quân và hải quân không được sử dụng trong toàn bộ cuộc chiến.

    Trong giai đoạn đầu đến ngày 28 tháng 2 năm 1979, quân Trung Quốc chiếm được các thị xã Lào Cai, Cao Bằng, Hà Giang và một số thị trấn. Các cơ sở vật chất, kinh tế ở những nơi này bị phá hủy triệt để. Tuy nhiên, do vấp phải sự phòng ngự có hiệu quả của Việt Nam nên quân Trung Quốc tiến rất chậm và bị thiệt hại nặng.

    Quân Việt Nam còn phản kích đánh cả vào hai thị trấn biên giới Ninh Minh (thuộc tỉnh Quảng Tây) và Malypo (thuộc tỉnh Vân Nam) của Trung Quốc nhưng chỉ có ý nghĩa quấy rối.

    Ngày 19 tháng 2 năm 1979, nhóm cố vấn quân sự cao cấp của Liên Xô tới Hà Nội để gặp các tướng lĩnh chỉ huy của Việt Nam. Moskva yêu cầu Trung Quốc rút quân. Liên Xô cũng viện trợ gấp vũ khí cho Việt Nam qua cảng Hải Phòng, đồng thời dùng máy bay vận tải chuyển một số sư đoàn chính quy Việt Nam từ Campuchia về.

    Trong giai đoạn sau, cả hai bên đều tăng cường thêm lực lượng và cuộc chiến tiếp tục, trong đó quyết liệt nhất là hướng Lạng Sơn. Tại đây sư đoàn bộ binh 3 Sao Vàng, một đơn vị thiện chiến của Việt Nam từng đánh Mỹ cùng một số sư đoàn khác đã tổ chức phòng thủ chu đáo. Sau nhiều trận đánh đẫm máu bất kể tổn thất, quân Trung Quốc vào được thị xã Lạng Sơn chiều ngày 4 tháng 3 năm 1979. Ngày 5 tháng 3 năm 1979, Việt Nam ra lệnh tổng động viên toàn quốc. Đồng thời phía Việt Nam cũng điều các sư đoàn chủ lực có xe tăng, pháo binh hỗ trợ áp sát mặt trận, chuẩn bị phản công giải phóng các khu vực bị chiếm đóng.

    Cũng trong ngày 5 tháng 3 năm 1979, do áp lực của Liên Xô và sự phản đối của quốc tế, đồng thời cũng đã chiếm được các thị xã lớn của Việt Nam ở biên giới, Bắc Kinh tuyên bố hoàn thành mục tiêu chiến tranh, chiến thắng và bắt đầu rút quân. Mặc dù chiến sự vẫn tiếp diễn ở một số nơi nhưng đến ngày 18 tháng 3 năm 1979 quân Trung Quốc đã hoàn tất rút khỏi Việt Nam.

    Kết quả cuôc chiến

    Cuộc chiến để lại nhiều tác hại khó lường cho phía Việt Nam. Ngoài các thương vong về con người, tổn thất cụ thể về cơ sở vật chất hạ tầng ở 6 tỉnh biên giới bị phá huỷ do trận chiến, Việt Nam còn phải gánh chịu nhiều khó khăn, thiệt hại do thái độ và chính sách thù địch, vây hãm mà Trung Quốc và đồng minh của Trung Quốc gây ra trên các mặt trận quân sự, kinh tế, ngoại giao ...

    Thương Vong

    Theo tuyên bố của phía Trung Quốc: quân Trung Quốc có 6.900 người chết, 14.800 người bị thương và 240 người bị bắt. Quân Việt Nam có 60.000 người chết và bị thương, 1.600 người bị bắt.

    Theo tuyên bố của phía Việt Nam: quân Trung Quốc có 62.500 người chết và bị thương, tổn thất 280 xe tăng, 115 khẩu pháo cối và 270 xe quân sự. Phía Việt Nam có hàng nghìn dân thường chết và bị thương, không có số liệu về tổn thất của các lực lượng vũ trang.

    Cuộc chiến cũng đã gây ra những thiệt hại nặng nề về kinh tế cho Việt Nam: 4/4 thị xã bị hủy diệt hoàn toàn, 320/320 xã, 735/904 trường học, 428/430 bệnh viện, bệnh xá, 41/41 nông trường, 38/42 lâm trường, 81 xí nghiệp, hầm mỏ và 80.000 ha hoa màu bị tàn phá, 400.000 gia súc bị giết và bị cướp. Khoảng một nửa trong số 3,5 triệu dân bị mất nhà cửa, tài sản và phương tiện sinh sống.

    Về lâu dài, nó mở đầu cho hơn 10 năm căng thẳng trong quan hệ và xung đột vũ trang dọc biên giới giữa hai quốc gia, buộc Việt Nam phải thường xuyên duy trì một lực lượng quân sự khổng lồ dọc biên giới, gây hậu quả xấu đến nền kinh tế. Sinh hoạt và sản xuất của người dân vùng biên giới bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Ngoài ra, nhiều cột mốc biên giới cũng bị quân Trung Quốc phá hủy, gây khó khăn cho việc hoạch định biên giới sau này.

    Có những nhà quan sát phương Tây nhận định như sau:

    Về mặt chiến thuật, Trung Quốc thất bại vì tuy Việt Nam chưa kịp đưa các đơn vị chủ lực ở Campuchia về tham chiến mà quân đội Trung Quốc vẫn chịu tổn thất nặng nề và phải rút quân về nước.
    Về mặt chiến lược, Trung Quốc đã không thất bại hoàn toàn vì đã chứng minh được mối đe dọa lưỡng đầu thọ địch từ phía quân đội Liên Xô và quân đội Việt Nam sẽ không xảy ra. Cũng có một số nhà quan sát cho rằng Quân ủy Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc lúc bấy giờ có hai khuynh hướng, một thiên về Đặng Tiểu Bình, người muốn cải tổ quân sự trong toàn bộ chiến lược cải cách Trung Quốc, và một chống đối lại cải tổ. Tài liệu phương Tây cho rằng tai hại chiến lược to lớn nhất cho Việt Nam là cuộc chiến này đưa đến việc phe cải tổ thắng thế: Trung Quốc dồn sức hiện đại hóa các đơn vị chủ lực và đã thành công. Điều này sẽ thấy rõ sau này trong Chiến tranh biên giới Việt Trung, 1984-1988, khi Việt Nam gặp rất nhiều khó khăn.

    trích theo nguồn :wikipedia.org/wiki/chiến_tranh_biên_giới_Viêt -Trung,_1979
    Attached Images Attached Images

  8. Thanks CoDaiNhaTrang_VietNam, taobt, nguyendubabycat thanked for this post
    Likes taobt liked this post
  9. #6
    Ngày gia nhập
    Dec 2007
    Bài gửi
    16
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    0
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)

    Re: XUNG ĐỘT BIÊN GIÓI VN-TQ LẦN THƯ NHẤT 1979

    Từ đó cho thấy ng việt mình chỉ có thể tự bảo đảm an ninh cho chính mình thôi ko thể dựa vào ai khác được .
    VNCH thì bị mĩ bỏ rơi còn HN tin tưởng vào ng nga mà kí vào hiệp ước tương trợ quân sự đó , nhưng xem đó >> họ cũng chỉ giúp mình vũ khí và chuyển quân chứ đâu có tuân thủ đúng hiệp ước tương trợ .

    Thử nghĩ nếu là trường hợp TQ mà tấn công liên xô thì VN mình sẽ làm gì nhỉ ? :?:

    Hồi cấp 2 khi cô giáo đi thăm quan ở lạng sơn về có kể ,khi TQ tấn công vào lạng sơn đã ném 40 đứa trẻ xuống một cái giếng và bây giờ cái giống đó ng ta chỉ để làm lịch sử .
    [b]Góp tiếng nói chung cho Hoàng Sa và Trường Sa !

    Học tập để xây dựng đất nước ! [/b]

  10. Thanks Khế Ngọt thanked for this post
  11. #7
    Ngày gia nhập
    Dec 2007
    Bài gửi
    16
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    0
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)

    Re: XUNG ĐỘT BIÊN GIÓI VN-TQ LẦN THƯ NHẤT 1979

    Từ đó cho thấy ng việt mình chỉ có thể tự bảo đảm an ninh cho chính mình thôi ko thể dựa vào ai khác được .
    VNCH thì bị mĩ bỏ rơi còn HN tin tưởng vào ng nga mà kí vào hiệp ước tương trợ quân sự đó , nhưng xem đó >> họ cũng chỉ giúp mình vũ khí và chuyển quân chứ đâu có tuân thủ đúng hiệp ước tương trợ .

    Thử nghĩ nếu là trường hợp TQ mà tấn công liên xô thì VN mình sẽ làm gì nhỉ ? :?:

    Hồi cấp 2 khi cô giáo đi thăm quan ở lạng sơn về có kể ,khi TQ tấn công vào lạng sơn đã ném 40 đứa trẻ xuống một cái giếng và bây giờ cái giống đó ng ta chỉ để làm lịch sử .
    [b]Góp tiếng nói chung cho Hoàng Sa và Trường Sa !

    Học tập để xây dựng đất nước ! [/b]

  12. #8
    Ngày gia nhập
    Dec 2007
    Nơi cư ngụ
    Đà Nẵng
    Bài gửi
    28
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    0
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)

    Re: XUNG ĐỘT BIÊN GIÓI VN-TQ LẦN THƯ NHẤT 1979

    Trích dẫn Nguyên văn bởi diem_xua131
    T6I XIN PÓT BÀI NÀY ĐỂ CHO CÁC BAN THẾ HỆ 8X VÀ 9X HIỂU BIẾT VỀ LS GIÀNH ĐỘC LẬP NƯỚC NHÀ, vì tôi các em tham gia biểu tình hôm chủ nhật 16/12/2007 còn mơ hồ về việc này.
    Thông tin của diem_xua131 quả thật rất cần cho giới trẻ, nhiều bạn còn chưa biết sau sự kiện lịch sử 30/04/1975 Việt Nam ta còn tiếp tục có những cuộc chiến tranh biên giới phía Tây Nam và Tây Bắc, Bắc .

    Tuy nhiên, theo ngu ý của nbc thì ở thời điểm này Việt Nam ta đã hoàn toàn độc lập - thống nhất rồi ạ.
    [size=4][b][color=#FF0000]Hoàng Sa - Trường Sa là khúc ruột miền Trung của Việt Nam[/color][/b][/size]

  13. Likes taobt liked this post
  14. #9
    Ngày gia nhập
    Dec 2007
    Bài gửi
    9
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    0
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)

    Re: XUNG ĐỘT BIÊN GIÓI VN-TQ LẦN THƯ NHẤT 1979

    Trích dẫn Nguyên văn bởi nbc
    Tuy nhiên, theo ngu ý của nbc thì ở thời điểm này Việt Nam ta đã hoàn toàn độc lập - thống nhất rồi ạ.
    Thực sự bây giờ nước ta đã độc lập, nhưng chưa hoàn toàn thống nhất khi những hòn đã ngoài khơi xa xôi kia vẫn chưa trở về với đất mẹ VN mình. Chúng ta vẫn còn phải chờ ngày đó. Khi đó mới thực sự là ngày thống nhất.

  15. Likes taobt liked this post
  16. #10
    Ngày gia nhập
    Dec 2007
    Bài gửi
    57
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    0
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)

    XUNG ĐỘT BIÊN GIÓI VN-TQ LẦN THỨ HAI 1984

    Tài liêu từ phía Trung Quốc tung ra không chỉ riêng các ký ức, bài viết mà còn có cả cuộn băng video nói về trận chiến tranh biên giới Trung-Việt lần 2. Cuốn phim video có nhan đề Anh Ngữ là Operation Blue Sword B - tạm dịch là Chiến Dịch Kiếm Xanh B. Trong cuộn phim video này, có ghi lại hình ảnh của những cán binh Trung Cộng chuẫn bị xuất quân vào trận Lão Sơn, và những hình ảnh trở về của những cán binh này. Trong phim còn điểm rõ những cán binh nào đã không có mặt khi trở về so với hình ảnh trước khi xuất quân. Một cuộn phim khác cũng với nhan đề như trên nhưng do quân đội Trung Cộng thực hiện với các hình ảnh cho thấy kế hoạch hành quân được đề ra như thế nào; lính được tổ chức ra sao trước khi vào trận.


    CUỘC CHIẾN BIÊN GIỚI LẦN THỨ NHẤT - 1979

    Đây là cuộc chiến mà cả thế giới đều biết. Nguyên nhân xãy ra cuộc chiến này - theo sự phân tích của các chuyên gia về TQ và VN - là vì TQ muốn phá vỡ vòng vây của Liên Xô đang muốn bao vậy Trung Quôc ở phía Nam. Sự kiện QĐVN đánh chiếm Campuchia, tiêu diệt phe Khmer Đỏ do Trung Quốc ủng hộ là hành động TQ cho rằng VN đã theo hẳn Liên Xô và thực hiện các mục tiêu chiến lược ảnh hưởng của Liên Xô khắp Đông Dương. Hành động này không thể chấp nhận được đối với Trung Quốc khi đứa con ghẻ - VN - mà họ đã phải cưu mang, giúp đỡ viện trợ trong cuộc chiến tranh ở miền Nam Việt Nam, nay lại phản bội họ và đi hẳn vào quỹ đạo của Liên Xô. Trong buổi họp của bộ chính trị TQ tại Trung Nam Hải, tướng Vi Quốc Thanh - đã tuyên bố: "Trung Quốc sẽ dạy cho Việt Nam một bài học!" Tuy Vi Quốc Thanh không trực tiếp tham gia vào cuộc chiến tranh biên giới lần thứ nhất 1979, nhưng ông nổi tiếng vì chính câu nói trên.

    Sau cuộc chiến biên giới lần thứ nhất năm 1979, cả hai phía TQ và Việt Nam đều tuyên bố chiến thắng. Tuy nhiên phía TQ khám phá ra một sự thật sau cuộc chiến: vũ khí trang bị cho cán binh TQ thua xa vũ khí của phía cán binh Việt Nam. 2/3 cán binh TQ được trang bị loại súng 56 bán tự động, trong khi hầu hết cán binh Việt Nam được trang bị súng tự động loại 56 do TQ, Tiệp Khắc và Liên Xô chế tạo. Về lượng vũ khí, phía QĐVN cũng nhiều hơn so với TQ nhờ vào kho vũ khí của Hoa Kỳ để lại sau năm 1975!

    Có thể nói TQ đã thành công trong việc dạy cho VN một bài học, nhưng thất bại về mặt quân sự!. TQ mất 30 ngàn quân và phía Việt Nam mất khoảng 26 ngàn quân không tính số thương dân bị thương vong. Dĩ nhiên cả hai con số thương vong vẫn còn nằm trong vòng tranh cải. Theo tài liệu của Quốc Phòng Trung Quốc thì những sĩ quan tham dự trận đánh biên giới năm 1979 bị kỷ luật bằng cách không cho thăng chức và cho giải ngũ gần hết. Tuy nhiên các các sĩ quan cao cấp tham dự cuộc chiến tranh biên giới lần thứ 2 1984 thì được tăng thưởng và có vị nay đã được đề bạt vào bộ chính trị.


    CUỘC CHIẾN TRANH BIÊN GIỚI LẦN THỨ HAI - 1984-1989

    Nguyên nhân cuộc chiến tranh biên giới lần thứ hai xãy ra chính vì sự tranh chấp biên giới tại ngọn núi Lão Sơn ở huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Tuyên. Ngọn núi Lão Sơn có hình dạng của một chữ "U" nằm gần biên giới giữa TQ và VN. Trên đỉnh núi hình chữ "U" đều có cột biên giới được cắm mốc, và ngọn núi Lão Sơn nằm dưới đáy của chữ "U". Việc tranh chấp không nằm ở cột mốc biên giới, nhưng việc tranh chấp giữa đôi bên là vẽ đường biên giới như thế nào? Phía VN cho rằng phải vẽ một đường thẳng giữa hai cột mốc, do đó núi Lão Sơn nằm bên biên giới Việt Nam; thế nhưng TQ lý luận rằng đường biên giới phải theo địa thế thiên nhiên; thí dụ lằn ranh biên giới phải nằm trên chóp núi; nghĩa là Lão Sơn nằm trong biên giới TQ! Việc tranh cải phương pháp vẽ đường biên giới thoạt đầu tưởng rằng chỉ liên quan đến vấn đề kỹ thuật, nhưng thực chất là một điều quan trọng về mặt chiến lược vì nó quyết định phần lãnh thổ này thuộc chủ quyền của nước nào.

    Sau cuộc chiến tranh biên giới lần thứ nhất 1979, quân đội TQ không theo truyền thống đóng quân dọc biên giới nữa, nên đóng rất xa lằn ranh biên giới. Ngược lại phía VN quyết định đóng quân gần biên giới và nhất là đóng quân trên đỉnh núi Lão Sơn cùng với những ngọn núi lân cận.

    Học được bài học 1979, trong thời gian 5 năm, từ năm 1979 đến năm 1984 TQ quyết định canh tân quân đội, và mua thêm các thiết bị quân sự từ Hoa Kỳ để chuẫn bị cho cuộc chiến tranh biên giới lần thứ hai. Tưởng cũng nên nhắc lại ở đây là sau cuộc chiến tranh 1979, TQ và VN không hề ký bất cứ một hiệp ước đình chiến nào cả, nên về mặt kỹ thuật cả hai nước vẫn còn trong tình trạng chiến tranh. Với chủ trương tiếp tục dạy cho VN một bài học và làm cho VN tiếp tục chảy máu, Trung Quốc lấy cớ quân VN chiếm đóng núi Lão Sơn - là đất của TQ, nên xua quân tràn vào đánh chiếm lại Lão Sơn.

    Từ năm 1984 đến năm 1989, nhiều trận giao tranh đã diễn ra giữa quận đội TQ và VN, và có lần lên đến cả cấp sư đoàn. Trận giao tranh lớn nhất xãy ra là vào ngày 12 tháng 07, 1984 tại ngọn núi Lão Sơn. Đến ngày 28 tháng 04, 1984, TQ chiếm được núi Lão Sơn. Những cuộc phản công sau đó của quân đội VN nhằm chiếm lại Lão Sơn hoàn toàn thất bại.

    Trong trận chiến 1984, quân đội TQ được trang bị vũ khí tối tân hơn với loại súng 81, và mỗi người lính được trang bị áo giáp. Đặc biệt nhất là việc xử dụng hệ thống radar mua của Hoa Kỳ nhằm dò tìm địa điểm xuất phát của pháo binh địch để bắn trả... Hệ thống radar này chính xác đến độ chỉ cần pháo binh VN bắn phát đầu tiên, vài giây đồng hồ sau, Radar cho biết tọa độ của viên đạn được bắn ra. Biết được toạ độ của VN, pháo binh của TQ chỉ cần không đầy 3 phút để bắn trả lại. Kết quả là pháo binh của VN bị đánh tan ngay từ những phút đầu tiên của trận đánh.

    còn tiếp
    ảnh tư liệu
    Attached Images Attached Images

  17. Thanks taobt, nguyendubabycat thanked for this post

Chủ đề tương tự

  1. Trả lời: 15
    Bài mới gửi: 09-01-2011, 08:49 PM
  2. 39 phim tài liệu về Việt Nam giai đoạn chiến tranh
    By champions in forum Ngược dòng lịch sử
    Trả lời: 7
    Bài mới gửi: 04-04-2010, 09:18 AM
  3. Tìm hiểu về chiến tranh biên giới bảo vệ Tổ Quốc giai đoạn 1975-1990
    By pantez in forum [Lưu trữ]QS-QP Việt Nam từ 2009 trở về trước
    Trả lời: 639
    Bài mới gửi: 25-09-2009, 01:12 PM

Bookmarks

Quyền hạn Gửi bài

  • Bạn không thể gửi chủ đề
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài của mình
  •