HOANGSA.ORG ĐÃ CHUYỂN SANG DIỄN ĐÀN MỚI- DIỄN ĐÀN CŨ CHỈ ĐỂ LƯU TRỮ KHÔNG THỂ VIẾT BÀI.

ĐỂ ĐI ĐẾN DIỄN ĐÀN MỚI XIN VUI LÒNG CLICK VÀO ĐÂY HTTP://HOANGSA.ORG/F

HOANGSA.ORG ĐÃ CHUYỂN SANG DIỄN ĐÀN MỚI- DIỄN ĐÀN CŨ CHỈ ĐỂ LƯU TRỮ KHÔNG THỂ VIẾT BÀI.

ĐỂ ĐI ĐẾN DIỄN ĐÀN MỚI XIN VUI LÒNG CLICK VÀO ĐÂY HTTP://HOANGSA.ORG/F

User Tag List

Trang 1 trong 15 12311 ... Cuối cùngCuối cùng
Kết quả từ 1 tới 10 trên 149
  1. #1
    Ngày gia nhập
    Dec 2007
    Bài gửi
    57
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    0
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)

    Tìm hiểu về chữ Việt cổ: nền tảng của chữ quốc ngữ các nước Đông Nam Á lục địa

    Tổ tiên chúng ta đã có một thời kỳ phát triển huy hoảng, rực rỡ đóng góp to lớn vào sự phát triển của nhân loại, điều đó đang dần được hé lộ và khẳng định.

    Nhưng có một miếng ghép quan trọng còn thiếu của nền văn hóa vĩ đại này.

    Đó là chữ viết.

    Với cả ngàn năm Bắc thuộc và chịu chính sách đồng hóa tàn khốc, dường như nó đã biết mất.

    Nhưng chúng ta tin vào tổ tiên có cách thức bảo lưu và truyền lại cho con cháu như họ đã làm với các di sản khác.

    Nó đã lấp ló đâu đó trong các câu chuyện truyền thuyết.

    Có thể nó còn nằm đâu đó trong các dân tộc thiểu số anh em mà sụ đồng hóa tàn bạo ấy không thể với tới.

    Có thể còn những di sản vật thể nào đó mà chúng ta chưa tìm thấy, hoặc không đủ lòng tin để thấy.

    Chúng ta hãy cùng nhau tìm kiếm thông tin về di sản này.

    Thầy, trò thời Hùng Vương dạy học bằng chữ gì

    Trước Tết Mậu Tý, thầy giáo đã nghỉ hưu Đỗ Văn Xuyền bước đầu công bố công trình “giải mã chữ Việt cổ” tại Trung tâm Văn hóa Người cao tuổi Việt Nam, gây được sự chú ý của giới khoa học.



    Thầy giáo Đỗ Văn Xuyền nói về các ký tự cổ

    Từ câu chuyện về Thiên Cổ miếu...

    Gần ba mươi năm dạy học, thầy giáo Xuyền luôn gắn bó với vùng đất thiêng được bồi đắp bởi phù sa của cả ba con sông Hồng, sông Lô và sông Đà. Nhưng ông không phải người gốc ở đây, chỉ là chàng rể của cố đô xưa nhất nước Việt.

    Đầu đường vào làng Hương Lan có ngôi miếu nhỏ. Trước cửa miếu sừng sững hai cây táu đại thụ hơn ngàn tuổi, gốc năm sáu vòng tay người ôm không xuể. Thầy giáo Xuyền nghe ông từ kể: “Miếu đây có tên Thiên Cổ, thờ hai vợ chồng thầy giáo thời Hùng Vương, dạy học ở làng này”.

    Ngọc phả của miếu ghi rõ: Thiên Cổ miếu thờ vợ chồng thầy giáo Vũ Thê Lang, ông quê Hải Dương, bà quê Bắc Ninh, đến kinh đô Văn Lang mở trường dạy học thời Hùng Vương thứ 18.

    Thầy giáo Lang tài đức vẹn toàn, đông người làng và quanh vùng theo học, danh tiếng vang xa. Vua Hùng nghe tin, gửi hai con gái đến thụ giáo, đấy là công chúa Tiên Dung và công chúa Ngọc Hoa.

    Về sau cả ông và bà cùng mất một ngày, ngôi miếu nhỏ chính là nơi song táng hai vợ chồng thầy giáo của làng...



    Thiên Cổ miếu

    Câu chuyện về thầy giáo Vũ Thê Lang thời Hùng Vương, chứng tích còn đó những ngôi miếu và phong tục thờ cúng, đã có sức cuốn hút đặc biệt với thầy giáo Xuyền.

    Phải chăng trước khi chìm đắm vào đêm dài Bắc thuộc, nước Văn Lang đã có một nền văn hiến rực rỡ?

    Không chỉ để lại cho hôm nay những chiếc trống đồng Đông Sơn tuyệt hảo, cha ông ta còn để lại (đâu đó, trong những di tích như Thiên Cổ miếu) bằng chứng về một nền giáo dục, một thể chế kén chọn người tài phát triển ngay từ thời dựng nước?

    Nhiều năm ròng rã, thầy Xuyền dày công sưu tầm trong các thư viện Hán - Nôm, trong ngọc phả đình miếu, và các câu chuyện dân gian, về sự học sự thi thời kỳ trước khi chữ Hán thâm nhập vào nước ta - gọi tắt là thời trước Hán.

    Công sức bỏ ra dần cho kết quả hết sức đáng tự hào: Hầu khắp các tỉnh lưu vực sông Đà, sông Lô, sông Hồng, xa hơn nữa mạn Thanh Hóa, Nghệ An, đều có các bằng chứng về các thầy giáo danh tiếng và các học trò giỏi thời Hai Bà Trưng, An Dương Vương, Hùng Vương!
    Thầy Xuyền bước đầu sưu tầm được 18 thầy giáo, và một con số nhiều hơn các học trò giỏi, còn ghi danh qua truyền thuyết và ngọc phả các đền miếu ngàn đời nay vẫn được nhân dân hương khói thờ phụng.

    Những sưu tầm còn cho thấy từ thời Hùng Vương, việc kén tìm người giúp nước trị dân thường được tuyển chọn trong những học trò giỏi, hoặc qua việc thi cử mà khẳng định, hoặc lập được chiến công chống ngoại xâm.

    Qua những kết quả trên, một câu hỏi logic lại thôi thúc thầy giáo Xuyền phải tìm câu trả lời: Thầy, trò thời Hùng Vương dạy và học bằng thứ chữ gì? Cha ông ta đã có chữ viết của riêng mình, từ thời trước Hán?

    Thế là thầy giáo Xuyền lại tiếp tục dấn thân vào một đề tài mà nhiều nhà nghiên cứu đi trước đã tốn bao công sức, song kết quả chưa được như mong muốn...

    Đến huyền thoại hay sự thật?

    Sách Tân Lĩnh Nam Chích quái của Vũ Quỳnh (đời Lê, thế kỷ 15) viết đại ý: Thời Lạc Long Quân có người hái củi, bắt được con rùa, lưng rộng khoảng ba thước, trên mai có khắc chữ như con nòng nọc gọi là chữ Khoa Đẩu. Hùng Quốc vương đã cử phái đoàn đem rùa thần đó cống cho vua Nghiêu.

    Về việc này, sách Thông Giám Cương Mục do Chu Hy đời Tống viết: “Năm Mậu Thân đời Đường Nghiêu thứ IV (2352 trước Công nguyên) có Nam Di Việt Thường thị đến chầu, hiến con rùa lớn”.

    Sách Thông Chí của Trịnh Tiểu cũng đời Tống nói rõ hơn: “Đời Đào Đường, Nam Di Việt Thường thị qua nhiều lần thông dịch đến hiến một con rùa thần. Rùa ước được ngàn tuổi, rộng hơn ba thước, trên lưng có chữ Khoa Đẩu, chép việc từ lúc khai thiên lập địa đến nay. Vua Nghiêu sai chép lấy gọi là Quy Lịch”.

    Chữ Khoa Đẩu được nói tới trong các tài liệu trên là thứ chữ như thế nào? Vì sao đến nay không còn dấu tích gì về nó nữa?

    Vương Duy Trinh - Hiệp biện Đại học sỹ, Tổng đốc Thanh Hóa - trong cuốn Thanh Hóa quan phong viết năm 1903, đã giới thiệu một số chữ lạ mà ông sưu tập được, khẳng định đó là chữ Việt cổ từ thời Hùng Vương, và đưa ra nhận xét: “Vì Thập Châu là nơi biên viễn nên dân ta còn lưu giữ thứ chữ ấy. Các nơi khác, Sĩ Nhiếp bắt bỏ hết để học chữ Trung Quốc”.

    Giáo sư Hà Văn Tấn đã công bố công trình nghiên cứu “Về một nền văn tự trước Hán và khác Hán”, Giáo sư Lê Trọng Khánh thì khẳng định “Nhiều dân tộc trong Bách Việt đã dùng chữ Khoa Đẩu thời tiền sử để ghi tiếng dân tộc mình”.

    Giải mã bộ “chữ Thái (thổ tự)”

    Hướng đi đầu tiên của thầy Xuyền là tìm kiếm dấu tích của chữ Việt cổ.

    Năm này qua năm khác, nghe đâu có ký tự lạ lưu giữ qua các cổ vật, hang động, vách đá, thầy Xuyền bất chấp đường xa, không ngại tốn kém, lập tức tìm đến. Nhưng tất cả chỉ là những ký hiệu chưa giải mã được

    Mươi năm gần đây, thầy Xuyền chuyển hướng đi mới - nghiên cứu những ký hiệu đã mang hình hài của ký tự, được phát hiện rải rác từ Hà Giang, qua Bắc Ninh, Hòa Bình, vào tới Thanh Nghệ Tĩnh...

    Tập trung lên hướng Tây Bắc - vùng ổn định nhất của người Lạc Việt suốt nhiều nghìn năm - thầy Xuyền đã phát hiện ra suốt một vùng dọc theo triền sông Đà, nhân dân ta còn lưu giữ được nhiều văn bản mang trên mình loại ký tự mà mọi người vẫn nhầm là chữ Thái.

    Trong những tài liệu ấy, thầy Xuyền đặc biệt chú ý đến tài liệu do Thượng thư Phạm Thận Duật, một nhà trí thức uyên bác (Tri châu Điện Biên những năm 1855-1856) công bố.

    Bên cạnh những công trình nghiên cứu về phong tục, tập quán, Phạm Thận Duật đã có một số trang ghi lại một loại ký tự mà ông cho là “chữ Thái (thổ tự)” (CTTT - chữ Thái chỉ của một vùng người Thái). Những trang ghi chép này không được chú ý vì nội dung của nó mang nhiều điều vô lý.

    Sau một thời gian dài đi sâu vào sự “vô lý” ấy, thầy Xuyền đã phá bỏ lớp vỏ ngụy trang, dần dần giải mã được bộ ký tự này. Thầy Xuyền cũng khu biệt được bộ chữ mới được giải mã, từ đó rút ra kết luận: Bộ chữ này cũng không phải của hai dân tộc anh em Mường và Thái.

    Do nhiều lý do, các dân tộc anh em đã sử dụng chung bộ ký tự này (có chỉnh sửa đi chút ít), đúng như nhận định của Vương Duy Trinh “Thập Châu là nơi biên viễn nên dân ta còn lưu giữ thứ chữ ấy”!

    Tiền thân của chữ Quốc Ngữ?!

    Chữ Quốc ngữ xuất hiện ở nước ta từ năm 1651. Nhiều cuốn sách cổ được in từ buổi đầu chữ Quốc ngữ xuất hiện, đến nay hầu như không ai đọc được.

    Khi đem bộ chữ Việt cổ đã được giải mã thử đọc một số cuốn sách cổ, như cuốn “Từ điển Việt Bồ La” của Alexandre de Rodes, hay cuốn “Sách sổ sang” của Philip Bỉnh (Giám mục người Việt, ở Thủ đô Bồ Đào Nha những năm 1790 - 1820), thầy giáo Xuyền đã rất thú vị khi dễ dàng đọc được những từ khó mà lâu nay nhiều người không đọc cũng không giải thích được.

    Chính từ việc này, thầy Xuyền đã đưa ra một giả thuyết: Chữ Quốc ngữ có lẽ không phải là một công trình hoàn toàn mới của Alexandre de Rodes.

    Nhà truyền giáo người Bồ đã tiếp thu bộ chữ cổ của người Việt, và có công La tinh hóa nó, để ra được chữ Quốc ngữ?!

    Giả thuyết của thầy Xuyền không phải không có căn cứ. Bởi chữ Quốc ngữ và chữ Việt cổ do thầy Xuyền giải mã có cùng cấu trúc ghép vần tương tự nhau, chỉ khác nhau về hình dạng mà thôi!

    Chính trong cuốn “Từ điển Việt Bồ La”, Alexandre de Rodes đã viết: “Đối với tôi, người dạy tài tình nhất là một thiếu niên bản xứ. Trong vòng 3 tuần, nó đã hướng dẫn cho tôi tất cả các thanh của ngôn ngữ ấy và cách đọc các từ”. Theo thầy Xuyền thì “cách đọc các từ” đó nhiều khả năng là thứ chữ Việt cổ!

    Đinh Anh Tuấn - Tiền Phong Online
    Sửa bởi littlehorsefish : 10-04-2010 lúc 08:19 PM

  2. #2
    Ngày gia nhập
    Dec 2007
    Nơi cư ngụ
    No rượu bia, no thuốc lá, no cafe. Tea only.
    Bài gửi
    151
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    0
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)

    Re: Chữ viết thời Hùng Vương-Văn Lang

    Theo như một tài liệu mà em đã được đọc (cách đây nhiều năm rồi nên không nhớ tên) thì trong một số tài liệu cổ của Trung Hoa có những đoạn miêu tả về người Việt ở Giao Chỉ . Theo như những miêu tả này thì thời cổ người Việt ta có một loại chữ viết "nhìn giống như đàn nòng nọc đang bơi".

    Trong một số câu chuyện truyền thuyết Việt Nam cũng có nói đến chữ viết của người Việt cổ . Ví dụ như trong quyển Việt điện u linh có câu chuyện (không nhớ tên) kể về vua Trần Thái Tông (hay Trần gì đó) trong một lần du ngoạn đến 1 vùng quê, ngủ gục ở một cái đình hóng mát, được 2 con ma báo mộng để nhờ vua giúp đỡ . Chúng đưa cho vua tờ đơn mà những chữ trong tờ đơn đó là chữ của người Việt cổ. ...
    Nói tóm lại thì là ngày xưa người Việt cổ vốn có chữ viết riêng nhưng đã bị quân xâm lược hủy hoại và thất truyền.

  3. #3
    Ngày gia nhập
    Dec 2007
    Bài gửi
    57
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    0
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)

    Lột trần Việt Ngữ

    Thưa các bạn
    Tôi mới được đọc một nghiên cứu rất công phu về tiếng Việt của Bình Nguyên Lộc
    Qua nghiên cứu này chúng ta hiểu thêm về nhiều điều thú vị của tiếng nói tổ tiên, thêm hiểu về quá trình di dân và địa bàn sinh sống của người Việt cổ và thêm khẳng định Đông Nam Á trước đây có mối liên hệ chặt chẽ.

    Xin giới thiệu cùng các bạn.

    Chương I - Gốc tổ ra sao?
    http://web163.c2.ibone.ch/pages/Nghi...ietNgu_01.html

    Chương II - Việt ngữ đa âm trước Mã Viện
    http://web163.c2.ibone.ch/pages/Nghi...ietNgu_02.html

    Chương III - Những đảo âm nội bộ trong chủng Mã Lai
    http://web163.c2.ibone.ch/pages/Nghi...ietNgu_03.html

    Chương IV - Nguyên nhân mất mát âm D và GI của miền Bắc
    http://web163.c2.ibone.ch/pages/Nghi...ietNgu_04.html

    Chương V - Tài ba của Việt ngữ
    http://web163.c2.ibone.ch/pages/Nghi...ietNgu_05.html

    VI - Vua Hùng lãnh đạo bao nhiêu bộ lạc
    http://web163.c2.ibone.ch/pages/Nghi...ietNgu_06.html

    Chương VII - Mình với ta tuy hai mà vẫn cứ là hai hay là Trò chơi xí cột của các đại danh từ Mã Lai
    http://web163.c2.ibone.ch/pages/Nghi...ietNgu_07.html

    Chương VIII - Con gái, đờn bà, mái đực trống, chồng vợ
    http://web163.c2.ibone.ch/pages/Nghi...ietNgu_08.html

    Tất cả có 25 chương xin các bạn đọc tiếp trong các link.

  4. #4
    ANH HÙNG VIỆT NAM Guest

    Re: Chữ viết thời Hùng Vương-Văn Lang

    Tôi muốn nói thứ tiếng của cha ông tôi dể lại đó là điều ấp ủ trong lòng tôi tôi muốn tên tôi được viết bằng thứ tiếng mà dân tộc tôi để lại bạn có muốn điều đó không bạn...........?

  5. #5
    Ngày gia nhập
    Jan 2008
    Bài gửi
    54
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    0
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)

    Re: Lột trần Việt Ngữ

    Mình tải trọn tập rồi, dạng .pdf, nén lại còn 1,05 MB đây. Đọc để rồi không còn thích dùng thứ ngôn ngữ mạng (ko bít, típ tục, làm wen rồi nhìu nhìu...) làm hỏng tiếng Việt nữa nha.
    Attached Files Attached Files
    [color=#ff0000][size=4][b][u]Vì Tổ Quốc Xã Hội Chủ Nghĩa![/u][/b][/size][/color]
    [color=#ff0000][size=4][b][u]Vì lí tưởng của Bác Hồ vĩ đại![/u][/b][/size][/color]
    [color=#ff0000][size=4][b][u]Sẵn sàng![/u][/b][/size][/color]

  6. #6
    Ngày gia nhập
    Dec 2007
    Bài gửi
    78
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    0
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)

    Re: Lột trần Việt Ngữ

    Cám ơn các bạn đã sưu tầm, đây là một đề tài có rất nhiều người quan tâm.

  7. #7
    Ngày gia nhập
    Dec 2007
    Bài gửi
    78
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    0
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)

    Re: Chữ viết thời Hùng Vương-Văn Lang

    Chúng ta hãy cùng nhau tìm kiếm thông tin về di sản này.
    1000 năm qua bao thế hệ VN dưới chế độ phong kiến phương Bắc người VN mất cái gì và được cái gì thì khó mà lượng xét .Bác Đỗ Văn Xuyền làm công việc sưu tầm đúng là công việc rất hữu ích, thật trân trọng.Hiện tại chúng ta chưa có cơ sở để khẳng định chữ viết của người Việt cổ,chưa có di vật khảo cổ nào nói tới chữ viết mà chỉ đưa ra các hình vẽ mà thôi.

  8. #8
    Avatar của sanleo
    sanleo đang Offline Vì một HSO không troll, không cãi lộn, không võ mồm manh động, không tổ lái...
    Ngày gia nhập
    Jan 2008
    Nơi cư ngụ
    Thủ đô
    Bài gửi
    2.400
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    255
    Uploads
    82
    Mentioned
    1 Post(s)
    Tagged
    3 Thread(s)

    Re: Chữ viết thời Hùng Vương-Văn Lang

    Trích dẫn Nguyên văn bởi Toàn NTY
    Theo như một tài liệu mà em đã được đọc (cách đây nhiều năm rồi nên không nhớ tên) thì trong một số tài liệu cổ của Trung Hoa có những đoạn miêu tả về người Việt ở Giao Chỉ . Theo như những miêu tả này thì thời cổ người Việt ta có một loại chữ viết
    Trích dẫn Nguyên văn bởi Toàn NTY
    "nhìn giống như đàn nòng nọc đang bơi".
    ...
    Nói tóm lại thì là ngày xưa người Việt cổ vốn có chữ viết riêng nhưng đã bị quân xâm lược hủy hoại và thất truyền.

    Thông tin này là chính xác cho đến ngày nay, tôi muốn bổ sung thêm, thời đó các dân tộc phương Nam được gọi chung là Bách Việt, trong đó Lạc Việt là tổ tiên trực tiếp của dân tộc Việt Nam. Liệu có phải tất cả các dân tộc Bách Việt đều có chữ viết hay không? Liệu ngôn ngữ của các dân tộc Bách Việt thời đó có giống nhau không? Điều này thì không rõ nhưng có một điều chắc chắn rằng ngôn ngữ của các cư dân Bách Việt và cả Lạc Việt thời đó rất khác xa ngôn ngữ tiếng Việt bây giờ. Vì vậy có tìm được các bản ghi chép thời đó chắc cũng rất khó để khôi phục lại chữ Việt cổ.


    Trích dẫn Nguyên văn bởi Ganda
    ...Chúng ta hãy cùng nhau tìm kiếm thông tin về di sản này.
    Trích dẫn Nguyên văn bởi Ganda
    [JUSTIFY]....
    Tiền thân của chữ Quốc Ngữ?!

    Chữ Quốc ngữ xuất hiện ở nước ta từ năm 1651. Nhiều cuốn sách cổ được in từ buổi đầu chữ Quốc ngữ xuất hiện, đến nay hầu như không ai đọc được.

    Khi đem bộ chữ Việt cổ đã được giải mã thử đọc một số cuốn sách cổ, như cuốn “Từ điển Việt Bồ La” của Alexandre de Rodes, hay cuốn “Sách sổ sang” của Philip Bỉnh (Giám mục người Việt, ở Thủ đô Bồ Đào Nha những năm 1790 - 1820), thầy giáo Xuyền đã rất thú vị khi dễ dàng đọc được những từ khó mà lâu nay nhiều người không đọc cũng không giải thích được.

    Chính từ việc này, thầy Xuyền đã đưa ra một giả thuyết: Chữ Quốc ngữ có lẽ không phải là một công trình hoàn toàn mới của Alexandre de Rodes.

    Nhà truyền giáo người Bồ đã tiếp thu bộ chữ cổ của người Việt, và có công La tinh hóa nó, để ra được chữ Quốc ngữ?!


    Giả thuyết của thầy Xuyền không phải không có căn cứ. Bởi chữ Quốc ngữ và chữ Việt cổ do thầy Xuyền giải mã có cùng cấu trúc ghép vần tương tự nhau, chỉ khác nhau về hình dạng mà thôi!

    Chính trong cuốn “Từ điển Việt Bồ La”, Alexandre de Rodes đã viết: “Đối với tôi, người dạy tài tình nhất là một thiếu niên bản xứ. Trong vòng 3 tuần, nó đã hướng dẫn cho tôi tất cả các thanh của ngôn ngữ ấy và cách đọc các từ”. Theo thầy Xuyền thì “cách đọc các từ” đó nhiều khả năng là thứ chữ Việt cổ!

    Đinh Anh Tuấn - Tiền Phong Online
    [/JUSTIFY]



    Nghiên cứu của thầy Xuyền có lẽ rất có giá trị, tuy nhiên tôi có điều thắc mắc ở đây:
    Chúng ta đều biết Alexandre de Rodes đã sử dụng bảng chữ cái Latinh để ghi âm tiếng Việt. Cách ghép vần chữ quốc ngữ là bản copy từ cách ghép vần trong tiếng Latinh, trải qua thay đổi ở nhiều thế hệ mới định hình chữ quốc ngữ như ngày nay. Một số ngôn ngữ thuộc ngữ hệ Latinh chẳng hạn như tiếng Ý (có 75% từ vựng là gốc Latinh) có cách viết thế nào đọc thế ấy, như tiếng Việt (Không giống như tiếng Anh đọc lung tung chẳng hạn Miami được đọc là "Mai-a-mi"). Liệu có thể là "Nhà truyền giáo người Bồ đã tiếp thu bộ chữ cổ của người Việt, và có công La tinh hóa nó, để ra được chữ Quốc ngữ?! " được không?
    Việc Latinh hóa hoàn toàn là ghi âm tiếng Việt bằng chữ cái Latinh, làm sao lại liên quan đến bộ chữ Việt cổ được? Nếu như có một số sự tương tự nào đó về cách ghép vần giữa chữ Việt cổ và chữ Latinh thì cũng chưa thể khẳng định được một sự tiếp thu chữ Việt cổ nào đó. Trong tiếng Việt chúng ta phát âm "chào", trong một số ngôn ngữ Hệ La tinh cũng đọc là "chào" với cùng một ý nghĩa nhưng không thể suy ra là cách phát âm Tiếng Việt có liên hệ với cách phát âm trong hệ ngôn ngữ Latinh được. Còn nữa, chữ Việt cổ đã thất truyền cả ngàn năm, người Việt thế kỷ 17 cũng chỉ còn biết đến chữ Hán và chữ Nôm, làm sao mà một nhà truyền giáo phương Tây có thể tiếp thu được khi mà còn đang bắt đầu học tiếng Việt qua một cụ già và một đứa trẻ chăn châu? Giả sử là Alexandre de Rodes đã giải mã được chữ Việt cổ thì đó sẽ là một công trình vĩ đại, có nghĩa là chắc chắn phải có nhiều ghi chép của Alexandre de Rodes về chữ Việt cổ chứ? Thực tế là hoàn toàn không. Alexandre de Rodes chỉ ghi âm lại tiếng Việt bằng chữ cái Latinh với các quy tắc ghép vần sẵn có của tiếng Latinh trong"Phép giảng tám ngày" chứ không có liên hệ gì với chữ viết Việt cổ. Chữ Việt cổ đã thất truyền từ lâu, kỷ nguyên độc lập của Đại Việt đều dùng chữ Hán, và sau đó có chữ Nôm trên cơ sở chữ Hán, thì làm sao có thể một thanh niên(một chú bé chăn trâu) thế kỷ 17 biết chữ Việt cổ mà hướng dẫn cho Alexandre de Rodes? Vô lý. Chú bé đó chỉ đơn giản giúp ông cha cố đọc được tiếng Việt với 6 thanh âm phức tạp không có trong tiếng La tinh thôi
    Tôi cho rằng nếu có liên hệ nào đó thì chữ Viết của người Việt cổ, thì đó chỉ có thể là mối liên hệ với các dân tộc phương Nam khác như Lào, Thái,... ngày nay chứ không thể có liên hệ với cách ghép vần của ngôn ngữ Latinh được.

    Một nhà bác học người Pháp đã tìm được một viên đá ghi lại một thông tin bằng hai ngôn ngữ Ai Cập cổ và Hy Lạp. Nhờ viên đá đó, tiếng Ai Cập cổ dần được giải đáp, ngành Ai Cập cổ phát triển, và một điều thú vị là từ đó thế giới mới biết đến nhà bác học vĩ đại người Hy Lạp là Acsimet(Eureka, Hãy cho tôi một điểm tựa, đòn bẩy, ròng rọc v.v...) qua các trang viết tiếng Ai Cập cổ (Các ghi chép về Acsimet chắc phải có trong tiếng Hy Lạp nhưng nhiều thư viện Hy Lạp đã bị thiêu rụi từ thời cổ đại).
    Hy vọng một ngày nào đó sẽ có một viên đá tương tự để giải mã chữ Việt cổ và biết đâu chúng ta lại khám phá thêm được điều gì kỳ vĩ về dân tộc mình?
    Sửa bởi Đảo Sơn Ca : 30-04-2011 lúc 10:19 AM
    ----------------------------------------------------------------------------------------------------------
    ...Mảnh đất quê ta giữa đại dươ­ng mang tình thươ­ng quê nhà...
    ...Đây Trường Sa, kia Hoàng Sa. Quần đảo đứng hiên ngang thiên hùng ca ngời sáng...


    ...Ở đảo xa khơi nơi đây quân cướp kia đã nhiều lần định âm mưu lấn tới. Tay súng trên đảo tôi đã đánh tan giặc kia bảo vệ nước non biển trời...

    Sen tàn, cúc lại nở hoa
    Tan mây, rạng nắng, Hoàng Sa sẽ về!

  9. Likes nguoilytuong90 liked this post
  10. #9
    Ngày gia nhập
    Dec 2007
    Bài gửi
    57
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    0
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)

    Re: Chữ viết thời Hùng Vương-Văn Lang


    CÓ MỘT NGƯỜI HỌ ĐỖ DÀNH CẢ ĐỜI ĐI TÌM VÀ GIẢI MÃ CHỮ VIỆT CỔ
    [JUSTIFY]Cách đây 48 năm có một thanh niên 22 tuổi quê ở Thái Bình, từ trường đại học Sư phạm Hà Nội về nhận nhiệm vụ làm hiệu trưởng trường cấp II đầu tiên của khu công nghiệp Việt Trì. . Đó là nhà giáo trẻ Đỗ Văn Xuyền. [/JUSTIFY]
    [JUSTIFY]
    Việt Trì ngày ấy vẫn còn giữ được dáng vẻ nguyên sơ của một vùng đất cổ, kinh đô Văn Lang với những: Lầu Thượng, Lầu Hạ, Kẻ Lư, Thậm Thình, Mã Quàng... Những học sinh của anh đi lao động còn gánh về những Dao, Mác, Trống đồng, minh khí, nhặt được ở công trường. [/JUSTIFY]
    [JUSTIFY]
    Một lần đi thăm học sinh qua đồi Giàm, anh thấy những người trồng sắn cuốc lên nhiều rìu, búa đá. Nhiều đến mức tưởng như nơi đây đã từng là một công trường chế tác đồ đá mới. [/JUSTIFY]
    [JUSTIFY]
    ...Anh bắt đầu với việc tìm lại dấu tích người xưa. Đầu năm 1980 anh mới lại có dịp trở lại Việt Trì. Với cương vị Chủ tịch Hội văn nghệ. và trưởng ban Văn hoá xã hội của thành phố (lúc này anh đã là nhà văn với bút danh Khánh Hoài) đã có dịp đi sâu xuống thôn xóm để thực hiện ước mơ xưa. [/JUSTIFY]
    [JUSTIFY]
    Một lần đi qua quả đồi nhỏ ở thôn Hương Lan - trung tâm cố đô - anh thấy một ngôi miếu nhỏ đổ nát nằm dưới tán hai cây Táu cổ thụ đã hơn ngàn năm tuổi. Đọc ngọc phả, anh kinh ngạc khi biết đây là đền Thiên cổ, thờ một thầy giáo thời Vua Hùng thứ 18. Trong lòng miếu còn có mộ của thầy giáo mà nhân dân đã bí mật bảo vệ suốt mấy nghìn năm qua. [/JUSTIFY]
    [JUSTIFY]
    Từ ngôi miếu nhỏ ở cố đô, anh còn tìm ra rất nhiều nơi thờ các thầy giáo và học trò thời trước Hán (thời Hai Bà Trưng, thời An Dương Vương và đặc biệt là thời Hùng Vương...) ở rải rác khắp vùng trung du, đồng bằng Bắc Bộ và vùng Thanh-Nghệ-Tĩnh. Năm 186 công nguyên, Sĩ Nhiếp mới đưa chữ Hán vào Việt Nam. Như vậy các thầy giáo thời Hùng Vương dạy thứ chữ gì? Phải chăng dân tộc ta đã có chữ viết riêng từ rất sớm. [/JUSTIFY]
    [JUSTIFY]
    Anh lại lao vào các thư viện, tìm đọc thư tịch trong và ngoài nước ở lĩnh vực này và anh đã gặp may, vì có rất nhiều nhà nghiên cứu tiền bối đã đi sâu vào vấn đề này: Từ Hà Văn Tấn, Lê Trọng Khánh, Bùi Văn Nguyên, Trần Ngọc Thêm... cho đến Vương Duy Trinh, Trương Vĩnh Ký, cả những nhà nghiên cứu nước ngoài như Anh, Tiệp Khắc, Mỹ, Pháp, nhất là Trung Quốc: Từ Lục Lưu, đến Hứa Thân, Trịnh Tiểu... đều khẳng định: Việt Nam xưa đã có chữ viết riêng. [/JUSTIFY]
    [JUSTIFY]
    Một lần trên đường đi tìm kiếm anh đã dừng chân bên ngôi miếu nhỏ của một xóm núi, đọc được một bản Ngọc Phả từ thời Trần Thái Tông với những dòng chữ vang vọng tự hào: "Nghiêu thế, Việt thường Thị Kiến thiên tuế thần quy, Bối hữu khoa dấu". [/JUSTIFY]
    [JUSTIFY]
    Như vậy thời Hùng Vương, dân tộc ta đã có chữ, đó là điều khẳng định chắc chắn. Nhưng thứ chữ đó hình dạng ra sao? Cấu trúc thế nào? Anh lại lao vào cuộc tìm kiếm mới. [/JUSTIFY]
    [JUSTIFY]
    Hơn một nghìn năm Bắc thuộc, cuộc tận thu trống đồng của Mã Viện năm 43, cuộc cướp phá sách vở của nhà Minh đầu thế kỷ 15, và cuộc đốt phá hết thư khố quốc gia và thư khố của các bộ (sau cuộc tấn công vào đồn Mang Cá) của Pháp năm 1875, liệu có còn sót lại những gì? [/JUSTIFY]
    [JUSTIFY]
    Anh đã tìm đến những nơi đồn là có chữ Việt cổ. Nhưng đôi khi thất vọng: Chữ khắc trên viên gạch ở Hoàng thành Thăng Long chỉ là chữ Chăm và những trang sách trên lá buông ở đỉnh Trường Sơn và ở Thư viện Nghệ An chỉ là chữ Lào cổ. Nhưng anh vẫn tim vào sự cất giấu lưu giữ của tổ tiên về chữ Việt cổ (như khi đi tìm dấu vết của các thầy giáo thời trước Hán). [/JUSTIFY]
    [JUSTIFY]
    Anh đến Sa Pa, trên tảng đá vùng Hầu Thảo, sau khi cạo hết lớp rêu phủ, anh đã tìm được những chữ giống như chữ cái của Vương Duy Trinh. [/JUSTIFY]
    [JUSTIFY]
    Nhớ tới câu nói của Vương Duy Trinh: "Vì thập Châu là vùng biên viễn, nhân dân ta còn lưu giữ được thứ chữ ấy", anh hướng tìm tòi lên vùng Tây Bắc, Việt Bắc, vùng khu 4 cũ, rồi lăn lộn lên cả Đông và Tây dãy Trường Sơn. [/JUSTIFY]
    [JUSTIFY]
    Để đi được dài ngày và đi xa, với số tiền lương hưu ít ỏi, anh đã phải tính đến việc ăn ngủ giản tiện nhất, đó là: một chiếc võng bạt, một bi đông đựng nước, một ít bánh mì sấy khô và dăm gói mì tôm. Thế là anh có thể "cầm cự" được hàng chục ngày để đi đến các vùng sâu vùng xa, quyết tìm cho ra chữ Việt cổ của anh. [/JUSTIFY]
    [JUSTIFY]
    Trong các tài liệu sưu tầm được, anh đặc biệt chú ý đến một bộ chữ lạ. Rất tiếc là những trang sách này đã bị nguỵ trang và khoá mã, mặc dù vậy nó đã tồn tại hàng mấy trăm năm mà không ai chú ý tới. Linh cảm như mách bảo, anh đã thức nhiều đêm trắng để mày mò giải mã. Kiến thức tổng hợp và vốn ngoại ngữ đã giúp anh rất nhiều trong lĩnh vực nghiên cứu chữ Việt cổ. Cho tới một ngày anh đã khu biệt được loại ký tự này với các loại văn tự xung quanh, đã tìm ra được hình dạng, chức năng của từng chữ cái và cách cấu trúc của một loại ký tự mà người ta đã nhầm là chữ Mường, chữ Thái... [/JUSTIFY]
    [JUSTIFY]
    Qua công trình nghiên cứu về ngôn ngữ người Việt cổ HauĐricourt, anh khẳng định được bộ ký tự này có từ trước công nguyên (loại ký tự bắt nguồn từ chữ Khoa đầu tượng hình chuyển sang chữ cái có ghép vần). Căn cứ vào ý kiến của giáo sư Lê Trọng Khanh: "Các dân tộc Bách Việt dùng thứ chữ này". [/JUSTIFY]
    [JUSTIFY]
    Khi đã đọc thông viết thạo chữ Việt cổ, anh lại tìm đến các vùng người Thái, người Mường. Loại văn tự này có thể ghi được tiếng Thái, tiếng Mường nhưng không đầy đủ. Anh lại tìm đến các vùng quê Thái Bình, Bắc Ninh, Sơn Tây, Thanh Nghệ Tĩnh... để lắng nghe những người già phát âm. [/JUSTIFY]
    [JUSTIFY]
    Thứ ký tự này đã giúp anh ghi lại đầy đủ giọng nói, âm vực của họ, đã giúp anh giải thích được tiếng nói khác nhau của từng vùng - gần như nó đã ghi lại nguyên tiếng nói người Việt cổ. Nó đã giúp anh giải thích được nhiều vấn đề còn thắc mắc. Ví dụ: Vì sao trong tờ Le Paria và tờ L'Humanité từ những năm 20 của lãnh tụ Nguyễn ái Quốc. Chữ Nguyễn ái Quốc được viết là Nguyễn ái Quấc. Và trong cuốn sách sổ sáng của Filíp Bỉnh viết ở Bồ Đào Nha năm 1822, chữ huyên được viết là huên, chữ dòng được viết là dào. [/JUSTIFY]
    [JUSTIFY]
    Cũng như vậy anh có thể chứng minh được một nền văn tự có trước Hán và khác Hán, của giáo sư Hà Văn Tấn qua việc giải thích sự tồn ghi trong cuộc khai quật của bà Cô La Ni ở Lam Giận Hoà Bình năm 1923. Tháng 9/2004, giáo sư Hà Văn Tấn đã mời anh về Hà Nội nghe anh kể lại quá trình đi tìm chữ Việt cổ và khi được anh tặng bản Hịch của Hai Bà Trưng mà anh đã chuyển sang chữ Việt cổ, giáo sư đã cảm động nghẹn ngào: "Vấn đề lớn lắm. Chúng ta phải sớm báo cáo lên nhà nước". [/JUSTIFY]
    [JUSTIFY]
    Nhân dịp Quốc khánh 2005 trong chuyến về công tác ở Việt Trì - Phú Thọ, nguyên Chủ tịch nước Trần Đức Lương đã tìm gặp anh và gửi thêm tài liệu cho anh. Khi thấy anh còn băn khoăn, Chủ tịch đã động viên: "Anh Xuyền cứ tiếp tục công việc, sẽ có ngày sử dụng đến kết quả này". Ngày ấy, anh đoán chắc còn xa lắm... (1) [/JUSTIFY]
    [JUSTIFY]
    Dịp hè năm nay, nghe tin tỉnh Sơn La tìm được hàng nghìn cuốn sách cổ có chữ lạ. Nhóm chúng tôi đã tìm đến và phôtô được một số trang đưa về cho anh. Anh cầm lên, đọc mà nước mắt ràn rụa. Như vậy điều dự đoán của các nhà khoa học trước đây đã được chứng minh: Thứ ký tự đặc biệt để ghi âm tiếng nói của người Việt cổ (thứ chữ dân tộc ta đã có từ thì đại Hùng Vương) đã được các dân tộc sử dụng chung và còn được lưu giữ bảo tồn ở vùng Tây Bắc cho đến ngày nay. [/JUSTIFY]

    Hoàng Đạo Lý - Thông tin việc họ Đỗ Việt Nam số 24

    [JUSTIFY](1) Mới gần đây gần đây ông Đỗ Văn Xuyền lại có dịp báo cáo công trình của mình lên Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Thiện Nhân. [/JUSTIFY]
    [JUSTIFY] [/JUSTIFY]
    [JUSTIFY] Buổi trao đổi khoa học về đề tài chữ viết cổ của người Việt tại Trung tâm Văn hoá người cao tuổi [/JUSTIFY]
    [JUSTIFY]

    Từ trái sang phải: ông Đỗ Văn Xuyền ( nhà văn khánh Hoài), giáo sư Lê trọng Khánh, phó giáo sư Đỗ Tòng- nguyên trưởng Ban liên lạc HĐVN, ông Lê Văn Ánh- Chủ nhiệm Trung tâm Văn hóa người cao tuổi, trưởng BLL họ Lê VN.
    [/JUSTIFY]
    Sửa bởi Đảo Sơn Ca : 30-04-2011 lúc 10:20 AM

  11. #10
    Ngày gia nhập
    Dec 2007
    Bài gửi
    57
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    0
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)

    Re: Chữ viết thời Hùng Vương-Văn Lang

    NGUỒN GỐC VIỆT TỘC
    Phạm Trần Anh

    ......


    A. TIẾNG VIỆT TRÊN THƯ TỊCH CỔ
    Tìm về nguồn gốc chữ Việt cổ chính là những ưu tư khắc khoải của tất cả mọi người Việt Nam yêu nước. Lịch sử ghi nhận vua Lê Thánh Tông (1460-1497) là một vị minh quân, không những sáng suốt trong việc trị quốc an dân mà nhà Vua còn là nhà có tài văn chương thi phú. Lê Thánh Tông là vị vua duy nhất trong lịch sử đứng đầu "Nhị thập bát tú" đã để lại nhiều tác phẩm thi văn cho hậu thế. Theo "Cổ Việt Hùng thị Thập bát Diệp Thánh Tông Ngọc Phả cổ truyền" do Hàn Lâm viện Trực học sĩ soạn năm Nhâm Thìn 1472, niên hiệu Hồng Ðức thứ 3 thì vua Lê Thánh Tôn giao cho Bảng Nhãn Nguyễn Như Ðỗ nghiên cứu về cương giới nước Việt xưa. Bản "Hùng Vương bát cảnh" do Nguyễn Như Ðỗ sưu tập thì lãnh thổ nước Văn Lang gồm:


    1. MIỀN GÒ NGỰA (Mã Kỳ) rộng khoảng 2.000 dặm, xưa tên là châu Ðiền nay thuộc tỉnh Vân Nam TQ.
    2. MIỀN CỎ TRÂU (Ngưu Lan) rộng khoảng 1.500 dặm tức Việt Tây nay là tỉnh Quảng Tây TQ.
    3. MIỀN AO CÁ (Ngư Trì) rộng 1700 dặm xưa có tên là Việt Ðông nay là tỉnh Quảng Ðông Trung Quốc.
    4. MIỀN RỪNG QUẠ (Ô Lâm) xưa là châu Kiềm nay thuộc tỉnh Phúc Kiến, Quí châu giáp hồ Ðộng Ðình TQ.
    5. MIỀN ÐỘNG HOA tức tức nước Phù Nam cổ rộng khoảng 1.000 dặm thời LêThánh Tôn là nước Chân Lạp. Vương quốc Phù Nam cổ ở Hạ Lưu sông Mekong, Vương quốc này tồn tại mãi đến thế kỷ thứ VI. Cương giới Phù Nam trải rộng hầu như khắp lục địa Ðông Nam Á cổ bao gồm cả miền Nam Trung Việt, Nam Việt Nam sang phía Tây gồm cả thung lũng sông Mê Nam Thái Lan. Phía Bắc tời vùng trung lưu sông Mê Kông tức lãnh thổ Lào ngày nay trải dài xuống phương Nam tới tận bán đảo Mã Lai, tức nước Malaysia bây giờ.
    6. MIỀN NÚI QUAû (Quả Sơn) rộng khoảng 1.000 dặm tức nước Hồ Tôn ( Lâm Aáp cổ còn gọi là Chămpa ) sau là Chiêm Thành.
    7. MIỀN BẦY VOI (Tượng Tào) rộng khoảng 1.000 dặm tức nước Ai Lao.
    8. MIỀN LŨ HƯƠU (Lộc Hữu) rộng khoảng 1.000 dặm ở phía Nam Ai Lao tức Cao Miên (Cambodia) bây giờ. Còn về trước nữa thì biên giới nước ta lên tới Hồ Bắc và Nam Hà Nam lấy phân dã 2 sao Ngưu Nữ làm giới cận.(18)



    Thuở xa xưa Tổ Tiên ta định cư ở cuối dãy Nam Sơn, sau dời xuống vùng Tam giang Bắc gồm sông Hoàng Hà, sông Vị, sông Lạc. Ðời Kinh Dương Vương dời xuống vùng Tam giang Nam gồm sông Dương Tử (Trường Giang) sông Nguyên và sông Tương. Vùng đất này là vùng đất đỏ Basalt nên Kinh Thư gọi là Xích Qui phương nên Kinh Dương Vương mới đặt tên nước là XÍCH QUI. Cổ thư Trung Hoa gọi vùng này là Nam Giao, Cửa Việt, Giao Chỉ.
    Người Việt cổ thông đạt thiên văn ngay từ thời cổ đại. Người xưa đã quan sát chiêm nghiệm vị trí các vị sao với thời tiết mùa vụ để làm ra Nông Lịch đầu tiên trên thế giới. Theo nhà nghiên cứu "Tiên Tích Việt", Giáo sư Nguyễn Ðoàn Tuân thì toàn bộ chòm sao TĨNH theo kinh Thái Aát đóng tại giữa cung Khôn và Ly bao bọc các châu Lương, Tần, Kinh, Sở, Dương, Trinh của Xích Qui phương thời Kinh Dương Vương. Ðứng trước sao Tĩnh là sao VIỆT nên mới gọi là "Việt Tĩnh cương" là cương giới, phân dã sao ứng cho Ðông Việt, Tây Việt, Việt Thường và Bách Việt. Quan sát vị trí của 17 sao trong chòm sao Tĩnh, phận dã ứng với 15 bộ của VĂN LANG. Hai sao Thủy Phủ (Suifu) và Thiên Lang được chọn làm Kinh đô THỦY PHỦ{Suifu) và đặt tên nước là VĂN LANG.
    Mới đây, các nhà thiên văn người Pháp gồm 2 Thạc sĩ Sử Ðịa là Baron và P. Gourou cùng với Tiến sĩ văn chương P. Loubet đã tìm ra địa danh Thủy Phủ (Souifou) trên bản đồ Thái Bình Dương Pacific Ocean của National Geographic Society nay là cảng Thành Ðô tỉnh Tứ Xuyên. Địa danh Thủy Phủ (Suifu) cũng được ghi rõ trên bản đồ New International ATLAS of the World của Geographical Publishing company in năm 1949.
    Chòm sao Tĩnh đứng đầu 7 sao của chòm sao Chu Tước. Chu Tước chính là chim huyền thoại Phượng Hoàng chính là chim Trĩ, Công cùng họ với Bạch Trĩ là vật tổ biểu trưng của chi Âu Việt. Chu Tước có bộ lông màu đỏ, hai sao Bạch Trĩ và Chu Tước ứng về phương Nam của Việt tộc. Về sau Hán tộc xâm lăng đẩy Việt tộc phải lùi dần về phương Nam nên "Tấn thư" mục Thiên văn chí chép:" Ðất Việt thuộc về phận dã sao Khiên, Ngưu và Vụ Nữ .. Ngày nay Thương Ngô, Hợp Phố, Giao Chỉ, Cửu Chân, Nam Hải và Nhật Nam đều thuộc về địa phận nước Việt. Vua nước ấy thuộc dòng họ Vũ, con thứ của vua Thiếu Khang nhà Hạ phong ở đất Cối Kê". Ðây chính là nước VIỆT (U-Việt) của Việt vương Câu Tiễn đã từng xưng Bá thời Xuân Thu. Ðến thời Hán, nước NAM VIỆT của Triệu Vũ Ðế chỉ còn lại phía Nam Ngũ Lĩnh nên "Hán Thư", Thiên văn chí chỉ chép phân dã Việt ứng với 2 sao Dực Chẩn, sao Ngưu Nữ ứng với địa phận Dĩnh Xuyên nên truyền thuyết Ngưu Lang Chức Nữ là của người Việt chứ khơng phải của Tàu như người ta viết từ trước đến giờ.
    Tập " Thánh Tông dị thảo" gồm 20 truyện ký đặc biệt là truyện Mộng ký kể lại giấc mơ của nhà Vua như nỗi thao thức trăn trở về ngọn nguồn gốc tích dân tộc gửi lại cho những thế hệ sau. Truyện kể, một lần Vua Lê đi dạo chơi gặp mưa, nghỉ đêm bên hồ Trúc Bạch, Vua nằm mộng thấy hai người con gái thời Lý Cao Tông hiện lên dâng thư bày tỏ nỗi niềm oan ức gồm một bài thơ bằng chữ Hán và một tờ tấu bằng chữ bản địa có 71 chữ ngoằn ngoèo. Vua đọc không được, suốt ba năm cả triều đình cũng không có ai đọc được tờ tấu đó. Thế rồi, Vua lại nằm mơ có người hiện lên giảng giải cho Vua thêm về bài thơ chữ Hán. Vua hỏi âm, nghĩa của 71 chữ ngoằn ngoèo trên thì người ấy nói :" Chữ ấy là lối chữ cổ của nước ta. Nay Mường Mán ở núi rừng có người còn đọc được, nhà Vua cho vời họ đến thị tự khắc sẽ biết".
    Vấn đề ở đây không phải ở tình tiết thực hư của giấc mơ mà cốt lõi là Vua Lê Thánh Tông trao chiếc chìa khoá cho thế hệ sau chúng ta cùng giải mã vấn nan lịch sử đó. Cứ theo Vua Lê thì dân tộc ta đã có chữ viết riêng lối chữ cổ đó còn rơi rớt hiếm hoi ở thời Lý, theo đó hình dáng của lối chữ Việt cổ có nét chữ ngoằn ngoèo và hiện lối chữ ấy còn bảo lưu ở một đồng bào Mường Mán của chúng ta. Ðiểm đặc biệt là chính thư tịch cổ Trung Quốc cũng xác nhận Việt tộc đã có thứ chữ riêng hình con Nòng Nọc mà họ gọi là "Khoa Ðẩu tự" từ thời xa xưa. Sử ký Tư Mã thiên chép " Ðất Giao Châu ở phía Nam có Việt Thường Thị qua nhiều lần thông dịch, đến hiến một con chim Trĩ trắng". Sách Thông giám cương mục do Chu Hi đời Tống soạn cũng ghi:"Năm Mậu Thân đời Ðường Nghiêu thứ 5 (tức năm 2353TDL) có Nam di Việt-Thường Thị đến chầu, hiến rùa lớn" và sách Thông Chí do Trịnh Tiêu đời Tống chép rõ hơn: " Ðời Ðào Ðường, Nam di có Việt Thường Thị qua nhiều lần thông dịch đến hiến một con rùa thần. Rùa được nghìn tuổi, rộng hơn 3 thước, trên lưng có chữ "Khoa đẩu" chép việc từ lúc khai thiên lập địa tới nay. Vua Nghiêu sai chép lấy gọi là Qui lịch". Sự kiện lịch sử này được xem như mối giao hảo giữa hai dòng Thần Nông phương Nam và phương Bắc của Việt tộc chứ không phải giữa nước ta với nước Tàu như các sử gia viết sai lầm từ trước đến giờ.
    Nguồn thư tịch cổ trên cho chúng ta thấy là Họ Việt Thường, một trong 15 chi tộc sau này họp lại thành quốc gia Văn Lang đã hiện hữu ngay từ thời Ðào Ðường thị Ðế Nghiêu. Việt Thường là một nhà nước sơ khai của Việt tộc đã cĩ chữ viết và một nền văn minh khá cao nên mới làm được lịch gọi là lịch rùa (Qui lịch). Ðặc biệt, trên lưng rùa có ghi chép những sự việc từ thời khai thiên lập địa được xem như khởi đầu của triết học với vũ trụ quan phương Ðông, uyên nguyên Âm Dương Dịch biến luận của người Việt cổ. Sự kiện sứ giả Việt Thường đến được Trung Nguyên trong khi đó dòng Thần Nông phương Bắc chưa biết đến Việt Thường đã chứng tỏ kiến thức về địa lý và thiên nhiên của Việt Thường cao hơn thời Ðường Nghiêu khiến Vua Nghiêu phải sai chép lại lịch rùa (Qui lịch). Quan trọng hơn là lúc đó Việt Thường đã có chữ viết dạng Khoa đẩu tức lối viết theo hình loăn quăn ngoằn ngoèo như con Nòng nọc.
    Truy cứu lại lịch sử chữ viết Trung Hoa cho chúng ta biết chữ Bát quái của Phục Hi, chữ Kết thằng là lối chữ ký hiệu bằng cách thắt nút giây của Ðế Thần Nông. Ðến đời Hoàng Ðế có Thương Hiệt là sử gia đã thống nhất được lối chữ cổ kể trên, đồng thời theo dấu hình chân chim thú bay nhảy mà biết văn lý phân biệt rồi khuếch trương bằng hình thanh đặt ra lối chữ ÐIỂU TRIỆN. Ðến thời Chu Tuyên Vương của Hán tộc mới sai thái tử Trứu thêm bớt lối chữ khoa đẩu đặt ra lối chữ ÐẠI TRIỆN nét tròn thường viết bằng sơn trên gỗ tre. Bởi vậy, lối chữ đại triện này gọi là Trứu thư được xem là của Hán tộc vì nó hoàn toàn khác với lối chữ khoa đẩu, Ðiểu triện thời Hoàng Ðế của Việt tộc.
    Theo những công bố gần đây được hầu hết học giả Trung Hoa học các nước chấp nhận thì cái gọi là văn hoá Trung Hoa chính là VĂN HOÁ VIỆT CỔ mà cổ thư gọi là văn hoá tứ di hay Di-Việt. Triều Thương của Hán tộc đã tiếp thu nền văn hoá này nhưng mãi đến đời Chu mới đưa thêm vào một số yếu tố du mục, chịu ảnh hưởng của Iran như chế độ thiên tử, hoạn quan, luật hình và tổ chức quân đội chuyên nghiệp… để rồi từ đó mặc nhiên tự nhận là văn hóa Hán. Triều Chu đóng đô ở Thiểm Tây và đặt ra chế độ Tông pháp để bảo vệ chế độ. Triều Chu phong cho họ hàng và các công thần làm Vua 15 nước chư hầu để làm phên giậu bảo vệ lãnh thổ của Chu.
    Ngày nay, các học giả đều thừa nhận là đời Chu mới bước vào văn minh với những thể chế hình mẫu của nhà nước phong kiến. Chức thiên tử uy quyền tuyệt đối mà Vua Chu tuy không quan niệm Vua là Thần thánh như ở Iran, nhưng Vua là con trời (thiên tử) nên vừa làm Vua, vừa là tư tế thượng phẩm. Vua Chu đại biểu của chế độ phong kiến nên độc tài chuyên chế, trói buộc người dân trên mọi phương diện. Vị Vua thế quyền nắm cả giáo quyền đã khống chế cả đời sống vật chất lẫn tinh thần của dân bị trị. Chu là một chư hầu của Thương ở Tây Thiểm Tây, là một tộc người du mục chứ không phải dòng dõi Ðế Cốc như các sử gia "Ðại Hán" đã tô điểm thêm thắt. Thế mà thư tịch cổ Trung Hoa chép Chu là dòng dõi ông Khí (con của Ðế Cốc) làm quan Hậu tắc, coi việc nông chính dưới triều Vua Thuấn, được phong ở đất Thái (tỉnh Thiểm Tây) truyền đến Công Lưu thì dời sang đất Mâu cũng giữ chức Hậu tắc. Tám đời sau đến Cổ Công Ðản phụ vì tránh nạn Bắc địch phải dời đến ở dưới núi Kỳ mới đổi quốc hiệu là Chu.
    Theo các công trình nghiên cứu của học giả Eberhard và Gernet thì Chu là một bộ lạc Thổ (Turc) sống chung với người Tạng (Tibet) chịu ảnh hưởng của văn hoá Thương tức văn hoá Di-Việt do Thương tiếp thu của Hạ. Tộc Chu có dòng máu Thổ và Hung nô nên quiù tộc Chu đã phân biệt giai cấp và gọi nhân dân là dân đen (Lê dân) tức dân tóc đen khác với tóc hung vàng của giới thống trị Thổâ (Turc). Chu sau khi tiếp nhận văn hoá Di Việt, cộng thêm bản chất du mục đã hình thành nền văn minh Chu với đế chế phong kiến chuyên chế thống trị nhân dân trong nước mà còn phân biệt chủng tộc. Giới thống trị Chu tự cho họ là văn minh và gọi các dân tộc khác là Man Di, di địch. Ðời Chu công Quí Lịch đi chinh phục các nước đã gọi cửu hầu là cửu quỉ (19). Sau Chu đến Tần cũng lấy lối chữ Ðại triện của đời Chu làm tiêu chuẩn để thống nhất chữ viết kể cả giọng nói để triệt tiêu ngôn ngữ của các dân tộc khác. Ðế chế Tần buộc các địa phương phải gửi người về Hàm Dương để học giọng Quan Thoại và lối chữ viết thống nhất khi trở về địa phương dạy lại từ quan đến dân lối chữ ấy. Tần ra chỉ dụ cấm đoán và trừng phạt khắt khe những ai còn nói giọng địa phương và viết chữ của dân tộc họ. Biện pháp cưỡng bách này khiến ngôn ngữ riêng của các dân tộc biến mất theo thời gian.
    Theo "Trúc thư kỷ niên" thì vào thế kỷ thứ 22 TDL mới có thứ chữ để viết dùng trong việc hành chánh, nghĩa là vào khoảng thời nhà Hạ của Việt tộc (2.205-1766TDL). Ðó là thứ chữ dựa vào câu sử truyền như sau: "Thượng cổ thánh nhân Kết thằng dĩ trị, hậu thế thánh nhân dịch chi dĩ Thư khế bá quan dĩ trị, vạn dân dĩ sát" nghĩa là thời xưa, đấng thánh dùng loại chữ "kết thằng" để trị, đời sau thánh nhân biến chữ đó làm một thứ "Thư khế" trăm quan theo đó mà trị, vạn dân lấy đó mà xét nghiệm. Câu nói này cũng chép trong mục "Thần Nông" tựa kỷ. Theo Nguyễn Ðoàn Tuân thì Kết Thằng còn đọc là Cát Thặng hay Kết thừa nghĩa là nhắc nhớ tới thời Lão Long Cát thị truyền chữ lại và coi chữ Kết Thằng như một "Kết ước thần linh". Chính vì vậy mà đời sau đổi Kết Thằng thành Thư Khế.
    Thư khế là sách ước xưa truyền lại và nhờ đó mà kết tinh trong Dịch. Ðiều này đến đời Thiệu Khang Tiết mới phát hiện. Các chữ cổ đời Hạ, Thương đều là lối chữ phiên thiết, nói chung lối chữ gọi là Hán tự thay đổi hoài. Ðến đời Tần, Tần Thủy Hoàng sai thừa tướng Lý Tư (213TDL) lấy lối chữ Kết Thằng đời Thần Nông (Viêm Việt) soạn ra chữ Tiểu Triện, mới được khoảng 3300 chữ. Thực ra Lý Tư chỉ lấy chữ Kết Thằng của Viêm Việt để hợp thành những danh tự chỉ đồ vật. Năm 120, Hứa Thận soạn sách "Thuyết văn Giải tự" kiểm điểm sắp xếp lại chữ Tiểu triện sắp lại thành 540 chìa khoá bộ chữ tạo thành 10.515 chữ được xem là chữ Hán định hình. Sau đó sách "Thuyết văn Thông thuận Ðịnh thành Lục thư thông" đã bổ túc và định nghĩa chắc chắn từng chữ một.
    Sau đó, Trình Mao Tạo ra cây viết chì nhọn, chấm vào mực để viết tròn ra vuông, cong ra gẫy. Mông Ðiềm giao lưu văn hoá với Hung Nô (Mông cổ) tạo ra bút lông, bút giấy. Bút lông không viết ngược chiều được, giấy hút mực nên phải viết cho lẹ, nét chữ biến hoá một cách tự do, nét đậm nét nhạt, mập mờ, nét móc, nét lồi, nét gối, nét nối liền nhau, thành thảo tự gọi là viết thảo. Người đời sau do sai lầm cứ dựa vào "Lục thư" mà tuỳ tiện xét đoán. Khi tìm thấy lối chữ cổ của vua Ðại Vũ viết trên tấm bia chôn ở núi Cú Lũ (tên cổ là hang rùa). "Lĩnh Nam Dật sử" có chép chuyện này, tác giả đoan chắc đó là bảng chữ Việt. Sách "Tô Ký Kinh ngoại" cũng xác nhận đó là tiếng Việt. Sách "An Nam Chí lược" của Lê Tắc, dẫn lời cẩn bạch của Ngạn Ngân Hương đề cao lối chữ này là "Thần vũ hữu Cú Lũ sơn" rằng :"Thiết nghĩ thước ngọc khuôn vàng vườn Côn Luân bản đồ trình hiến, chữ xanh vằn đỏ (xích văn lục tự) thơ truyền Vụ Uyển, thư tịch lưu truyền". Ðây chính là thứ chữ trong Lạc thư Bách Việt, ý người xưa Lạc là Thần, phát xuất từ cái nôi sinh tụ đầu tiên của tộc Việt là Rượu Cô Dịch di chuyển về Tiểu Côn Lôn là vùng núi Vụ Uyển nơi Ðại Vũ đã chôn giấu tấm bia mà sách Lĩnh Nam Dật sử nhắc tới.
    Thực tế lịch sử cũng cho chúng ta biết thời Xuân Thu các quốc gia Bách Việt cũng đã có ngôn ngữ riêng. Thật vậy, Nước Việt có quốc luật, Sở quốc có Hiến lệnh là những pháp lệnh thành văn đầu tiên cùng thời Tử Sản người nước Trịnh(20) năm 532 TDL đã soạn ra Hình thư rồi đem văn bản hình khắc lên chín cái đỉnh đúc bằng sắt gọi là Chú Ðỉnh hình. Tả truyện của Tả Khâu Minh chép truyện quan lịnh doãn nước Sở là Tử Ngươn đi đánh Trịnh, đến bên thành Trịnh thì thấy dân chúng bình tĩnh như không có gì xảy ra, lại còn lên đầu thành mà nói với xuống bằng tiếng nước Sở, cũng là tiếng Việt của họ. Sở dĩ họ không lo sợ gì vì là đồng chủng nên đối với họ, chiến tranh chỉ là sự tranh giành quyền lãnh đạo của giới cầm quyền mà thôi. Ðến ngày nay mà sách giáo khoa Tàu vẫn gọi tiếng Quảng Ðông là Việt ngữ.
    Học giả Lê Mạnh Thát trong tác phẩm "Vài tư liệu mới cho việc nghiên cứu lịch sử âm nhạc Việt Nam giai đoạn trước 939" đã đưa ra chứng cớ về sự hiện diện của chữ Việt cổ, căn cứ trên " Thuyết uyển" do Lưu Hướng viết vào khoảng năm 16 TDL. Nguồn sử liệu minh văn trên đã xác nhận một cách đúng đắn là người Việt đã có ngôn ngữ riêng, âm nhạc riêng đó là bài "VIỆT CA". Lục độ tập kinh cùng với "Cựu Tạp Thí dụ kinh" đã để lại cho chúng ta một loạt những cấu trúc tiếng Việt cổ quý giá mà từ đó, chúng ta tham khảo thêm bài Việt ca do Lưu Hướng chép lại trong Thuyết Uyển để có thể phục chế lại một phần nào diện mạo của tiếng nói dân tộc ta cách đây mấy ngàn năm. Ðặc biệt, ngoài bản Việt ca còn bảo lưu được trên 15 trường hợp các cấu trúc ngữ học theo văn pháp tiếng Việt cổ. Toàn văn Lục độ tập kinh thể hiện một cách có hệ thống và toàn diện, liên tục nhất quán của ngữ pháp, cú pháp về ngữ vựng của tiếng Việt ví dụ như tiếng Tàu gọi Trời xanh là thanh thiên, mây trắng là bạch vân hoàn toàn khác với tiếng Việt.
    Lê Huy Yêm trong tác phẩm " Lê phổ chí tục biên" đã viết về lối chữ Khoa Ðẩu của dân tộc ta như sau: "Con Rồng cháu Tiên, chữ con chữ Rồng viết như thế này .. Bọn Nhâm Diên, Sĩ Nhiếp sang cai trị dân ta bắt đốt hết sách ta, nhà nào cất giữ thì bị giết hại. Ðây không phải chữ Nôm đâu, chữ Nôm về sau, cách đây khoảng năm trăm năm do Nguyễn Thuyên, tức Hàn Thuyên đặt ra bằng cách ghép chữ, còn chữ cổ Việt Nam đã có hàng mấy nghìn năm về trước. Nhà ta cất giữ được quyển sách này từ cụ Lê Huy Nghiêm. Các cháu phải biết là nước ta có chữ trước chữ Hán rất lâu .."(21) Năm 1932, nhà văn Lê Dư trên Tạp chí Nam Phong đã cho rằng dân tộc ta có chữ viết từ thời cổ. Thời Tự Ðức, Văn Ða cư sĩ đã viết : "Ta học chữ Tàu, thầy dạy hay học trò học, thế nào cũng pải lấy tiếng nước ta mà giải thích mới có thể hiểu, lại phải có một thứ chữ gì để làm phù hiệu, ghi cho dễ nhớ. Nhân vậy, Sĩ Vương (Sĩ Nhiếp) mới lựa những chữ Hán nào phát âm như tiếng ta, lấy những chữ ấy để làm phù hiệu, âm các tiếng chữ Tàu. Nhân vậy mới lấy một nửa hình chữ Hán khác hợp lại thành chữ hoặc dùng nghĩa, hoặc dùng ý hội, đem làm phù hiệu dịch thứ tiếng của ta. Vả chăng, Sĩ vương người đất Quảng Tín, quận Thương Ngô (trước thuộc lãnh thổ Bách Việt) thuộc nước Tàu bây giờ, mà bên ấy xưa cũng có một thứ chữ tục tự hệt như chữ Nôm của ta vậy …".
    Sách "An Nam kỷ lược" viết " Nước Việt Nam ta có lối chữ viết từ đời Ðinh, Lê trở về trước thì không trông thấy được nữa. Còn lối chữ từ thới Lý, đời Trần trở về sau thì bắt chước triều Tống". Trương Vĩnh Ký cũng cho rằng dân tộc ta đã có chữ viết trước thời Hán thuộc nhưng sau khi bị Hán tộc thống trị cấm sử dụng tiếng Việt cổ, đồng thời bắt dân ta phải học tiếng Hán nên sau hơn một ngàn năm nô lệ, tiếng Việt cổ mai một dần theo thời gian.




    B. TIẾNG VIỆT TRONG NGHIÊN CỨU THỰC TẾ



    Các nhà ngôn ngữ học ghi nhận ở vùng Nghệ Tĩnh ngôn ngữ địa phương vẫn còn giữ lại được nhiều từ tiếng Việt cổ như xưa họ nói "nác" nay là nước, "cơn" nay gọi là cây, "lả" là lửa, "ló" là lúa… Năm 1903,Vương Duy Trinh là Hiệp Biện Ðại học sĩ làm Tổng Ðốc Thanh Hóa đã sưu tập đựơc 35 mẫu tự của chữ cổ ở "Châu", đó là "Phụ Man mẫu tự tam thập ngũ tự" (Ba mươi lăm mẫu tự của chữ "Châu"). Vương Duy Trinh, tác giả Thanh Hoá Quan phong (thế kỷ XIX) viết :
    " Ðây là chữ Châu tiếng Châu. Trên kia đã dịch làm tiếng chợ, một khúc ca có 12 đoạn, có tầng thứ, có nông sâu, có mở đóng, có hồi cố. Có khác gì 13 nước Phong-thi. Người làm bài ca là người có học. Vậy mới biết có văn tự thì phải có văn chương. Tỉnh Thanh Hóa một châu quan có lối chữ thập châu đó. Người ta thường nói rằng Việt Nam không có chữ, tôi nghĩ rằng không phải. Thập Châu vốn là đất nước ta. Trên Châu còn có chữ lẽ nào dưới chợ lại không? Lối chữ trên Châu chính là lối chữ nước ta đó. Nay xem chữ trên Châu với chữ Xiêm, chữ Lào … tuy rằng viết dọc viết ngang có khác dạng nhưng cũng là một lối chữ Loan Phụng Khoa Ðẩu. Ðời xưa Trung quốc từ người Lý Tư đời Tần trở về sau hay có người thay đổi làm lối khác, mà nước ta nội thuộc kể đã dư ngàn năm. Từ sau Sĩ vương dạy lấy chữ Trung quốc mà lối chữ nước ta bỏ hết. Thập châu bởi là nơi biên viễn cho nên lối chữ ấy còn ..".


    Nguyễn Ðổng Chi trong tác phẩm "Việt Nam cổ văn học sử" đã sưu tầm được 35 chữ cái của đồng bào Mường. Ðó là lối chữ ngoằn ngoèo như con nòng nọc đúng như Tiền Hán thư chép và cũng đúng như giấc mơ cũng chính là ưu tư của Vua Lê Thánh Tông đã gợi mở cho chúng ta. Mặt khác, vùng Tây Thanh Hoá, Nghệ Tĩnh địa bàn cư trú của Việt Thường, Văn Lang xưa cũ mà Tiền Hán thư ghi rõ là ngay từ thời Ðào Ðường khoảng thiên niên kỷ thứ II trước Dương lịch, người Việt cổ đã có một thứ chữ riêng biệt trông như con nòng nọc.
    Hình dạng chữ viết của đồng bào Mường gần giống như những hoa văn với những đường cong lạ trên mặt trống đồng Lũng cú, Hà Tuyên mới được phát hiện trong thập niên 70 với những hoa văn kỷ hà có những nét giống chữ Phạn cổ trên bia đá Võ Canh ở Khánh Hoà và chữ cổ khắc trên đá ở di chỉ Óc Eo (An Giang). Theo các nhà Tiền Sử học thì cách nay hơn 6 ngàn năm, một nhánh Malaynesian đã thiên di sang Aán Ðộ định cư, một số lại quay trở lại Ðông Dương. Các công trình khảo cổ mới tìm thấy ở 2 bang Punjap và Sin ở Tây Bắc Aán Ðộ một nền văn minh Harrapa và Mohenjo Daro. Ðó là nền văn minh tối cổ của MaLaynesian mà các nhà nhân chủng gọi là cư dân Dravidian. Ðó là nền văn minh sông Aán. Nền văn minh này phát sinh rất sớm vào khoảng giữa thiên niên kỷ thứ III TDL và tàn lụi vào khoảng giữa thiên niên kỷ thứ II TDL vì sự xâm lấn của chủng Aán Aâu (Arian). Cư dân Dravidian tôn thờ mặt trời, thờ nữ thần Mẹ và nhiều thần có liên quan đến nông nghiệp và chăn nuôi. Cư dân Dravidian có tín ngưỡng phồn thực và đã sáng tạo ra lối chữ cổ Aán Ðộ. Ðặc biệt trong sử thi Anh hùng ca Ramayana của Aán Ðộ cổ cũng có truyền thuyết về cội nguồn được xem như dị bản của huyền thoại Rồng Tiên với khái niệm Bách Việt mà Hoàng tử Rama là con trai trưởng giống như Hùng Quốc vương trong huyền thoại Rồng Tiên.
    Tất cả tự dạng trên có một điểm chung nhất là ký hiệu sổ ngang sổ uốn tròn như bộ di chuyển của con Nòng nọc. Tự dạng mang tính biểu trưng, lối chữ tượng ý chứ không tượng hình như Hán tộc.Theo Ðặng Ðức Siêu thì bên cạnh hình ngôi sao12 cánh, hoa văn vòng tròn có chấm, đường thẳng song song hướng tâm, đường gấp khúc hoặc nửa hình thoi, hình người hoá trang cách điệu, người ta còn thấy những đường nét uốn lượn tạo thành các hình dạng ngoằn ngoèo hoặc những vạch thẳng phối hợp với nhau thành những góc, những hình, những đường có tính chất kỷ hà. Phải chăng đó là dấu tích của lối chữ viết "ngoằn ngoèo như con nòng nọc" được khắc hoạ trên trống đồng Lũng cú Hà Tuyên? Rõ ràng là loại chữ này đã vượt qua giai đoạn chữ viết tranh vẽ như kiểu thư của bộ tộc XiTơ gửi cho vua Ba Tư. Nó cũng không phải là loại chữ tượng hình còn gắn bó nhiều với các yếu tố đồ hoạ như chữ cổ Ai Cập. Rất có thể, đó là thứ chữ bao gồm một hệ thống ký hiệu khá đơn giản. Mỗi ký hiệu là một đường nét ngắn, uốn lượn theo một thể thức nào đó. Số lượng ký hiệu hoạt động trong hệ thống chắc cũng có hạn, cho nên, khi viết nhiều ký hiệu đã được lập đi lập lại nhiều lần nên trong giống như đàn nòng nọc đang quấy bơi. Căn cứ vào sự mô tả ngoại hình đó, chúng ta có thể suy đoán rằng đó là một hệ thống văn tự được xây dựng trên nguyên tắc ghi âm. Những ký hiệu ghi âm trong hệ thống văn tự ấy được sử dụng độc lập không cần đến sự hiệu chính của các ký hiệu tượng hình ghi ý. Nếu những dấu tích trên trống đồng Lũng cú đúng là dấu tích văn tự thật và niên đại tuyệt đối của di vật này được xác định rõ thì đó sẽ là một đầu mối rất quan trọng giúp chúng ta lần tìm ra hình ảnh hệ thống chữ viết cổ sơ của dân tộc.
    Gần đây, giới khảo cổ mới khám phá ra một di tích tại thung lũng Mường Hoa, Hoàng Liên Sơn cách thị trấn Sapa khoảng 6 km. Ðó là những tảng đá trên bề mặt có nhiều nét chạm trổ. Chúng nằm rải rác xen giữa những thửa ruộng bậc thang của đồng bào Hmong-Dao. Di tích bãi đá cổ rộng khoảng 8 km2 được các nhà khảo cổ Pháp nghiên cứu từ năm 1925 gồm khoảng 159 hòn đá kích thước to nhỏ. Lớn nhất là hòn Bố dài 15 m, cao 6m trong đó đáng chú ý là những hình vẽ người, nhà sàn và các dấu hiệu có thể là hình thức phôi thai của chữ viết. Kế đến là đàn hổ đá và tấm bia có khắc chữ Việt cổ. Tại bản Pho thuộc thung lũng người ta tìm thấy những hòn đá có khắc chữ viết cổ, gần đó trên những thửa ruộng bậc thang thuộc 2 xã Lao Chẩy và Hầu Thào cũng tìm thấy những chữ viết cổ được khắc trên mặt đá. Theo nhận định của các nhà chuyên môn thì đây là chữ Việt cổ nhưng còn phải nghiên cứu giải mã những ký tự, văn tự này mới thoả đáp được vấn đề.
    Năm 1965, các nhà khảo cổ Trung Quốc đã tìm thấy một thanh kiếm cổ trong ngôi mộ cổ ở núi Vọng Sơn, Gia Lăng tỉnh Hồ Bắc thuộc địa bàn cư trú của Bách Việt xưa. Sau khi gột rửa lớp đất bám trên kiếm, các nhà khảo cổ vô cùng ngạc nhiên xen lẫn thán phục vì thanh kiếm bị chôn vùi dưới lòng đất gần 2.500 năm nhưng vẫn sáng loáng dưới ánh sáng mặt trời và toả ra một làn ánh sáng màu xanh. Dùng mũi kiếm rạch nhẹ lên một chồng giấy gồm 10 thếp manh, chồng giấy bị cắt đứt như khi ta dùng máy xén bây giờ. Ðặc biệt trên thân thanh bảo kiếm có 8 chữ nạm sợi bạc, khắc theo lối "Ðiểu triện" tức lối chữ Triện viết theo dạng hình chân chim, nội dung như sau:" Việt vương Câu Tiễn tự tác dụng kiếm" nghĩa là vua Việt Câu Tiễn tự đúc kiếm ..". Toàn thân và chuôi kiếm có cẩn ngọc Minh Châu màu Lam và lục tùng rất đẹp. Lối chữ " Ðiểu Triện" của người Việt cổ chính là lối chữ Thương Hiệt thời Ðế Hoàng.
    Công trình nghiên cứu trên được kiểm chứng bởi các công trình khảo cổ. Ðặc biệt gần đây giáo sư Hà văn Tấn, viện trưởng viện Khảo cổ CHXHCNVN đã tìm thấy một lưỡi cày Ðông Sơn, một qua đồng ở Thanh Hoá và 3 qua đồng trong 1 ngôi mộ của người nước Sở ở Hồ Nam Trung Quốc bây giờ. Trên những di vật này đều có những ký hiệu được xem là dấu vết của một hệ thống chữ viết có niên đại vào thời Chiến quốc. Giới nghiên cứu ghi nhận:"Loại chữ này có từng ký hiệu riêng rẽ, phần lớn không phải chép lại hình ảnh hiện thực nghĩa là không phải các ký hiệu hình vẽ mà là các ký hiệu qui ước. Mỗi ký hiệu có khả năng tương ứng với một từ. Như vậy, đây là một loại chữ rất tiến bộ trong lịch sử chữ viết. Nó đã trải qua giai đoạn chữ viết hình vẽ mà ý tứ trong cả văn bản được thể hiện bằng một bức vẽ như vậy có thể hệ thống chữ viết này đã ở giai đoạn chữ viết biểu ý".

    Theo cách phân loại của các nhà nghiên cứu chữ viết hiện nay, thì chữ viết hình vẽ được gọi là chữ viết ghi câu vì hình vẽ truyền đạt ý cả câu. Còn chữ viết mà trong đó mỗi ký hiệu tương ứng với một từ thì gọi là chữ viết ghi từ. Hệ thống chữ cổ mà chúng tôi vừa phát hiện có thể là chữ viết ghi từ (logogramme) hoàn toàn khác biệt với chữ Hán. Chữ viết trên lưỡi cày văn hoá Ðông Sơn thì hẳn là chữ viết của người Việt cổ. Các nhà nghiên cứu cũng vừa tìm thấy qua đồng ở vùng sông Mã Trung Việt và sông Dương Tử bên Trung Quốc bây giờ, trên lưỡi qua có lối chữ chỉ có thể là của người Lạc Việt, chủ nhân nền văn hoá Ðông Sơn. Như vậy, ngay giờ đây đã có thể nói rằng: " Có một hệ thống chữ viết cổ thời kỳ văn minh Ðông Sơn phát triển rực rỡ vào khoảng thế kỷ thứ IV TDL, trước khi người Hán vào xâm lược và đô hộ đất nước của người Việt cổ hơn một nghìn năm và đến năm 938 đã bị đánh đuổi về phương Bắc .." (22)

    nguon : www.nsvietnam.com
    Sửa bởi Đảo Sơn Ca : 30-04-2011 lúc 10:21 AM

Trang 1 trong 15 12311 ... Cuối cùngCuối cùng

Bookmarks

Quyền hạn Gửi bài

  • Bạn không thể gửi chủ đề
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài của mình
  •