HOANGSA.ORG ĐÃ CHUYỂN SANG DIỄN ĐÀN MỚI- DIỄN ĐÀN CŨ CHỈ ĐỂ LƯU TRỮ KHÔNG THỂ VIẾT BÀI.

ĐỂ ĐI ĐẾN DIỄN ĐÀN MỚI XIN VUI LÒNG CLICK VÀO ĐÂY HTTP://HOANGSA.ORG/F

HOANGSA.ORG ĐÃ CHUYỂN SANG DIỄN ĐÀN MỚI- DIỄN ĐÀN CŨ CHỈ ĐỂ LƯU TRỮ KHÔNG THỂ VIẾT BÀI.

ĐỂ ĐI ĐẾN DIỄN ĐÀN MỚI XIN VUI LÒNG CLICK VÀO ĐÂY HTTP://HOANGSA.ORG/F

User Tag List

Trang 2 trong 6 Đầu tiênĐầu tiên 1234 ... Cuối cùngCuối cùng
Kết quả từ 11 tới 20 trên 56
  1. #11
    Ngày gia nhập
    Mar 2010
    Nơi cư ngụ
    Phượng Hoàng, Trung Đô, Vinh, Nghệ An
    Bài gửi
    7.457
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    11
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)

    ĐẠi nam thỰc lỤc tẬp mỘt

    Híc không thể tải file đính kèm được, mình thử chuyển 1 file rồi các bnj xem xét cái
    ... Mã số : 7X372T4


    VIỆN SỬ HỌC

    QUỐC SỬ QUÁN TRIỀU NGUYỄN
    Tổ Phiên dịch Viện Sử học phiên dịch
    ĐẠI NAM THỰC LỤC
    TẬP MỘT
    (Tái bản lần thứ nhất)
    Phiên dịch : Nguyễn Ngọc Tỉnh
    Hiệu đính : Đào Duy Anh
    LỜI GIỚI THIỆU


    (Lần tái bản thứ nhất)
    Đại Nam thực lục là bộ chính sử lớn nhất, quan trọng nhất của nhà Nguyễn, do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn trong 88 năm mới hoàn thành, tính từ khi bắt đầu làm (1821 - Minh Mệnh năm thứ hai) đến khi hoàn thành và khắc in xong những quyển cuối cùng (1909 - Duy Tân năm thứ ba).
    Đại Nam thực lục được viết theo thể biên niên, chia thành 2 phần Tiền biênChính biên:
    - Đại Nam thực lục tiền biên (còn gọi là Liệt thánh thực lục tiền biên) ghi chép về sự nghiệp của 9 chúa Nguyễn, bắt đầu từ Nguyễn Hoàng (Thái tổ Gia Dụ hoàng đế) vào trấn thủ Thuận Hóa (1558) đến hết đời Nguyễn Phúc Thuần (Duệ tông Hiếu định hoàng đế), tức là đến năm Nguyễn Phúc Thuần mất (1777). Đại Nam thực lục tiền biên được khởi soạn năm 1821 (năm thứ hai niên hiệu Minh Mệnh), làm xong và hoàn thành việc khắc in năm 1844 (năm thứ tư niên hiệu Thiệu Trị). Tổng tài của sách Đại Nam thực lục tiền biên là Trương Đăng Quế, Vũ Xuân Cẩn.
    - Đại Nam thực lục chính biên ghi chép về lịch sử triều Nguyễn, từ Gia Long đến Đồng Khánh, chia làm nhiều kỷ, mỗi kỷ là một đời vua :
    1. Kỷ thứ nhất - Đời Gia Long (Nguyễn Phúc Ánh) từ 1778 đến 1819. Biên soạn trong 27 năm (từ 1821 đến 1847). Tổng tài Trương Đăng Quế, Vũ Xuân Cẩn.
    2. Kỷ thứ hai - Đời Minh Mệnh (Nguyễn Phúc Đảm) từ 1820 đến 1840. Biên soạn trong 20 năm (từ 1841 đến 1861). Tổng tài lần lượt có Trương Đăng Quế rồi Phan Thanh Giản.
    3. Kỷ thứ ba - Đời Thiệu Trị (Nguyễn Miên Tông) từ 1841 đến 1847. Sách khắc in xong năm 1879. Tổng tài Trương Đăng Quế, Trần Tiễn Thành, Phan Thanh Giản.
    4. Kỷ thứ tư - Đời Tự Đức (Nguyễn Hồng Nhiệm) từ 1847 đến 1883. Sách khắc in xong năm 1899. Tổng tài Nguyễn Hữu Độ, Phan Đình Bình, Nguyễn Trọng Hợp.
    5. Kỷ thứ năm - Năm cuối đời Tự Đức và đời Kiến Phúc (Nguyễn Ưng Đăng) từ 1883 đến 1885. Sách khắc in xong năm 1902. Tổng tài Trương Quang Đản.
    6. Kỷ thứ sáu - Đời Hàm Nghi (Nguyễn Ưng Lịch) và Đồng Khánh (Nguyễn Ưng Xụy) từ 1885 đến 1888. Sách khắc in xong năm 1909. Tổng tài Cao Xuân Dục.
    Như vậy, Đại Nam thực lục Tiền biênChính biên của Quốc sử quán triều Nguyễnlà bộ sử ghi chép thực về toàn bộ lịch sử Việt Nam ở thế kỷ XIX dưới sự trị vì của vương triều Nguyễn cũng như hơn 200 năm lịch sử Đàng Trong của các chúa Nguyễn.
    Vào năm 1962, Viện Sử học bắt đầu cho công bố bản dịch bộ Đại Nam thực lục, tập I, phần Tiền biên, do Nhà xuất bản Sử học xuất bản và đến năm 1978 thì in tập XXXVIII, hoàn thành công việc xuất bản trọn bộ Đại Nam thực lục với sự hợp tác của Nhà xuất bản Khoa học xã hội. Viện Sử học phải mất 16 năm mới thực hiện xong kế hoạch xuất bản Đại Nam thực lục, một công trình dịch thuật đồ sộ của Tổ phiên dịch Viện Sử học mà các vị thành viên trong Tổ nay đều đã qua đời, cũng như Tổ phiên dịch và Nhà xuất bản Sử học của Viện Sử học đều không còn nữa! Bản dịch 38 tập Đại Nam thực lục đã được đông đảo độc giả hoan nghênh và đánh giá cao, nhất là giới nghiên cứu trong và ngoài nước. Trong thời gian qua, Viện Sử học đã nhận được nhiều thư của độc giả nói chung và của các nhà khoa học nói riêng, yêu cầu cho tái bản Đại Nam thực lục. Để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội trong việc tìm hiểu, nghiên cứu, giảng dạy, học tập về lịch sử dân tộc, Viện Sử học và Nhà xuất bản Giáo dục hợp tác cho tái bản bộ Đại Nam thực lục, là bộ sách đang nằm trong tay bạn đọc.


    Trong lần tái bản này, về nội dung, chúng tôi cho in lại nguyên văn bản dịch trước. Phần Sách dẫn cũng giữ đúng như cũ. Nhưng về số tập thì có điều chỉnh lại.
    Ở lần xuất bản thứ nhất, bản dịch Đại Nam thực lục được chia thành 38 tập (khổ 13 ´ 19), trong đó Tiền biên 1 tập, Chính biên 37 tập. Nay để độc giả tiện sử dụng, chúng tôi dồn lại còn 10 tập (khổ 16 ´ 24). Cụ thể phân chia như sau :
    - Tập một: Tiền biên và Chính biên, Kỷ thứ nhất (từ 1558 đến 1819) -
    Nguyễn Ngọc Tỉnh dịch. Đào Duy Anh hiệu đính.

    - Tập hai: Kỷ thứ hai (từ 1820 đến 1829) - Ngô Hữu Tạo, Nguyễn Mạnh Duân,
    Phạm Huy Giu, Nguyễn Danh Chiên, Nguyễn Thế Đạt, Trương Văn
    Chinh, Đỗ Mộng Khương dịch. Đào Duy Anh hiệu đính.

    - Tập ba: Kỷ thứ hai (từ 1830 đến 1833) - Đỗ Mộng Khương, Trần Huy Hân,
    Trương Văn Chinh, Nguyễn Mạnh Duân, Ngô Hữu Tạo,
    Nguyễn
    Thế Đạt, Thẩm Văn Điền, Nguyễn Trọng Hân, Phạm Huy Giu dịch.
    Đào Duy Anh, Hoa Bằng hiệu đính.
    - Tập bốn: Kỷ thứ hai (từ 1834 đến 1836) - Nguyễn Thế Đạt, Trương Văn
    Chinh, Nguyễn Doanh Chiên, Ngô Hữu Tạo, Nguyễn Mạnh Duân,
    Đỗ Mộng Khương dịch. Hoa Bằng hiệu đính.

    - Tập năm: Kỷ thứ hai (từ 1837 đến 1840) - Đỗ Mộng Khương, Phạm Huy
    Giu, Nguyễn Ngọc Tỉnh, Nguyễn Mạnh Duân, Nguyễn Danh Chiên,
    Trương Văn Chinh dịch. Nguyễn Trọng Hân, Cao Huy Giu hiệu đính.
    - Tập sáu: Kỷ thứ ba (từ 1841 đến 1847) - Cao Huy Giu, Trịnh Đình Rư,
    Trần Huy Hân, Nguyễn Trọng Hân dịch. Hoa Bằng hiệu đính.

    - Tập bảy: Kỷ thứ tư (từ 1848 đến 1873) - Nguyễn Ngọc Tỉnh, Ngô Hữu Tạo,
    Phạm Huy Giu, Nguyễn Thế Đạt, Đỗ Mộng Khương, Trương Văn
    Chinh, Cao Huy Giu dịch. Nguyễn Trọng Hân, Cao Huy Giu hiệu đính.
    - Tập tám: Kỷ thứ tư (từ 1877 đến 1883) - Ngô Hữu Tạo, Nguyễn Mạnh Duân,
    Trần Huy Hân, Nguyễn Trọng Hân, Đỗ Mộng Khương dịch. Cao Huy
    Giu, Nguyễn Trọng Hân hiệu đính.

    - Tập chín: Kỷ thứ năm (từ 1883 đến 1885) - Nguyễn Ngọc Tỉnh dịch. Nguyễn
    Mạnh Duân hiệu đính.

    - Tập mười: Kỷ thứ sáu (từ 1885 đến 1888) - Phạm Huy Giu, Trương Văn Chinh
    dịch. Nguyễn Trọng Hân hiệu đính.

    Chúng tôi rất mong nhận được những ý kiến chỉ bảo thêm của quý độc giả để rút kinh nghiệm cho lần sau tái bản Đại Nam thực lục được tốt hơn nữa.
    Hà Nội, tháng 4 năm 2001
    VIỆN TRƯỞNG VIỆN SỬ HỌC
    PGS. TS. Trần Đức Cường

    [IMG]file:///C:/DOCUME%7E1/Admin/LOCALS%7E1/Temp/msohtml1/01/clip_image002.gif[/IMG]
    Đừng Hỏi Tổ Quốc Đã Làm gì cho ta , mà hãy hỏi ta đã làm gì cho Tổ Quốc Hôm nay

    Nghe theo tiếng gọi của núi sông
    Cà sa gửi lại chốn thư phòng
    Xông ra trận tuyến trừ hung bạo
    Thực hiện từ bi lực phải hùng

    Thích Pháp Lữ (1947)

  2. #12
    Ngày gia nhập
    Dec 2007
    Nơi cư ngụ
    Thanh Chờ Ì - Hà Lờ Ội
    Bài gửi
    1.697
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    9
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)
    Em đang định tham gia soát lỗi thì thấy mỗi quyển có tới cả hơn 1000 trang thế này thì cần đông người tham gia lắm.
    Nếu các bác không chê thì em xin soát lỗi 1/2 hoặc 1/3 của 1 tập nào đó. Hì.

  3. #13
    Ngày gia nhập
    Mar 2010
    Nơi cư ngụ
    Phượng Hoàng, Trung Đô, Vinh, Nghệ An
    Bài gửi
    7.457
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    11
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)
    TIỀN BIÊN
    híc phái xoá hêt rùi
    Sửa bởi scorpion_king84 : 20-06-2010 lúc 11:16 PM Lý do: xoá nội dung bài viết
    Đừng Hỏi Tổ Quốc Đã Làm gì cho ta , mà hãy hỏi ta đã làm gì cho Tổ Quốc Hôm nay

    Nghe theo tiếng gọi của núi sông
    Cà sa gửi lại chốn thư phòng
    Xông ra trận tuyến trừ hung bạo
    Thực hiện từ bi lực phải hùng

    Thích Pháp Lữ (1947)

  4. #14
    Ngày gia nhập
    Mar 2010
    Nơi cư ngụ
    Phượng Hoàng, Trung Đô, Vinh, Nghệ An
    Bài gửi
    7.457
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    11
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)
    ỔNG MỤC
    Quyển I
    THÁI TỔ GIA DỤ HOÀNG ĐẾ
    [NGUYỄN HOÀNG]
    (ở ngôi 56 năm)
    Mậu ngọ, năm thứ 1 [1558] (Lê - Đối với nhà Lê niên hiệu là Chính Trị năm 1, đối với nhà Minh, niên hiệu là Gia Tĩnh năm 39) - Kỷ mùi - Canh thân - Tân dậu - Nhâm tuất - Quý hợi - Giáp tý - Ất sửu - Bính dần - Đinh mão (Minh - Long Khánh năm 1) [1567] - Mậu thìn - Kỷ tỵ - Canh ngọ - Tân mùi - Nhâm thân (Nhà Lê đổi niên hiệu là Hồng Phúc) [1572] - Quý dậu (Lê - Gia Thái năm thứ 1, Minh - Vạn Lịch năm 1) [1573] - Giáp tuất - Ất hợi - Bính tý - Đinh sửu - Mậu dần (Nhà Lê đổi niên hiệu là Quang Hưng) [1578] - Kỷ Mão - Canh thìn - Tân tỵ - Nhâm ngọ - Quý mùi - Giáp thân - Ất dậu - Bính tuất - Đinh hợi - Mậu tý - Kỷ sửu - Canh dần - Tân mão - Nhâm thìn - Quý tỵ - Giáp ngọ - Ất mùi - Bính thân - Đinh dậu - Mậu tuất - Kỷ hợi - Canh tý (Lê - Thận Đức năm 1, tháng 10 mùa đông đổi niên hiệu là Hoằng Định) [1600] - Tân sửu - Nhâm dần - Quý mão - Giáp thìn - Ất tỵ - Bính ngọ - Đinh mùi - Mậu thân - Kỷ dậu - Canh tuất - Tân hợi - Nhâm tý - Quý sửu.
    Quyển II
    HY TÔNG HIẾU VĂN HOÀNG ĐẾ
    [PHÚC NGUYÊN]
    (ở ngôi 22 năm)
    Giáp dần, năm thứ 1 [1614] - Ất mão - Bính thìn - Đinh tỵ - Mậu ngọ - Kỷ mùi ( Lê - Vĩnh Tộ năm 1) [1619] - Canh thân (Minh - Thái Xương năm 1) [1620] - Tân dậu (Minh - Thiên Khải năm 1) [1621] - Nhâm tuất - Quý hợi - Giáp tý - Ất sửu - Bính dần - Đinh mão - Mậu thìn
    (Minh - Sùng Trinh năm thứ 1) [1628] - Kỷ tỵ (nhà Lê đổi niên hiệu là Đức Long) [1629] - Canh ngọ - Tân mùi - Nhâm thân - Quý dậu - Giáp tuất - Ất hợi (Nhà Lê đổi niên hiệu là Dương Hòa) [1635].

    Quyển III
    THẦN TÔNG HIẾU CHIÊU HOÀNG ĐẾ
    [PHÚC LAN]
    (ở ngôi 13 năm)
    Bính tý, năm thứ 1 [1636] - Đinh sửu - Mậu dần - Kỷ mão - Canh thìn - Tân tỵ - Nhâm ngọ - Quý mùi (Lê - Phúc Thái năm 1) [1643] - Giáp thân (Thanh - Thuận Trị năm 1) [1644] - Ất dậu - Bính tuất - Đinh hợi - Mậu tý.
    Quyển IV
    THÁI TÔNG HIẾU TRIẾT HOÀNG ĐẾ
    [PHÚC TẦN]
    (ở ngôi 39 năm)
    Kỷ sửu, năm thứ 1 [1649] (Nhà Lê niên hiệu là Khánh Đức) - Canh dần - Tân mão - Nhâm thìn - Quý tỵ (Nhà Lê đổi niên hiệu là Thịnh Đức) [1653] - Giáp ngọ - Ất mùi - Bính thân - Đinh dậu - Mậu tuất (Nhà Lê đổi niên hiệu là Vĩnh Thọ) [1658] - Kỷ hợi - Canh tý - Tân sửu - Nhâm dần (Nhà Lê đổi niên hiệu là Vạn Khánh, Thanh - Khang Hy năm 1) [1662]
    Quyển V
    THÁI TÔNG HIẾU TRIẾT HOÀNG ĐẾ
    Quý mão (Lê - Cảnh Trị năm 1) [1663] - Giáp thìn - Ất tỵ - Bính ngọ - Đinh mùi - Mậu thân - Kỷ dậu - Canh tuất - Tân hợi - Nhâm tý
    (Lê - Dương Đức năm 1) [1672] - Quý sửu - Giáp dần (Nhà Lê đổi niên hiệu là Đức Nguyên) [1674] - Ất mão - Bính thìn (Lê - Vĩnh Trị năm 1) [1676] - Đinh tỵ - Mậu ngọ - Kỷ mùi - Canh thân (Nhà Lê đổi niên hiệu
    là Chính Hòa) [1680] - Tân dậu - Nhâm tuất - Quý hợi - Giáp tý - Ất sửu - Bính dần - Đinh mão.
    Quyển VI
    ANH TÔNG HIẾU NGHĨA HOÀNG ĐẾ
    (PHÚC TRĂN)
    (ở ngôi 4 năm)
    Mậu thìn, năm thứ 1 [1688] - Kỷ tỵ - Canh ngọ - Tân mùi.
    Quyển VII
    HIỂN TÔNG HIẾU MINH HOÀNG ĐẾ
    [PHÚC CHU]
    (ở ngôi 34 năm)
    Nhâm thân, năm thứ 1 [1692] - Quý dậu - Giáp tuất - Ất hợi - Bính tý - Đinh sửu - Mậu dần - Kỷ mão - Canh thìn - Tân tỵ - Nhâm ngọ - Quý mùi - Giáp thân - Ất dậu (Lê - Vĩnh Thịnh năm 1) [1705] - Bính tuất.
    Quyển VIII
    HIỂN TÔNG HIẾU MINH HOÀNG ĐẾ
    Đinh hợi [1707] - Mậu tý - Kỷ sửu - Canh dần - Tân mão - Nhâm thìn - Quý tỵ - Giáp ngọ - Ất mùi - Bính thân - Đinh dậu - Mậu tuất - Kỷ hợi - Canh tý (Nhà Lê đổi niên hiệu là Bảo Thái) [1720] - Tân sửu - Nhâm dần - Quý mão (Thanh - Ung Chính năm 1) [1723] - Giáp thìn - Ất tỵ.
    Quyển IX
    TÚC TÔNG HIẾU NINH HOÀNG ĐẾ
    [PHÚC CHÚ]
    (ở ngôi 13 năm)
    Bính ngọ, năm thứ 1 [1726] - Đinh mùi - Mậu thân - Kỷ dậu (Lê - Vĩnh Khánh năm 1) [1729] - Canh tuất - Tân hợi - Nhâm tý (Lê -Long Đức năm 1) [1732] - Quý sửu - Giáp dần - Ất mão (Lê - Vĩnh Hựu năm 1) [1735] - Bính thìn (Thanh - Càn Long năm 1) [1736] - Đinh tỵ -
    Mậu ngọ.

    Quyển X
    THẾ TÔNG HIẾU VŨ HOÀNG ĐẾ
    [PHÚC KHOÁT]
    (ở ngôi 27 năm)
    Kỷ mùi, năm thứ 1 [1739] - Canh thân (Lê - Cảnh Hưng năm 1) [1740] - Tân dậu - Nhâm tuất - Quý hợi - Giáp tý - Ất sửu - Bính dần - Đinh mão - Mậu thìn - Kỷ tỵ - Canh ngọ - Tân mùi - Nhâm thân - Quý dậu - Giáp tuất - Ất hợi - Bính tý - Đinh sửu - Mậu dần - Kỷ mão - Canh thìn - Tân tỵ - Nhâm ngọ - Quý mùi - Giáp thân - Ất dậu.
    Quyển XI
    DUỆ TÔNG HIẾU ĐỊNH HOÀNG ĐẾ
    [PHÚC THUẦN]
    (ở ngôi 12 năm)
    Bính tuất, năm thứ 1 [1766] - Đinh hợi - Mậu tý - Kỷ sửu - Canh dần - Tân mão - Nhâm thìn - Quý tỵ - Giáp ngọ.
    Quyển XII
    DUỆ TÔNG HIẾU ĐỊNH HOÀNG ĐẾ
    Ất mùi [1775] - Bính thân - Đinh dậu.










    21

    CHÍNH BIÊN
    ĐỆ NHẤT KỶ
    THỰC LỤC VỀ THẾ TỔ CAO HOÀNG ĐẾ
    Quyển I Mậu tuất năm thứ [1778] đến Nhâm dần năm thứ 3 [1782].
    Quyển II Quý mão năm thứ 4 [1783] đến Bính ngọ năm thứ 7 [1786].
    Quyển III Đinh mùi năm thứ 8 [1787] đến Mậu thân năm thứ 9 [1788].
    Quyển IV Tháng giêng mùa xuân năm Kỷ dậu thứ 10 [1789], đến tháng 6 mùa hạ năm Canh tuất thứ 11 [1790].
    Quyển V Tháng 7 mùa thu năm Canh tuất [1790] đến tháng 12 mùa đông năm Tân hợi thứ 12 [1791].
    Quyển VI Tháng giêng mùa xuân năm Nhâm tý thứ 13 [1792] đến tháng 12 mùa đông năm Quý sửu thứ 14 [1793].
    Quyển VII Tháng giêng mùa xuân năm Giáp dần thứ 15 [1794] đến tháng 6 mùa hạ năm Ất mão thứ 16 [1795].
    Quyển VIII Tháng 7, mùa thu năm Ất mão thứ 16 [1795] đến tháng 9 mùa thu năm Bính thìn thứ 17 [1796].
    Quyển IX Tháng 10 mùa đông năm Bính thìn thứ 17 [1796] đến tháng chạp (12) năm Đinh tỵ thứ 18 [1797].
    Quyển X Tháng giêng mùa xuân năm Mậu ngọ thứ 19 [1798] đến tháng 6 mùa hạ năm Kỷ mùi thứ 20 [1799].
    Quyển XI Tháng 7 mùa thu năm Kỷ mùi thứ 20 [1799] đến tháng 12 mùa đông.
    Quyển XII Tháng giêng mùa xuân năm Canh thân thứ 21 [1800] đến tháng 12 mùa đông.
    Quyển XIII Tháng giêng mùa xuân năm Tân dậu thứ 22 [1801] đến tháng 4 mùa hạ .
    Quyển XIV Tháng 5 mùa hạ năm Tân dậu thứ 22 [1801] đến tháng 7 mùa thu.
    Quyển XV Tháng 8 mùa thu năm Tân dậu thứ 22 đến tháng 12 mùa đông.
    Quyển XVI Tháng giêng mùa xuân năm Nhâm tuất thứ 23 [1802] đến tháng 4 mùa hạ.
    Quyển XVII Tháng năm mùa hạ năm Nhâm tuất Gia Long thứ 1 [1802] đến tháng 6 mùa hạ.
    Quyển XVIII Tháng 7 mùa thu năm Nhâm tuất Gia Long thứ 1 đến tháng 9.
    Quyển XIX Tháng 10 mùa đông năm Nhâm tuất Gia Long thứ 1 đến tháng 12.
    Quyển XX Tháng giêng mùa xuân năm Quý hợi Gia Long thứ 2 [1803] đến tháng 3.
    Quyển XXI Tháng 4 mùa hạ năm Quý hợi Gia Long thứ 2 đến tháng 6.
    Quyển XXII Tháng 7 mùa thu năm Quý hợi Gia Long thứ 2 đến tháng 12 mùa đông.
    Quyển XXIII Tháng giêng mùa xuân năm Giáp tý Gia Long thứ 3 [1804] đến tháng 3.
    Quyển XXIV Tháng 4 mùa hạ năm Giáp tý Gia Long thứ 3 đến tháng 6.
    Quyển XXV Tháng 7 mùa thu năm Giáp tý Gia Long thứ 3 đến tháng 12 mùa đông.
    Quyển XXVI Tháng giêng mùa xuân năm Ất sửu Gia Long thứ 4 [1805] đến tháng 6 mùa hạ .
    Quyển XXVII Tháng 7 mùa thu năm Ất sửu Gia Long thứ 4 [1805] đến tháng 12 mùa đông.
    Quyển XXVIII Tháng giêng mùa xuân năm Bính dần Gia Long thứ 5 [1806] đến tháng tư mùa hạ.
    Quyển XXIX Tháng 5 mùa hạ năm Bính dần Gia Long thứ 5 đến tháng 6.
    Đừng Hỏi Tổ Quốc Đã Làm gì cho ta , mà hãy hỏi ta đã làm gì cho Tổ Quốc Hôm nay

    Nghe theo tiếng gọi của núi sông
    Cà sa gửi lại chốn thư phòng
    Xông ra trận tuyến trừ hung bạo
    Thực hiện từ bi lực phải hùng

    Thích Pháp Lữ (1947)

  5. #15
    Ngày gia nhập
    Mar 2010
    Nơi cư ngụ
    Phượng Hoàng, Trung Đô, Vinh, Nghệ An
    Bài gửi
    7.457
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    11
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)
    Quyển XXX Tháng 7 mùa thu năm Bính dần Gia Long thứ 5 đến tháng 12 mùa đông.
    Quyển XXXI Tháng giêng mùa xuân năm Đinh mão Gia Long thứ 6 [1807] đến tháng 4.
    Quyển XXXII Tháng 4 mùa hạ năm Đinh mão Gia Long thứ 6 đến tháng 6.
    Quyển XXXIII Tháng 7 mùa thu năm Đinh mão Gia Long thứ 6 đến tháng 12 mùa đông.
    Quyển XXXIV Tháng giêng mùa xuân năm Mậu thìn Gia Long thứ 7 [1808] đến tháng 3.
    Quyển XXXV Tháng 4 mùa hạ năm Mậu thìn Gia Long thứ 7 đến tháng 6 nhuận.
    Quyển XXXVI Tháng 7 mùa thu năm Mậu thìn Gia Long thứ 7 đến tháng 12 mùa đông.
    Quyển XXXVII Tháng giêng mùa xuân năm Kỷ tỵ Gia Long thứ 8 [1809] đến tháng 3.
    Quyển XXXVIII Tháng 4 mùa hạ năm Kỷ tỵ Gia Long thứ 8 [1809] đến tháng 6.
    Quyển XXXIX Tháng 7 mùa thu năm Kỷ tỵ Gia Long thứ 8 đến tháng 12 mùa đông.
    Quyển XL Tháng giêng mùa xuân năm Canh ngọ Gia Long thứ 9 [1810] đến tháng 6 mùa hạ.
    Quyển XLI Tháng 7 mùa thu năm Canh ngọ Gia Long thứ 9 đến tháng 12 mùa đông.
    Quyển XLII Tháng giêng mùa xuân năm Tân mùi Gia Long thứ 10 [1811] đến tháng 6.
    Quyển XLIII Tháng 7 mùa thu năm Tân mùi Gia Long thứ 10 đến tháng 12 mùa đông.
    Quyển XLIV Tháng giêng mùa xuân năm Nhâm thân Gia Long thứ 11 [1812] đến tháng 6 mùa hạ.
    Quyển XLV Tháng 7 mùa thu năm Nhâm thân Gia Long thứ 11 đến tháng 12 mùa đông.
    Quyển XLVI Tháng giêng mùa xuân năm Quý dậu Gia Long thứ 12 [1813] đến tháng 6 mùa hạ.
    Quyển XLVII Tháng 7 mùa thu năm Quý dậu Gia Long thứ 12 đến tháng 12 mùa đông.
    Quyển XLVIII Tháng giêng mùa xuân năm Giáp tuất Gia Long thứ 13 [1814] đến tháng 6 mùa hạ.
    Quyển XLIX Tháng 7 mùa thu năm Giáp tuất Gia Long thứ 13 [1814] đến tháng 12 mùa đông.
    Quyển L Tháng giêng mùa xuân năm Ất hợi Gia Long thứ 14 [1815] đến tháng 6 mùa hạ.
    Quyển LI Tháng 7 mùa thu năm Ất hợi Gia Long thứ 14 đến tháng 12 mùa đông.
    Quyển LII Tháng giêng mùa xuân năm Bính tý Gia Long thứ 15 [1816] đến tháng 3.
    Quyển LIII Tháng 4 mùa hạ năm Bính tý Gia Long thứ 15 đến tháng 6 nhuận.
    Quyển LIV Tháng 7 mùa thu năm Bính tý Gia Long thứ 15 đến tháng 12 mùa đông.
    Quyển LV Tháng giêng mùa xuân năm Đinh sửu Gia Long thứ 16 [1817] đến tháng 6 mùa hạ.
    Quyển LVI Tháng 7 mùa thu năm Đinh sửu Gia Long thứ 16 đến tháng 12 mùa đông.
    Quyển LVII Tháng giêng mùa xuân năm Mậu dần Gia Long thứ 17 [1818] đến tháng 6 mùa hạ.
    Quyển LVIII Tháng 7 mùa thu năm Mậu dần Gia Long thứ 17 đến tháng 12 mùa đông.
    Quyển LIX Tháng giêng mùa xuân năm Kỷ mão Gia Long thứ 18 [1819] đến tháng 6 mùa hạ.
    Quyển LX Tháng 7 mùa thu năm Kỷ mão Gia Long thứ 18 [1819] đến tháng 12 mùa đông.









    25





    TIỀN BIÊN
    QUYỂN I
    TIỀN BIÊN - QUYỂN I
    THỰC LỤC VỀ THÁI TỔ GIA DỤ HOÀNG ĐẾ
    Thái tổ Triệu Cơ Thùy thống Khâm Minh Cung Ý Cẩn Nghĩa Đạt Lý Hiển Ung Chiêu Hựu Diệu Linh Gia dụ hoàng đế, họ Nguyễn, húy Hoàng, người Gia Miêu ngoại trang, huyện Tống Sơn, phủ Hà Trung, xứ Thanh Hoa.
    Sinh ngày Bính dần, tháng 8, mùa thu, năm Ất dậu [1525] (Lê - Thống Nguyên năm thứ 4, Minh - Gia Tĩnh năm thứ 4), là con trai thứ hai của Triệu tổ Tĩnh hoàng đế ; mẹ là Tĩnh hoàng hậu Nguyễn thị (con gái
    Nguyễn Minh Biện, Đặc tiến phụ quốc thượng tướng quân thự vệ sự ở triều Lê).
    Tổ tiên trước là một họ có danh vọng ở Thanh Hoa.
    Ông nội là Trừng quốc công, húy là [Dụ](1), lên 8 tuổi đã biết làm văn, 15 tuổi thông thuộc võ nghệ. Triều Hiến tông nhà Lê, làm kinh lược sứ
    Đà Giang, đến khi Uy Mục đế vô đạo, về Tây Kinh giúp Lê Oanh khởi binh ở Thanh Hoa, mưu việc giữ yên xã tắc. Khi Oanh lên làm vua (tức Tương Dực đế), được phong làm thái phó Trừng quốc công.

    Cha là Triệu Tổ Tĩnh hoàng đế, húy [Kim], con trưởng Trừng quốc công, đầu làm quan triều Lê, chức Hữu vệ điện tiền tướng quân, [tước]
    An Thanh hầu. Năm Đinh hợi [1527], Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê, nhà Lê mất. Triệu Tổ giận họ Mạc tiếm nghịch, chí muốn khôi phục nhà Lê, nên dẫn con em tránh sang Ai Lao. Vua nước ấy là Sạ Đẩu cho ở
    Sầm Châu. Bấy giờ thu nạp hào kiệt, quân chúng có hàng mấy nghìn người, voi có ba chục thớt, bàn mưu tìm con cháu nhà Lê để lập làm vua.
    Năm Canh dần [1530], ông đem quân ra Thanh Hoa. Mạc Đăng Doanh (con trưởng Mạc Đăng Dung) sai tướng là Ngọc Trục (không rõ họ) chống cự, đánh nhau ở huyện Lôi Dương (nay là Thọ Xuân Thanh Hóa), Ngọc Trục thua chạy. Năm Tân mão [1531], ông đánh phá được tướng Mạc là Nguyễn Kính ở huyện Đông Sơn (Thanh Hóa), chém hơn một nghìn đầu. Khi tiến đến đò Điềm Thủy huyện Gia Viễn (tỉnh Ninh Bình), lại đánh luôn mấy trận với tướng Mạc là Lê Bá Ly được to. Gặp trời mưa dầm, nước lụt lai láng, quân Mạc cho nhiều chiến thuyền tiếp nhau tiến đến, ông bèn rút quân về sách Sầm Hạ ở Ai Lao. Năm Quý tỵ [1533] ông đón con trai nhỏ của Lê Chiêu Tông là Ninh lập làm vua, lấy niên hiệu là Nguyên Hòa, tức là Trang Tông. (Khi nhà Lê mới mất, Trang Tông còn thơ ấu, bầy tôi là bọn Trịnh Duy Tuấn và Lê Lan rước tránh sang Ai Lao, ở trà trộn với nhân dân, không ai biết. Đến bấy giờ, Triệu Tổ tìm khắp nơi mới được, bèn lập làm vua). Do công ấy, được phong Thượng phụ thái sư Hưng quốc công chưởng nội ngoại sự. Bấy giờ có người xã Sóc Sơn, huyện Vĩnh Phúc (huyện Vĩnh Lộc bây giờ) tên là Trịnh Kiểm đến yết kiến (Kiểm sau làm tổ họ Trịnh). Triệu Tổ thấy Kiểm có vẻ lạ, mới gả con gái lớn là Ngọc Bảo cho, sai coi mã quân và xin phong cho làm tướng quân. Năm Canh tý [1540], ông đem quân đóng giữ Nghệ An, hào kiệt theo rất nhiều. Năm Nhâm dần [1542] đi tuần hành trong đất Thanh Hoa, tiếng quân lừng lẫy, xa gần đều phục. Năm Quý mão [1543] rước vua Lê tiến binh ra Tây Đô (tức là Thanh Hoa) để đánh Mạc Chính Trung (con thứ hai Mạc Đăng Dung, có tên nữa là
    Đăng Xương), được tấn phong Thái tể đô tướng tiết chế các dinh thủy bộ, chia đường đều tiến, đánh đâu được đấy.

    Ngày Tân tỵ, tháng 5, mùa hạ, năm Ất tỵ [1545] ông bị hàng tướng Mạc [tên Trung] đầu độc. Triệu Tổ băng, thọ 78 tuổi. (Trước là nhà Mạc thấy quân nhà vua hoạt động mạnh, rất lo, ngầm sai hoạn quan là Trung (không rõ họ) trá hàng, để đầu độc vua Lê; việc không thành, nó liền ngầm cho thuốc độc vào quả dưa hấu rồi đón dâng Triệu Tổ). Vua Lê thương tiếc mãi, tặng tước Chiêu huân tĩnh công, dùng lễ hậu đem táng ở núi
    Thiên Tôn (thuộc huyện Tống Sơn). Tương truyền huyệt đào trúng hàm rồng, khi đặt quan tài xuống thì cửa huyệt ngậm lại, bỗng trời đổ mưa, gió sấm sét, mọi người sợ chạy. Đến lúc tạnh trở lại tìm thì đá núi liên tiếp, cỏ cây xanh tốt, không nhận được là táng nơi nào nữa. Đến nay có việc [cúng tế] thì chỉ trông núi tế vọng thôi. Năm Minh Mệnh thứ 2, phong núi ấy là núi Triệu Tường). Thời quốc sơ chúa
    (1) tôn thụy hiệu(2) là Huệ Triết Hiển Hựu Hoành Hưu Tế Thế Vĩ Tích Chiêu Huân Tĩnh vương. Thế Tôn Hiếu Vũ Hoàng Đế(1) lại truy tôn [Nguyễn Kim] làm Di Mưu Thùy Dụ Khâm Cung Huệ Triết Hiển Hựu Hoành Hưu Tế Thế Vĩ Tích Chiêu Huân Tĩnh vương, và truy tôn phi là Từ Tín Chiêu Ý Đức phi. Gia Long năm thứ 5 lại truy tôn là Di Mưu Thùy Dụ Khâm Cung Huệ Triết Hiển Hựu Hoành Hưu Tế Thế Khải Vận Nhân Thánh Tĩnh hoàng đế, miếu hiệu(2) là Triệu Tổ, lăng gọi là Trường Nguyên, và truy tôn phi là Từ Tín Chiêu Ý Hoằng Nhân Thục Đức Tĩnh hoàng hậu. (Tương truyền phi hợp táng với Triệu Tổ). Chúa(3) tướng vai lân, lưng hổ, mắt phượng, trán rồng, thần thái khôi ngô, thông minh tài trí, người thức giả đều biết là bực phi thường.
    Khi Triệu Tổ tránh họ Mạc, chạy sang Ai Lao thì chúa mới lên 2 tuổi, gửi nuôi ở nhà thái phó Nguyễn Ư Dĩ (tên tự là Vô Sự, bấy giờ gọi là Uy quốc công, anh ruột của Tĩnh hoàng hậu), Ư Dĩ hết lòng bảo hộ, khi đã lớn, thường đem chuyện xây dựng công nghiệp để khuyến khích. Đầu làm quan ở triều Lê, được phong là Hạ Khê hầu. Đem quân đánh Mạc Phúc Hải (con trưởng Mạc Đăng Doanh), chém được tướng là Trịnh Chí ở huyện Ngọc Sơn, khi khải hoàn vua yên ủy khen rằng : “thực là cha hổ sinh con hổ”.
    Đến khoảng năm Thuận Bình đời Lê Trung Tông, do quân công được tiến phong Đoan quận công. Bấy giờ Hữu tướng triều Lê là Trịnh Kiểm (bấy giờ xưng là Lượng quốc công) cầm giữ binh quyền, chuyên chế mọi việc. Tả tướng là Lãng quận công Uông (con trưởng Triệu Tổ) bị Kiểm hãm hại. Kiểm lại thấy chúa công danh ngày càng cao nên rất ghét. Chúa thấy thế, trong lòng áy náy không yên, cùng bàn mưu với Nguyễn Ư Dĩ rồi cáo bệnh, cốt giữ mình kín đáo để họ Trịnh hết ngờ.
    Chúa nghe tiếng Nguyễn Bỉnh Khiêm (người làng Trung Am, xứ Hải Dương, đỗ Trạng nguyên triều Mạc, làm đến chức Thái bảo về trí sĩ) giỏi nghề thuật số, nên ngầm sai người tới hỏi. Bỉnh Khiêm nhìn núi non bộ trước sân ngâm lớn rằng : “Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân” [nghĩa là : Một dải núi ngang có thể dung thân muôn đời được]. Sứ giả đem câu ấy về thuật lại. Chúa hiểu ý. Bấy giờ xứ Thuận Hóa mới dẹp yên, tuy nhà Lê đã đặt tam ty (Đô ty, Thừa ty, Hiến ty) và phủ huyện để cai trị, nhưng nhân dân vẫn chưa một lòng. Kiểm đương lấy làm lo. Chúa mới nhờ chị là Ngọc Bảo nói với Kiểm để xin vào trấn đất Thuận Hóa. Kiểm thấy đất ấy hiểm nghèo xa xôi cho ngay. Anh Tông lên ngôi, Kiểm dâng biểu nói :
    “Thuận Hóa là nơi quan trọng, quân và của do đấy mà ra, buổi quốc sơ nhờ đấy mà nên nghiệp lớn. Nay lòng dân hãy còn tráo trở, nhiều kẻ vượt biển đi theo họ Mạc, sợ có kẻ dẫn giặc về cướp, ví không được tướng tài trấn thủ vỗ yên thì không thể xong. Đoan quận công là con nhà tướng, có tài trí mưu lược, có thể sai đi trấn ở đấy, để cùng với tướng trấn thủ Quảng Nam cùng nhau giúp sức thì mới đỡ lo đến miền Nam”. Vua Lê nghe theo và trao cho chúa trấn tiết
    (1), phàm mọi việc đều ủy thác cả, chỉ mỗi năm nộp thuế mà thôi.
    Mậu ngọ, năm thứ 1 [1558] (Lê - Chính Trị năm 1, Minh - Gia Tĩnh năm 37), mùa đông, tháng 10, chúa bắt đầu vào trấn Thuận Hóa, 34 tuổi. Những người bộ khúc đồng hương ở Tống Sơn và những người nghĩa dũng xứ Thanh Hoa đều vui lòng theo đi. Dựng dinh ở xã Ái Tử (thuộc huyện
    Vũ Xương, tức nay là Đăng Xương)
    (2). Phàm quan lại tam ty do nhà Lê đặt đều theo lệnh của chúa.
    Chúa vỗ về quân dân, thu dùng hào kiệt, sưu thuế nhẹ nhàng, được dân mến phục, bấy giờ thường xưng là chúa Tiên. Nghiệp đế dựng lên, thực là xây nền từ đấy.
    Kỷ mùi, năm thứ 2 [1559], mùa thu tháng 8, Thanh Hoa và Nghệ An bị lụt, dân lưu tán nhiều vào miền Nam.
    Bấy giờ mọi việc bắt đầu. Chúa khuya sớm chăm lo, nghĩ việc củng cố căn bản. Nguyễn Ư Dĩ cùng bọn Tống Phước Trị (bấy giờ gọi là Luân quận công), Mạc Cảnh Huống cùng lòng hợp sức, quy hoạch nhiều phương, chúa đều thành thực tin dùng.
    Canh thân, năm thứ 3 [1560], mùa đông, đặt đồn cửa biển giữ miền duyên hải (bấy giờ quân Mạc thường theo đường biển vào cướp Thanh Nghệ nên phải đề phòng).
    Tân dậu, năm thứ 4 [1561]
    Nhâm tuất, năm thứ 5 [1562]
    Quý hợi, năm thứ 6 [1563], mùa thu, tháng 7, ngày Giáp thìn, sinh hoàng tử thứ sáu (tức Hy tông Hiếu Văn hoàng đế ).
    Giáp tý, năm thứ 7 [1564]
    Ất sửu, năm thứ 8 [1565]
    Bính dần, năm thứ 9 [1566]
    Đinh mão, năm thứ 10 [1567] (Lê - Chính Trị năm 10, Minh - Long Khánh năm 1)
    Mậu thìn, năm thứ 11 [1568], mùa xuân, tháng 3, Tổng trấn Quảng Nam là Bùi Tá Hán (bấy giờ xưng là Trấn quận công) chết. Vua Lê lấy Nguyễn Bá Quýnh (bấy giờ xưng là Nguyên quận công) làm Tổng binh, thay giữ đất ấy.
    Kỷ tỵ, năm thứ 12 [1569], mùa thu, tháng 9, chúa đi Thanh Hoa, yết kiến vua Lê ở hành cung Khoa Trường.
    Canh ngọ, năm thứ 13 [1570] mùa xuân, tháng giêng, chúa từ Tây Đô về, dời dinh sang xã Trà Bát (thuộc huyện Đăng Xương).
    Vua Lê triệu tổng binh Quảng Nam là Nguyễn Bá Quỳnh về trấn thủ Nghệ An. Chúa bèn kiêm lãnh hai xứ Thuận Hóa, Quảng Nam.
    Thuận Hóa có 2 phủ, 9 huyện, 3 châu. Phủ Tiên Bình (xưa là Tân Bình), lĩnh 3 huyện : Khang Lộc, Lệ Thủy, Minh Linh, 1 châu : Bố Chánh; phủ Triệu Phong, lĩnh 6 huyện : Vũ Xương, Hải Lăng, Quảng Điền (xưa là Đan Điền), Hương Trà (xưa là Kim Trà), Phú Vang (xưa là Tư Vang), Điện Bàn, 2 châu : Thuận Bình, Sa Bồn. Quảng Nam có 3 phủ, 9 huyện. Phủ Thăng Hoa, lĩnh 3 huyện : Lê Giang, Hà Đông, Hy Giang; phủ Tư Nghĩa lĩnh 3 huyện : Bình Sơn, Mộ Hoa, Nghĩa Giang; phủ Hoài Nhân, lĩnh 3 huyện : Bồng Sơn, Phù Ly, Tuy Viễn. Đeo ấn tổng trấn tướng quân, đặt quân hiệu là dinh Hùng Nghĩa.
    Bấy giờ Mạc Mậu Hợp sai tướng là bọn Kính Điển đem quân xâm lấn Thanh Nghệ. Tướng trấn thủ Nghệ An Nguyễn Bá Quýnh nghe tin trốn chạy, thế giặc hung tợn, lòng dân xao xuyến. Chúa vốn có uy danh, nhiều mưu lược, kỷ luật rõ ràng, phòng giữ nghiêm ngặt, do đó quân giặc không dám phạm vào bờ cõi, nên riêng hai xứ Thuận Quảng được yên ổn.
    Tháng 2, Trịnh Kiểm nhà Lê chết. Con thứ là Tùng (con của Ngọc Bảo) được nối. Chúa sai sứ đến viếng.
    Tân mùi, năm thứ 14 [1571], mùa thu, tháng 7, người huyện Khang Lộc (tức Phong Lộc bây giờ)(1) tên là Mỹ Lương, Văn Lan và Nghĩa Sơn (đều không rõ họ) nổi loạn, đánh dẹp yên. Trước là Mỹ Lương cùng em là Văn Lang và Nghĩa Sơn đều tiến thóc được làm quan, chuyên việc thu tô thuế có công. Nhà Lê phong Mỹ Lương làm tham đốc, Văn Lan, Nghĩa Sơn làm thự vệ. Trịnh Kiểm nhân mật sai họ đánh úp dinh Vũ Xương, hẹn nếu thành công sẽ trọng thưởng. Tới đấy, Mỹ Lương sai Văn Lang và Nghĩa Sơn đem quân phục ở huyện Minh Linh(1) rồi tự mình dẫn quân lẻn theo đường núi đến chỗ Cầu Ngói ở Hải Lăng mai phục, định ngày giáp đánh. (có thuyết nói khi binh thuyền Mạc cướp Nghệ An thì Thuận Hóa xao xuyến, bọn
    Mỹ Lương mưu đánh úp Vũ Xương để hàng Mạc). Chúa biết được mưu ấy, liền sai phó tướng Trương Trà (bấy giờ xưng là Trà quận công) đánh Nghĩa Sơn, và tự đem quân ngầm đến Cầu Ngói đánh úp Mỹ Lương và đốt trại. Mỹ Lương trốn chạy, đuổi chém được. Trà tiến quân đến xã Phúc Thị, đánh nhau với giặc, bị Nghĩa Sơn bắn chết. Vợ Trà là Trần thị (người xã Diêm Trường) nghe tin nổi giận, mặc quần áo đàn ông thúc quân đánh, bắn chết Nghĩa Sơn tại trận. Quân Văn Lan thua, trốn về với Trịnh. [Thế là] dẹp hết đảng giặc. Chúa đem quân về. Phong Trần thị làm quận phu nhân.

    Bấy giờ Quảng Nam cũng có bọn thổ mục nổi loạn, cướp giết lẫn nhau. Chúa sai thuộc tướng là Mai Đình Dũng dẹp yên, nhân đấy, sai ở lại giữ đất để thu phục vỗ yên tàn quân.
    Nhâm thân, năm thứ 15 [1572] (Lê - Hồng Phúc năm 1, Minh - Long Khánh 6), mùa xuân, tháng giêng, vua Lê đổi niên hiệu là Hồng Phúc.
    [IMG]file:///C:/DOCUME%7E1/Admin/LOCALS%7E1/Temp/msohtml1/01/clip_image001.gif[/IMG]Mùa thu, tháng 7, tướng Mạc là Lập Bạo (không rõ họ, tự xưng quận công) lấy người ở châu Bắc Bố Chính (nay là huyện Bình Chính)(2) dẫn đường đem 60 binh thuyền vượt biển vào đánh cướp, đóng trại từ con đường xã Hồ Xá đến đền Thanh Tương xã Lãng Uyển. Thế giặc đang mạnh. Chúa đem quân chống giữ, đóng ở sông Ái Tử, đêm nghe từ lòng sông có tiếng kêu “trao trao”, lấy làm lạ. Khấn rằng : “Thần sông có thiêng thì giúp ta đánh giặc”. Đêm ấy, chúa ngủ mộng thấy một người đàn bà mặc áo xanh, tay cầm quạt the, đến trước trình rằng : “Minh công muốn trừ giặc thì nên dùng mỹ kế dụ đến bãi cát, thiếp xin giúp sức !” Tỉnh dậy, chúa ngẫm nghĩ rằng : “Người đàn bà trong mộng báo ta nên dùng “mỹ kế”, phải chăng là dùng kế mỹ nhân ?” Trong đám thị nữ có Ngô thị (tên gọi là
    Ngọc Lâm, người làng Thế Lại, có tên nữa là Thị Trà) có sắc đẹp, và mưu cơ biện bác. Chúa sai nàng đem vàng lụa đi dụ Lập Bạo tới chỗ sông có tiếng kêu “trao trao” để giết. Ngô thị đến trại Lập Bạo nói rằng : “Chúa công thiếp nghe tin tướng công ở xa đến, cho thiếp mang quà mọn đến để cùng giảng hòa, đừng đánh nhau nữa”. Lập Bạo thích sắc đẹp của Ngô thị, nhưng giả cách giận, nói rằng : “Người lại đây làm mồi dử ta phải chăng ?” Ngô thị uyển chuyển thưa gửi, Lập Bạo liền tin, và giữ lại trong trướng. Ngô thị nhân đấy, mời Lập Bạo đến bờ sông để cùng chúa họp thề. Lập Bạo nghe lời. Ngô thị đem việc ấy mật báo trước. Chúa lập tức dựng một ngôi đền tranh ở bên bờ sông, chỗ có tiếng kêu “trao trao”, để làm nơi họp thề, và đào hầm đặt phục binh. Đến hẹn, Lập Bạo cùng Ngô thị ngồi thuyền nhỏ, chỉ vài chục người theo hầu. Khi đến bến, thấy dưới cờ chúa cũng chỉ có vài chục người thôi, Lập Bạo thản nhiên không ngờ, bèn lên bờ thong thả bước đến cửa đền. Thình lình phục binh nổi dậy. Lập Bạo sợ chạy xuống thuyền, thuyền đã xa bãi rồi. Lập Bạo nhảy theo, rơi xuống nước, quân ta bắn chết ngay, rồi thừa thắng tiến đến trại Thanh Tương. Gió to nổi lên, thuyền giặc đắm hết. Quân giặc đem nhau đầu hàng, chúa cho ở đất Cồn Tiên
    (1) (tức tổng Bái Ân bây giờ) đặt làm 36 phường. Chúa đem quân về, thưởng công cho Ngô thị, gọi phó đoán sự vệ Thiên võ là Vũ Doãn Trung gả cho. Lại phong thần sông làm “Trảo trảo linh thu phổ trạch tướng hựu phu nhân”, và lập đền thờ.
    Mùa đông, tháng 11, sai sứ về Tây Đô báo tin thắng trận. Vua Lê sai Phan Công Tích (bấy giờ xưng là Lai quận công) đến ủy lạo tướng sĩ. Chúa cùng [sứ giả] yến tiệc rất vui, khi sứ về lại tặng rất hậu.
    Bấy giờ chúa ở trấn hơn 10 năm, chính sự rộng rãi, quân lệnh nghiêm trang, nhân dân đều yên cư lạc nghiệp, chợ không hai giá, không có trộm cướp. Thuyền buôn các nước đến nhiều. Trấn trở nên một nơi đô hội lớn.

    1. Có thuyết cho rng An Hòa bá Nguyn Hong D sinh ra Nguyn Kim (Đại Vit s ký toàn thư).

    1. Ch Hán là thượng, ch Nguyn Hoàng

    2. Thy : tên đặt để th cúng.

    1. Tc là Phúc Khoát (1739 – 1756)

    2. Hiu đặt cho các vua đã chết để th tôn miếu.

    3. Chúa, ch Nguyn Hoàng.

    1. Trn tiết : C tiết vua giao cho làm huy hiu ca quyn trn th

    2. Nay là huyn Triu Phong, tnh Qung Tr

    1. Hin nay là huyn Qung Ninh, tnh Qung Bình.

    1. Nay là huyn Do Linh, tnh Qung Tr

    2. Nay là huyn Qung Trch, tnh Qung Bình

    1. gn ca Tùng, tnh Qung Tr
    Đừng Hỏi Tổ Quốc Đã Làm gì cho ta , mà hãy hỏi ta đã làm gì cho Tổ Quốc Hôm nay

    Nghe theo tiếng gọi của núi sông
    Cà sa gửi lại chốn thư phòng
    Xông ra trận tuyến trừ hung bạo
    Thực hiện từ bi lực phải hùng

    Thích Pháp Lữ (1947)

  6. #16
    Ngày gia nhập
    Mar 2010
    Nơi cư ngụ
    Phượng Hoàng, Trung Đô, Vinh, Nghệ An
    Bài gửi
    7.457
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    11
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)
    tiếc lắm nhưng rồi cũng phải xóa
    mát cả đêm đổ mồ hôi
    Sửa bởi scorpion_king84 : 21-06-2010 lúc 05:54 PM
    Đừng Hỏi Tổ Quốc Đã Làm gì cho ta , mà hãy hỏi ta đã làm gì cho Tổ Quốc Hôm nay

    Nghe theo tiếng gọi của núi sông
    Cà sa gửi lại chốn thư phòng
    Xông ra trận tuyến trừ hung bạo
    Thực hiện từ bi lực phải hùng

    Thích Pháp Lữ (1947)

  7. #17
    Ngày gia nhập
    Dec 2009
    Bài gửi
    439
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    5
    Uploads
    12
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)
    Hoan nghênh nhiệt huyết của bác king nhưng bác chưa đọc kĩ các nội dung ở trên rồi !
    Bác mà post hết bộ này lên đây HSO sẽ sập tắp lự. Nếu tham gia được thì bác thử liên lạc với bác better man xem sao!

  8. #18
    Ngày gia nhập
    Mar 2010
    Nơi cư ngụ
    Phượng Hoàng, Trung Đô, Vinh, Nghệ An
    Bài gửi
    7.457
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    11
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)
    xóa nội dung đã post trả lại thiên nhiên cho diễn đàn
    Sửa bởi scorpion_king84 : 21-06-2010 lúc 05:52 PM
    Đừng Hỏi Tổ Quốc Đã Làm gì cho ta , mà hãy hỏi ta đã làm gì cho Tổ Quốc Hôm nay

    Nghe theo tiếng gọi của núi sông
    Cà sa gửi lại chốn thư phòng
    Xông ra trận tuyến trừ hung bạo
    Thực hiện từ bi lực phải hùng

    Thích Pháp Lữ (1947)

  9. #19
    Ngày gia nhập
    Mar 2009
    Nơi cư ngụ
    Mỹ
    Bài gửi
    1.988
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    8
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)
    Bác này rất là nhiệt huyết nhưng làm ơn đọc kỹ nội dung dự án giúp một cái!
    Ngưng post lên đi!
    TO BE A BETTER MAN!!!
    NGUỴ VĂN THÀ! THÀ CHẾT KHÔNG MỒ! THÀ CHẾT THEO TÀU! CHẾT THEO TÀU! THÀ XƯƠNG NGÂM ĐÁY HOANG RA!
    IM LẶNG LÀ YÊU NƯỚC!
    16 CHỮ VÀNG: "ĐỀ NGHỊ TÀU TRUNG QUỐC CÚT KHỎI LÃNH THỔ VIỆT NAM KHÔNG CHÚNG TAO BẮN CHẾT!"

  10. #20
    Ngày gia nhập
    Apr 2010
    Nơi cư ngụ
    Sài Gòn
    Bài gửi
    112
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    0
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)
    @scorpion: Nội dung dự án là chuyển từ font ABC sang font Unicode các file này chứ không phải chuyển sang rồi post tất cả nội dung lên đây đâu! Chuyến xong rồi đóng gói thành file pdf để mọi người tiện trong việc in ấn và đọc cho dễ, mục tiêu là thế! Mình đang chuyển gần xong các file nhưng chưa soát lỗi, sau đó mình sẽ up lên cho mọi người ai có phần mềm chuyển sang pdf giúp!
    THÂN LÀM TRAI "CHÉM TƯỚNG ĐOẠT THÀNH", AI LẠI NGỒI ĐẶT CÂU HỎI:NÊN HÒA HAY NÊN CHIẾN?

Chủ đề tương tự

  1. Trả lời: 15
    Bài mới gửi: 17-12-2010, 08:15 PM
  2. [VNN]Chính trường Thái Lan chuyển 'mặt trận' sang các mạng xã hội
    By DPRK in forum [Lưu trữ]Thời sự quốc tế 2010
    Trả lời: 0
    Bài mới gửi: 10-06-2010, 03:25 AM
  3. Trả lời: 57
    Bài mới gửi: 01-04-2010, 09:58 AM
  4. Lịch sử viết tiếp tên phương Tây hay chuyển sang phương Đông?
    By Kuro in forum [Lưu trữ]Thời sự quốc tế 2009 trở về trước
    Trả lời: 8
    Bài mới gửi: 03-01-2010, 05:12 PM
  5. HSO đã chuyển sang VPS
    By HS Team in forum Thông báo - Tin tức
    Trả lời: 43
    Bài mới gửi: 17-07-2009, 11:06 PM

Bookmarks

Quyền hạn Gửi bài

  • Bạn không thể gửi chủ đề
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài của mình
  •