HOANGSA.ORG ĐÃ CHUYỂN SANG DIỄN ĐÀN MỚI- DIỄN ĐÀN CŨ CHỈ ĐỂ LƯU TRỮ KHÔNG THỂ VIẾT BÀI.

ĐỂ ĐI ĐẾN DIỄN ĐÀN MỚI XIN VUI LÒNG CLICK VÀO ĐÂY HTTP://HOANGSA.ORG/F

HOANGSA.ORG ĐÃ CHUYỂN SANG DIỄN ĐÀN MỚI- DIỄN ĐÀN CŨ CHỈ ĐỂ LƯU TRỮ KHÔNG THỂ VIẾT BÀI.

ĐỂ ĐI ĐẾN DIỄN ĐÀN MỚI XIN VUI LÒNG CLICK VÀO ĐÂY HTTP://HOANGSA.ORG/F

User Tag List

Trang 2 trong 6 Đầu tiênĐầu tiên 1234 ... Cuối cùngCuối cùng
Kết quả từ 11 tới 20 trên 53
  1. #11
    Ngày gia nhập
    May 2009
    Bài gửi
    252
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    0
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)
    Nghiên Cứu Văn-Hóa Tiền Sử Việt Nam: Việt-Nam, Trung Tâm Nông Nghiệp Lúa Nước và Công Nghiệp Đá Xưa Nhất Thế Giới

    (xem bài đầy đủ tại:
    http://www.vnn-news.com/spip.php?art...e=kh%E1%BA%A3o)



    .................

    Các sách cổ khác của Trung quốc như Giao-Châu Ký, Tam Đô Phủ, Ngô Lục Địa Lý Chí, Nam Phương Thảo Mộc Trạng vv. đều chép đại lượt rằng: "0_Dân Lạc Việt trồng lúa mà ăn, dùng lá trà mà uống...";... "... họ biết uống nước bằng lổ mủi...";... "...nuôi tằm mà dệt vải..."; "...dùng đất sét đào sâu trong đất, thái mỏng phơi khô làm thức ăn quí, dùng làm quà quí để đi hỏi vợ...";... "... dùng đá màu làm men gốm...";... "...dùng mu rùa mà bói việc tương lai...";... "...họ dùng một khúc tre dài chừng 1 thước hơn, một dầu có trụ cao làm tay cầm, có giây buộc vào trụ nối lại đằng kia mà làm đàn gọi là độc huyền cầm...";... "...họ đem tính tình các con vật mà so sánh với người, rồi họ truyền tụng rằng ngày thứ nhất trời sinh con chuột, ngày thứ hai sinh con trâu, ngày thứ ba trời sinh con cọp...(chuyện thần thoại của người Dao: gốc tích của 12 con giáp của tử vi ngày nay)"... "Họ biết tìm hiểu các thức ăn nóng mát (tức thuyết âm dương) để trị bệnh, dùng kim đâm vào da thịt lấy máu để trị bệnh (lễ giác bầu), lấy đá hơ nóng áp vào da thịt để trị bệnh...."; "... Họ rất quí các loài chim, biết tập chim biết nói,... họ có nuôi nhiều chim trĩ sống trên núi rất đẹp (mà sau nầy Tàu gọi là phụng hoàng)". Sử Tàu kể rằng vào thời nhà Châu bên Tàu dân Bách Việt quận Việt Thướng đem tặng vua nhà Châu cặp chim trĩ, sau đó nhờ Tàu dùng xe chỉ nam của Mông Cổ chỉ đường về.


    Những ghi chép thường có tính cách kỳ thị là man di. Nhưng những chuyện huyền thoại cổ Man Di như chuyện ông Bàng Cổ gốc người Dao (xem Bàn Cổ của Nguyễn Văn Diễn), chuyện bà Nữ Oa biết "đội đá vá trời" tức có kinh nghiệm về thời tiết mưa gió, dạy dân theo thời tiết mà trồng trọt, Thần Nông dạy dân làm ruộng, Viêm đế (vua xứ nóng Bách Việt) thì dân Mông Cổ thích chiếm lấy, chiếm tổ tiên của những người mà họ gọi là Nam man làm tổ tiên của riêng họ. Thật ra lúc đầu người Hán không quan tâm những câu chuyện có vẻ hoang đường của dân Bách-Việt. Nhưng khi họ hiểu ý nghĩa triết lý sâu xa của những câu chuyện hoang đường về các Vị, thì họ chép ngay câu chuyện và nhận ngay các Vị tổ tiên của dân Bách Việt ấy làm tổ tiên của họ. Họ cũng có lý một phần, vì dân Miêu tộc Trung-hoa là hậu duệ các Vị. Nhưng họ phải hiểu rằng dân Việt Nam mới là con cháu đính thị và chính thống của các Vị.
    Tuy người Tàu vẫn biết tổ tiên của người Hán có nguồn gốc Mông-Cổ có con vật tổ là cọp trắng, với nhà truyền thống cổ là nhà gốc du mục hình tròn. (Les premières civilisations LA CHINE ANCIENNE, trang 28-29, của ông William Watson xuất bản năm 1969 tại Grande Bretagne) (xem hình của Bs Thanh vẻ lại dựa theo hình nhà khảo cổ của ông William Watson). Trong lúc đó nhà cổ của Bách Việt là nhà sàn hình chữ nhật làm bằng tranh và tre cong cho chắc chắn, dần dà sinh ra mái cong. (xem hình vẻ của Bs Nguyễn Thị Thanh, phỏng theo loại nhà minh khí nhà chôn theo người chết bằng đất nung thời Hùng Vương tìm thấy trong văn hóa Đông-Sơn 2.800 ans tr T-C). Ngày nay thế giới và cả người Việt Nam cũng đều lầm tưởng rằng con rồng (chỉ là hiện thân của con cá sấu) con chim phụng (là hiện thân của loài chim trĩ) vật tổ của Trung-Hoa, và mái nhà cong là văn hóa cổ truyền của họ luôn. Chẵng qua đó là hiểu lầm. Ngày nay nhờ khảo cổ học mới có thế chứng minh được sự thật.
    0_Nhà cổ Tàu
    0_Nhà cổ Việt Nam

    .......................................

    Người Tàu Mông cổ vốn có vật tổ là cọp trắng, và nhà cổ là nhà hình tròn gốc du mục như đã nói trên nhưng khi họ thấy vật tổ Bách Việt rồng phụng, và nhà cổ Bách Việt mái cong, có vẻ đẹp tao nhã, mỹ thuật, nên họ đã chiếm ngay văn hoá nhà cổ và rồng phụng Bách Việt làm của họ và người mình không hề dám hé môi hay trăn trối với con cháu gì cả.

    Gần đây đào được trống đồng ở Vân-Nam, khảo cổ gia Tàu cũng tuyên bố ầm ỷ là trống đồng do Mã Viện và Gia Cát Lượng sãn xuất! Sao họ có thể quên Hậu Hán Thư quyển 14 ghi rõ: "0_Dân Giao-Chỉ có linh vật là trống đồng, nghe đánh lên họ rất hăng lúc lâm trận....". Chính vua Quang Võ nhà Đông Hán đã ra lệnh cho Mã Viện phải phá hủy trống đồng Bách Việt. Đất Hoa Nam hiện tại là đất Việt cổ tìm thấy trống đồng là việc đương nhiên. Hậu Hán Thư quyển 14 chép: "0_Mã Viện là người thích cưởi ngựa giỏi, biết phân biệt ngựa tốt. Lúc ở Giao-chỉ Viện lấy được trống đồng đem đúc ngựa..." (xem hình chụp Hậu Hán Thư)
    ................................
    Suốt trong nhiều thế kỷ chúng ta hầu như chỉ học cho biết rằng Việt Cổ là một đất nước vô văn-hóa, man di, được nhờ Tàu Mông cổ khai hóa. Dầu rằng Tàu gốc Mông cổ không chứng minh được văn hóa tiền sử của họ. Như thế đủ thấy ảnh hưởng của việc bị đô hộ Tàu, kể cả Tây sau nầy, là nguy hiểm như thế nào!

    Chúng ta phải có bổn phận tìm hiểu, vun trồng văn hóa Bách Việt nước nhà. Đó tất nhiên phải là điều khó khăn, chúng ta có thể bỏ công lao mồ hôi nước mắt, nghị lực thời gian làm việc hữu ích cho hậu duệ chúng ta; hơn là ngày đêm ganh tương tị hiềm, kình địch, châm biến, chia rẽ, hận thù, đua nhau bịa đặt, bôi nhọ kẻ nào có gì hơn mình chút đỉnh. Những hành động đó chẳng những đã biến dần dân lưu vong thành một sắc dân mất gốc vô văn hóa, vô tổ tiên, mà còn biến một số người Việt đông đúc kém cỏi về kiến thức văn hóa Việt Nam lưu vong (mặc dầu có khoa bản, bằng cấp ngoại quốc cao, hay tiền bạc nhiều) thành man di đúng như tên gọi xưa kia của người Trung-Hoa.

    [COLOR=Blue][B]Tổ quốc, Danh dự, Trách nhiệm[/B][/COLOR]

  2. #12
    Ngày gia nhập
    Feb 2009
    Bài gửi
    881
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    0
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)
    Việt number one-Tàu number one"nhái",he he!!!!!
    NGƯỜI VIỆT SẼ PHẢI TRẦM TRỒ VÀ KINH NGẠC TRƯỚC NHỮNG THÀNH TỰU MÀ TỔ TIÊN HỌ ĐÃ LÀM ĐƯỢC TRONG QUÁ KHỨ

  3. #13
    Ngày gia nhập
    Dec 2007
    Nơi cư ngụ
    Thanh Chờ Ì - Hà Lờ Ội
    Bài gửi
    1.697
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    9
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)
    Trích dẫn Nguyên văn bởi dragonhaman113 Xem Bài gửi
    mình mới google được. Link ở đây.
    "Rồng với người Trung Quốc

    Vì đứng đầu trong tứ linh nên rồng có ảnh hưởng không nhỏ trong đời sống tâm linh của người dân Trung Quốc. Cuối năm 1987 tại huyện Bộc Dương (濮陽) tỉnh Hà Nam, người ta khai quật được một con rồng bằng gốm, giám định là có 6 ngàn năm tuổi.
    Văn minh Trung Hoa khởi đầu từ các thành bang tại châu thổ sông Hoàng Hà (ở phía Bắc Trung Quốc) từ khoảng năm 2000 - 2500 TCN, nghĩa là cách đây khoảng 4000 - 4500 năm (xem Lịch sử Trung Quốc). Trong khi tỉnh Hà Nam là nơi có sông Dương Tử (tức Trường Giang) chảy qua là nơi cư trú của Bách Việt.
    Vì vậy việc tìm thấy Rồng bằng gốm 6000 năm tuổi cũng chưa thể chứng minh được đó là của người Hán đâu.
    Sửa bởi antonioto : 31-07-2009 lúc 03:43 PM

  4. #14
    Ngày gia nhập
    Dec 2007
    Nơi cư ngụ
    Thanh Chờ Ì - Hà Lờ Ội
    Bài gửi
    1.697
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    9
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)
    Tiếp đây

    PHẦN III. RÙA


    Tượng Rùa Vàng

    Chắc hẳn Rùa là một loài vật không còn lạ lẫm gì với bất kì ai, được biết đến với cái tên “Quy” trong tứ linh của Trung Hoa, là loài vật có thật duy nhất trong tứ linh.

    Rùa được người Việt coi như loài vật linh thiêng giống như vị thần hộ mệnh cho dân tộc mình bởi một lẽ hình ảnh con Rùa xuất hiện rất nhiều trong những truyền thuyết của dân tộc Việt, gắn liền với những cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm của Việt Nam. Đầu tiên phải kể đến truyền thuyết “An Dương Vương”, xin được kể vắn tắt như sau:

    An Dương Vương lên ngôi tiếp nối các vua Hùng, lập ra nước Âu Lạc. Ông muốn xây dựng thành Cổ Loa để làm kinh đô nước Âu Lạc nhưng xây đến đâu là thành lại lở đến đó, thành ra mãi không xong. Ít lâu sau có một con Rùa Vàng nổi lên ở gần đó, nhà vua biết được đấy là chính là Thần Kim Quy, tinh thông mọi việc trời đất. Thần mách cho vua biết rằng thành không xây được là do có yêu ma cản trở. Thần giúp vua trừ yêu và bảo vua cách xây thành hình trôn ốc, từ đó gọi là Loa Thành.

    Sau khi Loa Thành xây xong, Thần Kim Quy trao cho An Dương Vương cái vuốt của mình dặn lấy cái vuốt này làm nỏ, hễ có giặc thì đem ra bắn, giặc ắt phải bỏ chạy. Nhờ có nỏ thần mà kế hoạch xâm lược Âu Lạc của Triệu Đà không thành. Triệu Đà lập mưu giảng hòa, đem con trai là Trọng Thủy kết hôn với con gái An Dương Vương là Mị Châu. Vì quá cả tin, Mị Châu đã đem nỏ thần Kim Quy cho Trọng Thủy xem, không ngờ Thủy lấy cắp nỏ thần đem về cho vua cha là Triệu Đà.


    An Dương Vương và Thần Kim Quy với chiếc Nỏ Thần

    Lấy được nỏ, Triệu Đà đem quân sang xâm lược Âu Lạc. An Dương Vương thất thủ, đem Mị Châu bỏ chạy, nhưng quân Triệu Đà vẫn đuổi theo sau, ngài không biết răng Mị Châu rải lông ngỗng để trọng Thủy tìm thấy. Cùng đường, An Dương Vương khấn thần linh, Thần Kim Quy hiện lên nói Mị Châu chính là gian tế, An Dương Vương nổi giận rút gươm chém chết Mị Châu. Thần Kim Quy rẽ nước mời An Dương vương xuống thủy cung…
    Một truyền thuyết nữa về Thần Kim Quy có liên quan đến vị anh hùng dân tộc “Lê Lợi”:

    Trong những năm kháng chiến chống quân Minh, nghĩa quân của Lê Lợi còn yếu, ông đã nhiều lần thất thủ, và phải chạy tháo thân. Trong một lần trốn sự truy đuổi của quân giặc, Lê Lợi tình cờ tìm được một cái chuôi gươm, ngài nhớ đến lưỡi gươm mà lần trước một thuộc hạ của ngài tên là Lê Thận đã tặng cho (Lê Thận vớt được lúc quăng lưới đánh cá), liền đem chuôi gươm và lưỡi gươm gắn lại, không ngờ vừa khít, lúc này ở lưỡi gươm còn sáng rực lên hai chữ “Thuận Thiên” (thuận theo ý trời), ngài biết vận trời đã đến. Từ khi có kiếm thần trong tay, Lê Lợi đánh đâu thắng đấy.

    Cuộc kháng chiến 10 năm kết thúc, giặc Minh bị đuổi ra khỏi bờ cõi nước ta, Lê Lợi lên làm vua lập ra nhà Hậu Lê. Một lần nhà vua đang cưỡi thuyền đi dạo trên hồ Lục Thủy ở kinh thành thì bỗng có một con Rùa lớn nổi lên thỉnh cầu vua trả lại gươm thần cho Long Quân. Vua Lê biết đây chính là Thần Kim Quy và thanh gươm này chính là của Long Quân cho mượn để đánh giặc, ngài bèn hai tay cung kính trả lại gươm thần… Từ đó hồ Lục Thủy có tên là Hồ Hoàn Kiếm hay Hồ Gươm để tưởng nhớ đến sự tích này.


    Lê Lợi trả Gươm Thần

    Hiện nay ở Hồ Gươm vẫn còn có loài Rùa khổng lồ sinh sống, người dân quanh đấy cũng rất tôn thờ loài Rùa này và cho rằng chúng rất linh thiêng. Loài Rùa này gốc gác từ đâu vẫn còn đang là một ẩn số.
    Có một điều đặc biệt trong 2 truyền thuyết trên là việc Thần Kim Quy luôn xuất hiện để trợ giúp cho người Việt những khi có giặc ngoại xâm đến (toàn là Tàu Khựa ). Điều này chứng tỏ hình tượng Rùa có một sức ảnh hưởng rất lớn đối với dân tộc và người Việt Nam ta rất tôn thờ Rùa. Có lẽ do sùng bái con Rùa như một loài vật thần thánh ngay từ khi ra đời lập thân mà con người Việt Nam cũng có nhiều nét ưu việt giống thuộc tính của loài Rùa đến lạ. Và hơn tất cả là mỗi khi có kẻ thù mạnh hơn mình đến tấn công, người Việt Nam sẽ không trực tiếp đối đầu trực diện mà thường ẩn mình giống loài Rùa, nhằm làm vô hiệu hoá sự công kích của kẻ thù.

    Ngoài ra, dân tộc Việt lấy yếu đánh mạnh, không thể kết thúc chiến tranh một cách chóng vánh nên đã kéo dài thành cuộc kháng chiến trường kỳ, điều đó cũng tựa như bản tính chắc chắn của loài Rùa vậy. Không chỉ có thế, đặc điểm của loài Rùa - động vật biến nhiệt, nhiệt độ cơ thể tăng lên và giảm đi theo nhiệt độ môi trường bên ngoài cũng giống như con người Việt Nam hoà đồng và năng động, thích ứng nhanh với biến đổi của hoàn cảnh môi trường sống.


    Hồ Gươm với Tháp Rùa

    Hình Thần Rùa với chiếc mai khum khum như bầu trời, bụng phẳng như mặt đất, sống lâu ngàn tuổi. Thần Rùa gắn với giang sơn đất nước và vận mệnh của đất nước, phù hộ nhân dân ta đấu tranh đánh bại kẻ thù để giữ nền độc lập, đem lại cuộc sống an bình cho cư dân sống chủ yếu bằng canh tác lúa nước.

    -----------------------------------------------------
    Các nguồn tham khảo:
    Hình tượng Thần Rùa trong tâm thức người dân Bách Việt
    Hình tượng các con vật trên kiến trúc cổ Việt Nam
    Ý nghĩa hình tượng Rùa đội Hạc
    Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại – Nguyễn Vũ Tuấn Anh
    _________________
    antonioto tổng hợp (Còn tiếp)
    Sửa bởi antonioto : 31-07-2009 lúc 04:09 PM

  5. #15
    Ngày gia nhập
    Jun 2009
    Nơi cư ngụ
    HCM
    Bài gửi
    856
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    3
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)
    Tiếp đi wá hay bác ơi
    P/s: sao em ko thấy YH của bác ol :T
    nguyenducanh: -Nói thật với các bác em có xem 1 clip về đám elf này rồi phải nói là toàn cá sấu.Nói thật chứ đi làm gái cũng không đủ tư cách...


  6. #16
    Ngày gia nhập
    Dec 2007
    Nơi cư ngụ
    Thanh Chờ Ì - Hà Lờ Ội
    Bài gửi
    1.697
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    9
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)
    PHẦN III. RÙA (tiếp theo)


    Rùa nổi ở Hồ Gươm

    Về mặt sinh học, Rùa là loài bò sát lưỡng cư có tuổi thọ cao và thân hình vững chắc. Nó có thể nhịn ăn uống mà vẫn sống trong một thời gian dài. Rùa không ăn nhiều, nhịn đói tốt nên được coi là một con vật thanh cao, thoát tục. Trên bàn thờ ở các đền chùa, miếu mạo, chúng ta thường thấy Rùa đội hạc, Rùa đi với hạc trong bộ đỉnh thơm ngát và thanh tịnh. Loài Rùa thường được phân bố ở vùng nhiệt đới và xích đạo, và điều kiện địa lí của Việt Nam ta rất phù hợp cho loài Rùa sinh sống.

    Ngược dòng lịch sử ta thấy, vùng đất phía Nam Trung Quốc xưa kia chính là nơi cư trú của các dân tộc Bách Việt. Nơi đây trong cổ sử Trung Quốc thường được ghi nhận là có hiện tượng Rùa nổi lên:

    Lạc Thư là do vua Đại Vũ (2205 TCN) khi đi trị thủy phát hiện có con Rùa nổi lên trên sông Lạc, trên mai có những chấm đen. Vua đem chép lại thành Lạc Thư.
    Trong sách “Thông chí” của Trịnh Tiều (Trung Quốc) chép rằng:

    Đời Đào Đường (vua Nghiêu – năm 2253 TCN) phương Nam có bộ Việt Thường cử sứ bộ qua hai lần phiên dịch sang chầu, dâng con Rùa thần có lẽ đã sống 1000 năm, mình dài hơn 3 thước, trên lưng có khắc văn Khoa Đẩu ghi việc trời đất mở mang. Vua Nghiêu sai chép lấy gọi là Quy Lịch (tức lịch Rùa).
    Cần lưu ý rằng, Việt Thường chính là 1 trong 15 bộ của Văn Lang trước kia.

    Trong cuốn “Sử Trung Quốc” của Nguyễn Hiến Lê – NXB Văn hóa 1996 cũng có nói tới loài Rùa ở vùng Nam Trung Quốc:

    ...Hơn nữa, thời đó An Dương (thủ đô nhà Thương), trung tâm văn mình Trung Hoa cũng có thể đã liên lạc với Hoa Nam và các xứ Đông Nam Á vì người ta tìm thấy những yếm Rùa rất lớn dùng để bói, mà loài Rùa lớn đó chỉ có ở thung lũng sông Dương Tử…

    Tiêu bản Rùa ở Hồ Gươm

    Không còn nghi ngờ gì nữa, ngay từ thời cổ đại, người Việt cổ đã hết sức gắn bó với loài Rùa, việc sử dụng Rùa trong các sinh hoạt tâm linh cũng rất phổ biến.

    Ý nghĩa hình tượng Rùa đội Hạc

    Cho đến nay, ta cũng có thể tìm thấy hình ảnh của con Rùa trong các đình, đền ở Việt Nam, trong đó có Văn Miếu ở Hà Nội với những tượng Rùa bằng đá đội bia, và cả những hình ảnh Rùa đội Hạc nữa. Vậy biểu tượng này có ý nghĩa gì?


    Rùa đội bia ở Văn Miếu

    Với người Việt, Hạc là loài chim quý được dùng để tượng trưng cho thần tiên, do đó Hạc là biểu hiện cho sự tinh tuý, thanh cao. Theo một câu chuyện truyền thuyết thì Hạc và Rùa là đôi bạn thân của nhau. Rùa là loài sống ở dưới nước, biết bò. Hạc là loài sống trên cạn, biết bay. Khi trời làm mưa lũ, Rùa đã giúp Hạc vượt qua vùng nước ngập úng để đến nơi khô ráo. Ngược lại, khi trời hạn hán Rùa được Hạc giúp đưa đến vùng có nước. Câu chuyện này nói lên lòng chung thuỷ, sự tương trợ giúp đỡ lẫn nhau trong lúc khó khăn giữa những người bạn tốt.

    Chính vì ý nghĩa đó mà Rùa và Hạc là hai trong số những con vật được người Việt đề cao, biểu thị cho khát vọng tốt đẹp may mắn và chúng có một vị trí quan trọng trong nền văn hoá dân tộc, được sử dụng hình ảnh trang trí trong nhiều đền chùa, miếu mạo ở Việt Nam và còn thể hiện cho sự hoà hợp giữa trời và đất, giữa hai thái cực âm dương.

    Nhưng trong cuốn “Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại”, nhà nghiên cứu Nguyễn Vũ Tuấn Anh lại có cách giải thích khác:

    Trước hết, chúng ta bắt đầu tìm hiểu từ hình ảnh con Rùa. Đây là một linh vật biểu tượng cho nền văn minh Văn Lang: đó là phương tiện truyền tải chữ viết của ông cha ta, mà dấu ấn xưa nhất đã được ghi nhận trong sách “Thông chí” của Trịnh Tiều (đã trình bày ở phần trên). Giống Rùa lớn chỉ có ở miền Nam sông Dương Tử đã bị tuyệt chủng, nhưng hình tượng Rùa là phương tiện truyền tải những giá trị tinh thần là một hình ảnh truyền thống từ ngàn xưa của người Lạc Việt.

    Từ đó hình thành biểu tượng con Rùa đội bia ở các đình đền mà hình ảnh tập trung nhất chính là ở Văn Miếu Hà Nội. Nhưng những con Rùa ở trước điện thờ không đội bia mà đội trên lưng nó con Chim Hạc. Từ đó suy ra rằng : con Chim Hạc phải là một biểu tượng cô đọng thay thế cho những gì mà loài Rùa mang trên lưng nó. Xét hình dáng Chim Hạc có những nét đặc trưng giống hệt hình tượng Chim Lạc đã cách điệu trên trống đồng Lạc Việt. Bạn đọc sẽ dễ dàng nhận thấy điều này ở hai hình trình bày sau đây:



    Từ sự giống hệt giữa hai hình tượng này, kết hợp với biểu tượng con Rùa đặc trưng cho sự chuyển tải những giá trị tinh thần của nền văn minh Văn Lang, có thể kết luận rằng: Chim Lạc trong đình đền chính là Chim Lạc trên trống đồng – biểu tượng của nền văn minh Văn Lang mà con Rùa từ ngàn xưa vốn là phương tiện truyền tải. Với nhận xét trên thì có thể cho rằng:

    Tín ngưỡng thờ thần thánh ở đình đền thuộc về nền văn minh Lạc Việt, mà những người có tín ngưỡng có thể tìm thấy nguồn gốc của nó ở hình ảnh con Chim Lạc đứng trên lưng con Rùa.

    Luận điểm này bổ sung và chứng minh rõ nét hơn về Đạo giáo và Lão tử có xuất xứ từ văn minh Lạc Việt, khi tục thờ Tiên, Thánh là nội dung của Đạo giáo.
    Như vậy, không cần biết việc tôn thờ Rùa của người Trung Hoa có phải là vay mượn của người Việt hay không nhưng có thể khẳng định rằng: từ xa xưa hình tượng con Rùa đã chiếm lĩnh văn hóa tâm linh của người Việt và Rùa là một trong những linh vật chính gốc của người Việt Nam.

    -----------------------------------------------------
    Các nguồn tham khảo:
    Hình tượng Thần Rùa trong tâm thức người dân Bách Việt
    Hình tượng các con vật trên kiến trúc cổ Việt Nam
    Ý nghĩa hình tượng Rùa đội Hạc
    Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại – Nguyễn Vũ Tuấn Anh
    _________________
    antonioto tổng hợp (Còn tiếp)
    Sửa bởi antonioto : 31-07-2009 lúc 04:38 PM

  7. #17
    Ngày gia nhập
    Dec 2007
    Nơi cư ngụ
    Thanh Chờ Ì - Hà Lờ Ội
    Bài gửi
    1.697
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    9
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)
    PHẦN IV. CHIM LẠC



    Nếu truyện Họ Hồng Bàng trong Lĩnh Nam chích quái nói về tục vẽ mình theo hình Giao Long đã cho thấy người Việt cổ đồng nhất mình với vật tổ Giao Long (và sau này là Rồng), thì hình người hoá trang, đội lốt chim trên các trống đồng đã cho thấy người Việt cổ cũng đồng hoá mình với chim mà chúng ta hay gọi là Chim Việt, Chim Lạc, Cò Lang, hoặc cũng có thể là Chim Hạc. Giao Long và Chim là vật tổ của người Việt cổ (Văn Lang hay Lạc Việt), tương ứng với truyền thuyết "Con Rồng Cháu Tiên" của người Việt.

    Trên các trống đồng, thạp đồng hay đồ gốm sứ của các di chỉ Đồng Đậu (Vĩnh Phú), Đình Tràng (Hà Nội), Đông Sơn (Thanh Hoá), Miếu Môn (Hà Tây) thường có hình chim Lạc, các hình người mặc lông chim chèo thuyền, nhảy múa, giã gạo, chiến đấu. Đặc biệt các hoạ tiết trên đồng ở di chỉ Miếu Môn có hình người đánh cá với chim mồi ngậm cá trong mỏ, điều đó chứng tỏ nghề thuần dưỡng chim để bắt cá đã có ở VN từ rất xa xưa.


    Người đội mũ đầu chim?

    Chim thấy trên trống đồng gồm loại chim bay và chim đứng. Loại chim bay là chim Lạc. Chim đứng trên mái nhà hình thuyền giống chim công, gà và đa số đứng dưới đất là loài chim nước: cò, bồ nông, xít...




    Cha Rồng - Mẹ Tiên

    Lạc Long Quân - Âu Cơ ở đây đã là tôn danh: Quân (vua) và Cơ (cũng gọi là ky: mỹ hiệu của phụ nữ) theo Ðào Duy Anh (Hán Việt từ điển). ở đây vấn đề cần giải quyết là tại sao "Lạc Long Quân - Âu Cơ" lại trở thành "Cha Rồng - Mẹ Tiên"?

    Việc xác định tông tích của Âu Cơ là tiên xuất hiện lần đầu trong Lĩnh Nam chích quái (thế kỷ 15) tại đoạn đối thoại của Lạc Long Quân: "Ta là nòi rồng, đứng đầu thuỷ tộc, nàng là giống tiên, sống ở trên đất...". Do đó việc giải đáp vấn nạn trên buộc phải truy cứu các dữ liệu lịch sử - văn hoá của thời đại đó, tức trong và trước thế kỷ 15: thời Lý - Trần. Cụ thể trong nghệ thuật đồ tượng Lý -Trần, các công trình nghiên cứu đã cho chúng ta thấy có rất nhiều phù điêu, hình chạm khắc và tượng tròn (gỗ và đá) về đề tài "tiên" ở nhiều di tích khác nhau (chùa Phật Tích, Chương Sơn, Long Ðội, chùa Dâu, chùa Bối, Thái Lạc...) dưới các tên gọi và chú thích (chưa thật sự chính xác) là: tiên nữ/ Apsara, nhạc công/ Gandharva, nữ thần chim/Kinnari...

    Rõ ràng đây là kết quả có gốc từ tám loại chúng sanh gọi là "bát bộ chúng" của Phật giáo gồm: 1. Thiên (Ðêva); 2. Long (Naga); 3. Dạ xoa (Yasha); 4. Atula (Asura; phi thiên); 5. Ca lâu la (Garuda: chim thần Kim Sí điểu); 6. Càn - thát bà (Gandharva); 7. Khẩnnala (Kinnara); 8. Ma hầu la già (Mahôraga: đại xà vương). Trong tám loại chúng này có ít ra bốn loại có thể được coi là tiên.



    Bốn loại có thể được coi là tiên gồm:

    Ðêva là thiên, Ðêvi: thiên nữ, tiên nữ. Xét về hình tướng thì đây là các loại tiên nữ trang trí mũ miện, đầu tóc mỹ lệ như vũ công, ca công hầu hạ, tán tụng việc thuyết pháp.

    Atula là loại phi thiên, thường có hình tướng tiên nhân đang bay lượn kèm với các dây lụa dài uốn lượn gọi là "phong đai" như vũ công múa lụa.

    Càn Thát Bà là nhạc thần, hương thần (thần chỉ sống bằng hương thơm). Ðây là thần Bàlamôn giáo (có đến 6.333 vị); trong kinh Diệu pháp liên hoa của Phật giáo có bốn loại. Ở Ấn Ðộ, Càn Thát Bà được hiểu là "diễn viên". Về hình tướng có thuyết cho rằng loại này thân có nhiều lông vũ, nửa người nửa chim, hình dáng đẹp. Có thuyết chỉ rõ: thân lộ màu da thịt, tay trái cầm sáo trúc, tay phải cầm bảo kiếm.

    Khẩnnala, dịch nghĩa là nghi thần (đầu có sừng nên khi thấy sinh tâm hoài nghi vì không giống người). Loại chúng này có biệt tài ca múa giỏi, chuyên tẩu các bài nhạc nói về đạo pháp. Về hình tướng thường có một cái trống nằm ngang hay hai cái trống đứng trước mặt, tư thế là nhạc công chơi trống.

    Trong bốn loại tiên này thì Càn Thát Bà do có hình tướng người – chim nên dễ được đồng nhất với Âu Cơ (nói như vậy là xét về lý, còn trong thực tế về hình tướng cụ thể đều có khả năng tham chiếu cả Atula và Kanara/Kanari...).

    Phải chăng đó là cơ sở lịch sử - văn hoá của thời kỳ đạo Phật là quốc giáo mà tác giả Lĩnh Nam chích quái đã dựa vào đó mà "tiên hoá" mẹ Âu Cơ, tức chim đã được biến thành tiên. Ðó là nguyên nhân lịch sử mà cụ thể là sự tích hợp cũ - mới, nội sinh - ngoại sinh để "Lạc Long Quân - Âu Cơ" thành "Cha Rồng - Mẹ Tiên" đầy thiêng liêng và tự hào đối với mỗi con dân Việt.



    -------------------------------------------
    Các nguồn tham khảo:
    Rồng và tiên trong lịch sử đồ tượng Việt Nam
    Con chim Việt đậu tại Văn Miếu, Hà Nội – Nguyễn Xuân Quang
    ___________
    antonioto tổng hợp (Còn tiếp)
    Sửa bởi antonioto : 31-07-2009 lúc 05:02 PM

  8. #18
    Ngày gia nhập
    Dec 2007
    Nơi cư ngụ
    Thanh Chờ Ì - Hà Lờ Ội
    Bài gửi
    1.697
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    9
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)
    PHẦN IV. CHIM LẠC (tiếp theo)

    Chim Lạc là con Chim Cắt?

    Mình đã đọc một bài viết rất hay về hình tượng con Chim Việt nhan đề Con chim Việt đậu tại Văn Miếu, Hà Nội” của tác giả Nguyễn Xuân Quang, một người miệt mài đi tìm về bản sắc Việt. Bài viết đã phân tích sâu về Chim Việt, cho rằng Chim Việt chính là loài Chim Cắt. Xin trích ra bài viết này ở đây để các bạn tham khảo.

    lược một đoạn]
    … Chúng ta thường nghe nói tới con Chim Việt đậu cành Nam và nghe bài hát Đàn Chim Việt. Tôi đã tìm thấy hình bóng con Chim Việt trong sử sách (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt), trong sử miệng (Ca Dao Tục Ngữ Tinh Hoa Dân Việt) và trong sử đồng (Giải Đọc Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á) (đang in). Tôi biết khó có thể thuyết phục ngay được những người làm văn hóa Việt hiện nay, nhất là những kẻ đang làm xiếc văn hóa Việt, những tên phù thủy văn hóa Việt. Theo linh tính tôi biết con Chim Việt phải còn để lại hình bóng, dấu tích ở đâu đó trong văn hóa Việt Nam ngày nay, nhất là ở những nơi thờ tự, miếu đình nào đó.

    Vì thế nhằm mục đích thuyết phục thêm nữa các người làm văn hóa Việt và phục vị lại được con Chim Việt, chim tổ của Đại Tộc Việt, tôi quyết tâm, quyết chí đi tìm một hình bóng chim tổ Việt thật hết sức đặc thù, thật hết sức dễ nhận diện, còn ở đâu đó, ngay trước mắt mọi người, ai nhìn thấy cũng nhận biết ra ngay là Chim Việt. Nhưng tìm kiếm bóng Chim Việt trong đời sống hàng ngày hiện nay thật là khó khăn vì tôi sống ở đất Bắc, ở đất tổ, nơi chắc chắn còn nhiều dấu tích hình bóng Chim Việt, lúc đó còn quá nhỏ, vào Nam lúc còn học tiểu học và rồi ra hải ngoại. Dĩ nhiên trong Nam và nhất là ở hải ngoại càng khó có cơ may tìm kiếm được. May mắn thay! Eureka! Tôi đã tìm thấy! Tôi đã tìm thấy! Tôi đã tìm thấy! Tôi đã tìm thấy con Chim Việt rất đặc thù đang đậu ở Văn Miếu, Hà Nội.


    Chim Việt là chim gì?

    Trước hết nên biết Việt là gì?

    Tôi đã viết rất cặn kẽ Việt Là Gì? trong Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt và trong Y Học Thường Thức, ở đây chỉ xin nhắc lại vài điểm chính yếu. Việt có nghĩa gốc, nghĩa chính là búa, rìu, có nghĩa chung là vật sắc nhọn. Việt là búa, vật nhọn cũng thấy qua tên vua Việt Câu Tiễn thời Xuân Thu. Câu là chiếc móc cong như lưỡi câu, chiếc liềm (câu liêm), Tiễn là Cắt như tiễn mía, là Tiện (cắt) như thợ tiện, Tiễn là vật nhọn như mũi tên (hỏa tiễn dịch là “tên lửa”). Câu Tiễn là vật, khí giới sắt bén hình nhọn và cong, một thứ việt lưỡi cong. Việt lưỡi cong Câu Tiễn mang hình ảnh của chữ yuè (Việt) khắc trên giáp cốt và kim văn:



    Chữ yuè khắc trên giáp cốt và kim văn có hình rìu lưỡi cong

    Từ Việt là một từ Hán Việt. Tên của tộc họ chúng ta không thể là một từ Hán Việt. Hiển nhiên từ Việt chỉ là một từ phiên âm dịch nghĩa của một từ nôm trăm phần trăm nào đó. Từ Việt phiên âm dịch nghĩa từ một từ Nôm nào? Việt phiên âm hay biến âm với các từ nôm:

    • Vớt là “large knife” (used as weapon): dao lớn dùng làm khí giới (Đặng Chấn Liêu). Cũng nên biết các tộc thù nghịch và những người Việt có “Tây học” trước đây thường xỉ nhục những người gốc Việt quê mùa là bọn “răng đen mã tấu”. Mã tấu là một thứ vớt, thứ việt, chính là khí giới biểu của người Việt và răng đen là nét đặc thù của người Việt thuộc tộc Mặt Trời Nước Lạc Việt Lạc Long Quân (màu đen là màu của nước thái âm).

    • Việt biến âm với Mường ngữ vác là con dao lớn như chiếc mác, mã tấu. Theo v=m (váng = màng), ta có vác = mác.

    • Vọt (theo qui luật biến âm ie=o như hiệp = hợp, ta có Việt = vọt). Nghĩa đen vọt là chiếc roi, chiếc que, chiếc nọc.

    • Việt còn biến âm với vạch (khắc, chạm, viết bằng mũi nhọn), với Hán Việt viết cùng nghĩa với vạch, với diết, diệt, giết (làm cho chết bằng vật nhọn sắc như đâm, chém con thú bằng mũi dao, mác, lao, giáo, mũi tên, rìu búa...).

    Tóm lại Việt phiên âm hay biến âm với từ vớt, vác (mác), vọt, vạch, viết có nghĩa chính là vật nhọn sắc, nọc nhọn ứng với nghĩa Hán Việt búa, rìu. Dưới diện ý nghĩa biểu tượng, vật nhọn dùng làm biểu tượng cho bộ phận sinh dục (nõ, nọc), đực (nọc), dương, thái dương, mặt trời (dương là đực và cũng có một nghĩa là mặt trời). Vậy Việt mang một ý nghĩa biểu tượng cho mặt trời, mang nghĩa mặt trời nọc, lửa, thái dương có nọc tia sáng tỏa rạng ra như mũi tên, mũi mác (>) như nọc nhọn. Việt hiểu theo nghĩa biểu tượng là MẶT TRỜI TỎA RẠNG, MẶT TRỜI RẠNG NGỜI, HỪNG RẠNG hay muốn dùng theo Hán Việt thì là VIỆT MẶT TRỜI THÁI DƯƠNG. Chúng ta thuộc họ Việt mặt trời rạng ngời, Việt mặt trời thái dương dòng thần Mặt Trời Viêm Đế, Viêm Việt.

    Hiểu rõ Việt như thế rồi, nhìn tổng quát tất cả các tên, hiệu, biểu tượng, vật tổ, vật biểu, chim biểu, thú biểu về ngành Nọc, dương của Đại tộc Việt đều có nghĩa nói chung là vật nhọn (nọc, cọc, que, vọt, búa rìu, dao, giáo, mác…), đực, dương, mặt trời thái dương tức là VIỆT ví dụ như trăm lang (lang biến âm với chàng là con trai, chàng cũng là chiếc đục
    ‘chisel’), Hùng (có một nghĩa là đực như thư hùng), chim biểu của Lang Hùng, Hùng Vương là chim Lang, chim Hùng, Chim Việt là chim Nọc, Chim Rìu; thú biểu bốn chân sống trên mặt đất là con thú Việt, là Hươu Việt nôm na gọi là con Cọc (Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc)...

    Chim Rìu, Chim Việt

    Như trên đã nói, con chim tổ tối cao tối thượng của Đại Tộc Việt phải là con Chim Việt, Chim Rìu. Tôi đã tìm thấy con Chim Việt này và đã viết trong ba bộ sử sách, sử miệng, sử đồng, nếu cần các chi tiết xin tham khảo ở đó, ở đây chỉ xin nhắc lại một vài điểm chính yếu để độc giả dễ theo dõi và dễ hiểu bài viết này mà thôi.

    Hình bóng Chim Việt qua Sử sách

    Như đã thấy, qua ngôn ngữ, Chim Việt là Chim Rìu. Đây chính là chim mỏ Cắt còn có tên là chim mỏ rìu như thấy qua bài vè các loài chim:

    Cũng còn có chú mỏ rìu,
    Rõ là tay thợ, khẳng khiu chán chường.


    Chim Cắt là Chim Rìu, Chim Việt của đại tộc Việt ở Cõi Trên Tạo Hóa. Cắt liên hệ với Anh ngữ cut (cắt), Phạn ngữ khad, to divide, to break, ta có k(h)ad = khắc = cắt (t=d), Tiền cổ-Ấn Âu ngữ *kès- ‘cut’ và gốc Ngôn ngữ của chúng ta Nostratic *k’aca. Theo chuyển hóa c=h (cùi = hủi), ta có cắt, cát, các = hac, hache (Pháp ngữ), hacha (Tây Ban Nha ngữ), hack (Anh ngữ) có nghĩa là rìu, búa chim… Chim Cắt là Chim Rìu, Chim Việt…

    Chim Cắt là Chim Rìu, Chim Việt thấy rõ qua truyện thần thoại Con Chim Torok hay Burong Tebang Rumah Bapok Mentua (Con Chim Bổ Sập Nhà Bố Vợ) của thổ dân Kelantan, Borneo. Chim Torok là chim bổ cắt. Mã ngữ torok là thọc, thục, đục, đực… Con chim bổ sập nhà bố vợ hiển nhiên phải có mỏ là mỏ đục (chisel), mỏ rìu, mỏ cắt (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt). Chim Cắt Anh ngữ là hornbill, tên khoa học là Rhinoplax vigil, (Forst., Bucerotidae) có horn là sừng (vật nhọn) và bill là bổ là mỏ. Chim mỏ cắt có tên Hán Việt là chim hồng hoàng. Chúng ta thường nói tới hai từ Lạc Hồng hay Hồng Lạc, chúng ta là con Hồng cháu Lạc. Nhìn dưới diện vật tổ chim thì Lạc Hồng là chim Hồng, chim Lạc. Chim Hồng là chim Đỏ, chim Lửa, chim Lạc là chim Nác, chim Nước. Chim Lạc chim Nước có thể là loài ngỗng trời (con ngỗng chân có màng là một loài chim nước) không phải là loài cò, một loài chim Gió (xem Chim Lạc hay Cò Lang?). Chim Hồng, theo duy dương, là chim hồng hoàng bổ cắt (xem dưới). Như thế Chim Cắt là Chim Rìu, Chim Việt, Chim Lửa, chim mặt trời, chim Nọc, hồng hoàng.

    ... (bỏ một đoạn)

    Hình bóng Chim Việt qua Sử đồng (các cổ vật bằng đồng)

    Hình bóng Chim Rìu, Chim Việt bổ cắt cũng thấy rất nhiều trên trống đồng âm dương Đông Sơn (niên đại từ 2000 – 4000 năm trước). Trên mặt trống đồng Duy Tiên, mặt tuy bị vỡ nhưng còn thấy rõ hình ba con mỏ cắt, mỏ lớn, đầu có mũ sừng. Đây là loài Great hornbill, loài mỏ cắt lớn nhất.


    Hình chim Lạc trên mặt trống đồng

    Những hình thuyền trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I, Hoàng Hạ đầu thuyền có hình Rắn-Nước miệng há rộng biểu tượng cho bộ phận sinh dục nữ với hình chim mỏ rìu, biểu tượng cho bộ phận sinh dục nam đâm vào miệng Rắn Nước. Đây là dạng lưỡng hợp sinh tạo thái âm thái dương ở cõi Đại Vũ Trụ. Đuôi thuyền hình chim nông và ngay sau đuôi thuyền có một hay hai cây nọc hình đầu Chim Cắt, ở dạng lưỡng hợp bổ nông (thiếu âm) với bồ cắt (thiếu dương) ở cõi trời Tiểu Vũ Trụ. Trên nhiều trống đồng khác như trên trống đồng sông Đà, một đuôi thuyền khắc đầu chim hình chiếc rìu (Giải Đọc Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á).

    (tóm lược đoạn này) Vật biểu chim Mỏ Cắt của các chi tộc khác của “Đàn Chim Việt”: có thể được tìm thấy ở các dân tộc:
    Mường, Ê đê, Katu, Co, người Ngaju (Dayak Nam Borneo), người Ao (Âu) Naga ở Assam (miền cực tây Vân Nam), người Hắc Đảo ở Châu Đại Dương…


    Chim mỏ cắt để trong một miếu âm hồn ở Maprik, Papua, New Guinea (Richard Cavendish, p. 282).

    Những nét đặc thù của Chim Cắt, Chim Rìu, Chim Việt

    Mỏ lớn và dài (prominent bill). Mỏ là yếu tố chủ yếu, nổi bật, đập vào mắt.

    Có giống cắt có sừng ngà hay “mũ bảo vệ đầu” (bony casque or helmet) nhô ra sau trông như bờm. Chim Cắt ngoại trừ hai giống sống dưới đất còn tất cả làm tổ trên chóp ngọn cây cao. Sống trong những rừng cây Đông Nam Á, Ấn Độ, Phi châu, Nam Arabia. Dĩ nhiên Việt Nam cũng có chim này. Trên bìa báo Khoa Học của khoa học gia Nguyễn Công Tiễu số 65 ngày 1er Mars 1934 cũng có vẽ hình con chim “có phong tục lạ” (khi con cái ấp trứng, con đực lấy bùn đắp kín tổ lại, nhốt con cái bên trong, chỉ chừa một lỗ nhỏ để đưa mồi vào nuôi con cái ấp trứng) tên Tây là dichocère và “ta gọi là chim hồng hoàng”. Tại tòa báo Khoa Học ở Ngọc Hà có nuôi một con để độc giả đến xem. Mỏ Cắt Lớn có mỏ lớn dài gần hai tấc rưỡi (25cm) rất đặc biệt. Mũ (casque) con trống có rãnh sâu. Mũ con cái bằng phẳng. Con chim “hồng hoàng” trưng bầy ở tòa báo Khoa Học chính là con Bồ Cắt Lớn, qua lời tả “chim nuôi ở tòa báo dang hai cánh đo được 1 thước 74, từ mỏ đến hết lông đuôi dài 1 thước 25... Mỏ màu vàng trên be ra nom như múi khế...”.

    • Nhưng điểm đặc thù nhất của chim mỏ cắt là cách ăn. Vì mỏ quá to nên khi ăn phải gắp, nhặt lấy quả hay hạt rồi tung cao lên trời và há to mỏ hứng cho hạt rơi vào phần sau của mỏ gần cổ họng thì mới nuốt được thức ăn. Đây là một nét đặc thù thấy trong các biểu tượng Chim Cắt thái cổ. Con chim mỏ to như mỏ rìu có mũ sừng, ngậm hạt trong mỏ trăm phần trăm là Chim Cắt.

    ... (bỏ một đoạn)

    Con Chim Việt đậu ở Văn Miếu, Hà Nội

    Tôi đã tìm thấy con chim tổ bổ cắt ngậm quả hay hạt thức ăn này ở Văn Miếu, Hà Nội. Con chim mỏ to như mỏ rìu, có mũ sừng, ngậm hạt trong mỏ này trăm phần trăm là Chim Cắt, Chim Rìu, CHIM VIỆT.


    Con chim Việt ngậm quả, hột thức ăn trong mỏ tại Văn Miếu, Hà Nội.

    Con Chim Cắt Việt này đã linh vật hóa, thần thoại hóa thành linh điểu Việt nên ngày nay không ai nhận ra. Hiển nhiên như đã thấy với điểm đặc thù ngậm quả, hạt trong mỏ đây không phải là con Chim Phượng của Trung Hoa. Chim Phượng biểu tượng cho Lửa, là con chim Lửa có cốt là con chim trĩ, có đuôi rất dài như những dải lụa vì thế còn có tên là chim giải cùi. Con chim ở đây đuôi ngắn. Đây là con Chim Việt cũng là chim biểu cho Lửa nhưng có cốt là con Chim Rìu, Chim Cắt. Hai con mang ý nghĩa biểu tượng khác nhau. Chim Phượng có cốt là chim trĩ, thuộc họ nhà gà, sống nhiều trên mặt đất nên biểu tượng cho Lửa đất, lửa cõi thế gian có một khuôn mặt chính ứng với Li, trong khi Chim Việt, Chim Rìu, Chim Cắt có loài sống trên cao, làm tổ trên ngọn cây cao như thấy qua bài đồng dao:

    Bổ cu, bổ cắt,
    Tha rác lên cây,
    Gió đánh lung lay,
    Là ông Cao Tổ...


    Bài hát này ở thể chơi chữ. Cao tổ là tổ rất cao mà cũng có nghĩa là ông tổ tối cao hay vua Cao Tổ nhà Hán... Chim Cắt sống, làm tổ trên ngọn cây cao biểu tượng cho Lửa trời, lửa vũ trụ ứng với Càn. Lửa vũ trụ sinh ra lửa thế gian. Chim Cắt Việt cõi Tạo Hóa là chim tổ tối cao của Đại tộc Việt. Chim Cắt Việt, chim (mũ) Sừng, chim Khướng, Hornbill là chim biểu của thần mặt trời Viêm Đế có họ Khương (Sừng), là chim biểu của Viêm Việt. Chim Cắt Việt tạo hóa là ông tổ của Chim Phượng thế gian của Trung Hoa. Văn hóa Chim Phượng của Trung Hoa là văn hóa thế gian, là di duệ, con cháu của văn hóa Chim Cắt Việt vũ trụ. Sau này có lẽ bị ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa các nhà nho cũng hay nói tới con trĩ Việt tức trĩ lửa thế gian. Cắt Việt vũ trụ là chim tổ của trĩ Việt thế gian, là chim tổ của trĩ phượng Trung Hoa.

    Chim Việt biểu tượng cho Nọc, đực, dương, lửa, mặt trời nọc rạng ngời, bộ phận sinh dục nam, đối ứng với chim Nông, chim Nước, chim Nòng, hai chim biểu Nọc Nòng tối cao của Đại Tộc Việt. Chim nông, Chim Cắt là chim nòng nọc, âm dương, chim biểu của Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo, của Dịch nòng nọc. Vì thế con Chim Việt đứng ở Văn Miếu phải mang nghĩa vũ trụ tạo sinh ngành nọc, lửa dương. Thật vậy, trên đầu có hình nọc hơi cong như lưỡi lửa cho biết con chim này là con chim nọc Lửa vũ trụ, Chim Việt vũ trụ. Phần mũ trên đầu phía trước gồm có ba nọc nhọn tức ba hào dương, quẻ Càn (III), lửa vũ trụ. Phần mũ sau gáy biến thành mào hình móc cong biểu tượng cho khí, gió lửa (khí gió ngành lửa, dương) Đoài.

    Phần bờm sau cổ hình sóng lưỡi lửa biểu tượng cho nước lửa (nước ngành lửa, dương) ứng với Chấn và chuỗi hình mũi mác răng cưa, cứ ở giữa hai sóng nước lửa lại có hai nọc mũi mác ghép lại thành hình chữ M. Phân tách M ra ta có /\ V /\, tức hai chữ viết nòng nọc mũi mác chỉ thiên /\ hình núi tháp nhọn là hai hào dương (I...I) kẹp ở giữa một chữ viết nòng nọc V, là một hào âm (O) tức /\V/\ = IOI, quẻ Li, lửa thế gian, núi dương, lửa, đất lửa ngành nọc dương. Mặt khác, nếu ta chồng hai nọc mũi mác này lên nhau, ta có hình tháp vách kép /\ biểu tượng cho núi tháp nhọn giống như hình núi tháp vách kép cũng biểu tượng cho lửa thế gian, đất dương Li thấy ở hoa văn Tứ Tượng trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I mà hiện nay các nhà khảo cổ học Việt Nam gọi nhầm là “họa tiết lông công” (xem The Da Vinci Code và Chữ Nòng Nọc Trên Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á). Như thế đầu chim biểu tượng cho Nọc, dương, cho ngành nọc, Việt và Tứ Tượng ngành nọc, lửa, dương... Con Chim Cắt Việt cho thấy cốt lõi văn hóa Việt là Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo, Mặt Trời giáo và Dịch nòng nọc.

    Hạnh phúc thay! Tôi đã tìm thấy con Chim Việt, chim biểu của Đại Tộc Việt ở Văn Miếu, Hà Nội, nơi biểu trưng cho trí tuệ Việt, đầu óc Việt, tinh hoa Việt, tinh anh Việt. Tôi đã tìm thấy hình bóng tổ Việt, tìm thấy một mấu chốt của căn cước Việt của mình trong đời sống tâm linh hàng ngày hiện nay. Mong các nhà làm văn hóa Việt nhận ra điểm này và giúp cho con Chim Việt vỗ cánh bay bổng trở lại trên bầu trời non nước Việt Nam. Giới khoa bảng ưu việt đã bảo tồn, lưu truyền lại hình bóng chim tổ Việt tại Văn Miếu. Để tránh lầm lẫn với văn hóa Trung Hoa, xin hãy thay thế con Chim Phượng Trung Hoa bằng con Chim Việt có cốt là con Chim Cắt, Chim Rìu đang ngậm quả, hạt này.
    Nguồn: Con chim Việt đậu tại Văn Miếu, Hà Nội – Nguyễn Xuân Quang

    Chim Lạc Việt Nam

    --------------------------------------------
    Các nguồn tham khảo:
    Rồng và tiên trong lịch sử đồ tượng Việt Nam - maxreading.com
    Con chim Việt đậu tại Văn Miếu, Hà Nội – Nguyễn Xuân Quang
    Hình chim trên trống đồng Lạc Việt - Trần Gia Phụng
    Chim Lạc là con chim gì? – Blog của 5 xu
    Đạo thờ vật tổ - wikipedia.org
    Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại – Nguyễn Vũ Tuấn Anh
    Xem thêm: Chim Lạc hay Cò Lang – Nguyễn Xuân Quang
    ___________
    antonioto tổng hợp.
    Sửa bởi antonioto : 12-11-2011 lúc 10:15 AM

  9. #19
    Ngày gia nhập
    Jun 2009
    Nơi cư ngụ
    HCM
    Bài gửi
    856
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    3
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)
    Không có con trâu hả các bác?? em thấy con trâu gần với nông dân mà ??
    nguyenducanh: -Nói thật với các bác em có xem 1 clip về đám elf này rồi phải nói là toàn cá sấu.Nói thật chứ đi làm gái cũng không đủ tư cách...


  10. #20
    Ngày gia nhập
    Dec 2007
    Nơi cư ngụ
    Thanh Chờ Ì - Hà Lờ Ội
    Bài gửi
    1.697
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    9
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)
    Như vậy, qua 4 loài linh vật đã kể trên gồm: Rồng – Nghê – Rùa – Chim Lạc, chúng ta có thể tự hào nói rằng đây chính là tứ linh của người Việt, bởi chúng xuất phát từ chính nền văn hóa của người Việt.

    Thực ra, trong nền văn hóa Việt, còn có rất nhiều loài vật cũng được tôn thờ khác như: Trâu, Voi, Cóc… Nhưng năng lực của tớ có hạn, xin phép nhường chỗ cho các cậu nghiên cứu tiếp. Tin rằng, truyền thống văn hóa Việt Nam sẽ không bao giờ bị lãng quên. Cảm ơn các bạn đã chú ý theo dõi.

Chủ đề tương tự

  1. [sggp.org.vn] Nhà văn Hoàng Quốc Hải: Nước ta chưa văn chương hóa được lịch sử
    By littlehorsefish in forum Đất nước và con người Việt Nam
    Trả lời: 6
    Bài mới gửi: 17-07-2012, 02:15 PM
  2. Trả lời: 14
    Bài mới gửi: 26-09-2011, 07:14 PM
  3. Thư ngỏ gửi các nhà văn Trung Quốc (nhà văn Nguyễn Khắc Phục)
    By Hoàng Trường Sa in forum Chung tay "Vì Hoàng Sa - Trường Sa thân yêu"
    Trả lời: 3
    Bài mới gửi: 12-12-2010, 11:40 AM
  4. [SGTT]Văn hoá nghị trường và văn hoá từ chức
    By DPRK in forum Kinh tế-Xã hội
    Trả lời: 2
    Bài mới gửi: 29-06-2010, 03:31 PM

Bookmarks

Quyền hạn Gửi bài

  • Bạn không thể gửi chủ đề
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài của mình
  •