HOANGSA.ORG ĐÃ CHUYỂN SANG DIỄN ĐÀN MỚI- DIỄN ĐÀN CŨ CHỈ ĐỂ LƯU TRỮ KHÔNG THỂ VIẾT BÀI.

ĐỂ ĐI ĐẾN DIỄN ĐÀN MỚI XIN VUI LÒNG CLICK VÀO ĐÂY HTTP://HOANGSA.ORG/F

HOANGSA.ORG ĐÃ CHUYỂN SANG DIỄN ĐÀN MỚI- DIỄN ĐÀN CŨ CHỈ ĐỂ LƯU TRỮ KHÔNG THỂ VIẾT BÀI.

ĐỂ ĐI ĐẾN DIỄN ĐÀN MỚI XIN VUI LÒNG CLICK VÀO ĐÂY HTTP://HOANGSA.ORG/F

User Tag List

Trang 1 trong 11 123 ... Cuối cùngCuối cùng
Kết quả từ 1 tới 10 trên 104
  1. #1
    Ngày gia nhập
    Nov 2010
    Bài gửi
    53
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    0
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)

    Việt Nam với các diễn biến mới trong khu vực và quốc tế !


    Vài nhận định về các tính toán sai lầm chiến lược của Trung Quốc

    Từ đầu năm 2010 đến nay bang giao Trung-Mỹ đã trải qua nhiều sóng gió, đối đầu nhau trên các lãnh vực như nhân quyền, thuơng mại, vấn đề Đài Loan, về trách nhiệm của nước lớn trước các thử thách quốc tế và nỗ lực gia tăng quốc phòng không có lý do của Trung Quốc.

    Về nhân quyền, sau khi bị chỉ trích kịch liệt do bỏ qua vấn đề nhân quyền trong chuyến công du Trung Quốc mà B. Obama đã hứa hẹn sau khi đắc cử, nhất là sau khi lãnh giải Nobel Hòa bình, ông Obama đã cố gắng chấn chỉnh lại uy tín của mình qua việc tiếp đón đức Đại Lai Lạt Ma vào trung tuần tháng 2 năm 2010.

    Vấn đề Đài Loan, do ràng buộc của kết ước Taiwan Act năm 1979, Hoa Kỳ có cam kết bảo vệ an ninh xứ đảo này, bao gồm việc chuyển giao vũ khí tự vệ dưới hình thức mua bán. Vì thế Quốc hội Hoa Kỳ phê chuẩn hợp đồng bán vũ khí cho Đài Loan (một số lượng vũ khí tương đương 6,5 tỉ USD, bao gồm trực thăng, hỏa tiễn phòng không PAC-3 và có thể các thiết kế cho tàu ngầm). Về kinh tế, Hoa Kỳ cho rằng Bắc Kinh đã không tôn trọng các luật lệ WTO ràng buộc như trợ giá cho các mặt hàng xuất khẩu hoặc cố giữ tỉ giá đồng Nguyên thấp. Áp dụng các biện pháp này Trung Quốc dễ dàng thúc đẩy được hàng hóa nội địa xuất khẩu nhưng lại ảnh hưởng tai hại đến nhiều kỹ nghệ sản xuất của nhiều nước khác. Về ngoại giao, thực ra là về nghĩa vụ của một nước lớn trước các vấn đề liên quan đến an ninh quốc tế, Trung Quốc luôn ủng hộ Iran và phản đối Liên hiệp quốc khi cơ quan quốc tế này dự định ra nghị quyết trừng phạt Iran trong vấn đề làm giàu chất fissile (chất phân nhân). Riêng vấn đề diệt chủng tại Darfur, Bắc Kinh luôn đứng về phía thủ phạm, vì Trung Quốc cần nguồn nguyên liệu dồi dào và rẻ tại Sudan. Mặc dầu trên quan điểm quốc tế công pháp, đối với chế độ diệt chủng dã man này, Liên hiệp quốc cần phải áp dụng nguyên tắc “quyền và nghĩa vụ can thiệp” (droit et devoir d’ingérance) để bảo vệ sinh mạng cho dân chúng. Nhưng Bắc Kinh lại đứng sau chế độ độc tài khát máu này ở Khartoum, chống lại mọi nghị quyết của Liên hiệp quốc, để hưởng lợi nhuận từ việc mua bán quặng mỏ. Bắc Kinh cũng luôn ủng hộ Bắc Hàn, một chế độ cộng sản sắt máu cuối cùng còn sót lại trên thế giới, nuôi dưỡng chế độ của Kim Jong Il, thường trực đe dọa an ninh toàn vùng Đông Á, như Nhật Bản và Nam Hàn, đồng thời làm khó hội đàm 6 bên về vũ khí hạt nhân và tương lai bán đảo Triều Tiên. Về phương diện nghĩa vụ của nước lớn trước những vấn nạn liên hệ đến cả nhân loại, ta cũng không thể không nhắc thái độ trịch thuợng, vô trách nhiệm của Trung Quốc năm 2009 qua hội nghị thế giới về biến đổi khí hậu tại Copenhagen…

    Dưới mắt lãnh đạo Bắc Kinh, khi đặt các vấn đề ở các việc trên, Hoa Kỳ (trong một chừng mực Liên hiệp quốc) đã can thiệp vào nội bộ của Trung Quốc. Bắc Kinh phản ứng lại bằng nhiều biện pháp, chính đạo cũng có, tà đạo cũng có, nhưng mãnh liệt nhất là những vấn đề liên quan đến Tây Tạng và Đài Loan. Bắc Kinh đơn phương ngưng các trao đổi về quốc phòng với Hoa Kỳ đồng thời đe dọa sẽ sử dụng vũ lực với Đài Loan. Ngoài ra còn điệu võ dương oai thử hỏa tiễn đánh phá các mục tiêu trên biển nhằm ngăn chặn hạm đội Mỹ tiến gần biển Đài Loan hay biển Hoa Nam (tức biển Đông theo Việt Nam), cho tập trận biểu dương lực lượng hải quân, không quân…, cho thử hỏa tiễn chống vệ tinh (làm ô nhiễm vùng không gian, vùng qua lại của các vệ tinh ở quĩ đạo thấp, mặc dầu việc này bị thế giới lên án vì đã quân sự hóa vùng không gian bên ngoài quả đất). Trung Quốc cũng mở các cuộc tấn công tin học (như vụ Google). Nói chung, các phản ứng của Bắc Kinh phần lớn tập trung vào việc biểu dương “cơ bắp” nhằm răn đe hơn là nghiên cứu bề sâu để thay đổi về bản chất. Việc này đã gây nên những sai lầm trong tính toán chiến lược.

    Trong khi đó Ngũ Giác Đài thường xuyên bày tỏ quan ngại về khả năng quốc phòng ngày càng lớn mà không có lý do giải thích của quân đội nhân dân Trung Quốc…

    Nhưng các vấn đề nổi bật, ảnh hưởng đến việc thay đổi toàn bộ cục diện vùng Châu Á Thái Bình Dương, xảy ra từ đầu năm cho đến hôm nay vẫn là:

    1/ Biến cố chiếc tuần dương hạm Cheonan của hải quân Nam Hàn bị chìm trong biển Hoàng Hải vào tháng 3 năm 2010,
    2/ Tuyên bố của Ngoại trưởng Hoa Kỳ H. Clinton về chủ trương của Hoa Kỳ trong việc giải quyết vấn đề tranh chấp biển Đông tháng 7 năm 2010 và
    3/ Biến cố Nhật-Trung về tranh chấp quần đảo Senkaku tháng 9 năm 2010.

    Nói là do các biến cố này, nhưng thực ra là do hậu quả của việc tính toán sai lầm chiến lược của lãnh đạo Bắc Kinh sẽ nói dưới đây. Việc này đã giúp cho Hoa Kỳ một dịp may hiếm có, củng cố lại vị trí đang lung lay của mình tại Nhật Bản, Nam Hàn. Riêng tại các xứ Đông Nam Á, những sai lầm của Trung Quốc đã giúp Hoa Kỳ trở lại (ở một vài nước), đã được nước chủ nhà tiếp đón long trọng và hoan hỉ chưa từng thấy. Dường như chưa bao giờ danh dự và uy tín của Hoa Kỳ lại được tuyên dương đến mức cao như thế ở khu vực này!

    Trong vấn đề chiếc tàu tên Cheonan, một tuần dương hạm thuộc hải quân Nam Hàn, dài 88m, rộng 10m có trọng tải 1,200 tấn, thủy thủ đoàn là 104 người, tàu này đã bị nổ, gãy làm hai, chìm tại Hoàng Hải ngày 26 tháng 3 năm 2010, làm cho 46 người thiệt mạng. Theo tin tức đăng tải thì chiếc Cheonan lúc bị nạn còn đang hoạt động trong vùng biển thuộc kiểm soát của Nam Hàn. Nguyên nhân của vụ chìm tàu, kết quả từ các cuộc điều tra đa quốc gia, trong đó có cuộc điều tra độc lập của Nga, đều đồng ý cho rằng tàu chìm không phải do tai nạn, như vũ khí trên tàu phát nổ, mà do vật nổ (thí dụ: một quả thủy lôi) đến từ bên ngoài. Tuy nhiên độ sâu của vùng biển nơi tàu chìm chỉ có khoảng 20m, là mực nước khó có thể cho một tàu ngầm nào hoạt động. Thật là điều bí ẩn vì vật nổ này (quả thủy lôi) đến từ đâu? Phía Nam Hàn và Hoa Kỳ đều thuyết phục rằng thủ phạm chính là thủy lôi của Bắc Hàn, có thể do cá heo hay một chiếc tiềm thủy đỉnh loại cực nhỏ bắn vào. Vết tích của thủy lôi còn tìm thấy trên xác tàu, các chuyên gia Hoa Kỳ và Nam Hàn khẳng định thủy lôi đó được sản xuất tại Bắc Hàn. Nhưng phía Bình Nhưỡng kịch liệt phản đối, đe dọa sẽ phát động chiến tranh toàn diện. Họ đã phủ nhận mọi kết án từ phía Hoa Kỳ và Nam Hàn. Thái độ của Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc, triệu tập do yêu cầu của Nam Hàn, cũng tỏ ra thận trọng, không “lên án” Bắc Hàn, vì chưa có bằng chứng cụ thể. Dĩ nhiên Bắc Kinh đứng về phía Bình Nhưỡng trong vụ này. Nhân dịp này các cuộc biểu dương qui mô giữa lực lượng hải quân Hoa Kỳ và Nam Hàn đã diễn ra, có cả sự tham gia (lần đầu tiên) của Nhật Bản và hải quân nhiều nước khác, như đã thấy vừa qua (tháng 7 và tháng 10) tại vùng biển Nhật Bản hay Hoàng Hải.

    Ai là thủ phạm bắn chìm tàu Cheonan, ngoài Bắc Hàn? Trái với khẳng định Hoa Kỳ và Nam Hàn, các chuyên gia Nga thì dè dặt trong kết luận. Từ đầu tháng Mười 2010, Nga cho biết không có gì chắc chắn để kết luận thủ phạm là Bắc Hàn, nhưng họ lại không công bố nội dung kết quả nghiên cứu để biết ai là thủ phạm. Có thể việc không công bố là một lựa chọn mang tính “chiến lược” của Nga.

    Biến cố Cheonan tạo nên căng thẳng chưa từng thấy ở hai bên Hàn Quốc từ khi hiệp ước đình chiến 1953 (hiệp ước ngưng bắn nhưng không kết thúc chiến tranh, tức tình trạng chiến tranh ở hai bên vẫn còn tiếp diễn). Ai cũng cho rằng chiến tranh sẽ bùng nổ trở lại vì Nam Hàn không thể ngồi yên không trả đũa (nếu thủ phạm là Bắc Hàn).

    Nhưng Bắc Hàn không là thủ phạm thì ai là thủ phạm? Nếu loại bỏ những rủi ro đến từ hành động vô ý, tính toán sai lầm của binh sĩ Bắc Hàn ở các cấp dưới, thủ phạm đánh chìm chiếc tàu Cheonan sẽ phải là phía có lợi nhất, nếu chiến tranh Nam, Bắc Hàn xảy ra.

    Phía Bắc Hàn có lợi gì nếu cuộc chiến bùng nổ trở lại? Điều mà lãnh đạo Bình Nhưỡng phải nắm vững là cuộc chiến này họ không thể thắng. Họ có thể gây thiệt hại ghê gớm cho Nam Hàn (và trong chừng mực Nhật Bản) nhưng họ không thể thắng. Từ lâu phía Bắc Hàn đã khai thác tối đa khả năng răn đe (có khả năng gây thiệt hại ghê gớm) này, một mặt nhằm kéo dài chế độ độc tài gia đình trị, một mặt bắt chẹt Nam Hàn và Hoa Kỳ đòi hỏi hàng hóa “viện trợ”. Hơn nữa, với tình hình lãnh tụ Kim Jong Il bệnh tật, (người kế vị chưa ổn định), gây chiến đồng nghĩa với tự sát. Chiến tranh xảy ra, Bắc Hàn sẽ mất hết, vừa mất nước và những cái quí nhất của Kim Jong Il, như tính mạng của cả dòng họ và quyền lãnh đạo.

    Như thế Bắc Hàn không có lợi gì nếu chiến tranh bùng nổ trở lại. Trong khi phía chính đáng là Nam Hàn sẽ được sự ủng hộ của thế giới vì là cuộc chiến tự vệ, vì Bắc Hàn khai hỏa trước. Nếu suy luận như thế thì khó có thể kết luận thủ phạm là lãnh đạo Bình Nhưỡng. Trong khi bằng chứng cụ thể thì không có gì chắc chắn.


    Vậy thì ai có lợi?


    Trong một bài xã luận mới đây đăng trên Đại Công Báo (Hồng Kông), tác giả Giáo sư Trần Khởi Mậu, Phó Chủ nhiệm Trung tâm Nghiên cứu các Vấn đề Quốc tế Thượng Hải, cho rằng Hoa Kỳ có lợi nhất trong biến cố này:

    Nhìn lại diễn biến khu vực thời gian qua có thể thấy rõ, trước khi xảy ra sự kiện tàu Cheonan, tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương, ở một mức độ nào đó, Mỹ đã lâm vào khó khăn chiến lược: việc di chuyển căn cứ quân sự của Mỹ ở Nhật Bản đang vấp phải sự phản đối mạnh mẽ của dân chúng Nhật Bản; Hàn Quốc cũng không còn hoan nghênh việc đóng quân lâu dài của quân đội Mỹ tại đất nước này và đã đạt được với Mỹ một hiệp định về việc rút toàn bộ lính Mỹ khỏi Hàn Quốc trong hai năm tới; chính phủ của cựu Thủ tướng Hatoyama đề xuất việc xây dựng một cộng đồng Đông Á không bao gồm Mỹ trong đó cũng khiến Mỹ cảm nhận được nguy cơ bị đẩy ra khỏi vòng tròn kinh tế Đông Á đang có sức phát triển mạnh…

    Sau sự kiện tàu Cheonan, Mỹ nhận thấy đây là cơ hội tôt để củng cố địa vị bá quyền của mình tại châu Á – Thái Bình Dương, lập tức nắm lấy cơ hội này, điều binh khiển tướng, thể hiện sức mạnh, ra sức ủng hộ Hàn Quốc về mặt ngoại giao, thừa cơ tăng cường quan hệ đồng minh với Nhật Bản. Mỹ đã đạt được với Hàn Quốc về một hiệp định đóng quân lâu dài tại nước này…

    Một vài ý kiến trong bài này cần thảo luận lại, như hiệp định về việc rút toàn bộ lính Mỹ khỏi Hàn Quốc trong hai năm tới, hay việc đánh giá quá cao việc xây dựng một cộng đồng Đông Á không bao gồm Mỹ của Nhật

    Thực ra các nước Nhật và Đại Hàn là đồng minh truyền thống của Hoa Kỳ từ sau Thế chiến thứ hai. Mặc dầu có nhiều tiếng nói chống đối lại sự hiện diện của quân đội Hoa Kỳ tại Okinawa (Nhật) và Nam Hàn, việc này không phải chỉ xảy ra mới đây mà từ trước đến nay đều có những phản đối như vậy. Hai nước này có chế độ dân chủ tự do, người dân có quyền biểu lộ chính kiến, do đó việc phản đối quân đội nước ngoài trên nước mình thường xuyên được giới chính trị sử dụng để kiếm phiếu. Nhưng trên vấn đề an ninh quốc gia, với sự đe dọa ngày một lớn của Trung Quốc ở phía Tây và của Nga ở phía Bắc, hai nước này không có lý do loại Mỹ ra ngoài một cách đơn giản.

    Ở Nam Hàn, người viết chưa hề nghe đến một hiệp ước “giảm binh” với Hoa Kỳ trong hai năm tới như bài viết của GS Trần.

    Nếu Hoa Kỳ rút toàn bộ quân đội ra khỏi Nam Hàn, chắc chắn Nam Hàn sẽ lọt vào vòng ảnh hưởng của Trung Quốc trong một thời gian ngắn. Lãnh đạo ở Hán Thành không đến nỗi suy nhược thần kinh để không biết tầm quan trọng về vị trí chiến lược của bán đảo Triều Tiên, nơi hội tụ các thế lực mạnh (Hoa Kỳ, Nhật Bản) và các thế lực đối chọi, ảnh hưởng chủ nghĩa bành trướng ở cận bên là Trung Quốc và Nga. Nhiều lý thuyết chiến lược đương đại trên thế giới đều đặt bán đảo Triều Tiên ở tầm quan trọng bật nhất (nhất là thuyết Rim land và Heartland của H. Mackinder). Vấn đề là cần phải tìm hiểu sự hiện hữu (nếu có) và nội dung của hiệp định về việc rút toàn bộ lính Mỹ khỏi Hàn Quốc trong hai năm tới để có thể có một quan điểm rõ rệt.

    Với Nhật Bản, trang nhà của Bộ Quốc phòng Nhật Bản đăng tải đầy đủ các kết ước giữa Hoa Kỳ và Nhật, ai cũng có thể tham khảo. Ta thấy hiện nay Hoa Kỳ đang thực hiện việc xây dựng lại phi trường để đổi hướng phi đạo ở Okinawa cũng như thay đổi giờ bay của các phi vụ quân sự để không quấy nhiễu sự yên tĩnh của dân chúng. Về các việc vận động tạo vùng thịnh vượng chung không có Mỹ như ASEAN+3, khối Châu Âu v.v… đều không nhằm mục tiêu chống Hoa Kỳ. Trong khi đó quan hệ thuơng mại của Nhật và Trung Quốc năm 2008 lên tới 267 tỉ đô la, vượt qua mọi quan hệ thuơng mại giữa Nhật – Hoa Kỳ (vượt qua từ năm 2004) và Nhật – Châu Âu (vượt qua từ 2003). Trong khi đó, cán cân thuơng mại Nhật-Trung, theo văn bản của Nhật năm 2009, Nhật đã thâm thủng 18 tỉ. Nếu Hoa Kỳ lo ngại hay phản đối thì đã lên tiếng từ năm 2004, chứ không chờ đến việc Nhật xây dựng một cộng đồng Đông Á không bao gồm Mỹ mới bắt đầu lo ngại.

    Bài viết của GS Giáo sư Trần Khởi Mậu do đó phải có mục đích khác. Theo tôi, có hai việc, thứ nhất là nhấn mạnh Hoa Kỳ “có lợi” trong biến cố Cheonan, thứ hai là giảm thiểu mọi cảm giác, hay xóa bỏ những hình ảnh một Trung Quốc hung hăng và bành trướng trước cộng đồng quốc tế.

    Thật vậy, nếu xem xét lại một cách thận trọng các dữ kiện lịch sử hay các biến cố đương đại liên quan đến Trung Quốc thì ta sẽ có một cái nhìn hoàn toàn khác.

    Về tuyên bố “lợi ích cốt lõi” ở biển Đông của một viên chức ngoại giao Trung Quốc với giới có thẩm quyền Hoa Kỳ, dường như khoảng đầu năm 2010, hiện nay đang được Bắc Kinh thẩm định lại. Nhiều tiếng nói trỗi lên cho rằng điều đó không (hay chưa) phải là quan điểm chính thức của Trung Quốc. Nhưng việc này không xóa bỏ được những nghi kỵ của các nước liên quan. Các động thái của Trung Quốc qua các hành vi như đơn phương cấm bắt đánh cá, kể cả trong các vùng biển thuộc hải phận của nước khác, hay là tuyên bố ngoại giao biểu hiện qua tấm bản đồ chín gạch, lần đầu tiên nộp lên Liên hiệp quốc nhân việc nước này phản đối hồ sơ “thêm lục địa mở rộng” của Việt Nam nộp chung với Mã Lai và hồ sơ riêng của Việt Nam, vào tháng 8 năm 2009. Các việc này đã cho thấy ý định rõ rệt của Trung Quốc ở biển Đông là giành gần trọn vẹn vùng biển và các quần đảo ở đây về Trung Quốc. Tuyên bố “lợi ích cốt lõi” ở biển Đông do đó chỉ là cách thể hiện bằng ngôn từ các hành động cấm đánh cá hay tấm bản đồ 9 gạch giành 80% biển Đông về Trung Quốc mà thôi!
    Do đó các vận động nhằm điều chỉnh lại tuyên bố “lợi ích cốt lõi” sẽ không thuyết phục được ai, nếu như tấm bản đồ 9 gạch chưa được rút về hay việc cấm đánh cá trên các vùng biển của nước khác chưa được Bắc Kinh bãi bỏ.

    Nhưng điều này phản ảnh việc tính toán sai lầm trầm trọng về chiến lược của phía Trung Quốc trong thời gian vừa qua.

    Nếu ta ngược thời gian, đến tháng 3 năm 2008, lúc Trung tướng Lương Quang Liệt được phong làm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Liền sau đó ông này tuyên bố:

    “Ba ngày, tôi sẽ lấy xong Đài Loan”. Điều đáng quan tâm là ông Liệt đã từng biểu lộ trước đó quan điểm quốc phòng của mình: “Đối với Đài Loan, đánh chậm không bằng đánh sớm, đánh nhỏ không bằng đánh lớn, đánh chiến tranh thường qui không bằng đánh chiến tranh hạt nhân, chỉ đánh Đài Loan không bằng lôi cả Nhật Bản vào cùng đánh”.

    Điều này không mới mẻ gì, trong sách trắng quốc phòng của Đài Loan đã từng phân tích nguy cơ Trung Quốc tấn công Đài Loan, việc này sẽ kéo Hoa Kỳ cùng toàn bộ khu vực Đông Á và Đông Nam Á vào cuộc chiến.

    Nhưng nó cho ta thấy rõ rệt ý đồ “chiến lược” của Trung Quốc: vấn đề Đài Loan bao gồm luôn Nhật Bản và các nước Đông Nam Á.

    Về Hoa Kỳ, các viên chức quân đội của Trung Quốc, nhân buổi nói chuyện nhậm chức của Lương Quang Liệt, đe dọa như sau: “Nếu nước Mỹ đánh vào lãnh thổ nước ta, chúng ta sẽ dùng một nửa Trung Quốc kể từ Tây An trở về đông để đổi lấy 400 thành phố của Mỹ."

    Mặt khác, Trung Quốc cũng vận động để chuẩn bị dư luận cho tính chính đáng của mình. Ta đã thấy Trung Quốc luôn tìm cách đưa các tranh chấp lãnh thổ với các nước khác vào vấn đề “nội bộ”. Tuyên bố “lợi ích cốt lõi” ở biển Đông vừa xong thì xảy đến biến cố Senkaku với Nhật. Trong các tuyên bố của Trung Quốc về quần đảo Senkaku, về Hoàng Sa và Trường Sa hay về biển Đông…, Trung Quốc luôn cho rằng chúng đều thuộc chủ quyền “bất khả tranh nghị” của Trung Quốc. Như thế, nếu Trung Quốc sử dụng vũ lực để chiếm vùng biển hay các đảo đó thì họ sẽ hành động dưới hình thức “tự vệ”. Trung Quốc hy vọng làm thế sẽ tránh được mọi sự can thiệp của các nước khác, nhất là Hoa Kỳ. Cuộc chiến xảy ra ít nhất họ tạo được thế “chính nghĩa”.

    Các thí dụ sau đây là bằng chứng điển hình về việc vận động dư luận cho các cuộc chiến tự vệ của Trung Quốc:

    Nhắc lại lời tuyên bố ngày 20 tháng 1 năm 1974 của Trung Quốc sau khi xâm lăng quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam: “Trung Quốc là một quốc gia xã hội chủ nghĩa. Chúng tôi không bao giờ chiếm đóng lãnh thổ của nước khác, nhưng chúng tôi cũng sẽ không để cho các nước khác chiếm đóng lãnh-thổ của chúng tôi… Để bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền của Trung Quốc, Chính phủ và nhân dân Trung Hoa có quyền làm mọi hành vi cần thiết để tự vệ.”

    Trung Quốc cũng tuyên bố tương tự như thế cho cuộc chiến xâm lược vùng biên giới Việt-Trung tháng 2 năm 1979. Và nội dung tuyên bố năm 1988, 1989 sau khi chiếm một số đảo Trường Sa của Việt Nam cũng không khác.

    Với những chuẩn bị như thế, cuộc chiến tự vệ sắp tới (nếu có) sẽ mang tên: Giải quyết vấn đề Đài Loan và thâu hồi các vùng lãnh thổ của Trung Quốc đã bị nước ngoài chiếm đóng. Còn lại chỉ là “thời cơ”, tức thời điểm thuận lợi nhất để Trung Quốc hành động. “Thời cơ” này có thể là “cơ trời” hay sẽ do Trung Quốc tạo nên.

    Trở lại biến cố Cheonan, mặc dầu chưa thể quyết đoán ai là thủ phạm, nhưng sự việc biển Đông hay Senkaku đều xảy ra có lớp lang, đều do Trung Quốc đứng chủ động phía sau.

    Ai cũng thấy rằng biến cố Cheonan tạo thời cơ cho Trung Quốc.

    Nam Hàn đe dọa trả đũa Bắc Hàn bằng vũ lực. Nếu việc này thành hiện thực thì chắc chắn sẽ châm ngòi lại cuộc chiến Triều Tiên (tạm ngưng bắn từ năm 1953). Chiến tranh Nam, Bắc Hàn bùng nổ, Hoa Kỳ và Nhật Bản ban đầu chắc chắn sẽ lúng túng vì phải đối phó tấn công của Bắc Hàn. Việc này sẽ tạo cơ hội bằng vàng để Trung Quốc chiếm toàn biển Đông và quần đảo Senkaku cùng với Đài Loan.

    Nếu suy luận như thế, không phải Hoa Kỳ, phía Trung Quốc mới là phía có lợi nhất nếu chiến tranh Nam, Bắc Hàn bùng nổ.

    Nhưng Trung Quốc đã tính toán sai lầm về chiến lược. Đối với biển Đông, tuyên bố của Hoa Kỳ qua bà Ngoại trưởng H. Clinton vào tháng 7 năm 2010 nhân hội nghị ASEAN tại Hà Nội cho thấy Hoa Kỳ sẽ không đứng ngoài. Đối với quần đảo Senkaku, Hoa Kỳ đã tái khẳng định khu vực biển và các đảo này nằm trong hiệp ước an ninh hỗ tương giữa Nhật và Hoa Kỳ, tức là Hoa Kỳ sẽ can thiệp. Tuần vừa qua, Hoa Kỳ, Nhật Bản cùng một số nước đồng minh của Hoa Kỳ diễn tập trận chiến “chiếm lại Senkaku”, cho thấy quyết tâm của Hoa Kỳ và đồng minh sẽ không nói suông. Phía Trung Quốc phản ứng lại bằng cách biểu dương tập trận bắn rớt chiến đấu cơ Raptor F22 của Hoa Kỳ (nhưng hư thực thì binh bất yếm trá!). Sai lầm của Trung Quốc là không “tính” được phản ứng của Hoa Kỳ và các nước liên quan. Dĩ nhiên thái độ của Hoa Kỳ có được như vậy là do sự vận động kín đáo nhưng có hiệu quả của các nước liên quan.

    Về bài viết của GS Trần ở trên, vấn đề chiếc tàu Cheonan còn nhiều uẩn khúc, chưa biết thủ phạm, nhưng ông này đã nói đúng rõ ràng Hoa Kỳ có “lợi”. Nhưng khi tình hình khu vực Đông và Đông Nam Á căng thẳng thì sự có mặt của Hoa Kỳ ở các khu vực này sẽ được hoan nghênh, nhất là sự căng thẳng đó đem lại từ những đe dọa của Trung Quốc, dầu có hay không có biến cố Cheonan.


    Đây sự thất bại cho toan tính chiến lược của Trung Quốc. Việc này thấy được qua việc Lương Quang Liệt đã xuống giọng, so với Dương Khiết Trì trước đó, trong các tuyên bố về biển Đông qua buổi họp ADMM + vào đầu tháng 10.2010 tại Hà Nội. Các thất bại từ tính toán chiến lược của Trung Quốc đã để lộ tham vọng của Trung Quốc, đã gây hiệu quả ngược, rất tai hại cho Trung Quốc trên đường dài. Vòng vây bao quanh Trung Quốc sẽ ngày càng chặt chẽ. Các thế hệ lãnh đạo hiện tại và tương lai của Trung Quốc còn phải nghe lời lãnh tụ Đặng Tiểu Bình ẩn nhẫn giấu mình thêm nhiều năm nữa.Và điều không nghi ngờ, sự trở lại (hay việc tái khẳng định sự hiện diện) của Hoa Kỳ tại khu vực Đông và Đông Nam Á, là dấu hiệu của sự việc chuyển trục thế giới từ Châu Âu-Đại Tây Dương sang Đông, Đông Nam Á-Thái Bình Dương.

    Riêng về các nỗ lực của Việt Nam, nhất là phe quân đội, đã có đóng góp không nhỏ, đã được thế giới khen ngợi thành quả “ngoại giao du kích” (guerilla diplomacy) , như nội dung một bài viết trên báo chi nước ngoài gần đây. Thành quả này cần phải được xem xét và đánh giá lại cho đúng mức. Sự “dấn thân” của Hoa Kỳ ở biển Đông chỉ ở mức “tuyên bố”, chưa có gì ràng buộc. ...

    ...........

    next..

    Sửa bởi Lão Ái : 19-04-2011 lúc 06:44 PM

  2. #2
    Ngày gia nhập
    Nov 2010
    Bài gửi
    53
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    0
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)
    ..............

    Căng thẳng giữa Trung Quốc và các nước láng giềng chỉ thực sự mới bắt đầu.

    Trong vài tuần qua, tất cả châu Á đã theo dõi với sự lo lắng khi Trung Quốc buộc Nhật Bản phải thoái bộ trong một cuộc tranh chấp đường biển bằng cách hạ thấp các quan hệ ngoại giao, và sẽ dung túng nếu không muốn nói là khuyến khích các cuộc biểu tình trên đường phố của công chúng chống lại Tokyo cũng như ngưng vận chuyển các mặt hàng kim loại công nghiệp quan trọng cho Nhật Bản. Cuộc đối mặt này tượng trưng cho thái độ mới của Bắc Kinh: một khi đã từng chính thức hứa hẹn vươn lên một cách hòa bình trong hợp tác với các nước láng giềng, Trung Quốc bây giờ quyết tâm biểu lộ với các nước láng giềng và Hoa Kỳ, rằng họ đã đang phát triển các quyền lợi quân sự và kinh tế mà các quốc gia khác bỏ qua vào những lúc nguy hiểm của mình.


    Trung Quốc đã mở lại vết thương cũ với Ấn Độ bằng cách công khai đưa ra những đòi hỏi về chủ quyền lãnh thổ tại bang Arunachal Pradesh, Ấn Độ, khiến đưa đến sự tập trung quân đội của cả hai nước dọc theo biên giới. Bắc Kinh đã từng công bố cùng Biển Nam Trung Hoa là một "quyền lợi quốc gia cốt lõi" một thuật ngữ trước đây được sử dụng cho Đài Loan và Tây Tạng (trong một số các nơi khác) để báo hiệu rằng Bắc Kinh sẽ không cho phép những lời chỉ trích từ bên ngoài đến khiếu nại của mình cho một vạt đại dương rộng lớn, có giá trị về chiến lược cũng như phong phú về dầu hỏa. Hải quân Trung Quốc ngày càng quấy rối các tàu thuyền của Mỹ và Nhật Bản trong vùng biển châu Á. Và Bắc Kinh đã rộng rãi ngăn chặn các khiếu nại của các quốc gia trong lục địa Đông Nam Á nơi các con đập mới của Trung Quốc trên phần thượng nguồn sông Mekong đã chuyển hướng lưu vực và làm tổn thương đời sống của ngư dân và nông dân ở dưới hạ lưu. Trung Quốc cũng đã nghiêm khắc lên án cuộc tập trận hải quân chung giữa Mỹ-Hàn, và áp dụng một áp lực ngày càng tăng lên các quốc gia Đông Nam Á để phải buông bỏ ngay cả những quan hệ không chính thức với Đài Loan, nước đã từng có quan hệ rất gần với các quốc gia như Singapore và Philippines.


    Hành vi hung hăng của Trung Quốc đại diện cho một thay đổi lớn lao trong chính sách từ lâu của Trung Quốc. Đặng Tiểu Bình đã thường thúc giục các nhà lãnh đạo Trung Quốc hãy giữ một thái độ khiêm tốn trong công tác đối ngoại. Trong cuộc khủng hoảng tài chính châu Á vào cuối những năm 1990 Bắc Kinh đã phát động một cuộc tấn công quyến rũ đối với các nước láng giềng, những nước vẫn còn nhớ thời năm tháng cách mạng, chủ nghĩa can thiệp Trung Quốc của Mao Trạch Đông, khi họ ủng hộ chế độ diệt chủng Khmer Đỏ và quân nổi dậy ở Miến Điện giữa các nguyên nhân khác. Lối tiếp cận êm dịu nhẹ nhàng này gặt hái được phần thưởng. Bắc Kinh đã ký được một thỏa thuận thương mại tự do với Hiệp hội các nước Đông Nam Á có hiệu lực vào đầu năm nay giúp Bắc Kinh trở thành một trong những đối tác thương mại hàng đầu của gần như tất cả các nước trong khu vực. Trong cuối những năm 1990 và đầu những năm 2000 Trung Quốc nâng cấp vai trò của nó trong các tổ chức khu vực ở châu Á, bao gồm ASEAN, và chuyển trọng tâm quan hệ của mình về Ấn Độ, người khổng lồ mới nổi khác, từ các mối thù địch cũ để trở thành các mối liên kết thương mại mới, bao gồm quan hệ đối tác giữa các công ty công nghệ thông tin hàng đầu thế giới của Ấn Độ với các đồng nghiệp Trung Quốc của mình. Các nhà ngoại giao trong khu vực đã đánh giá cao lối tiếp cận xây dựng trên mối đồng thuận của Trung Quốc, và tương phản sắc nét của Trung Quốc với phong cách kiểu "không theo chúng tôi là chống lại chúng tôi" của chính quyền George W. Bush.


    Trong một số cách thức, sự thay đổi trong thái độ là một sự mở rộng mối quan tâm lâu dài của Trung Quốc trong việc bảo vệ quyền chủ quyền của mình, kể từ thời gian rất lâu trước cả thời Đặng Tiểu Bình là lãnh tụ. Hơn thế nữa, mặc dù cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu đã để Trung Quốc lại trong một vị trí quốc tế mạnh hơn nhiều so với nhiều nước láng giềng của nó hoặc Mỹ, và các nhà ngoại giao và lãnh đạo Trung Quốc hiện nay dường như cảm thấy họ có thể bày tỏ thế lực của mình trong vấn đề quốc tế. Chính từ việc các nhà lãnh đạo Trung Quốc ngày càng lên lớp các quan chức phương Tây công khai về các thất bại của thị trường tự do chủ nghĩa tư bản mà từ đó người Trung Quốc cũng trở nên sẵn sàng thực hiệc các đòi hỏi công khai đến các nước châu Á khác. "Có một mức độ ngạo mạn nhất định trong hành động [của Trung Quốc]," ông Lâm Peng Er, một chuyên gia trong quan hệ Trung Quốc-Nhật Bản tại Đại học Quốc gia Singapore đã nói. Trung Quốc gần đây đã vượt qua Nhật Bản là một nền kinh tế lớn thứ hai thế giới và một số người xem đấy như là một sự "trưởng thành" ông nói.


    Nhưng có lẽ lý do lớn nhất cho sự thay đổi hành vi của Trung Quốc là mối căng thẳng xung quanh những thay đổi lãnh đạo ở Bắc Kinh, chuẩn bị cho năm 2012, khi Hồ Cẩm Đào dự kiến sẽ bước xuống nhường lại vị trí cho cho nhân vật được xem là sẽ thừa kế: phó chủ tịch hiện hành Tập Cận Bình. Ông Kerry Brown, thành viên cao cấp Chương trình Châu Á của Chatham House, một tổ chức tư vấn Anh Quốc cho biết, không giống như Đặng Tiểu Bình, người đã chiến đấu trong cuộc nội chiến Trung Quốc - hoặc ngay cả như cựu lãnh tụ Giang Trạch Dân, người có quan hệ chặt chẽ với quân đội - Hồ và Bình không có một cử tri rõ ràng hoặc một mối liên kết nào với quân đội. Hậu quả là, các nhà lãnh đạo mới có thể ít có khả năng hơn những nhà lãnh đạo trong quá khứ để kiểm soát một cơ sở quốc phòng hiện đang đẩy mạnh cho các quyền lợi hiếu chiến của chính mình, chẳng hạn như mở rộng khu vực ảnh hưởng hàng hải của Trung Quốc, mà không phải là luôn luôn nhất quán với các mục tiêu ngoại giao rộng hơn hay bộ ngoại giao hoà bình hơn của Trung Quốc. Hiện tại, Hồ Cẩm Đào và Bình, thiếu mất loại hậu thuẫn quyền lực của Đặng, đang tìm ra rằng họ phải hòa giải với các lực lượng vũ trang. Nhiều người Trung Quốc và các chuyên gia, thậm chí cả một số quan chức Trung quốc kín đáo, cho rằng mối căng thẳng có thể tiếp diễn dưới một số hình thức, tối thiểu đến sau năm 2010.


    Nhưng tất cả sự ngoan cố này đang đến với một cái giá: phản ứng dữ dội trên toàn châu Á sẽ tiêu hao giá trị cả một thập kỷ tích lũy thiện chí của Bắc Kinh. Đầu năm nay, một báo cáo của Viện Lowy ở Australia cho thấy rằng "thay vì sử dụng sự nổi lên của Trung Quốc như một đối trọng chiến lược với vị trí hàng đầu của Mỹ, hầu hết các nước ở châu Á có vẻ lặng lẽ đi theo phía Hoa Kỳ." Một cuộc điều tra của Trung tâm Chiến lược và Nghiên cứu Quốc tế, một tổ chức tư vấn Washington, cho thấy rằng hầu hết giới lãnh đạo ở châu Á nói rằng trong 10 năm kể từ hiện tại, Mỹ sẽ là cội nguồn lớn nhất cho hòa bình trong khu vực, trong khi Trung Quốc sẽ là mối đe dọa lớn nhất. Vì lý do đó, các quốc gia Đông Nam Á gần đây đã hoan nghênh sự hiện diện mạnh hơn về quốc phòng của Mỹ.


    Việt Nam, về lý thuyết vốn ưa thích một mối quan hệ chặt chẽ với Trung Quốc như một nhà nước cộng sản anh em, đã bắt đầu một cuộc đối thoại chiến lược với kẻ thù cũ là Hoa Kỳ và có thể bắt tay vào một thỏa thuận hạt nhân mà Washington sẽ cung cấp cho Hà Nội loại công nghệ làm giàu mà Trung Quốc đã từng hy vọng sẽ cung cấp. Trong thời hạn 10 năm, Việt Nam có thể là một đồng minh mặc nhiên gần nhất của Mỹ ở Đông Nam Á, ngoài Singapore. Indonesia, cũng từng được Trung quốc ve vãn mạnh mẽ, năm nay đã bắt tay vào một loại "đối tác toàn diện" mới với Hoa Kỳ bao gồm các liên kết quân sự mới, tại hội nghị thượng đỉnh Mỹ-ASEAN ở New York, ngoại trưởng Indonesia Marty Natalegawa công khai bác bỏ yêu cầu của Trung Quốc rằng các nước trong khu vực Đông Nam Á loại Hoa Kỳ ra khỏi các tranh chấp trong vùng biển Nam Trung Hoa. Ngay cả Campuchia, một quốc gia phụ thuộc nhiều vào viện trợ của Trung Quốc, đã mở ra mối quan hệ quốc phòng mới với Lầu Năm Góc, đầu năm nay quân đội Campuchia và Mỹ đã tiến hành một cuộc tập trận chung có biệt danh là Angkor Sentinel.


    Đồng thời, nhiều quốc gia châu Á đang thực hiện các thương thảo với nhau để tạo ra một sự cân bằng với Trung Quốc. Việt Nam vừa công bố một cuộc đối thoại an ninh với Nhật Bản, trong khi Ấn Độ đã mời Nhật Bản thực hiện một đầu tư mới rất lớn trong cơ sở hạ tầng của Ấn Độ - những mối thương thảo mà, dưới những điều kiện khác, có thể đã bị vồ chụp bởi các công ty Trung Quốc. Hơn nữa, gần như mọi quốc gia ở Đông Nam Á đang bỏ tiền ra để mua vũ khí.

    Theo Viện Khảo cứu Hòa bình Quốc tế Stockholm, số tiền chi cho việc mua sắm vũ khí ở Đông Nam Á chỉ riêng từ năm 2005 đến 2009 đã tăng gần gấp đôi, với việc Việt Nam gần đây đã chi 2.4 tỉ để mua tàu ngầm của Nga và loại phản lực cơ thiết kế để tấn công tàu biển. Cho rằng các nước như Việt Nam và Malaysia, một nước mua vũ khí lớn gần đây, mang lại những đe dọa trong nội tình Đông Nam Á, các hệ thống vũ khí được thiết kế chỉ nhằm đẩy lùi Trung Quốc. Bắc Kinh cũng gia tăng chi tiêu quân sự của mình đến mức 15 phần trăm mỗi năm trong những năm gần đây, cho thấy những căng thẳng giữa Trung Quốc và các nước láng giềng chỉ thực sự mới bắt đầu.

    ...........
    Sửa bởi Lão Ái : 16-11-2010 lúc 08:36 AM

  3. #3
    Ngày gia nhập
    Nov 2010
    Bài gửi
    53
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    0
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)
    ................


    Sóng Biển Đông giữa lòng Hà Nội.



    Khi Trung tâm Hội nghị quốc gia (National Convention Center - NCC), một trong những trung tâm hội nghị hiện đại nhất Đông Nam Á, được khánh thành để phục vụ Cấp cao APEC 2006, đã gây ra không ít dư luận trái chiều, nhất là liên quan đến trung tâm hội nghị chính, được xây dựng theo mẫu thiết kế mang tên "Lượn sóng Biển Đông" của kiến trúc sư người Đức Meinhard Von Gerkar với mái lượn sóng từ đại sảnh lên cao đến phòng họp chính.
    Và cũng không hiểu ai là người đã nghĩ ra cái tên gọi cho cái mái này là "Sóng Biển Đông giữa lòng Hà Nội", để mọi người cứ quen miệng mà vô thức gọi theo.
    4 năm sau, một số người mới để ý tới nội hàm của cái tên này khi mà nguyên thủ của nhiều nước trong và ngoài khu vực đã đi qua dưới cái mái vòm "Sóng Biển Đông giữa lòng Hà Nội" để bàn các giải pháp để Biển Đông khỏi dậy sóng. Mặc dù, trong ba tháng trở lại đây, có những lúc "Biển Đông" đã "dậy sóng" ngay giữa lòng Hà Nội.

    Tiếng thơm cho Thủ tướng và chính phủ Việt Nam

    Sau khi hoàn thành một cách ngoạn mục chặng nước rút trong nhiệm kỳ chủ tịch ASEAN của mình, với 14 hội nghị cấp cao được thực hiện trong không tới 60 giờ đồng hồ - một kỷ lục mới trong biên niên sử ASEAN - Việt Nam đã nhận được khá nhiều sự ca ngợi từ các nhà báo quốc tế. Ký giả Kavi Chongkittavorn là một trong số đó.


    Trong bài viết nhan đề "Vai trò lãnh đạo ASEAN của Việt Nam để lại nhiều bài học cho mọi quốc gia", đăng trên nhật báo The Nation số ra ngày 1.11.2010, ký giả này đã viết: "Khép lại một năm trên cương vị chủ tịch ASEAN, Việt Nam chắc hẳn phải lấy làm tự hào và nhìn lại với một sự hài lòng lớn, nếu không nói là kinh ngạc, về tất cả những lời tán dương, và trạng thái hân hoan mà quốc gia này đã tạo ra được."

    Trong số 5 dẫn chứng mà Chongkittavorn đưa ra để lý giải cho nhận xét của mình, có 2 dẫn chứng, trực tiếp hoặc gián tiếp, liên quan đến vấn đề được chờ đợi là nóng nhất ở khu vực này - tranh chấp Biển Đông.

    Thứ nhất, sự công khai được lan truyền rộng rãi của những quan điểm khác nhau liên quan đến Biển Đông trong ba tháng trước Cấp cao ASEAN 17 đã khiến cho vị trí quốc tế của ASEAN và Biển Đông trở nên nổi bật, cũng như tạo ra một bình đồ chiến lược mới cho các tay chơi đa phương tham gia vào cuộc chơi có tên là "tự do và an toàn hàng hải".

    Thứ hai là, ngay sau những tranh luận căng thẳng về Biển Đông, Việt Nam vẫn thành công với hội nghị bộ trưởng quốc phòng ASEAN mở rộng lần thứ nhất, khi không để xảy ra một trục trặc nào. Diễn đàn an ninh mới này đã bổ sung cho Cấp cao Đông Á (EAS) và Diễn đàn An ninh Khu vực (ARF) trong việc giải quyết những thách thức an ninh chủ chốt tác động đến khu vực.

    "ASEAN đã chiếm một vị trí quan trọng hơn trong cộng đồng toàn cầu. Lãnh đạo các cường quốc quan trọng sẵn sàng ngồi nhiều giờ trên máy bay và bỏ qua những phiền phức do lệch múi giờ để bay tới can dự cùng ASEAN", Chongkittavorn viết.

    Ký giả này còn dẫn thông tin từ Ngoại trưởng Kasit Piromya rằng tại Cấp cao Á - Âu diễn ra vào tháng trước ở Brussels, về tổng thể sự hiện diện và tin tưởng vào ASEAN đã được tiếp tục củng cố, khi Liên minh châu Âu ngỏ ý muốn tham gia Cấp cao Đông Á. "Những tay chơi chủ chốt tỏ ra sẵn sàng hơn trong việc tiếp nhận các quan điểm của ASEAN", vị ngoại trưởng này được Chongkittavorn dẫn lời.

    Chongkittavorn cho rằng tiếng thơm này phải thuộc về các lãnh đạo của Việt Nam (được hiểu chủ yếu là Thủ tướng, bởi ASEAN là sân chơi dành cho ông, và các cộng sự của mình trong chính phủ) - những người đã thông qua các kỹ năng ngoại giao mà thách thức được những yêu sách của Trung Quốc đối với tranh chấp Biển Đông. Nhất là sau 8 năm trì trệ trong việc triển khai Tuyên bố về Ứng xử trên Biển Đông giữa các bên liên quan (DOC).
    Nhận định của ký giả Kavi Chongkittavorn, không có gì là quá mức. Giáo sư Carl Thayer, chuyên gia hàng đầu về Đông Nam Á và Biển Đông cũng hoàn toàn chia sẻ với ông.

    Đồng nghiệp của Chongkittavorn từ nhật báo South China Morning Post là Greg Torode cũng không tiếc lời khen tặng cho các tướng lĩnh quân đội Việt Nam vì họ, vốn không phải là những nhà ngoại giao bẩm sinh, đã thể hiện tuyệt vời một chiến thuật ngoại giao, được Gred Torode gọi là "ngoại giao du kích", tại ADMM+8.

    Nhưng, theo thiển nghĩ của người viết, nhìn lại cả một năm trời, kể từ thời điểm Thủ tướng Abhisit tuyên bố chuyển giao chức chủ tịch ASEAN cho Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tại Hua Hin, các hoạt động đối ngoại đã được phối hợp chặt chẽ với nhau trong một kịch bản được chuẩn bị một cách hoàn hảo. nhất là với việc kéo hai tay chơi quan trọng là Mỹ và Nga vào cuộc chơi đa phương hoá tranh chấp Biển Đông.

    Kéo Gấu Misha và Uncle Sam trở lại

    Câu chuyện đã bắt đầu từ ba chuyến thăm theo ba hướng khác nhau vào cuối năm ngoái của lãnh đạo Việt Nam. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đi Nga, Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh đi Mỹ, sau đó có qua Pháp, và Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương Tô Huy Rứa đi Trung Quốc.


    Chuyến thăm Mỹ của Tướng Thanh được giới quan sát quốc tế nhìn nhận như một mối quan tâm đến việc mua bán vũ khí, kể cả tàu ngầm và máy bay chiến đấu trong mục tiêu dài hạn. Mục tiêu trung hạn, theo Phó Đô đốc Hải quân Jeffey Wieringa - lãnh đạo Cơ quan Hợp tác An nin Quốc phòng, Mỹ xem xét khả năng bán các loại vũ khí không sát thương, như máy bay tuần tiễu bờ biển, hay hệ thống radar, cho Việt Nam. Còn mục tiêu ngắn hạn, được coi là kết quả quan trọng nhất của chuyến thăm, là việc hai bên đã thoả thuận được cơ chế đối thoại quốc phòng trực tiếp, thay vì dưới cái ô đối thoại chiến lược ngoại giao - quốc phòng - an ninh do các nhà ngoại giao chủ trì.

    Còn theo nhận định của Giáo sư Thayer dựa trên những nguồn tin riêng của mình, chuyến đi Mỹ của Tướng Thanh không chỉ bó gọn trong các mục tiêu quốc phòng.
    "Việc Tướng Thanh gặp các thượng nghị sĩ Jim Webb, John McCain, hay John Kerry là một cách tiếp cận khôn ngoan trong việc xử lý các mối quan hệ với Mỹ. Cả ba nhân vật có ảnh hưởng lớn trên chính trường Mỹ này đều ủng hộ việc Mỹ can dự trở lại khu vực Đông Nam", Giáo sư Thayer nói.

    Kết quả đạt được về chính trị - ngoại giao trong chuyến thăm của người đứng đầu ngành quốc phòng đã được các nhà ngoại giao chuyên nghiệp, với sự trợ giúp của các nhà ngoại giao nhân dân và giới nghiên cứu, tiếp tục củng cố.

    Trong tháng 7, khi mà diễn đàn đầu tiên trong năm bàn về an ninh, với sự tham gia của các ngoại trưởng bên ngoài khu vực, diễn ra, lễ kỷ niệm 15 năm bình thường hoá quan hệ Việt - Mỹ được đẩy thành tâm điểm.
    Tháng Việt - Mỹ được bắt đầu bằng hội thảo với chủ đề này do Liên hiệp các Tổ chức Hữu nghị Việt Nam phối hợp với Học viện Ngoại giao tổ chức, với sự tham gia của TNS Jim Webb - người đã có những cuộc gặp bên lề quan trọng với giới lãnh đạo Việt Nam, và kết thúc bằng chuyến thăm chính thức Việt Nam của Ngoại trưởng Hilary Clinton, khi bà đến dự Diễn đàn An ninh Khu vực.
    Chính bà Ngoại trưởng Mỹ này, trong lần trở lại Việt Nam sau 10 năm, đã thể hiện công khai khẳng định với nước chủ nhà và các thành viên ASEAN, cũng như các đối tác ngoài ASEAN khác, rằng Mỹ ủng hộ việc giải quyết tranh chấp Biển Đông một cách hoà bình và phù hợp với luật pháp quốc tế.

    Tuyên bố của bà Clinton tại ARF đã nhận được sự ủng hộ của đại diện nhiều quốc gia khác trong và ngoài ASEAN không chỉ tại diễn đàn này, mà cả tại ADMM+8, hay EAS. Và kết quả, đúng như mong đợi của chủ nhà Việt Nam và đa số các thành viên ASEAN khác, Trung Quốc đã phải chấp nhận tiếp tục triển khai DOC, và bắt đầu tiến trình đàm phán COC (Bộ Quy tắc Ứng xử ở Biển Đông) ở cấp chuyên viên vào tháng 12 tới.

    Còn kết quả của chuyến thăm Nga, mà Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho rằng "vượt quá sự mong đợi", đã được thể hiện trong lĩnh vực năng lượng, tài chính và quan trọng nhất là hợp tác quân sự. Đáng chú ý hơn, Thủ tướng Việt Nam đã mở đầu cho một "troika" các chuyến thăm Nga của "tam trụ triều đình" chỉ trong vòng chưa tới một năm.

    Các chuyến thăm Nga sau đó của Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết và Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh có vai trò khẳng định thêm cam kết của hai nước cho mối quan hệ đối tác chiến lược thực sự đi vào thực chất, cũng như tiếp tục cụ thể hoá những thoả thuận giữa các ông Nguyễn Tấn Dũng và Putin, bởi tháp tùng hai vị đứng đầu Đảng và Nhà nước này đều là các lãnh đạo các bộ trong chính phủ và các doanh nghiệp liên quan.

    Xen kẽ giữa ba chuyến thăm này đáng chú ý có chuyến thăm Nga của Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân với kết quả được công bố công khai là dự án thành lập Đại học Công nghệ Nga - Việt. Chuyến thăm, được coi là "trận đấu giã từ sân cỏ" của người đứng đầu ngành giáo dục đào tạo, bởi ngay sau đó ông nộp đơn xin thôi giữ chức bộ trưởng, cũng khẳng định tầm nhìn của vị giáo sư kinh tế này, khi ông dám phủ định chính mình chỉ sau khoảng 3 tháng vì nhận thấy quyết định nhất thể hoá việc sử dụng ngoại ngữ (lấy chứng chỉ tiếng Anh làm điều kiện duy nhất cho việc thi đầu vào đối với nghiên cứu sinh thạc sĩ và tiến sĩ) là một sai lầm.

    Tuy nhiên, việc Học viện Kỹ thuật Quân sự được chọn làm nòng cốt của Đại học Công nghệ Việt - Nga, và những thoả thuận cụ thể sau đó về hợp tác đào tạo giữa hai nước trong chuyến thăm đáp lễ của Bộ trưởng Quốc phòng Nga, nhất là đào tạo chuyên gia về điều khiển tên lửa, hay tàu chiến, đã cho thấy câu chuyện không chỉ dừng ở việc mở thêm một trường trong chuỗi 4 trường đại học quốc tế, như mong muốn ban đầu của vị lãnh đạo chính phủ này. Việt Nam đang tích cực chuẩn bị cho việc hiện đại hoá khả năng quốc phòng để đáp ứng mục tiêu phòng vệ quốc gia.

    Theo giới chuyên gia, việc hợp tác quân sự với Nga, kể cả việc mua vũ khí từ Nga, được coi là đỡ "nhạy cảm" hơn, do những nước trong khu vực như Trung Quốc, Ấn Độ và Malaysia đều mua vũ khí của Nga. Hơn nữa, Nga đang có kế hoạch thành lập một cơ sở bảo dưỡng máy bay tiêm kích Sukhoi tại Malaysia, phục vụ cho nhu cầu bảo dưỡng không chỉ của quốc gia Đông Nam Á này.

    Một động thái được coi là khá kín kẽ của Chính phủ Việt Nam, cụ thể là Bộ Quốc phòng, trước những thoả thuận hợp tác quốc phòng với Nga và Mỹ, là việc công bố trước thời hạn "Sách trắng quốc phòng".
    " Việt Nam xây dựng quân đội... được trang bị các loại vũ khí ngày càng hiện đại, đủ khả năng bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, các lợi ích quốc gia... Chủ trương của Đảng, Nhà nước, cũng như quốc phòng Việt Nam, là kiên trì giải quyết vấn đề Biển Đông bằng giải pháp hoà bình, kiên trì và quyết tâm giữ vững chủ quyền và lãnh thổ trên cơ sở luật pháp quốc tế...", Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, tuyên bố trong cuộc họp báo công bố Sách Trắng.

    Trong khi đó, các chuyên gia quốc tế, trong đó có Giáo sư Thayer, đều chia sẻ quan điểm của Việt Nam là "ngân sách quốc phòng Việt Nam còn quá khiêm tốn". Việt Nam đã có nhiều kinh nghiệm quý báu về vai trò của sức mạnh quốc phòng đối với kết quả các cuộc đàm phán hoà bình, như ở Geneva, Paris, hay trong cuộc đàm phán bình thường hoá quan hệ đầu tiên sau gần một thập kỷ rưỡi bị cô lập.

    Giáo sư Thayer còn nhận xét thêm rằng sự hỗ trợ của Trưởng ban Tuyên giáo Tô Huy Rứa cho chính phủ trong chuyến thăm Trung Quốc cùng thời gian đó, đã khẳng định với Trung Quốc rằng, tuy mở rộng quan hệ mọi mặt, nhất là quốc phòng, với Mỹ, Việt Nam vẫn không đi trệch định hướng xã hội chủ nghĩa - điều quan trọng nhất trong quan hệ giữa hai quốc gia láng giềng vốn nhiều duyên nợ này.

    "Nhưng quan trọng nhất, Việt Nam đã tránh cái bẫy tiềm tàng của việc bị mắc kẹt giữa Trung Quốc và Mỹ, bằng cách lôi kéo chú gấu Nga quay trở lại khu vực châu Á - Thái Bình Dương",
    Giáo sư Thayer nói.


    Nhận xét của vị chuyên gia về Biển Đông này càng được củng cố, khi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, trong buổi họp báo quốc tế kết thúc Cấp cao ASEAN 17 và các cấp cao liên quan, đã công bố rằng Việt Nam sẽ xem xét ký hợp đồng thuê doanh nghiệp có khả năng, trình độ cao, có kinh nghiệm chuyên ngành của Nga làm tư vấn xây dựng trung tâm cảng dịch vụ tổng hợp này, sẵn sàng cung cấp dịch vụ cho tàu hải quân của tất cả các nước, kể cả tàu ngầm.

    Thoả thuận với Nga trong việc phát triển hạ tầng quân cảng Cam Ranh cũng được coi là lời khẳng định một cách gián tiếp một sự thật không thể phủ nhận rằng Biển Đông là vùng biển quốc tế - một việc mà Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cùng các cộng sự của mình trong chính phủ đã nỗ lực suốt một năm qua, kể từ việc nhận các tàu hải quân của Mỹ vào sửa chữa đến việc đón các chuyến viếng thăm của tàu hải quân của Mỹ và các quốc gia khác.


    Sửa bởi Lão Ái : 26-06-2011 lúc 04:18 AM

  4. #4
    Ngày gia nhập
    Feb 2010
    Bài gửi
    2.647
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    1
    Uploads
    0
    Mentioned
    1 Post(s)
    Tagged
    4 Thread(s)
    Chào bạn Lao Ái, mời bạn vui vẻ tham quan và bình luận, ngoài HS-TS, nơi này còn có Box kinh tế-chính trị, Pháp luật,Người Việt xấu xí hay Tán Gẫu.....mà mình nghĩ nó rất hợp với năng khiếu phân tích và khả năng văn thơ phong phú và khôi hài của bạn.
    Bạn cũ của chúng ta thì có anh Cachuon,Laohac,Huongnhu,Taczang.....
    Ở Hanoi của bạn thì có hội thần gió với 3, 4 cô thiên thần rất chi năng nổ!
    Hẹn một ngày 2 ta lại rong ruổi đất Sài Thành.

    Hahaha( Isamu)!
    [U][url]http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=8YHocdt2va[/url][/U]
    Mời các bạn nhiệt tình tham gia vì Đồng Bào:
    [URL]http://hoangsa.org/forum/showthread.php?t=38693[/URL]

  5. Thanks Lão Ái thanked for this post
  6. #5
    Ngày gia nhập
    Jun 2009
    Bài gửi
    13
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    1
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)

    Bài Hay

    Lâu lắm rồi tôi mới đọc được một bài hay, phân tích sâu sắc như vậy.
    Cảm ơn bạn
    Còn những ai chưa được một lần
    Được nhìn thấy Bác hãy nhanh chân
    Tiến lên phía trước trên cao ấy
    Bác vẫn dang tay đón lại gần

  7. Thanks Lão Ái thanked for this post
  8. #6
    Ngày gia nhập
    Nov 2010
    Bài gửi
    53
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    0
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)
    Trích dẫn Nguyên văn bởi Isamu Xem Bài gửi
    Chào bạn Lao Ái, ............
    ...............
    Hẹn một ngày 2 ta lại rong ruổi đất Sài Thành.

    Hahaha( Isamu)!
    Mình lại sắp gặp nhau và rong ruổi rồi bro ơi..
    Nhân tiện bật mí với bro là L.A đã mời cô bé tặng bông ở quán Hàng Duơng ra HN chơi dịp nghìn năm Thăng Long rồi nhé..



  9. #7
    Ngày gia nhập
    Nov 2010
    Bài gửi
    53
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    0
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)
    Trích dẫn Nguyên văn bởi cdhm3 Xem Bài gửi
    Lâu lắm rồi tôi mới đọc được một bài hay, phân tích sâu sắc như vậy.
    Cảm ơn bạn
    Đa ta bro, La mới tham gia diễn đàn, mong một ngày hội ngộ đàm đạo với anh chị em em HSo.

    Sửa bởi Lão Ái : 18-11-2010 lúc 12:51 AM

  10. #8
    Ngày gia nhập
    Nov 2010
    Bài gửi
    53
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    0
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)
    Trích dẫn Nguyên văn bởi Isamu Xem Bài gửi
    ............
    Bạn cũ của chúng ta thì có anh Cachuon,Laohac,Huongnhu,Taczang.....
    Ở Hanoi của bạn thì có hội thần gió với 3, 4 cô thiên thần rất chi năng nổ!
    Hẹn một ngày 2 ta lại rong ruổi đất Sài Thành.

    Hahaha( Isamu)!
    Anh Cá, bro Tắc, LH, HN ...trân trọng mời anh chị em cố nhân vô nhận nhau, để L.A khỏi thẹn thùng khi lần đầu tham gia với HSo nhể !

    Trân trọng.

    "Làm trai đừng chết sa trường
    Làm trai phải chết trên giường mỹ nhân."
    Tình xưa nghĩa cũ bạn thân
    Giờ ta vẫn mãi ân cần mối duyên
    Hoàng Sa OS hàn thuyên
    Mong cho đất Việt mãi duyên hữu tình
    Về đây có bạn bên mình
    Riêng chung hòa hợp thắm tình nước non
    Lời ai đượm thắm nét son
    Rằng yêu tổ quốc mãi còn trong tim.






    Sửa bởi Lão Ái : 18-11-2010 lúc 12:53 AM

  11. Likes kenghiep liked this post
  12. #9
    Ngày gia nhập
    Nov 2010
    Bài gửi
    53
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    0
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)
    Chọn lựa của Trung quốc: Tập Cận Bình

    "Siêu cường trước, dân sinh sau"

    Bài của tác giả Trần Bình Nam

    Ngày 18/10/2010 Trung ương đảng cộng sản Trung quốc sau 4 ngày họp đã chọn ông Tập Cận Bình (Xi Jinping), ủy viên thường trực Bộ chính trị vào chức vụ Phó chủ tịch Quân ủy Trung ương. Ông Hồ Cẩm Đào, Tổng bí thư, Chủ tịch nước đang kiêm giữ chức Chủ Tịch Quân ủy Trung ương. Ông Tập Cận Bình phụ tá ông Hồ Cẩm Đào để tập việc “nắm quân đội”, căn bản của quyền lực.

    Nếu lấy mẫu chuyển quyền từ ông Giang Trạch Dân sang Hồ Cẩm Đào 11 năm trước, các nhà quan sát về Trung quốc đều đồng ý rằng đây là dấu hiệu đảng cộng sản Trung quốc đã đồng thuận chọn ông Tập Cận Bình làm lãnh tụ tương lai sau khi ông Hồ Cẩm Đào nghỉ hưu.
    Năm 1999 ông Hồ Cẩm Đào được đưa vào chức vụ Phó Chủ Tịch Quân ủy Trung ương để học việc với Giang Trạch Dân. Đến đại hội thứ 16 năm 2002 ông Hồ Cẩm Đào được bầu làm Tổng bí thư, sau đó năm 2003 nắm Chủ tịch nước và năm 2004 nắm luôn chức vụ Chủ tịch Quân ủy.

    Theo tiến trình đó người ta dự đoán rằng vào đại hội thứ 18 năm 2012, ông Tập Cận Bình sẽ được bầu làm Tổng bí thư đảng, sau đó năm 2013 sẽ trở thành chủ tịch nước, và theo tiền lệ năm 2014 sẽ kiêm luôn chức vụ Chủ tịch Quân ủy Trung Ương và hoàn toàn thay thế ông Hồ Cẩm Đào làm lãnh tụ tối cao của Trung quốc. Sự chuyển mọi quyền hành từ Hồ Cẩm Đào sang Tập Cận Bình sẽ kéo dài tối thiểu 4 năm và nhịp nhàng uyển chuyển để tránh mọi xáo trộn khi thay đổi lãnh đạo như đã xẩy ra sau khi Mao Trạch Đông qua đời năm 1976 và vẫn thường xẩy ra tại các nước cộng sản khác hay tại các nước độc tài.
    Ông Hồ Cẩm Đào người được ông Đặng Tiểu Bình (trước khi qua đời) chọn là người lãnh đạo kế nghiệp ông Giang Trạch Dân sau khi ông Giang Trạch Dân mãn nhiệm Tổng bí thư đã được các hậu duệ trong đảng thực hiện.

    Thời kỳ lãnh đạo của ông Hồ Cẩm Đào là thời kỳ Trung quốc bước vào con đường phát triển kinh tế và trở thành một cường quốc. Trong thời gian đó Trung quốc đứng trước hai nhu cầu: (1) phát triển kinh tế qua sản xuất và xuất cảng và (2) nhu cầu sống sung túc của nhân dân. Nếu không muốn kể thêm nhu cầu cần cải tổ chính trị cho phù hợp với sự phát triển của kinh tế thị trường.

    Phát triển kinh tế qua đầu tư sản xuất và tăng mức sống của nhân dân để thu hẹp khoảng cách giữa giàu và nghèo, giữa thành thị và nông thôn là hai nhu cầu không thể thực hiện cùng một lúc. Phải chọn ưu tiên: Trở thành cường quốc trước, dân sinh sau hay dân sinh đã và trở thành cường quốc sau.
    Suốt 8 năm lãnh đạo vừa qua cá nhân ông Hồ Cẩm Đào và đảng cộng sản Trung quốc đã trăn trở giữa hai nhu cầu đó.

    Năm 2007 Đại hội 17 của đảng cộng sản Trung quốc, có lẽ đã thảo luận vấn đề một cách rộng rãi, và Hồ Cẩm Đào với sự đồng thuận của các cấp lãnh đạo đảng đã chọn hai ủy viên Trung ương đảng trẻ tuổi là Tập Cẩm Bình và Lý Khắc Cường (Li Keqiang) vào Ủy ban Thường vụ Bộ chính trị. Ông Tập Cận Bình có khuynh hướng phát triển kinh tế để trở thành cường quốc trước. Trái lại ông Lý Khắc Cường đại diện cho khuynh hướng “dân túy” (populist) lo cho dân trước, quốc gia hùng mạnh sẽ theo sau (theo “China’s Team of Rival” của Chang Li, tạp chí Foreign Policy số tháng 3 & 4/2009. Ông Chang Li là một chuyên viên về Trung quốc của Viện Brookings)

    Sau 3 năm thử thách khuynh hướng cường quốc trước, dân sinh sau thắng thế và ông Tập Cẩm Bình đã được chọn làm người lãnh đạo Trung quốc sau Hồ Cẩm Đào.

    Ông Tập Cận Bình thuốc giới “con dòng” (princeling), con trai ông Tập Trọng Huân (Xi-Zhongxun), một trong những công thần của chế độ đã cùng Mao Trạch Đông và các đồng chí khác xây dựng chính quyền cộng sản tại Trung quốc. Ông Tập Trọng Huân là một người chủ trương cởi mở bị Mao thanh trừng năm 1968 trong cuộc Cách Mạng Văn Hóa. Năm đó ông Tập Cận Bình 15 tuổi bị đuổi về tỉnh Thiểm Tây lao động chân tay. Sau cuộc Cách Mạng Văn Hóa, ông Tập Trọng Huân được hoàn chức trở về giúp việc cho Đặng Tiểu Bình, và ông Tập Cận Bình trở lại Bắc Kinh học tại đại học nổi tiếng Thanh Hoa (Qinghua). Ông tốt nghiệp kỹ sư hóa học năm 1979 và sau đó bằng tiến sĩ về phát triển nông nghiệp. Dưới thời Đặng Tiểu Bình ông phục vụ trong bộ máy lãnh đạo đảng tại tỉnh Phúc Kiến và từng là Bí thư Thành ủy thành phố Thượng Hải. Ông Tập Cận Bình được tiếng là người trong sạch và tích cực khuyến khích mậu dịch. Ông kết hôn với bà Bành Lệ Viện (Peng Liyuan), một danh ca dân ca được dân chúng Trung quốc ái mộ.Chọn lựa ông Tập Cận Bình, đảng cộng sản Trung quốc đã chọn con đường ưu tiên phát triển kinh tế để trở thành siêu cường. Sự cải tổ chính trị và nhu cầu dân sinh sẽ được thực hiện trong một mức độ vừa phải có kiểm soát để tránh ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế. Và trong thời gian 5 đến 10 năm tới thế giới không nên trông đợi một sự cải tổ chính trị sâu rộng nào theo hướng dân chủ hóa tại Trung quốc.

    Ngoài cải tổ chính trị trong chừng mực đảng cộng sản Trung quốc sẽ quan tâm đến mức sống của dân để thu hẹp khoảng cách giữa giàu và nghèo trong xã hội. Thành phần giàu đa số là đảng viên nắm các lĩnh vực kinh tế quốc doanh được hưởng lợi một cách quá đáng. Thành phần nghèo là công nhân không có gốc rễ và nông dân. Người được giao nhiệm vụ điều chỉnh này là ông Lý Khắc Cường.

    Chúng ta có thể nghĩ rằng vào đại hội 18 năm 2012 khi ông Tập Cận Bình nhận chức vụ Tổng bí thư, ông Lý Khắc Cường sẽ nắm một nhiệm vụ then chốt trong Bộ chính trị để bảo đảm rằng nhu cầu dân sinh sẽ không bị lãng quên. Có thể đó là sáng kiến của ông Hồ Cẩm Đào tạo ra một hình thức đối lập trong nội bộ đảng để bảo đảm một sự phát triển bền vững và cân đối

    - Quyết định chọn ông Tập Cận Bình làm lãnh tụ tương lai cho thấy đảng cộng sản Trung quốc đã chọn thế kỷ 21 là thế kỷ của mình, và họ đang chuẩn bị “vượt đại dương” chấp nhận sóng gió trước mắt.

    - Tín hiệu của hội nghị Trung ương đảng cộng sản Trung quốc ngày 18/10/2010 là một tín hiệu không thể nhầm lẫn về quyết tâm của Trung quốc quyết trở thành siêu cường số một như vị trí của Hoa Kỳ hiện nay.


    - Trung quốc đã bày bàn cờ và thế trận. Hoa Kỳ nói riêng và thế giới Tây phương nói chung cần cảnh giác.


    - Riêng Việt Nam đang bị đe dọa bởi tham vọng của Trung quốc, những người lãnh đạo Việt Nam hôm nay lại còn cần cảnh giác hơn nữa !


    Sửa bởi Lão Ái : 22-11-2010 lúc 02:38 PM

  13. Thanks taobt thanked for this post
    Likes taobt, ngochua liked this post
  14. #10
    Ngày gia nhập
    Mar 2010
    Nơi cư ngụ
    Khu tập thể Bộ chém gió HSO
    Bài gửi
    1.154
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    0
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)
    Không phải Lãnh đạo V không hề biết sự bành trướng của TQ và nguy cơ mất HS.TS mà điều quan trọng rằng: Lãnh đạo V công khai chống đối thì được cái gì?nỗ lực để giúp đất nước để làm cái gì? phát triển đất nước thì mặc kệ nó liệu nó có chảy vào Túi của mình không?
    Xin được hỏi bạn Lao Ái: Liệu các Bác nhà ta hiện giờ có tâm và lực để làm những việc như trên không? hay là bình chân như vại kiếm chút cơm để mang về tích lũy cho yên phận?
    "Nếu Tổ quốc nhìn từ bao mất mát, Máu xương kia dằng dặc suốt ngàn đời, Hồn dân tộc ngàn năm không chịu khuất, Dáng con tàu vẫn hướng mãi ra khơi..."

  15. Likes tvst11246 liked this post
    Dislikes taobt, vinhnx disliked this post
Trang 1 trong 11 123 ... Cuối cùngCuối cùng

Chủ đề tương tự

  1. [Tin tức] 105 nhà báo bị giết trong khi tác nghiệp trong năm 2010 .
    By donjuan_vn in forum [Lưu trữ]Thời sự quốc tế 2010
    Trả lời: 13
    Bài mới gửi: 01-02-2011, 12:27 AM
  2. Trả lời: 2
    Bài mới gửi: 05-09-2010, 11:30 PM
  3. Trong 10 Huynh Trưởng Hướng Đạo trong ảnh; đã có 4 Trưởng là ĐVĐCSVN
    By Củ khoai in forum Tuổi trẻ : Giáo dục & Cuộc sống
    Trả lời: 4
    Bài mới gửi: 19-06-2010, 07:49 PM
  4. Trả lời: 5
    Bài mới gửi: 26-04-2010, 12:14 PM

Bookmarks

Quyền hạn Gửi bài

  • Bạn không thể gửi chủ đề
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài của mình
  •