HOANGSA.ORG ĐÃ CHUYỂN SANG DIỄN ĐÀN MỚI- DIỄN ĐÀN CŨ CHỈ ĐỂ LƯU TRỮ KHÔNG THỂ VIẾT BÀI.

ĐỂ ĐI ĐẾN DIỄN ĐÀN MỚI XIN VUI LÒNG CLICK VÀO ĐÂY HTTP://HOANGSA.ORG/F

HOANGSA.ORG ĐÃ CHUYỂN SANG DIỄN ĐÀN MỚI- DIỄN ĐÀN CŨ CHỈ ĐỂ LƯU TRỮ KHÔNG THỂ VIẾT BÀI.

ĐỂ ĐI ĐẾN DIỄN ĐÀN MỚI XIN VUI LÒNG CLICK VÀO ĐÂY HTTP://HOANGSA.ORG/F

User Tag List

Kết quả từ 1 tới 6 trên 6
  1. #1
    Ngày gia nhập
    Sep 2010
    Nơi cư ngụ
    Việt Nam mến yêu
    Bài gửi
    3.899
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    0
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)

    Những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển VN - TQ

    Hiểu thế nào về Thỏa thuận những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển VN - TQ

    Trong chuyến thăm chính thức TQ của TBT Nguyễn Phú Trọng (từ 11 đến 15-10-2011), ta và TQ đã ký Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển giữa Chính phủ nước CH XHCN VN và Chính phủ nước CHND Trung Hoa (gọi tắt là Thỏa thuận).

    Việc ký kết Thỏa thuận có ý nghĩa hết sức quan trọng nhất là trong bối cảnh tình hình Biển Đông đang diễn biến hết sức phức tạp. Nội dung Thỏa thuận còn một số điểm chưa thật sự rõ ràng, song có thể nói Thỏa thuận đã xác định được một số nguyên tắc cơ bản định hướng cho việc giải quyết vấn đề tranh chấp ở Biển Đông bằng biện pháp hòa bình. Để hiểu và có cách nhìn đúng đắn về những nội dung của Thỏa thuận vừa được ký kết, chúng ta hãy đi sâu phân tích những nội dung chính của Thỏa thuận.


    Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa - một lễ hội truyền thống
    tái hiện các hoạt động của những người dân đảo Lý Sơn
    ra cai quản Hoàng Sa thời Nguyễn



    Một là, nội dung về tìm kiếm giải pháp cơ bản lâu dài cho vấn đề Biển Đông nêu tại điều 2 của Thỏa thuận đã xác định căn cứ vào luật pháp quốc tế, nhất là Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982 mà cả Việt Nam và Trung Quốc đều là thành viên để giải quyết các vấn đề tranh chấp ở Biển Đông. Đây là một nội dung đặc biệt quan trọng vì nó sẽ là cơ sở pháp lý để hai bên đi vào trao đổi giải quyết vấn đề trên biển. Nếu hai bên tuân thủ nghiêm túc nguyên tắc này thì nhất định sẽ tìm ra được giải pháp công bằng hợp lý mà hai bên có thể chấp nhận được cho các vấn đề tranh chấp ở Biển Đông.

    Trong điều 2 của Thỏa thuận cũng nêu rõ "cần tôn trọng đầy đủ các chứng cứ pháp lý” nghĩa là những bằng chứng, tài liệu mang tính pháp lý sẽ được lấy làm cơ sở chính để giải quyết các tranh chấp, còn các yếu tố khác như lịch sử, địa hình... sẽ được xem xét như một yếu tố bổ trợ trong quá trình giải quyết tranh chấp. Điều này hoàn toàn phù hợp với thông lệ quốc tế trong việc giải các tranh chấp về biên giới lãnh thổ trên thế giới. Thực tiễn giải quyết các vấn đề biên giới lãnh thổ cho thấy yếu tố lịch sử cùng với các yếu tố liên quan khác như địa hình, quản lý trên thực tế chỉ được tính đến một khi các chứng cứ pháp lý chưa rõ ràng. Với nội dung này thì những văn bản pháp lý về chủ quyền của các Nhà nước phong kiến Việt Nam như các Châu bản, Sắc chỉ... sẽ là những tài liệu hết sức quý giá khi giải quyết vấn đề quần đảo Hoàng Sa vì đây là những tài liệu thể hiện rõ sự quản lý của Nhà nước ta đối với quần đảo Hoàng Sa. Yếu tố lịch sử ở đây không có nghĩa là nói về yêu sách "đường lưỡi bò” của Trung Quốc vì trong lịch sử chưa bao giờ Trung Quốc có sự quản lý trên thực tế đối với "đường lưỡi bò”, hơn thế nữa "đường lưỡi bò” của Trung Quốc hoàn toàn không có cơ sở pháp lý và không nhận được sự ủng hộ của bất cứ nước nào.

    Hai là, điều 3 của Thỏa thuận nêu rõ "trong tiến trình đàm phán vấn đề trên biển, hai bên nghiêm chỉnh tuân thủ thỏa thuận và nhận thức chung mà lãnh đạo cấp cao hai nước đã đạt được, thực hiện nghiêm túc nguyên tắc và tinh thần của "Tuyên bố ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC)”. Nội dung này có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì hòa bình ổn định ở Biển Đông. DOC là văn kiện quan trọng được ký kết giữa ASEAN và Trung Quốc, trong đó đã đưa ra nhiều quy định (gồm: tôn trọng tự do hàng hải và tự do bay ở Biển Đông; kiềm chế các hoạt động có thể làm phức tạp thêm tranh chấp và ảnh hưởng đến hòa bình, ổn định; cam kết tăng cường nỗ lực xây dựng lòng tin; có thể tìm kiếm và tiến hành các hoạt động hợp tác trong các lĩnh vực ít nhạy cảm trong khi tìm kiếm giải pháp toàn diện lâu dài cho vấn đề tranh chấp ở Biển Đông và quan trọng nhất là quy định về việc không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực ở Biển Đông) mà các bên liên quan cần nghiêm túc thực hiện để duy trì hòa bình ổn định ở Biển Đông. Vừa qua, ASEAN và Trung Quốc đã ký kết Quy tắc hướng dẫn thực hiện DOC, do vậy việc thực hiện nghiêm túc các nội dung DOC là trách nhiệm của mỗi bên tham gia ký kết.

    Ba là, một nội dung hết sức quan trọng thể hiện rõ quan điểm nhất quán của Việt Nam về phương thức giải quyết vấn đề trên biển là cả song phương lẫn đa phương đã được ghi nhận trong điều 3 của Thỏa thuận là "đối với tranh chấp trên biển giữa Việt Nam - Trung Quốc, hai bên giải quyết thông qua đàm phán và hiệp thương hữu nghị. Nếu tranh chấp liên quan đến các nước khác, thì sẽ hiệp thương với các bên tranh chấp khác”. Điều này có nghĩa là Việt Nam - Trung Quốc chỉ có thể giải quyết các vấn đề tranh chấp giữa hai nước, như tranh chấp Hoàng Sa, cửa vịnh Bắc Bộ, không thể giải quyết các tranh chấp liên quan đến các bên khác, như vấn đề Trường Sa. Đây cũng là lần đầu tiên Trung Quốc ký kết một văn bản chính thức trong đó nói rõ tranh chấp liên quan đến nhiều bên thì phải trao đổi ý kiến với các bên đó. Nội dung này của Thỏa thuận đã mở ra khả năng về giải quyết đa phương tranh chấp ở Biển Đông. Điều này là phù hợp với quan điểm chung của các nước trong và ngoài khu vực, phù hợp với thực tế tranh chấp ở Biển Đông và phù hợp với xu thế giải quyết các tranh chấp liên quan đến nhiều bên trong quan hệ quốc tế hiện đại.

    Vấn đề Biển Đông hết sức phức tạp liên quan đến lợi ích của nhiều nước, nhiều bên. Với nội dung này trong điều 3 của Thỏa thuận, chúng ta có thể hiểu rằng đối với việc giải quyết tranh chấp ở Biển Đông thì những vấn đề chỉ liên quan đến Việt Nam - Trung Quốc như vấn đề phân định vùng biển chồng lấn ở khu vực ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ và vấn đề quần đảo Hoàng Sa sẽ được trao đổi giải quyết song phương giữa Việt Nam - Trung Quốc; vấn đề quần đảo Trường Sa sẽ phải bàn bạc giải quyết giữa các bên liên quan trong tranh chấp; vấn đề duy trì hòa bình ổn định, an ninh an toàn hàng hải ở Biển Đông cần phải trao đổi bàn bạc giữa tất cả các bên liên quan và có lợi ích trong vấn đề này.

    Bốn là, một nội dung đáng chú ý trong Thỏa thuận là tại điều 4 hai bên xác định "trong tiến trình tìm kiếm giải pháp cơ bản và lâu dài cho vấn đề trên biển, trên tinh thần tôn trọng lẫn nhau, đối xử bình đẳng, cùng có lợi, hai bên bàn bạc thảo luận về những giải pháp mang tính quá độ, tạm thời mà không ảnh hưởng đến lập trường và chủ trương của hai bên, bao gồm việc tích cực nghiên cứu và bàn bạc về vấn đề hợp tác cùng phát triển theo những nguyên tắc đã nêu tại điều 2 của Thoả thuận này”.

    Với nội dung này, hai bên đã đưa ra khả năng về một giải pháp mang tính quá độ đối với các khu vực tranh chấp, bao gồm cả việc hợp tác cùng phát triển theo nguyên tắc đã nêu ở điều 2 của Thoả thuận, nghĩa là căn cứ vào luật pháp quốc tế, Công ước Luật Biển 1982. Giải pháp quá độ tạm thời, hợp tác cùng phát triển là phù hợp với luật pháp và thực tiễn quốc tế. Dàn xếp tạm thời về "hợp tác cùng phát triển” được khuyến nghị trong Điều 74 và Điều 83 của Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982. Theo đó, các quốc gia khi chưa tìm được giải pháp phân định thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế thì có thể thoả thuận về các dàn xếp tạm thời mang tính thực tiễn; các dàn xếp tạm thời không làm phương hại đến kết quả phân định cuối cùng. Trên thế giới đã có nhiều thoả thuận về các dàn xếp tạm thời "hợp tác cùng phát triển” dưới nhiều hình thức và trong các lĩnh vực khác nhau (nghề cá, dầu khí...). Ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương có: Hiệp định về khai thác chung Nhật Bản – Hàn Quốc năm 1974 ở khu vực biển chồng lấn giữa hai nước; Hiệp định về phát triển chung vùng biển chồng lấn ở Biển Đông Timor giữa Úc và Indonesia năm 1989. Năm 1992, Việt Nam cũng đã ký với Malaysia Thoả thuận về khai thác chung dầu khí tại 01 khu vực biển chồng lấn giữa hai nước và đến nay đang được triển khai.

    Thoả thuận đã cho thấy thái độ và tinh thần hợp tác nhằm duy trì hoà bình ổn định trên biển. Một điều cần nhấn mạnh trong nội dung này là điều 76 của Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982 cũng quy định rõ mỗi quốc gia ven biển có vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa tối thiểu là 200 hải lý tính từ đường cơ sở, thậm chí có thể mở rộng ra đến 350 hải lý. Như vậy, giải pháp quá độ tạm thời, hợp tác cùng phát triển theo Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982 là phải tôn trọng vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa tối thiểu của mỗi quốc gia ven biển. Do vậy, hợp tác cùng phát triển chỉ có thể được thực hiện ở những khu vực thực sự có tranh chấp ngoài thềm lục địa 200 hải lý của Việt Nam.

    Ngoài ra, Thoả thuận đã nêu ra một số nguyên tắc khác là giải quyết các vấn đề trên biển theo tinh thần tuần tự tiệm tiến, dễ trước khó sau. Vững bước thúc đẩy đàm phán phân định vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ, đồng thời tích cực bàn bạc về vấn đề hợp tác cùng phát triển tại vùng biển này. Tích cực thúc đẩy hợp tác trên các lĩnh vực ít nhạy cảm như bảo vệ môi trường biển, nghiên cứu khoa học, tìm kiếm, cứu hộ cứu nạn trên biển, phòng chống, giảm thiểu thiệt hại do thiên tai. Nỗ lực tăng cường tin cậy lẫn nhau để tạo điều kiện cho việc giải quyết các vấn đề khó khăn hơn. Hai bên cũng đã nhất trí cơ chế gặp định kỳ Trưởng đoàn đàm phán biên giới cấp Chính phủ 2 lần/năm; thiết lập cơ chế đường dây nóng trong khuôn khổ đoàn đại biểu cấp Chính phủ để kịp thời trao đổi và xử lý thoả đáng vấn đề trên biển.

    Kết quả đàm phán luôn là một sự dung hoà của các mối lợi ích để tìm ra tiếng nói chung mà hai bên đều có thể chấp nhận được chứ không thể đòi hỏi chỉ giành phần thắng lợi về mình. Nội dung Thoả thuận về cơ bản đã đảm bảo được những nguyên tắc lớn trong quan điểm lập trường của Việt Nam là giải quyết tranh chấp ở Biển Đông trên cơ sở luật pháp quốc tế, Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982; thực hiện nghiêm túc DOC nhằm duy trì hoà bình ổn định ở Biển Đông; giải quyết tranh chấp ở Biển Đông cả song phương lẫn đa phương; hợp tác cùng phát triển phải phù hợp với luật pháp quốc tế, Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982, nghĩa là tôn trọng vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của các quốc gia ven biển.

    Tóm lại, với những nội dung phân tích trên đây thì việc ký kết Thoả thuận những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển đã tạo cơ sở pháp lý cho việc bàn bạc giải quyết các vấn đề tranh chấp ở Biển Đông.

    Tuy nhiên, đây mới chỉ là bước đi đầu tiên trong quá trình giải quyết vấn đề trên biển Việt Nam – Trung Quốc.
    Tình hình Biển Đông sẽ còn diễn biến phức tạp, công việc tiếp theo sẽ còn hết sức khó khăn.

    Để có thể tìm kiếm một giải pháp quá độ tạm thời hay giải pháp lâu dài cho các vấn đề tranh chấp ở Biển Đông đòi hỏi nỗ lực và thiện chí của cả hai bên, nhất là cần thực hiện nghiêm túc những nguyên tắc đã được xác định trong Thoả thuận những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển.

    Mặt khác, vấn đề Biển Đông là vấn đề nhạy cảm được cả cộng đồng quốc tế quan tâm, do vậy trong quá trình giải quyết các vấn đề cụ thể liên quan ở Biển Đông, cần thực hiện công khai hoá, minh bạch hoá. Việc đăng toàn văn Thoả thuận những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển ngay sau khi ký kết là cách làm đúng đắn, cần tiếp tục được thực hiện trong thời gian tới.

    Hoàng Trường/Theo Đại đoàn kết
    biendong
    Người ta có nhiều chỗ để đi
    Nhưng chỉ có một chốn để về - đó là Quê hương

    Quê hương là chùm khế ngọt...

  2. Thanks anh2 thanked for this post
    Likes Bụi Đời liked this post
  3. #2
    Ngày gia nhập
    Jul 2011
    Bài gửi
    209
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    0
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)
    Thỏa thuận nguyên tắc tế thôi ...nhưng trên thực thế TQ tiếp tục đe dọa , xâm lấn và phá rối ... nó không chịu quốc tế hóa và đưa ra tòa án quốc tế thì làm gì đc nó ?

  4. #3
    Ngày gia nhập
    Dec 2011
    Bài gửi
    264
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    0
    Uploads
    0
    Mentioned
    1 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)
    hầy, mấy cái nguyên tắc này làm ra cho nó vui thôi chứ TQ nó có tuân thủ đâu. Vẽ hưu vẽ vượn cho cả 2 vì những mục tiêu riêng cả thôi.

  5. #4
    Ngày gia nhập
    Oct 2009
    Bài gửi
    893
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    11
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)
    Các "nguyên tắc..." này chỉ có tác dụng là buộc TQ vào sợi dây pháp lý vô hình. Còn trên thực địa, TQ vẫn ỷ thế mạnh làm càn, bí lắm thì xuyên tạc tinh thần và nội dung của cả luật quốc tế, chứ đừng nói đến các "nguyên tắc...". Nhưng ít nhất thì VN cũng đã làm được việc là cố gắng kéo TQ ... về con đường rõ ràng và hợp pháp
    Trong thực tế, nếu VN không mạnh lên thì còn lâu mới có thể cất tiếng nói có trọng lượng được. Các bạn cứ chê trách phát ngôn Bộ ngoại giao VN là lặp đi lặp lại, vô hồn, chỉ dám "yêu cầu" chứ không dám "đòi"... Thực ra, đó chỉ phản ánh một điều là VN yếu thế hơn rất nhiều so với TQ. Câu hỏi đặt ra là mỗi một trong số chúng ta đã và đang làm gì cho VN mạnh lên, hay vì bản tính xấu của người Việt mà luôn hục hặc với nhau, để kẻ thù lợi dụng mà lấn tới?

  6. #5
    Ngày gia nhập
    May 2011
    Bài gửi
    33
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    3
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)

    Bốn cách tư duy giải quyết vấn đề Biển Đông của học giả Trung Quốc

    Tranh chấp Biển Đông là vấn đề phức tạp liên quan đến nhiều bên, không thể giải quyết triệt để trong thời gian ngắn. Tiến sĩ Trương Tiếu Thiên thuộc Đại học Quốc phòng Trung Quốc có bài viết đăng trên báo “Quốc phòng Trung Quốc” đề cập đến bốn cách tư duy giải quyết vấn đề Biển Đông
    Cách thứ nhất: Giải quyết bằng vũ lực – cuộc đấu kép giữa quân sự và chính trị Quan sát trên mạng hiện nay sẽ thấy rất nhiều người ủng hộ biện pháp dùng vũ lực giải quyết vấn đề Biển Đông. Xét tổng thể về so sánh lực lượng thì thực lực quân sự của Trung Quốc chắc chắn mạnh hơn Việt Nam và Philíppin, khả năng giành thắng lợi cũng nhiều hơn. Hơn nữa Mỹ không có lợi ích chiến lược mang tính thực chất ở Biển Đông, nếu Trung Quốc dùng vũ lực giọng điệu của Mỹ sẽ không nhẹ nhàng, nhưng cũng khó có thể ra tay mạnh mẽ với Trung Quốc vì vấn đề Biển Đông. Từ đó có thể suy luận, nếu xảy ra chiến tranh ở Biển Đông, Trung Quốc rất có thể giành thắng lợi về mặt quân sự, nhưng đồng thời ảnh hưởng bất lợi của việc giải quyết bằng vũ lực cũng sẽ hết sức rõ rệt. Thứ nhất, sẽ khiến cho thù hận giữa Trung Quốc với Việt Nam và Philíppin, thậm chí với cả một số nước khác tích tụ lâu dài, ảnh hưởng đến tình hình khu vực xung quanh Trung Quốc; Thứ hai, khiến cho rạn nứt giữa Trung Quốc và khối chính trị châu Á, chủ yếu là ASEAN sẽ lớn thêm, thế lực thứ ba bên ngoài sẽ được lợi, rơi trúng kế kiềm tỏa của Mỹ; Thứ ba, ý tưởng chính trị của Trung Quốc sẽ bị nghi ngờ, cộng thêm sự kích động, xúi giục của nước lớn bên ngoài sẽ ảnh hưởng đến môi trường chiến lược của Trung Quốc, cản trở cơ hội phát triển chiến lược của Trung Quốc. Nếu xem xét một cách biện chứng thì ảnh hưởng sử dụng vũ lực không phải là thắng lợi tuyệt đối mà phải căn cứ theo thời cơ, xu thế và tình hình của nước bá quyền để nắm bắt một cách linh hoạt.
    Cách thứ hai: Thỏa hiệp nhượng bộ - nhân nhượng lợi ích đơn phương hoặc đa phương Trong xử lý các vấn đề quốc tế, nhất là trong cuộc chơi chiến lược giữa các nước lớn, khả năng các bên lợi ích liên quan tuyệt đối không thỏa hiệp, không nhân nhượng là rất ít, nghĩa là dù nhiều dù ít đều có phần nhượng bộ nào đó. Vấn đề thỏa hiệp hoặc nhượng bộ đề cập ở đây liên quan đến hai khả năng. Thứ nhất, Trung Quốc đơn phương chịu hy sinh để thỏa hiệp, nhượng bộ; Hai là các bên lợi ích liên quan đều có sự thỏa hiệp nhân nhượng trên cơ sở tôn trọng, thông cảm và hiểu biết lẫn nhau. Điều rõ ràng là đơn phương thỏa hiệp sẽ là tổn hại tuyệt đối về lợi ích quốc gia, hơn nữa không nhất thiết có thể đổi lại được hòa bình lâu dài, cũng không có lợi cho việc giải quyết triệt để vấn đề, như vậy là một hạ sách. Về mặt lý thuyết, việc các bên đều có thỏa hiệp và nhượng bộ nào đó là tương đối hiện thực, dễ dàng cho việc giải quyết vấn đề Biển Đông. Tuy nhiên trong thao tác thực tế, cách nghĩ về các bên đều có thỏa hiệp, nhượng bộ nhất định cũng đứng trước rất nhiều thách thức mang tính hiện thực. Thứ nhất, có nước không muốn có bất cứ nhượng bộ nào; Thứ hai, có nước được một muốn mười, không ngừng gặm nhấm như tằm ăn lá dâu đối với lợi ích biển của Trung Quốc; Thứ ba, có nước lôi kéo thế lực nước lớn ngoài khu vực, hòng làm cho vấn đề Biển Đông trở nên quốc tế hóa và phức tạp hóa. Trong bối cảnh như vậy, cách tư duy chiến lược cho rằng một bên nào đó đơn thuần thỏa hiệp sẽ khiến cho lợi ích quốc gia của mình bị tổn hại. Nếu muốn thay đổi tình hình, khiến cho nước đương sự hữu quan đều ngồi vào bàn hiệp thương thẳng thắn và thành thật thì phải có biện pháp mạnh mẽ trong các phương diện chính trị, kinh tế, quân sự, quốc tế v.v., tạo điều kiện cho hiệp thương công bằng.
    Cách thứ ba: Gác lại lâu dài – đau khổ vướng víu cả trước mắt và lâu dài Gác lại lâu dài là biện pháp gác lại tranh chấp, đợi điều kiện chín muồi sẽ tiếp tục giải quyết. Vào thập niên 80 thế kỷ trước, Đặng Tiểu Bình đã đề xuất tư tưởng chỉ đạo “chủ quyền thuộc về ta, gác lại tranh chấp, cùng khai thác”, tạm thời được gác lại vấn đề Biển Đông, đợi điều kiện chín muồi sẽ tiếp tục tìm biện pháp giải quyết theo nguyên tắc chủ quyền thuộc về ta. Đến nay vấn đề Biển Đông đã được gác lại hơn 20 năm, ảnh hưởng tích cực là đã có được thời gian cho phát triển quốc gia, thực lực của quốc gia đã được nâng lên mạnh mẽ, nhưng ảnh hưởng tiêu cực là trong hơn 20 năm đó tranh chấp không ngừng xảy ra. Nghiêm trọng hơn nữa là biển phân chia, các đảo bị xâm chiếm, tài nguyên bị cướp đoạt, tình hình như vậy không ngừng xấu đi, đã mấp mé ranh giới không thể tiếp tục gác lại. Trong thời gian tới nếu muốn tiếp tục gác lại sẽ phải đứng trước rất nhiều thách thức. Thứ nhất, tiếp tục gác lại có nghĩa là vấn đề cứ tiếp tục tồn tại, ảnh hưởng lâu dài đến ổn định ở môi trường xung quanh; Thứ hai, tiếp tục gác lại sẽ khiến cho vấn đề tập trung áp lực, cộng thêm bị nước bá quyền kiềm chế, cùng với ảnh hưởng của một số vấn đề an ninh khác sẽ tồn tại rủi ro bị kích hoạt tập trung trong một thời kỳ nào đó; Thứ ba, tiếp tục gác lại cho thấy rạn nứt ở Đông Nam Á, thậm chí ở cả khu vực châu Á sẽ tồn tại lâu dài, không có lợi cho việc chấn chỉnh xu thế chiến lược tổng thể.
    Cách thứ tư: “Cùng có” – sức cuốn hút của thời đại hòa bình và phát triển Tư duy chiến lược “cùng có” có nội hàm đặc biệt. Về mặt lý luận, không phải là các nước hữu quan cùng có chung Biển Đông mà bao hàm ba lớp ý nghĩa sau đây:
    Thứ nhất, đối với khu vực lãnh hải mà bên liên quan đã công nhận rõ cho nước nào đó có chủ quyền thì không cho phép tranh chấp trở lại và gây nên tranh chấp.
    Thứ hai, đối với vùng biển mà các bên liên quan đang tranh chấp, nếu theo truyền thống lịch sử và luật pháp quốc tế đều có chứng cứ rõ ràng cho thấy phải thuộc về nước nào đó thì cần hiệp thương tập thể để công nhận là thuộc về nước đó. Thứ ba, đối với vùng biển mà các bên đang tranh chấp, nếu không có chứng cứ được toàn thể các bên nhất trí công nhận, không thể chứng minh phải thuộc về nước nào thì có thể xác định các nước đương sự cùng có chung theo hình thức nào đó. “Hình thức nào đó” cụ thể là gì, cần phải tiếp tục đi sâu khai thác, tìm kiếm. Theo suy nghĩ sơ bộ, ít nhất có thể có hai cách xác định: Một là quy thuộc chủ quyền về chính trị và quyền lợi kinh tế đối với vùng biển đó sẽ được hai hoặc hai nước trở lên cùng sở hữu, không có phân định rõ rệt theo giới hạn địa lý, các nước đương sự cùng khai thác, sử dụng và bảo vệ bằng hình thức cổ phần; Hai là quyền lợi chính trị đối với vùng biển quy về cho một nước nào đó sở hữu, đồng thời lợi ích kinh tế sẽ quy về cho các nước đương sự cùng sở hữu, các nước đương sự căn cứ theo theo tỉ lệ giá trị kinh tế để cùng khai thác, sử dụng và bảo vệ an ninh vùng biển. Tư duy chiến lược “cùng có” có những ưu điểm rõ rệt. Thứ nhất, có thể loại bỏ mâu thuẫn và tranh chấp giữa các nước với nhau, dễ được Chính phủ và nhân dân các nước chấp nhận; Thứ hai, các nước đương sự có thể cùng hưởng lợi ích kinh tế, thúc đẩy các nước cùng khai thác, sử dụng và bảo vệ; Thứ ba, có thể liên hệ chặt chẽ các nước đương sự lại với nhau, cùng có lợi ích chung ở khu vực Biển Đông, xây dựng quan hệ chiến lược hữu nghị và môi trường chiến lược hữu nghị. Một ưu điểm rõ nét hơn nữa là hiện nay ngày càng có nhiều người nhận thức được rằng “trong thập niên thứ hai của thế kỷ 21 con đường phát triển trỗi dậy hòa bình của Trung Quốc đòi hỏi phải cụ thể hóa thêm một bước”, “một xu hướng quan trọng là mở rộng và làm sâu sắc thêm điểm gặp gỡ lợi ích giữa các bên, từ các nước và các khu vực khác nhau sẽ xây dựng một cách toàn diện thành cộng đồng lợi ích trong các lĩnh vực khác nhau và ở các cấp độ khác nhau”. Theo tư tưởng này thì việc coi tư duy chiến lược “cùng có” là cách thử nghiệm hữu ích để giải quyết vấn đề Biển Đông không chỉ có lợi cho việc giải quyết bản thân vấn đề Biển Đông, mà sẽ còn đặt cơ sở để xây dựng cộng đồng lợi ích giữa các bên, tạo điều kiện thuận lợi để Trung Quốc phát triển lâu dài, thậm chí dẫn dắt thế giới đến tiến bộ. Tuy nhiên, tư duy “cùng có” đòi hỏi phải có một số điều kiện, một điểm quan trọng trong đó là khả năng lý giải và tiếp nhận của các nước đương sự đối với ý tưởng “cùng có”. Hiện nay và một thời kỳ tới đây, trong tiếng gọi hấp dẫn của trào lưu chủ quyền quốc gia có thể nhân nhượng một phần để cùng phát triển, có tồn tại khả năng này. Trong bốn kiểu tư duy chiến lược nói trên, kiểu nào cũng đều có cả thế mạnh, thế yếu và phải có những điều kiện cơ bản, cần xuất phát từ toàn cục chiến lược an ninh và phát triển quốc gia để có được quy hoạch tổng thể đối với vấn đề Biển Đông. Dù lựa chọn theo cách tư duy nào cũng đều phải kết hợp tình hình thực tế để nắm bắt vấn đề, cần vận dụng một cách tổng hợp tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế và sức mạnh quân sự của quốc gia. Trong thao tác thực tế có thể lấy một kiểu nào đó làm chủ thể, các kiểu khác còn lại là phụ trợ, nhưng cũng có thể phối hợp tất cả. Ngoài ra, cần phải chỉ rõ rằng cần đối phó thỏa đáng với nước lớn ngoài khu vực gây trở ngại, lợi dụng và can thiệp, vừa phải đề phòng tổn thất lợi ích quốc gia lại vừa phải đề phòng tổn hại lợi ích khu vực. Đó là nhân tố bên ngoài lớn nhất ảnh hưởng đến khả năng giải quyết vấn đề Biển Đông, cũng là nhân tố then chốt khiến cho chiến lược khu vực Biển Đông có thành công được hay không./.
    Theo Báo “Quốc phòng Trung Quốc” (ngày 26/7) Trần Sơn (gt)

    Cách giải quyết tranh chấp Biển Đông của học giả Trung Quốc có phù hợp với tình hình thực tế hiện nay giữa các bên liên quan trong việc giải quyết? Trung Quốc có lợi gì? Việt Nam có lợi và hại như thế nào?


  7. Thanks nhonvlq, anh2 thanked for this post
  8. #6
    Ngày gia nhập
    Aug 2009
    Bài gửi
    1.065
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    0
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)
    nếu anh và tôi đều cho rằng mình đúng thì hãy mang nhau ra tòa án quốc tế để phân giải xem chủ quyền HS _TS thuộc về ai.
    Tại Bảo tàng tổng hợp Quảng Ngãi và Bảo tàng TP Đà Nẵng đang lưu giữ nhiều hình ảnh, bản đồ từ thế kỷ thứ 16 đến 19 khẳng định chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa.

Chủ đề tương tự

  1. [Tin tức] Phỏng vấn TS Nguyễn Nhã về bằng chứng chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa
    By SpiritHS in forum Lịch Sử & Chủ Quyền Hoàng Sa - Trường Sa
    Trả lời: 3
    Bài mới gửi: 13-08-2011, 03:04 PM
  2. "Dân có quyền chất vấn chính quyền" - Nguyễn Trọng Vĩnh
    By Bien_dao_of_vietnam in forum Kinh tế-Xã hội
    Trả lời: 27
    Bài mới gửi: 20-07-2011, 10:27 AM
  3. Quá trình xác lập chủ quyền Trường Sa thời chúa Nguyễn và triều Nguyễn
    By JoeOsmiDalton in forum Lịch Sử & Chủ Quyền Hoàng Sa - Trường Sa
    Trả lời: 154
    Bài mới gửi: 04-06-2011, 02:00 PM
  4. [Nguyễn Xuân Diện] Ý chí của tổ tiên về chủ quyền biển đảo
    By KID1485 in forum Lịch Sử & Chủ Quyền Hoàng Sa - Trường Sa
    Trả lời: 13
    Bài mới gửi: 08-01-2010, 08:03 AM
  5. Chủ quyền cương giới biển và Hoàng Sa – Trường Sa thời Nguyễn
    By anh2 in forum Nghiên cứu, khám phá về biển Đông
    Trả lời: 3
    Bài mới gửi: 26-12-2009, 05:27 PM

Bookmarks

Quyền hạn Gửi bài

  • Bạn không thể gửi chủ đề
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài của mình
  •