HOANGSA.ORG ĐÃ CHUYỂN SANG DIỄN ĐÀN MỚI- DIỄN ĐÀN CŨ CHỈ ĐỂ LƯU TRỮ KHÔNG THỂ VIẾT BÀI.

ĐỂ ĐI ĐẾN DIỄN ĐÀN MỚI XIN VUI LÒNG CLICK VÀO ĐÂY HTTP://HOANGSA.ORG/F

HOANGSA.ORG ĐÃ CHUYỂN SANG DIỄN ĐÀN MỚI- DIỄN ĐÀN CŨ CHỈ ĐỂ LƯU TRỮ KHÔNG THỂ VIẾT BÀI.

ĐỂ ĐI ĐẾN DIỄN ĐÀN MỚI XIN VUI LÒNG CLICK VÀO ĐÂY HTTP://HOANGSA.ORG/F

User Tag List

Trang 2 trong 8 Đầu tiênĐầu tiên 1234 ... Cuối cùngCuối cùng
Kết quả từ 11 tới 20 trên 74
  1. #11
    babykiller Guest
    Trích dẫn Nguyên văn bởi MidgetSubmarine Xem Bài gửi
    Giá như tác giả chú thích thêm các từ ngữ chuyên môn, các hình vẽ minh họa kỹ thuật bay chẳng hạn thì bài viết sẽ càng có nhiều ý nghĩa hơn.
    cứ từ từ,sẽ có đủ,mới năm 1967 thôi,5 năm nữa mà,còn vừa phang vừa thay đổi chiến thuật nữa
    minh họa bằng clip cho nó sinh động nè

    p/s :
    claim là 1 bên bắn nhưng bên kia chưa công nhận
    lượn vòng bander roll là lộn chữ vòng hình chữ G,ngoặt jojo là đang bay ở thấp đột ngột giật lại rồi zọt lên cao,kiểu như rắn hổ mang ấy,nhưng bọn mỹ gọi jojo cho nó teen jojo là trò jojo của trẻ con đấy
    còn đây là hàng việt nam chất lượng cực cao


    Còn đây là minh họa cho chiến thuật dẫn đường và hit and run kinh điển của KQNDVN

    mỗi tội đoạn cuối không hiểu sao mig tự nhiên lại rơi

    cả nhà cứ từ từ đọc di,mới hết quý 1 năm 1967 thôi mà )

  2. Thanks vietthuong, NADAI73 thanked for this post
  3. #12
    Ngày gia nhập
    May 2011
    Bài gửi
    342
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    0
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)
    hay, hay, hấp dẫn thật, xem cái cảnh sam 2 bắn xuyên máy bay hay thật, nhìn giống như đánh chặn đầu hay sao ấy, nhưng mà sao có thể ước lượng chính xác đến thế nhỉ ?
    Trích dẫn Nguyên văn bởi babykiller Xem Bài gửi
    Trích dẫn Nguyên văn bởi MidgetSubmarine Xem Bài gửi
    Giá như tác giả chú thích thêm các từ ngữ chuyên môn, các hình vẽ minh họa kỹ thuật bay chẳng hạn thì bài viết sẽ càng có nhiều ý nghĩa hơn.
    cứ từ từ,sẽ có đủ,mới năm 1967 thôi,5 năm nữa mà,còn vừa phang vừa thay đổi chiến thuật nữa
    minh họa bằng clip cho nó sinh động nè

    p/s :
    claim là 1 bên bắn nhưng bên kia chưa công nhận
    lượn vòng bander roll là lộn chữ vòng hình chữ G,ngoặt jojo là đang bay ở thấp đột ngột giật lại rồi zọt lên cao,kiểu như rắn hổ mang ấy,nhưng bọn mỹ gọi jojo cho nó teen jojo là trò jojo của trẻ con đấy
    còn đây là hàng việt nam chất lượng cực cao


    Còn đây là minh họa cho chiến thuật dẫn đường và hit and run kinh điển của KQNDVN

    mỗi tội đoạn cuối không hiểu sao mig tự nhiên lại rơi

    cả nhà cứ từ từ đọc di,mới hết quý 1 năm 1967 thôi mà )

  4. #13
    babykiller Guest
    Tiếp nè cả nhà...
    Sau 6 tháng đầu năm 1967 thất bát và bị đánh thiệt hại nặng....Vn đã rút ra nhiều bài học xương máu,cách đánh cũ áp dụng cho mig 21 từng làm người mỹ khốn đốn giờ đây đã vô hiệu,vậy trong quá khứ,người mỹ đã khốn đốn ra sao,xin cả nhà quay lại thời điểm trước 6 tháng bội thu của người mỹ

    Oai hùng Không quân Việt Nam - Người hùng lái MIG 21

    Công kích ở độ cao 18 km

    Cuối năm 1965, Không quân Việt Nam được trang bị thêm máy bay đánh chặn MIG 21. Đây là loại máy bay hiện đại lúc bấy giờ. Ngoài súng 23 ly, trên máy bay còn được trang bị tên lửa không đối không. So với các loại máy bay mà Mỹ dùng để đánh phá miền Bắc, MIG 21 được xem là ngang sức ngang tài.

    Ông Nhị kể, vào thời điểm này, máy bay trinh sát điện tử không người lái hoạt động ở miền Bắc rất nhiều để chụp ảnh các trận địa của ta và các mục tiêu chúng định ném bom. Do hoạt động ở độ cao trên 20 km nên cho đến thời điểm này, pháo phòng không và máy bay MIG 17 chưa thể bắn hạ được các máy bay trinh sát.

    Sáng 4.4.1966, máy bay trinh sát Mỹ lại hoạt động ở tuyến quốc lộ từ Hà Nội đi Cao Bằng. Được lệnh cất cánh, phi công Nguyễn Hồng Nhị hạ quyết tâm đã xuất kích là phải tiêu diệt máy bay địch để tạo khí thế cho đơn vị. Hơn nữa ông lại là người đầu tiên sử dụng MIG 21 chiến đấu. Được Sở chỉ huy mặt đất dẫn đường, ông rất hồi hộp và tự đặt ra hàng loạt câu hỏi: Làm thế nào để phát hiện mục tiêu? Bắn ở cự ly nào cho hiệu quả?...
    Từ một phi công chiến đấu, ông Nhị lần lượt qua các chức vụ Trung đoàn trưởng 927, sau đó là Sư đoàn phó 371. Năm 1975 ông về làm Sư đoàn trưởng 372. Năm 1985 được phong Thiếu tướng, Sư trưởng 370. Năm 1987 làm Phó tư lệnh, Tham mưu trưởng Không quân. Năm 1989 sang làm Tổng cục trưởng Hàng không dân dụng. Ông về nghỉ hưu năm 1988.

    Bay đến độ cao hơn 16 km, ông dùng mắt thường quan sát vì ra-đa của máy bay do bị gây nhiễu dày đặc hầu như bị tê liệt. Đến độ cao 18 km, ông phát hiện mục tiêu và xin lệnh công kích. Được cho phép, ông cho MIG 21 của mình bám đuôi và dùng ra-đa trên máy bay để đo cự ly. Khi máy bay địch đã ở trong vòng ngắm, ông liền phóng một quả tên lửa, chiếc máy bay bốc cháy. Để chắc ăn, ông phóng thêm một quả tên lửa nữa, chiếc máy bay của Mỹ tan tành. Từ khi cất cánh đến khi trở về là hơn 20 phút.

    Ông nhớ lại: “Lúc đó, tôi rất vui sướng, muốn hét lên thật to vì đây là trận đánh rất quan trọng. Lần đầu tiên MIG 21 của ta bắn rơi máy bay địch”.

    Đánh nhanh và “trốn” nhanh

    Ông Nhị bảo cuộc đời của ông gặp nhiều may mắn. Ông là người chỉ huy thử nghiệm cách đánh biên đội 3 người đầu tiên của máy bay MIG 21. Đó là lần biên đội gồm ông bay số 1, các số 2 và 3 là phi công Vũ Ngọc Đĩnh, Nguyễn Đăng Kính. MIG 21 trước đó thường đi đánh theo biên đội 2 và 4 chiếc. Ông đã thử nghiệm biên đội 3 chiếc để đối phó với đội hình máy bay dài lê thê của địch. Nếu 4 chiếc thì nhiều quá, còn 2 chiếc thì thiếu một người quan sát phía sau. Với cách đánh mới biên đội 3 chiếc, số 1 là chủ công, số 2 bảo vệ cánh trái, số 3 bảo vệ cánh phải. Được lệnh cất cánh, ông cho biên đội bay vút lên lấy độ cao. Sở chỉ huy mặt đất cho ông biết, máy bay Mỹ đang vào phía bắc Hà Nội. Từ trên cao ông phát hiện 7 tốp máy bay địch, mỗi tốp 4 chiếc, toàn loại F105 mang bom, phía sau còn mấy tốp F4 nữa. Lúc đó, ông nghĩ trong đầu phải phá đội hình máy bay F4 làm cho chúng rối loạn để tập trung tiêu diệt bọn mang bom. Nghĩ thế, ông phóng 1 quả tên lửa vào các máy bay F4. Phát hiện có MIG 21, F4 liền vòng lại. Chỉ chờ có thế, ông lệnh cho toàn biên đội bay vượt lên để đánh F105. Đến nơi, ông hạ lệnh công kích. Bằng 1 quả tên lửa, chiếc F105 nổ tung. Lần lượt số 2 và số 3 bắn rơi thêm 2 chiếc nữa rồi nhanh chóng thoát ly quay về tránh sự truy đuổi của F4. Sau trận thắng này, cấp trên nhận định là cách đánh mới, đánh nhanh thọc sâu vào đội hình địch và nhanh chóng thoát ly trở về an toàn.

    Bắn rơi 8 máy bay của địch, ông Nhị cũng đã nhiều lần dính tên lửa của phi công Mỹ. Tại vùng trời Cao Bằng, trong một trận đánh, ông đã bị tên lửa của máy bay Mỹ bắn trúng và kịp bung dù. Vì nói giọng miền Nam, ông bị dân quân nghi là phi công của quân đội Sài Gòn và bị bắt giữ. Mãi đến tối, sau khi có điện thoại của quân chủng, ông mới được minh oan và trở về trong vòng tay đồng đội.
    Oai hùng Không quân Việt Nam - Đánh gần!


    Trước khi cất cánh, chiếc MIG 21 số hiệu 5020 còn nguyên màu trắng bạc. Thế nhưng khi trở về căn cứ, toàn thân nó đã được “sơn” lại bằng một màu đen của thuốc súng...


    Người làm được điều đó là anh hùng phi công Nguyễn Tiến Sâm. Ông sinh năm 1946, là một phi công dạn dày trận mạc của Không quân VN. Gặp ông ở nhà riêng tại Hà Nội, tôi ngạc nhiên: “Cứ tưởng chú to cao và phải khỏe lắm?”. Ông cười đôn hậu: “Xưa nay tôi vẫn vậy, lúc nào cũng chỉ 55 cân thôi. Trông thấp bé nhẹ cân thế mà khỏe lắm...” .

    Bay vào vùng nổ

    Ông hào hứng kể, năm 1968, khi mới về nước bay 3 chuyến, ông được cấp trên xem xét cho vào trực chiến ngay. Những năm 1969, 1970, ông thường trực chiến ở Thanh Hóa, Nghệ An bảo vệ đường huyết mạch chuyên chở vũ khí chi viện cho chiến trường miền Nam.

    Năm 1972, ông cùng với phi công Nguyễn Đức Soát được chuyển qua Trung đoàn 927. Tưởng rằng sang đó sẽ làm công tác huấn luyện nhưng chiến tranh quá ác liệt nên ông lại tiếp tục cùng đồng đội lao vào chiến đấu.

    “Là cán bộ chỉ huy, trong lúc anh em cấp dưới có người đã bắn rơi vài chiếc máy bay nhưng tôi chưa bắn rơi được chiếc nào, nóng ruột lắm. Thế rồi ngày ấy đã đến. Sáng 5.2.1972, tôi được lệnh xuất kích từ sân bay Nội Bài. Tôi bay số 1. Anh Hà Vĩnh Thành bay số 2. Mới bay qua Gia Lâm, tôi nhận được lệnh của mặt đất: Vứt thùng dầu phụ. Tăng độ cao từ 2.000 đến 6.000 mét. Lúc đó tôi cũng chưa nhìn thấy địch nhưng chỉ sau ít phút, số 2 báo đã phát hiện được địch, xin công kích và đã bắn hạ được một chiếc F4. Đến lúc đó, tôi mới nhìn thấy rõ một tốp 2 chiếc F4, lập tức tôi ép vào đến cự ly cho phép nổ súng rồi ấn nút phóng tên lửa. Nhưng máy bay địch bỗng vòng trái, sau đó lại vòng phải và tên lửa đã bay trượt mục tiêu. Điên tiết, tôi ép sát hơn vào máy bay địch và nhấn nút quả tên lửa còn lại”, ông kể.

    Ông bảo theo lý thuyết, cự ly bắn tên lửa phải trên 5 km “để còn thoát ly máy bay cho an toàn”, nhưng lúc ấy ông chỉ còn cách máy bay Mỹ khoảng chừng trên 500 mét thôi. Nhìn phía trước ông thấy máy bay địch bùng cháy thành một quả cầu lửa to, quá gần không kịp tránh nên ông đành cho máy bay chui tọt vào vùng nổ. “Lúc ấy, nếu có tránh cũng không thể tránh được”, ông nói.

    Ông kể lúc cho máy bay “chui vào vùng nổ”, ông đang tăng lực, tốc độ máy bay rất nhanh. Thế mà khi ra khỏi vùng nổ, máy bay im re, động cơ không còn hoạt động trong khi bầu trời thì tối sẫm lại, ông chẳng nhìn thấy gì. Ngay sau đó, ông bình tĩnh thực hiện đầy đủ quy trình mở máy lại trên không. Trong tích tắc, động cơ máy bay đã làm việc trở lại. Nhìn qua cửa buồng lái, ông chỉ thấy một màu mờ mờ nên vội vã bật ra đa, trở về sân bay và xin phép hạ cánh. Lúc đó phía mặt đất hỏi ngược lên: “Anh là ai?”, “Anh từ đâu đến?”, “Anh số hiệu bao nhiêu?”. Ông chỉ trả lời: “Cứ cho tôi hạ cánh!”. Mặt đất hỏi: “Trên máy bay có ai không?”. Ông đáp: “Không”.

    Đang là sinh viên Bách khoa, năm 1965, Nguyễn Tiến Sâm tình nguyện nhập ngũ rồi được chọn qua Liên Xô học lái máy bay MIG 21. Năm 1968, ông trở về nhận nhiệm vụ tại Trung đoàn 921 và tham gia chiến đấu. Ông từng là Trung đoàn trưởng Trung đoàn không quân 927 rồi Phó sư đoàn trưởng - Tham mưu trưởng Sư đoàn 371, ông được phong anh hùng tháng 1.1973 với thành tích bắn rơi 5 máy bay F4 của Mỹ.

    Khi ông đã hạ cánh an toàn, anh em thợ máy tiếp cận vẫn chưa biết máy bay của ai. Đến lúc ông mở cửa bước ra, mọi người cười lăn quay. Do chui vào vùng nổ nên từ đầu đến đuôi máy bay đã được “sơn” lại bằng màu đen của khói và thuốc súng. Thợ máy sau đó đã kiểm tra và cho biết, máy bay không thể sử dụng được nữa, đành đưa vào xưởng đại tu toàn bộ.

    Sau trận đánh ấy, ông bị phê bình vì chỉ huy cho rằng đánh gần như thế rất nguy hiểm đến tính mạng, việc ông thoát chết trận ấy là điều tưởng như không thể. Nhưng cũng chính do trận thắng ấy, ông được cấp trên đánh giá là một phi công trẻ dũng cảm.

    Năm ấy ông chỉ mới 26 tuổi.

    Phải diệt một chiếc mới về

    Sau lần “sơn” máy bay đó, ông Sâm còn bắn rơi thêm 2 chiếc F4 nữa vào các ngày 14 và 22.7.1972. Cấp trên thấy ông đánh hăng quá nên “cất” không cho đánh nữa vì lo “tham quá sẽ có sai lầm nhất định”. Ông nói: “Kiểu như đá bóng ấy, nếu anh tỉnh táo thì chuyền bóng tốt, làm bàn tốt. Còn nếu anh cay cú ăn thua nhất định sẽ phạm lỗi và nhận thẻ đỏ”. Sau đó, do ông “đòi” quá nên lại được phân công trực chiến. Thế là vào tháng 9 và 10.1972, mỗi tháng ông lại bắn rơi thêm một chiếc F4 nữa.
    Ông nhớ lại, tháng 10.1972, ông xuất kích gặp 8 chiếc F4 của Mỹ ở vùng Lục Ngạn. Phát hiện ra MIG 21 của ta, chúng bỏ chạy tán loạn, ông được lệnh quay về. Đang chuẩn bị hạ cánh xuống Nội Bài thì được lệnh của mặt đất kéo lên bay về Yên Bái hạ cánh nạp nhiên liệu rồi đi tiếp. Mới lên được vài trăm mét, ông lại được lệnh phải vứt thùng dầu phụ, kéo lên 6.000 mét và vòng phải. Lúc đó nhìn xuống độ cao chừng 4.000 mét, ông thấy một dãy máy bay Mỹ gồm 24 chiếc. Khi đó ông bay số 2, một phi công khác là đại đội trưởng bay số 1.

    “Số 1 cũng chưa phát hiện địch thì tôi thông báo: Anh sang phải đi. Nhẹ nhàng hạ độ cao, thấy chưa? Số 1 đáp: Thấy rồi. Đang bay với tốc độ nhanh nên số 1 bay xuyên suốt từ đuôi đến đầu đoàn máy bay và nổ súng diệt gọn chiếc đi đầu. Thấy máy bay địch bốc cháy, số 1 ra lệnh: Cháy rồi, về thôi. Lúc ấy tôi nghĩ, phải diệt một chiếc mới về. Tôi ép vào, nhưng nghe mặt đất báo: Chú ý! Bên phải anh còn 4 chiếc nữa. Tôi hỏi: Ở độ cao bao nhiêu? Mặt đất thông báo: Hơn 6.000 mét. Nghe thế, tôi đang ở độ cao 4.000 mét phải rón rén, bay ngược lên, bám sát vào đuôi bọn chúng, cự ly lúc ấy khoảng 3 km, có thể nổ súng được nhưng tôi nghĩ còn xa quá, vào gần nữa, đến lúc cự ly chỉ còn 1,5 km, tôi nhấn tên lửa, cách nhau vài giây, 2 quả tên lửa được phóng đi. Sau khi quả thứ nhất chạm máy bay địch, nó nổ tung và khựng lại, ngay lúc đấy quả thứ 2 cũng lao vào và nổ tung như pháo hoa. Chiếc đó tôi bắn trên bầu trời Tuyên Quang. Trên đường về, tôi sướng quá cứ reo hò mãi”, ông hồn nhiên nhớ lại.
    Oai hùng Không quân Việt Nam - Tướng Soát kể chuyện không kích


    Tiếp chúng tôi tại nhà riêng, trung tướng - anh hùng phi công Nguyễn Đức Soát nói nhỏ nhẹ: “Tôi là thế hệ phi công thuộc lớp thứ 3, tức năm 1965, tôi mới đi học lái máy bay ở Liên Xô, đến năm 1968 mới về. Lúc đó, các anh phi công lớp trước lái MIG 17, MIG 21 đã bắn rơi rất nhiều máy bay”.


    Rồi ông kể tiếp: MIG 17 khi đó so với máy bay của Mỹ thì chúng ta kém hơn. Về sau này có MIG 21 thì tính năng không chênh nhau bao nhiêu. Còn về số lượng, địch có rất nhiều máy bay, ta thì ít hơn hẳn.

    Năm 1972, khi bước vào cuộc đọ sức giai đoạn này, ta có 4 trung đoàn không quân chiến đấu. Có 2 trung đoàn trang bị MIG 21 (Trung đoàn 921 và Trung đoàn 927). Trung đoàn 923 trang bị MIG 17 và Trung đoàn 925 trang bị MIG 19. Tổng số máy bay chúng ta có lúc bấy giờ là khoảng hơn 150 chiếc. Trong khi đó, phía Mỹ có 3 tàu sân bay, cao điểm có lúc đến 4 tàu sân bay được bố trí ở vịnh Bắc Bộ và biển Đông với mỗi tàu sân bay có từ 80 đến 90 chiếc máy bay. Phương châm tác chiếc của ta lúc bấy giờ chỉ có 7 chữ: “Bí mật, bất ngờ, đánh chắc thắng”. Lúc ấy, ông mới 26 tuổi và là Đại đội trưởng đại đội 3 - Trung đoàn 927, còn ông Nguyễn Tiến Sâm là Đại đội phó. Trước đó vào năm 1969, ông đã bắn rơi 1 chiếc máy bay trinh sát không người lái và chỉ trong năm 1972, ông bắn rơi được 5 chiếc nữa.

    Trận đánh đáng nhớ


    Trung tướng Nguyễn Đức Soát - Ảnh: Tư liệu
    “Với tôi, có rất nhiều trận đánh đáng nhớ. Phải nói nghiêm chỉnh rằng, không quân ta đánh rất tốt, tất nhiên chúng ta cũng có tổn thất. Tôi nhớ nhất là trận đánh ngày 27.6.1972. Tôi bay số 1, Ngô Duy Thư bay số 2. Sáng ngày hôm ấy, 1 biên đội do anh Bùi Đức Nhu chỉ huy đã bắn rơi 1 chiếc F4 tại Suối Rút, tỉnh Hòa Bình khiến phi công Mỹ nhảy dù và Mỹ phải tìm cách cứu phi công của mình.

    Sau khi nhận được tín hiệu của phi công bị bắn rơi, các tốp tiêm kích của địch bắt đầu bay vào bắn phá khu vực đó để đưa trực thăng vào cứu. Tôi và anh Ngô Duy Thư thuộc Trung đoàn 927 đang trực ở sân bay Nội Bài. Biên đội của Trung đoàn 921 do anh Phạm Phú Thái số 1 và anh Bùi Thanh Liêm số 2 trực ở sân bay Yên Bái. Sở chỉ huy quyết định cho 2 biên đội chúng tôi cất cánh. Khi biên đội chúng tôi phát hiện máy bay địch ở tốp đầu tiên thì chúng cũng phát hiện ra chúng tôi. Theo đánh giá của tôi, về mặt kỹ thuật, phi công Mỹ bay rất giỏi, họ có nhiều giờ bay và nền tảng kỹ thuật, kinh nghiệm từ thế chiến thứ nhất, thế chiến thứ hai rồi chiến tranh Triều Tiên. Tuy nhiên phi công Mỹ đánh rất bài bản, tức là nếu như 1 tốp máy bay 4 chiếc nếu bị tấn công thì ngay lập tức, họ sẽ tách làm đôi, 2 chiếc bay về bên trái, 2 chiếc còn lại bay về bên phải”, trung tướng Nguyễn Đức Soát nhớ lại.

    Trở lại trận đánh hôm đó, ông cho biết thêm: Khi biên đội của ông vào công kích, tốp tiêm kích của địch theo bài bản cũng tách làm đôi. Ông biết chắc rằng sau khi tách tốp, 2 chiếc bay sau của địch sẽ vòng lại bám theo tốp thứ nhất. Ngay lập tức, ông quyết định không bám tốp thứ nhất nữa mà bám theo tốp thứ hai và thông báo cho số 2 của ông rằng: “Tôi sẽ tấn công tốp thứ hai, anh tấn công tốp thứ nhất luôn đi”. Ngay khi ông tiếp cận và bắn rơi chiếc số 1 của tốp hai bên phe địch, chiếc thứ 2 hoảng quá tháo chạy.

    Lập công giữa vòng vây địch

    Năm 2005, trung tướng Nguyễn Đức Soát - lúc đó là Phó tổng Tham mưu trưởng QĐND Việt Nam, đến thăm Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương ở Hawaii theo lời mời của tướng 4 sao William J.Fallon - Tư lệnh Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương. Tại đó, một viên tướng 3 sao, vốn là phi công, lúc đó là Phó tư lệnh mời trung tướng Nguyễn Đức Soát đến phòng riêng và nói rằng: “Ngày 12.10.1972, ngài đã bắn rơi 1 máy bay của phi đội tôi, 1 đại úy và 1 trung tá phi công Mỹ đã bị bắt làm tù binh. Đây là một phi đội nổi tiếng từ Thế chiến 2. Chúng tôi rất nể trọng phi công Việt Nam, rất nể trọng ngài”.
    Tiếp sau đó là trận đánh ngày 12.10.1972, lúc ấy ông đang là Đại đội trưởng, ông Nguyễn Tiến Sâm làm Đại đội phó Đại đội 3 Trung đoàn không quân 927. Ông thuật lại: “Ở sân bay lúc ấy trực 4 chiếc. Nhưng do thời tiết bấy giờ rất xấu nên quân chủng quyết định chỉ cho 2 chúng tôi xuất kích. Tôi bay số 1, anh Sâm bay số 2.

    Khi chúng tôi bay lên thì được sở chỉ huy thông báo có 12 chiếc máy bay Mỹ đang ở dưới chúng tôi. Sau đó tôi phát hiện 1 tốp 4 chiếc đang ở trước mắt và xin công kích. Sở chỉ huy nhắc nhở: Có 12 chiếc, vì sợ tôi chui vào giữa đội hình địch. Sau khi được phép công kích, tôi bảo anh Sâm: “Anh đừng xuống công kích mà chỉ đứng ở trên quan sát và yểm hộ”. Tôi vừa nhào xuống thì anh Sâm nói: “Băng ra ngay, dưới bụng số 1 rất nhiều máy bay”. Nghe thế tôi nghiêng cánh nhìn xuống thì thấy rất nhiều máy bay Mỹ vì chúng tôi bay trên mây đè lên chúng.

    Ngay sau đó, 4 chiếc đầu tiên tôi định tấn công bỗng vòng trở lại, tôi bám 4 chiếc đầu tiên trong tốp 8 chiếc, 4 chiếc còn lại chúng bám sau lưng mình. Phi công Mỹ lại theo chiến thuật quen thuộc, 4 chiếc tôi đang bám vội tách làm đôi bay vòng rất gấp theo 2 hướng trái và phải. Vừa vòng theo địch, tôi vừa đưa chúng vào vòng ngắm và nhấn tên lửa, ngay lập tức tôi thoát ly vọt lên cao thì 4 chiếc sau cũng vừa bắn. Tất nhiên là chúng bắn trượt. Qua bộ đàm, tôi nghe tiếng anh Sâm hô: “Cháy rồi! 2 thằng nhảy dù rồi”.

    Trung tướng Nguyễn Đức Soát được tuyên dương anh hùng vào tháng 1.1973. Năm 1997, ông là Tư lệnh Không quân. Năm 1999 là Tư lệnh Phòng không Không quân. Năm 2002 ông là Phó tổng Tham mưu trưởng QĐND Việt Nam.
    Oai hùng Không quân Việt Nam - Kịch chiến trong đêm
    Từ 2 cuộc Thế chiến, tới chiến tranh Triều Tiên, cho đến thời điểm 1966, chưa một phi công nào làm được chuyện tương tự như anh hùng Lâm Văn Lích: bay đêm trên máy bay MIG 17, trong 1 phút bắn rơi 2 máy bay đối phương.

    Chúng tôi đến gặp đại tá anh hùng Lâm Văn Lích - nguyên Trung đoàn trưởng Trung đoàn Không quân 923, nguyên Hiệu trưởng trường Không quân 910, nguyên Phó hiệu trưởng trường Trung cao Không quân - tại nhà riêng ở Q.5, TP.HCM. Đã bước vào tuổi 78, trông ông vẫn còn khỏe mạnh, minh mẫn, chỉ hơi bị nặng tai. Kể cho chúng tôi nghe chuyện chiến đấu ngày xưa, ông như trẻ lại, sôi nổi hẳn lên.

    Ông kể, từ ngày thành lập đến lúc đó, không quân tiêm kích của ta chưa có lực lượng bay đêm. Đánh ban đêm là khó nhất. Ác cái là ở thời điểm đó, máy bay Mỹ đánh cả ngày lẫn đêm. Ban ngày thì không quân ta xuất kích ngăn chặn, ban đêm thì chỉ có lưới lửa phòng không. Trước tình hình đó, lúc ấy ông đang là Chủ nhiệm bay của Trung đoàn 921 đứng ra tự huấn luyện. Cả Trung đoàn 921 lúc bấy giờ, cũng chỉ có 2 người có thể đảm đương nhiệm vụ trực chiến ban đêm là ông và phi công Cao Thanh Tịnh.

    Ông bồi hồi nhớ lại: “Đó là đêm 3.2.1966. Cũng như bao đêm khác, tôi và anh Tịnh trực chiến. Tôi chính thức, anh Tịnh dự bị. Lạ lắm, hồi đó chúng tôi giành nhau đi chiến đấu. Đêm hôm đó, tôi đã ngồi trực trên máy bay 2 giờ đồng hồ. Anh Tịnh sợ tôi mệt nên đòi lên trực thay tôi. Tôi cự lại, thay trực thì phải do chỉ huy quyết định chứ. Thế mà ảnh cự nự, cằn nhằn tôi.

    Khi cất cánh lên trời rồi, tôi thấy vô cùng yên tĩnh. Để đảm bảo bí mật nên tạm ngưng liên lạc với mặt đất, ra-đa trên máy bay cũng tắt nên rất thèm nghe một tiếng nói. Trước đây đánh ban ngày, tôi đã bắn rơi được 2 máy bay F4. Bây giờ là lần đầu tiên đánh đêm. Tôi biết rằng, anh em ở mặt đất đang theo dõi tôi, hy vọng vào tôi rất nhiều.

    Đang bay, bỗng tôi nghe tiếng nói từ mặt đất: “Chú ý. Phía trước 8 km có địch”. Bật ra-đa lên thì quả thật có máy bay địch ở phía trước. Tôi tăng hết tốc lực đuổi theo, khi chỉ còn 2.000 mét, tôi chuyển từ ra-đa nhìn vòng sang ra-đa bám sát. Để bắn trúng mục tiêu, tôi quyết định tiếp cận gần hơn nên từ 800 mét, tôi đến chỉ còn 400 mét và chuẩn bị bóp cò... Đột nhiên ngay lúc ấy, máy bay của tôi đảo vòng, không thể bắn được và mục tiêu trên ra-đa cũng biến mất. Tôi không thể lý giải được.

    Đang bối rối thì tín hiệu trên máy bay của tôi cảnh báo sắp có va chạm với máy bay trên không. Rất nhanh tôi tăng tốc và nghĩ sẽ tiêu diệt máy bay địch bằng cách đâm thẳng vào.

    Đã sẵn sàng hy sinh, nhưng lao mãi mà vẫn không thấy trúng mục tiêu, tôi vội nhìn ra bên ngoài thì phát hiện máy bay địch đang lù lù bay phía dưới cánh tôi khoảng 8 mét. Ban đầu, tôi định cho máy bay đâm vào cánh máy bay địch và nhảy dù nhưng sau đó tôi quyết định giảm tốc độ để dùng súng tiêu diệt. Nghĩ là làm, tôi cho máy bay lùi xuống ngang tầm và giữ khoảng cách với máy bay địch chỉ hơn 10m vì sợ mất mục tiêu như lần trước.

    Vợ chồng ông Lâm Văn Lích tại nhà riêng - Ảnh do nhân vật cung cấp

    Tôi đưa tay vào cò súng thì đột nhiên máy bay mất điều khiển, chao đảo lật nhào và rơi xuống. Tưởng bị bắn rơi nhưng không phải, do bám quá gần, máy bay tôi bị luồng khí phản lực của máy bay địch thổi chính diện nên chao đảo. Khi rơi xuống ở độ cao 4.000 mét, bất chợt tôi lại điều khiển máy bay được. Kiên quyết truy đuổi địch, tôi lấy độ cao và đi tìm chiếc máy bay lúc nãy. Nhìn màn hình ra-đa, tôi thấy không phải tín hiệu của 1 máy bay địch mà lại là 2. Khi đến gần, tôi như reo lên vì sung sướng khi thấy 2 chiếc máy bay địch mở tín hiệu đèn nhấp nháy, có lẽ chúng sợ sẽ va chạm vào nhau. Lần này khoảng cách chỉ còn 600 mét, tôi chọn chiếc đang bay bên trái và nhấn cò súng. Tôi thấy rõ luồng đạn đỏ rực từ máy bay mình xé màn đêm cắm vào thân máy bay địch, nó chao đảo và bùng cháy. Ngay lúc đó, chiếc máy bay còn lại mở hết tốc lực để chạy. Không chần chừ, vừa tăng tốc, tôi vừa đưa mục tiêu vào vòng ngắm và siết cò súng một lần nữa, chiếc thứ 2 cháy bùng lên. Cả 2 chiếc tôi bắn hạ chỉ trong 1 phút...”.

    Tôi hỏi: “Cảm giác của ông lúc đó thế nào?”. Ông nói: “Tôi sướng lắm. Ngay lúc đó, chỉ huy mặt đất thông báo cho tôi có máy bay địch đang đuổi theo, thế mà tôi cố bay 1 vòng nữa để ngắm cho thỏa cảnh 2 chiếc máy bay như 2 bó đuốc sáng rực đang lả tả rơi xuống...”.

    Ông kể tiếp, mãi đến khi mặt đất báo lại lần thứ 2 là có địch đang bám theo, yêu cầu bay về phía trận địa tên lửa phòng không của ta để được hỗ trợ, bảo vệ thì ông mới tăng tốc thoát ly bay về. “Tôi vừa bay qua trận địa, từng loạt đạn phòng không bắn chặn máy bay địch lao vút lên bầu trời. Tôi trở lại căn cứ trong niềm hân hoan của đồng đội. Chính ủy Quân chủng Phòng không - Không quân lúc ấy là đại tá Đặng Tính đã ôm chầm tôi chúc mừng. Trước đó ít phút, đài quan sát của ta ở Hòa Bình báo về đã có 2 chiếc máy bay A1 của Mỹ vừa rơi...”.


  5. Thanks thuan626, NADAI73 thanked for this post
    Likes thuan626 liked this post
  6. #14
    babykiller Guest
    Oai hùng Không quân Việt Nam - “Nhử mồi” trong không chiến

    Trong thế chiến thứ 2, các phi công Liên Xô đã nhiều lần áp dụng chiến thuật “nhử mồi” trong không chiến. Tuy nhiên, họ chỉ sử dụng với loại máy bay dùng súng bắn thẳng. Còn ở Việt Nam, có một phi công áp dụng chiến thuật “nhử mồi” đối phó với loại máy bay hiện đại cùng tên lửa tự dẫn, đó là anh hùng phi công Lê Hải.


    Những tháng cuối năm 1967, TP Hải Phòng liên tục bị địch đánh phá, phong tỏa cảng. Hàng mấy chục chiếc tàu thủy vào cảng nằm chết dí ở đó không rời bến được do thủy lôi của địch rải đầy.

    Ngồi kể lại với chúng tôi về câu chuyện “nhử mồi” không kích cách đây hơn 40 năm, đại tá Lê Hải sôi nổi:

    “Sáng ngày 19.11.1967, biên đội chúng tôi gồm Hồ Văn Quỳ (số 1), Lê Hải (số 2) Nguyễn Đình Phúc (số 3) và Nguyễn Phi Hùng (số 4) được lệnh cất cánh từ sân bay Gia Lâm đến sân bay Kiến An, bay ở độ cao 500 mét, bí mật không dùng vô tuyến điện. Đến nơi, biên đội kéo dài cự ly, từng chiếc hạ cánh an toàn xuống sân bay Kiến An.

    Đúng 10 giờ 40 phút, chúng tôi được lệnh xuất kích. Sau khi biên đội cất cánh, máy bay số 1 của anh Quỳ bị hỏng vô tuyến điện. Sở chỉ huy gọi mấy lần mà vẫn không nghe anh Quỳ trả lời. Địch từ ngoài biển đang bay vào rất đông. Sở chỉ huy thông báo quyết định tôi lên làm số 1 dẫn đội. Tôi lắc cánh báo cho anh Quỳ biết và tăng ga bay vọt lên trước dẫn cả biên đội. Tôi vừa cải hướng vừa lấy tiếp độ cao lên 2.500 mét. Bầu trời Hải Phòng có độ 3-4 phần mây, tầm nhìn rất tốt.

    Sở chỉ huy tiếp tục thông báo địch bay theo đội hình kéo dài, có 6 chiếc F-4 đi đầu, phía sau F-4 có 20 chiếc A-4 mang bom.

    Tôi dẫn biên đội lấy thêm độ cao lên 3.000 mét. Triển khai đội hình chiến đấu và bay về hướng bầu trời Đồ Sơn. Tôi thông báo đã phát hiện địch, xin phép sở chỉ huy cho đánh. Sau khi nhận được lệnh đánh, tôi lệnh cho số 3 và số 4 chặn đánh tốp địch bay sau cùng, tôi và anh Quỳ đánh tốp bay đầu tiên.

    Biên đội vứt thùng dầu phụ, tăng lực. Lúc này máy bay của tôi đã đạt tốc độ 850 km/giờ, độ cao gần bằng độ cao máy bay địch. Vừa nhìn thấy máy bay MiG, biên đội F-4 của địch vòng bay ra biển. Lợi dụng lúc chiếc F-4 ép độ nghiêng, tôi nghĩ, nếu cứ cắt bán kính, vòng ngay vào bên trong để rút ngắn cự ly công kích, như cách đánh thông thường, địch sẽ phát hiện ta sớm và cơ động mất. Tôi quyết định tấn công tốp F-4 đi đầu. Tôi tiếp cận đến cự ly nổ súng bằng cách chúi dưới bụng máy bay địch. Bị cánh chiếc F-4 che khuất tầm quan sát, nên tên địch không nhìn thấy tôi. Tôi thấy chiếc F-4 giảm độ nghiêng, lật trái, lật phải quan sát, ý chừng nó vừa thấy chiếc MiG -17 đây, lại đâu mất rồi!

    Đến cự ly độ 400 mét, tôi nhìn rất rõ chiếc F-4, thấy luồng khói tăng lực đen sì phun ra từ đuôi nó. Tôi nhẩm trong miệng: Cự ly bắn được rồi. Tay lái khẽ nhích đầu máy bay ngóc lên đạt điểm ngắm lên giữa chiếc F-4 và bắn liền một loạt ngắn, đạn vạch đường thẳng băng, nhưng rất tiếc là đạn rơi sau đuôi chiếc F-4. Tôi liền kéo cần lái nâng lượng đón và bắn một loạt dài. Trúng rồi! Đạn vạch đường chùm lên lưng chiếc F-4. Nó xì khói đen trên lưng; tôi bắn thêm một loạt ngắn nữa, tất cả đạn trùm lên thân, lên cánh nó. Tôi thấy chiếc F-4 như dừng lại, có lẽ động cơ bị hỏng rồi. Trúng 2 loạt đạn, nhưng nó vẫn chưa bùng cháy. Máy bay tôi tiếp cận đến chiếc F-4 còn khoảng 150 mét nữa là hai máy bay có thể đâm vào nhau, nó vẫn còn bay. Tôi bắn loạt cuối ở cự ly chỉ độ 30-40 mét. Tất cả đạn đều xuyên vào chiếc F-4.

    Quá gần rồi, tôi chỉ còn kịp đẩy cần lái về trước chui qua bụng chiếc F-4, khói phủ đen buồng lái máy bay tôi. Chiếc F-4 giống như một cột khói đen ngòm, hai bánh lái đuôi của nó giống như hai tấm phản vút qua đầu tôi.

    Tôi quay lại nhìn sau đuôi máy bay mình, thấy một chiếc F-4 đang bám theo, nhưng còn xa ngoài tầm của tên lửa “rắn đuôi kêu”. Đồng thời có một chiếc MiG-17 màu xám đang bám theo chiếc F-4 đó, nhưng cự ly còn xa, chưa thể xạ kích được. Đó là số 4 (Nguyễn Phi Hùng) bay chiếc MiG-17 sơn màu xám. Thế trận trở nên gây go. Ta và địch bám xen kẽ rất lợi hại. Thua, thắng nhau chỉ trong chớp mắt. Nếu tôi cơ động mạnh, thì chiếc F-4 kia sẽ không bám được tôi nhưng Hùng khó bề bắn được nó. Tôi liền nghĩ ra một kế mạo hiểm.

    Tôi hô: “Hùng! Tao nhử mồi” và Hùng báo “rõ” ngay! Tôi liền giảm độ nghiêng, giảm bớt lượng kéo cần lái nhử cho tên địch thấy “dễ xơi” sẽ mê mải đuổi theo để bắn, chắc mẩm sẽ hạ được chiếc MiG này. Tôi luôn luôn nhìn phía sau, vì với loại tên lửa “rắn đuôi kêu” có tốc độ nhanh gấp 3 lần tiếng động, ở cự ly khoảng 2.000 mét, chỉ chậm chân tay trong chớp mắt, tôi sẽ bị tan xác ngay với nó. Tên địch đang giảm độ nghiêng để ngắm bắn. Tôi cứ để yên cho nó bắn. Khi tôi thấy dưới cánh F-4 xì khói đen ra, nghĩa là tên lửa vừa khởi động động cơ chưa rời bệ phóng. Tôi lập tức tăng độ nghiêng, kéo mạnh cần lái, hai quả tên lửa địch vừa phóng ra, lập tức bay qua sau đuôi máy bay tôi.

    Lại cái trò bay lơ lửng trước rủi ro, tôi tiếp tục làm động tác nhử mồi. Lần thứ 2, nó lại bắn, tôi cũng tránh được. Đến lần thứ 3, tên địch vừa chuẩn bị bắn, thì máy bay số 4 (Nguyễn Phi Hùng) cũng đã áp sát chiếc F-4, ở cự ly xạ kích tốt. Một loạt đạn ngắn, chỉ có 11 viên đạn của Phi Hùng trùm lên chiếc F-4 và nó bốc cháy bùng bùng.

    Trận không chiến chỉ diễn ra trong 3 phút, biên đội chúng tôi đã hạ được 3 chiếc F-4 của không quân Mỹ. Đập tan đợt đánh phá của địch vào thành phố cảng, buộc các máy bay F-4 mang bom phải vứt bừa bãi ngoài mục tiêu, tháo chạy ra biển”.

    Đại tá Lê Hải đã bắn rơi 6 máy bay Mỹ, gồm 4 chiếc F4, 1 chiếc F105 và 1 chiếc F8. Năm 1970 ông được phong tặng danh hiệu anh hùng. Ông nguyên là Trung đoàn trưởng Trung đoàn Không quân tiêm kích 937 rồi Sư đoàn trưởng Sư đoàn Không quân tiêm kích 372. Ông là phi công đầu tiên của Việt Nam lái máy bay chiến đấu SU 22.
    Sau 1 loạt thất bại cay đắng cuối cùng người mỹ cũng đã tìm đc những điểm số đầu tiên
    Ngày 26/04/66, biên đội F-4C mang của KQ Mỹ đang hộ tống EB-66 thì phát hiện 2 MiG-21 tiếp cận. Khi 2 bên đối mặt nhau, chiếc MiG thứ nhất bắt đầu leo cao 1 cách đơn giản, bật tăng lực bay theo hướng tây bắc ở độ cao 30.000ft, trong khi chiếc MiG thứ 2 hạ độ cao 1 cách chậm chạp và sau đó biến mất khỏi tầm quan sát.

    F-4 bám theo chiếc MiG đầu tiên. Ở cự ly 3000ft số 1 lần lượt bắn 3 AIM-9B. Quả đầu tiên sượt qua MiG, phi công nhảy dù, quả thứ 2 trượt và quả thứ 3 bắn trúng chiếc MiG không còn người lái.

    Khi quay lại số 1 thấy chiếc MiG thứ 2 đang bám theo số 2 và yêu cầu thực hành bay tách phòng ngự. Số 1 đảo xuống về bên trái trong khi số 2 đảo lên về bên phải.

    Sau khi cơ động, số 1 thấy MiG bay trước mặt và kéo cao bám theo, bắn quả AIM-9 cuối cùng nhưng do cự ly quá gần nên trượt qua cánh trái của MiG. F-4 rút khỏi khu vực do hết dầu.


    Theo USAF F-4 MiG Killers thì F-4C số hiệu 64-0752, mật danh Mink 1 do thiếu tá P. J. Gilmore và trung úy W. T. Smith lái thuộc phi đoàn 480, không đoàn 35 ở căn cứ Đà Nẵng. Đây là MiG-21 đầu tiên bị bắn rơi trong CTVN.

    Tổ bay Mink 1

    F-4C 64-0752. Ngày 06/08/67 chiếc F-4C này bị PK bắn rơi ở Quảng Bình.

    Thiếu tướng Nguyễn Đăng Kính.
    Cũng trong ngày 26/04/66 còn diễn ra 1 trận khác của MiG-17, theo LS dẫn đường KQ:

    Chiều 26 tháng 4 năm 1966, địch vào đánh Đường 10, đoạn Bình Gia- Bắc Sơn và cho tiêm kích yểm hộ tại khu vực đông Chợ Mới 30km. Biên đội: Hồ Văn Quỳ - số 1, Lưu Huy Chao - số 2, Nguyễn Văn Bảy - số 3 và Trần Văn Triêm - số 4 xuất kích từ sân bay Kép. Kíp trực ban dẫn đường Trung đoàn 923: Nguyễn Chuẩn tại sở chỉ huy và Trần Xuân Dung trên hiện sóng đã cho biên đội đi độ cao 2.500m vào khu vực nam Bình Gia - Bắc Sơn 15km. Do địch cơ động đổi hướng liên tục nên ta lâm vào thế đối đầu nhưng nhờ có thông báo rất kịp thời của dẫn đường hiện sóng, số 1 đã nhanh chóng phát hiện F-4, 6km. Không chiến diễn ra trong 5 phút, các phi công Lưu Huy Chao và Nguyễn Văn Bảy, mỗi người hạ 1 F-4. Sau khi cho biên đội thoát ly, sở chỉ huy trung đoàn dẫn số 1 và 3, còn số 2 tự bay về hạ cánh tại sân bay Kép. Riêng số 4 phải nhảy dù, do bị bắn nhầm.

    Các tài liệu Mỹ không ghi nhận tổn thất nào do MiG vào ngày này.

    Tổng kết ngày 26/04/66:
    - KQ Mỹ: không có tổn thất.
    - KQNDVN: tổn thất 1 MiG-21, 1 MiG-17, phi công an toàn.
    - Mỹ claim 1 MiG-21, VN (tạm coi là) công nhận. VN claim 2 F-4, Mỹ không công nhận.
    Theo các tài liệu Mỹ, ngày 29/04/66, biên đội F-4C của KQ Mỹ bay tuần phòng cho F-105 đánh khu vực cầu Bắc Giang (25 dặm tây bắc HN) thì gặp 4 MiG-17. F-4C 64-0696 mật danh Mink 3 do đại úy W. D. B. Dowell và trung úy H. E. Gossard lái bắn rơi 1 MiG-17 bằng AIM-9B. 1 MiG khác đâm xuống đất khi đang cơ động quần vòng với F-4C 64-0697 mật danh Mink 1 do đại úy L. R. Keith và trung úy R. A. Bleakley lái. Cả 2 chiếc F-4 này đều thuộc phi đoàn 555, không đoàn 8 ở căn cứ Ubon.


    F-4C 64-0696 và tổ bay Mink 3. Ngày 19/11/67 chiếc F-4 này bị PK bắn rơi gần Đắk Tô.


    F-4C 64-0697 và tổ bay Mink 1.

    Tài liệu VN ghi nhận có tác chiến và có tổn thất vào ngày 29/04/66 nhưng không rõ chi tiết. Theo VN Air Losses, cũng trong ngày này MiG-17 bắn rơi 1 A-1E số 52-132680 thuộc phi đoàn 602, không đoàn 14 thuộc KQ Mỹ từ căn cứ Udorn gần Nà Sản. Đại úy phi công L. S. Boston chết.

    (Những trường hợp kill rõ ràng thế này mà không được VN ghi nhận, không loại trừ khả năng là do phi công LX hoặc TQ lái).
    Theo Aces and Aerial Victories:

    Sáng 30/04/66, biên đội F-4C của KQ Mỹ đang làm nhiệm vụ tuần phòng yểm trợ tìm cứu (RESCAP) cho 2 phi công bị bắn rơi cách HN khoảng 100 dặm về phía tây-tây bắc. Số 3 và số 4 đang chuẩn bị rời khu vực thì bị 4 MiG-17 tấn công. MiG được mặt đất dẫn đường đã lợi dụng hướng mặt trời và đợi F-4 hết dầu mới tiếp cận.

    Số 3 phát hiện MiG đang tiến thẳng tới ở cự ly 5 dặm. Trong quá trình không chiến, số 4 do đại úy L. H. Golberg và trung úy G. D. Hardgrave bắn 1 AIM-9 trúng đuôi MiG. Ngay sau đó F-4 rút lui do hết dầu.

    Tổ bay Bango Alpha 4
    Tài liệu VN không nhắc gì tới trận đánh này.








  7. Thanks NADAI73 thanked for this post
  8. #15
    babykiller Guest
    Hình chụp bài báo về ACE đầu tiên của Mỹ. Hình lớn nhưng em không muốn thu nhỏ, để nguyên cho các bác tiện sử dụng,nhưng to quá up không nổi nên các bác chịu khó xem bằng link vậy nhé
    http://www.tlc-brotherhood.org/photos/Easy%20Flyer/ace.jpg
    http://www.tlc-brotherhood.org/photo...Flyer/ace2.jpg
    http://www.tlc-brotherhood.org/photo...Flyer/ace3.jpg
    http://www.tlc-brotherhood.org/photo...Flyer/ace4.jpg
    Phân tích về vũ khí (lược dịch Clashes)

    Vấn đề về tên lửa

    Mặc dù thành công trong các trận không chiến, người ta có thể thấy vấn đề lớn phía trước đối với hiệu suất chiến đấu kém AAM của KQ, đặc biệt là AIM-7 dẫn bắn bằng radar. Trong tháng 4 và 5, F-4 của KQ bắn 13 AIM-7, chỉ trúng 1 (tỉ lệ 8%), ngoài ra còn 3 quả nữa được bắn đi nhưng không rời giá phóng, do vậy tỉ lệ thực tế là 1/16 (6%); và 21 AIM-9, trúng 6 (2 vào cùng 1 MiG), hạ 5 MiG (tỉ lệ 28%), có tốt hơn nhưng vẫn kém hơn kỳ vọng. Hiệu quả kém của AIM-7 bắt đầu được phi công Mỹ xem là chuyện thường ngày và đến cuối tháng 5, phi công F-4 KQ báo cáo đã mất hết niềm tin với nó. HQ sử dụng AIM-7 có khá hơn, trúng 4 trên tổng số 12.

    Đối với các phi công thì vô cùng đáng thất vọng khi cố gắng vào được tới vị trí có thể khai hỏa mà tên lửa lại hỏng, và việc thiếu cannon khiến F-4 KQ đặc biệt bị ảnh hưởng bởi vấn đề này (đối với HQ thì ít nghiêm trọng hơn, vì nhiệm vụ đối không được chia sẻ giữa F-4 mang tên lửa và F-8 mang cannon). 1 giải pháp thường xuyên được nêu ra trong các buổi họp tổng kết nhiệm vụ là gắn cannon cho F-4, và trong những trận trước đây có nhiều cơ hội cho F-4 sử dụng cannon. Ở thời điểm này việc trang bị cannon cho F-4 là chủ đề được bàn tán nhiều và không phải là ý tưởng ai cũng ủng hộ. Không phải phi công nào cũng cho việc lắp cannon là cần thiết, thậm chí đáng. Nhiều người tin rằng cannon sẽ khiến phi công F-4 có xu hướng giảm tốc độ và sa vào sở trường của MiG - đánh quần vòng bằng pháo ở tốc độ thấp.

    Hệ thống dẫn đường mặt đất (GCI) của Bắc VN

    Hệ thống radar BVN tiếp tục được cải tiến và giờ bao gồm 1 mạng radar cảnh báo đa dạng cùng với các radar điều khiển vũ khí. Chúng cho phép BVN phát hiện sớm các phi vụ oanh tạc của KQ và theo dõi máy bay Mỹ liên tục trong khi vẫn điều hành các máy bay của họ. Hệ thống không phải là hoàn hảo, trong số các thiếu sót, có vẻ BVN không thể kiểm soát được SAM và MiG cùng lúc. Sự hiện diện của MiG trong khu vực thường là dấu hiệu cho sự vắng mặt của SAM và ngược lại, phi công Mỹ bắt đầu gọi là "ngày của MiG" và "ngày của SAM".

    Rất khó để nói quá những lợi thế mà GCI tạo ra cho tiêm kích BVN, chúng có thể cho biết vị trí các máy bay Mỹ và thường có thể dẫn MiG tới phía sau máy bay Mỹ, nhờ đó MiG có thời gian cơ động và triển khai tấn công, thường giúp họ đạt được thế bất ngờ. GCI cũng cảnh báo MiG khi có nguy cơ bị tiêm kích Mỹ tấn công, khiến họ khó mà gây được bất ngờ.

    Kiểm soát radar của Mỹ

    Trong khi BVN có hệ thống kiểm soát bằng radar tốt trên hầu hết lãnh thổ BVN thì người Mỹ lại không có. Khu vực duyên hải được kiểm soát bởi radar từ tàu HQ Mỹ, và từ tháng 7/1966 HQ Mỹ triển khai 1 hệ thống có tên PIRAZ (Positive Identification and Radar Advisory Zone - Vùng hỗ trợ radar và nhận diện chủ động). PIRAZ gồm 1 tàu radar - Red Crown bố trí cách cửa sông Hồng khoảng 25 dặm (~40km) và 2 tàu radar khác, 1 phía nam và 1 phía bắc Red Crown. Ban đầu PIRAZ sử dụng radar SPS-30 nhưng chúng tỏ ra không tin cậy và đầu 1967 được thay bằng SPS-48 hiện đại hơn và phát hiện máy bay bay thấp tốt hơn. Với SPS-48, quân Mỹ có được sự hỗ trợ GCI xuất sắc trong khu vực trong suốt chiến tranh. Các HKMH của HQ cũng chở theo máy bay cảnh báo sớm E-1B với radar hiệu quả nhất trên biển nhưng hạn chế trên đất liền.

    KQ Mỹ không bố trí được trạm radar nào gần BVN nên họ triển khai ở căn cứ Nakhon Phanom ở đông bắc biên giới Thái-Lào, kiểm soát được 1 phần lãnh thổ BVN phía nam Hà Nội. Không may là cả radar của KQ và HQ Mỹ đều ngoài tầm và do mặt cong của trái đất và do địa hình nên không thể phát hiện được máy bay bay thấp ở khu vực Hà Nội.

    KQ Mỹ nhận ra vấn đề từ rất sớm và đưa đến đơn vị đặc biệt Big Eye gồm 1 nhóm nhỏ máy bay cảnh giới trên không EC-121D. EC-121D là phiên bản quân sự của chiếc Super Constellation của Lockheed, được sửa lại để mang radar tầm xa và ban đầu được thiết kế để bay tuần tiễu ngoài khơi nước Mỹ, bổ sung cho hệ thống radar cảnh báo sớm trên đất liền nhằm bảo vệ Bắc Mỹ trước máy bay ném bom hạt nhân của LX. EC-121D mang phía dưới thân 1 radar sục sạo cảnh báo sớm tầm xa có tầm quét trên biển khoảng 150 dặm (~240km) và phía trên thân 1 radar đo cao có tầm thực tế chỉ 70 dặm (~110km).

    Big Eye được điều tới căn cứ TSN, NVN đầu tháng 4/1965 và từ 16/4/1965, 2 chiếc EC-121D bắt đầu bay tuần tiễu trên vịnh Bắc Bộ. BVN thực sự là 1 thử thách với EC-121D vì hệ thống radar của chúng được thiết kế để theo dõi mục tiêu trên biển, và nhiễu địa vật do địa hình trên đất liền có ảnh hưởng khá nghiêm trọng. May mắn là nhiều phi vụ trước đó của EC-121D bao gồm theo dõi máy bay LX ở Cuba và ở đó tổ lái đã phát hiện radar của mình có khả năng hạn chế trong việc bắt mục tiêu trên đất liền. Từ kinh nghiệm đó, tổ lái EC-121D biết nếu bay ở độ cao thấp trên biển - dưới 200ft (~60m) họ thực sự có thể "nâng" luồng phát xạ của radar sục sạo lên khỏi mặt nước ("bounce" the radar beam of the search radar off the water). Điều này cho phép giảm nhiễu địa vật và bắt mục tiêu ở độ cao trung bình trên đất liền từ cự ly tối đa 150 dặm. Để nâng tín hiệu khỏi mặt nước và đưa tầm quét vào trong lãnh thổ BVN, EC-121D triển khai 1 quỹ đạo bay khoảng 50 dặm (~80km) từ bờ biển. 1 chiếc bay quỹ đạo này (Alpha Track) ở độ cao thấp 50-300ft (~15-100m!) so với mặt biển, trong khi chiếc thứ 2 bay theo quỹ đạo Bravo Track ở độ cao trung bình ở khoảng cách xa hơn. Tuy nhiên ngay cả ở quỹ đạo Alpha, phần lớn contact mà radar đo cao bắt được đều thấp hơn so với tầm quét 70 dặm, vì vậy EC-12D có teher phát hiện máy bay trên lãnh thổ BVN ở độ cao trên 8000ft (~2400m) và cung cấp được thông tin chung chung về vị trí và hướng của MiG, họ không thể cung cấp thông tin quan trọng về độ cao của MiG.

    Việc bay tuần tiễu ngoài khơi BVN không đơn giản đối với những chiếc EC-121 to lớn, động cơ yếu phải bay ở độ cao thấp theo yêu cầu của quỹ đạo Alpha và thường xuyên trong thời tiết không thuận lợi. Hết lần này qua lần khác thời tiết khiến EC-121 phải hạ thấp độ cao đến mức gần như phải tránh những đám thuyền đánh cá trong khu vực (thế mà không có đội săn EC-121 bằng 12 ly 7 nào nhỉ - chiangshan). Cũng có những vấn đề khác với hệ thống thiết bị phức tạp của nó. Bảo dưỡng rất khó khăn, nước biển và nhiệt độ cao, ẩm ở các căn cứ Thái làm giảm độ nhạy của thiết bị. Các tổ bay Alpha đặc biệt bị ảnh hưởng, khi bay trên biển trong những ngày nóng điều hòa trở nên vô dụng và nhiệt tỏa ra từ thiết bị khiến nhiệt độ tăng rất mạnh, đến mức thường xuyên phải có 1 bác sĩ đi cùng. Ngoài ra họ cũng bị đe dọa bởi MiG. Mỗi chiếc EC-121 phải có tiêm kích hộ tống, nếu hộ tống phải rút đi hoặc không xuất hiện thì EC-121 phải từ bỏ nhiệm vụ.

    Đầu chiến tranh EC-121 cố áp dụng chế độ "kiểm soát chặt chẽ" trên 1 tần số riêng với các máy bay MiGCAP nhưng do lý do kỹ thuật nên không thể chính xác được như GCI BVN đối với MiG. Đến tháng 2/1966, đã rõ ràng là EC-121 không thể dẫn đường cho tiêm kích đánh chặn MiG, thậm chí còn không thể xác định được tốp bay nào đang bị MiG tấn công. Do đó, họ thay đổi và bắt đầu đưa ra vị trí của MiG, đầu tiên trong tọa độ lưới khu vực và sau đó là khoảng cách và hướng bay từ Hà Nội. EC-121 đọc vị trí cứ 5 phút 1 lần hoặc khi có thay đổi nhưng họ không cố gắng hướng dẫn tiêm kích Mỹ tới MiG hay thậm chí là cảnh báo các tốp bay bị tấn công. Phi công Mỹ bay trên BVN đành phải tự mình xác định họ ở vị trí nào so với Hà Nội và liệu MiG có thể đe dọa từ hướng nào dựa trên thông tin của EC-121.

    Liên lạc giữa EC-121 và các tốp không kích hay MiGCAP là 1 vấn đề không đổi. Cảnh báo và chất lượng kiểm soát radar thay đổi từng ngày, phụ thuộc radio làm việc thế nào, thời tiết và mật độ liên lạc. Radio của EC-121 thường không đủ tầm liên lạc với máy bay KQ tiến vào BVN từ Lào, do vậy thông tin được phát từ các trạm trung gian mặt đất. Điều này làm chậm trễ việc chuyển tin tới những máy bay bị tấn công và có lẽ đã gây ra thiệt hại cho quân Mỹ, nhưng phải đến tận tháng 9/1966 mới có 1 chiếc C-135 được trang bị đặc biệt triển khai ở ĐNA cho nhiệm vụ này, mặc dù bản thân nó cũng tỏ ra không đáng tin cậy.

    Để hỗ trợ EC-121 và các đài radar nhận dạng máy bay, tất cả máy bay Mỹ được trang bị thiết bị nhận dạng địch-ta hay IFF (Identification Friend or Foe). Mặc dù hữu ích như vậy nhưng thiết bị này lại không trở nên phổ biến đối với phi công Mỹ. 1 lý do là họ sợ BVN có thể xâm nhập và đọc được tín hiệu của họ trên radar. Tháng 5/1966, 1 BCH Mỹ nhận định BVN (có thể với sự hỗ trợ của LX và TQ) có khả năng xâm nhập hệ thống thông qua nghiên cứu thiết bị IFF từ các máy bay bị bắn hạ.

    Phi công Mỹ cũng chọn không dùng hệ thống này có thể vì 1 trong những nhiệm vụ của EC-121 là báo cáo những máy bay Mỹ đã đi vào vùng "cấm" hoặc "hạn chế" ở BVN và khu vực "cấm bay" 30 dặm (~48km) tính từ biên giới Việt-Trung. Bất cứ vi phạm nào sẽ bị báo lên cấp trên - thường là tới tận Nhà Trắng - với hậu quả nghiêm trọng cho phi công. Nhiều phi công tiêm kích quyết định không liều với sự nghiệp bằng việc sử dụng IFF trong khi bay vào vùng cấm bay. Khu vực cấm bay gần như không được bảo vệ, đặc biệt là các dãy núi ở biên giới TQ được dùng như đường vào và thoát ra khỏi khu đồng bằng sông Hồng được bảo vệ dày đặc xung quanh Hà Nội và Hải Phòng. Sau này khi EC-121 có thể cung cấp cho mỗi tốp bay 1 mã riêng và có thể cảnh báo, hướng dẫn họ chính xác hơn, phi công Mỹ bắt đầu nhận ra sự hữu ích và sẵn sàng dùng chúng hơn.

    Ngày 10/5/1966, 1 chiếc F-105D truy đuổi MiG-17 vào sâu 25 dặm (~40km) trong lãnh thổ TQ và bắn hạ nó. Chiến công đầu tiên của F-105 này được che giấu và không ghi trong bảng thành tích chính thức, nhưng nó mang lại những ảnh hưởng quan trọng. Tập đoàn KQ số 7 đánh giá EC-121 ở vịnh Bắc Bộ không kiểm soát đủ vùng cấm bay TQ và ra lệnh cho 1 EC-121 nữa tuần tiễu phía bắc Viên Chăn, Lào. Mục đích của nó không nhằm hỗ trợ máy bay Mỹ mà để báo cáo về vi phạm vùng cấm bay nhiều hơn. Quỹ đạo này được đặt là Charlie bắt đầu từ tháng 10/1966 tỏ ra khó khăn đối với số lượng EC-121 ít ỏi, do vậy chỉ chiếm 1 phần nhỏ và không thường xuyên. Để có thể tuần tra thường xuyên, Big Eye yêu cầu tăng số EC-121 từ 7 lên 11 nhưng điều đó sau này mới xảy ra. Ngoài Charlie, KQ Mỹ bố trí thêm radar bổ sung ở căn cứ Đà Nẵng, nhận nhiệm vụ điều hành mọi phi vụ KQ trên Vùng V và VI, chủ yếu là chuyển tiếp thông tin từ EC-121 như về MiG hay cảnh báo khu vực biên giới.

    Những vụ tấn công của VC vào căn cứ TSN khiến đầu năm 1966, Tập đoàn KQ số 7 quyết định chuyển EC-121 sang Thái Lan. Những chiếc EC-121 to lớn, phức tạp, khó bảo dưỡng và đòi hỏi lực lượng hỗ trợ khổng lồ gây ra rất nhiều khó khăn đối với các căn cứ tiêm kích nhỏ ở Thái. EC-121 đóng tại hàng loạt căn cứ trước khi cố định lại ở Korat vào giữa tháng 10/1967.
    Phân bố hoạt động của KQ và HQ Mỹ trên lãnh thổ BVN: các vùng (Route Package) I, V, VIA (khu vực Hà Nội) thuộc trách nhiệm KQ; vùng II, III, IV, VIB (khu vực Hải Phòng) thuộc trách nhiệm HQ.

    Theo USAF F-4 MiG Killers:

    Ngày 12/05/1966, F-4C 64-0660 thuộc phi đoàn 390, không đoàn 35 KQ Mỹ ở căn cứ Đà Nẵng (VN) mang mật danh Jupiter 3 do thiếu tá Wilbur R. Dudley và trung úy Imants Kringelis lái đang bay bảo vệ EB-66 thì phát hiện 4 MiG-17 phía nam biên giới TQ khoảng 20 dặm (~30km). Jupiter 3 không chiến với 1 MiG-17 tìm cách tấn công EB-66 và bắn 2 AIM-9B, quả thứ 2 trúng đuôi MiG.

    F-4C 64-0660
    Dudley cho là mình đã bắn hạ 2 MiG, nhưng chỉ được chính thức công nhận 1.

    Cũng theo nguồn trên, phía TQ nhận MiG bị bắn rơi là của họ và cho rằng trận đánh diễn ra sâu trong không phận Vân Nam (TQ) 25 dặm (~40km).

    Theo LS e923:

    Ngày 10 tháng 5 năm 1966, Thường vụ Đảng uỷ Quân chủng họp nhận định và đánh giá tình hình, kết quả chiến đấu và ra nghị quyết chuyên đề về lãnh đạo chiến đấu của bộ đội không quân. Nghị quyết đã xác định, mặc dù không quân ta có thêm một số máy bay hiện đại (như MIG-17F, MiG-21) nhưng vẫn phải quán triệt phương châm lấy ít đánh nhiều, phải diệt được địch, giữ được mình, càng đánh càng mạnh. Nghị quyết cũng chỉ ra: trong điều kiện phức tạp, địch có nhiều ưu thế về số lượng và vũ khí, đòi hỏi ta phải có kỹ thuật giỏi, chiến thuật linh hoạt, chỉ huy chính xác, hiệp đồng tết với các lực lượng phòng không khác, phải có điều kiện bảo đảm chiến đấu nhất định và tinh thần chiến đấu dũng cảm tài trí của phi công.

    Sau khi có nghị quyết của Thường vụ Đảng uỷ, Bộ tư lệnh Quân chủng ra lệnh tạm ngừng hoạt động chiến đấu của MIG-17, tiến hành tích cực luyện tập đánh ở độ cao thấp. Đây là một chuyển hướng mạnh dạn trong chỉ đạo cách đánh của không quân. Từ kinh nghiệm thực tế không quân ta đã rút ra được kết luận quan trọng. Đánh ở độ cao thấp, cơ động mặt bằng sẽ phát huy được tính năng cắt bán kính nhanh của máy bay MIG-17, tiếp cận bắn gần chuẩn xác. Nhưng mặt yếu tồn tại là ta chưa quen đánh ở độ cao thấp và chưa qua huấn luyện bay và chiến dấu ở độ cao thấp.


    Như vậy khả năng chiếc MiG bị bắn hạ ngày 12/05/1966 thuộc về KQ TQ là có thể.
    Theo LS dẫn đường KQ:

    Ngày 12 tháng 6 năm 1966, thủ trưởng trực chỉ huy Trung đoàn 923 Nguyễn Phúc Trạch quyết định sử dụng lần lượt từng đôi bay MiG-17 để đánh địch. 14 giờ 41 phút, địch vào từ phía đảo Cái Bầu ở độ cao 1.900m. Sau khi vượt qua dãy Yên Tử, chúng xuống thấp. 14 giờ 43 phút, sở chỉ huy cho đôi bay: Lê Quang Trung - số 1 và Võ Vàn Mẫn - số 2 cất cánh từ Kép. Đến phút 45, đột nhiên trên các bàn dẫn đường đều không thu được tình báo địch. Từ sở chỉ huy trung đoàn, trực ban dẫn đường Hà Đăng Khoa lập tức "dẫn mò" và cho ngay đôi MIG-17 vòng về phía tây và lên đỉnh Kép, giữ độ cao 1.000m, hướng bay 90 độ, rồi liên tiếp thông báo vị trí mục tiêu. Số 1 lập tức phát hiện 2 F-8 ở đông Lục Nam 10km. Ta vòng phải, khép bớt giãn cách để giữ thế đối đầu có lợi, rồi lật ngay sang trái. Sau hai vòng cơ động với độ nghiêng lớn và tăng lực mạnh ở độ cao thấp, phi công Lê Quang Trung bắn rơi 1 F-8. 14 giờ 53 phút, thủ trưởng Nguyên Phúc Trạch cho đôi bay: Phạm Thành Chung và Dương Trung Tân lên yểm hộ, vì trước đó xuất hiện thêm ba tốp địch từ phía Đường 18 bay lên. Đúng 15 giờ, đôi bay Trung - Mẫn hạ cánh và 3 phút sau, đôi bay Chung - Tân cũng hạ cánh xuống Kép. Đây là trận dẫn đánh nhanh - diệt gọn đầu tiên của Không quân nhân dân Việt Nam và lập kỷ lục: thời gian từ cất cánh đến hạ cánh chỉ mất 17 phút, bắn rơi 1 máy bay địch.

    Theo Clashes:

    Ngày 12/06/1966, biên đội 4 F-8 mật danh Nickel đang yểm hộ tốp không kích rời mục tiêu phía bắc Hải Phòng thì phát hiện 2 MiG-17 phía trước bên trái ở cự ly khoảng 3 dặm (~4,8km). F-8 ngoặt trái và đối đầu MiG. Nickel 1 và 2 nhằm chiếc đầu tiên trong khi Nickel 3 và 4 nhằm chiếc thứ 2.

    Nickel 1 tiếp cận phía sau chiếc MiG thứ nhất và bắn khoảng 150 đạn 20mm mà không có kết quả, sau đó bắn AIM-9 ở cự ly 4000ft (~1300m) phía sau. Quả đầu tiên ban đầu được dẫn nhưng sau đó chệch sang phải mà không nổ (có thể bị mây làm lệch hướng). Nickel bắn nốt quả thứ 2 ở từ cự ly 3000ft (~1000m), trúng cánh của MiG, sau đó là phần đuôi rời ra và MiG đâm xuống đất. Nickel 1 thấy thêm 2 MiG-17 nữa hơi cao hơn bên phải. F-8 tiếp cận phía sau 1 chiếc và bắn khoảng 30 viên 20mm vào cánh phải của MiG thì đột nhiên hết đạn. Nickel 1 rời khu vực và hạ cánh. Kiểm tra kỹ thuật sau đó phát hiện trục trặc khiến cặp cannon dưới không bắn được. Nickel 1 được ghi nhận 2 chiến công - trường hợp bắn hạ đúp đầu tiên trong chiến tranh.

    Trong khi Nickel 1 cơ động với chiếc MiG đầu tiên, Nickel 2 thấy 1 MiG-17 thứ 3 bay thẳng và bằng cách đó 3000ft. Nickel 2 tiếp cận, bắt tín hiệu tốt và bắn cả 2 quả AIM-9 từ cự ly 4000ft. Quả đầu tiên bị treo còn quả thứ 2 không bắt được mục tiêu. Nickel 2 vòng lại để rời khu vực nhưng sau đó lại thấy 1 MiG-17 khác trước mặt bay chậm hơn. Nickel 2 dễ dàng tiếp cận phía sau và bắn khoảng 30 viên 20mm. Nickel 2 tiếp tục vào gần tới 1000ft (~330m) và tiếp tục khai hỏa nhưng cannon bị kẹt sau 15 phát, vì vậy Nickel 2 rời khu vực.

    Nickel 3 bắn vài phát 20mm vào chiếc MiG thứ 2 khi 2 bên đối đầu và khi bay qua, Nickel 2 thấy 1 MiG đang bổ nhào với 1 F-8 (Nickel 4) bám đuôi. Khi MiG vòng lại với 1 vòng ngoặt gấp ở độ cao thấp, Nickel 3 tiếp cận được phía sau và bắn cả 2 AIM-9 ở cự ly 1500ft (~500m) nhưng đều trượt.

    Nickel 4 tiếp tục bám theo chiếc MiG và bắn 1 AIM-9, bắt được mục tiêu nhưng rơi sau khi tới gần và MiG trốn thoát trong mây. Trên đường rời khu vực Nickel 4 thấy 1 MiG-17 thứ 4 và bắn nốt AIM-9 thứ 2 ở cự ly khoảng 9000ft (~3000m), tên lửa không bắt mục tiêu. Trong trận này, 3/4 F-8 gặp trục trặc với cannon và chỉ 1/8 AIM-9 trúng mục tiêu.


    Theo F-8 Units, đây là F-8E số 150924, ký hiệu NP 103 thuộc phi đoàn 211 HQ Mỹ trên TSB Hancock, do trung tá Harold L. Marr, phi đoàn trưởng lái. Mặc dù được Mỹ xác nhận cả 2 chiến công nhưng Marr chỉ được chính thức công nhận thành tích cho chiếc đầu tiên. Cũng theo nguồn này, các MiG tham gia trận đánh sơn sao đỏ trên cánh và phù hiệu vàng ở đuôi (?)

    F-8E 150924
    Như vậy trong trận này Mỹ claim 2 MiG-17, ta claim 1 F-8E. Cả 2 bên đều không công nhận thành tích của đối phương.
    Theo LS dẫn đường KQ:

    Chiều 21 tháng 6 năm 1966, thủ trưởng trực chỉ huy Trung đoàn 923 Trần Trọng Thuyết tổ chức đánh hiệp đồng giữa MIG-17 và cao xạ. Kíp trực ban dẫn đường: Bùi Hữu Hành tại sở chỉ huy và Hà Đăng Khoa trên hiện sóng đã dẫn biên đội: Phạm Thành Chung - số 1, Dương Trung Tân - số 2, Nguyễn Văn Bảy - số 3 và Phan Văn Túc - số 4 cất cánh từ Kép, bay thấp vào khu chiến Kép - Chũ. Mặc dù ra-đa dẫn đường bắt địch không tốt, nhưng dẫn đường sở chỉ huy xử lý dẫn mò chính xác. Biên đội vào tiếp địch với góc 60 độ số 2 phát hiện nhanh. Ta và địch đan vào nhau, không chiến trong 2 phút 20 giây. Phạm Thành Chung và Phan Văn Túc, mỗi phi công bắn rơi 1 F-8E, nhưng số 2 phải nhảy dù, do bị trúng tên lửa của địch. Đây là trận dẫn đánh nhanh - diệt gọn thứ hai: mất 18 phút, bắn rơi 2 máy bay địch.


    Theo Clashes:

    Ngày 21/6/66, biên đội 4 F-8 mật danh Nickel đang bay tìm kiếm 1 phi công trinh sát nhảy dù. Buộc phải bay ở độ cao 1500-2000ft (~450-600m) dưới mây, biên đội bị PK mặt đất bắn dữ dội, Nickel 3 trúng đạn vào cánh lái độ cao bên phải nhưng vẫn tiếp tục ở lại. Nickel 3 và 4 thấy viên phi công bắn pháo sáng màu da cam, khi kiểm tra thấy nhiên liệu đã cạn nên Nickel 1 cho Nickel 3 và 4 rời khu vực tới chỗ máy bay tiếp dầu.

    Khi Nickel 1 và 2 đang vòng lượn về bên trái ở độ cao 2000ft (~600m), 2 chiếc MiG-17 xuất hiện từ trong mây và bay đối đầu rất gần F. Nickel 2 nhanh chóng kéo cao và bắn 75 viên 20mm ở cự ly rất gần vào chiếc MiG thứ 2, trúng vào cánh chiếc MiG làm thoát nhiên liệu ra ngoài. MiG tản ra, chiếc bị thương hạ độ cao, Nickel 2 bám theo bắn 1 quả AIM-9 ở cự ly khoảng 1 dặm (~1,6km). CHiếc MiG kéo cao gấp tránh được nhưng sau đó đâm xuống đất. Sau khi bắn hạ chiếc MiG, Nickel 2 thấy 2 MiG-17 tiếp cận phía sau nhưng tăng tốc và thoát khỏi khu vực.

    Nickel 3 và 4 trên đường thì thấy Nickel 1 thông báo có MiG, họ lập tức quay lại tham chiến. Nickel 3 bị thương nên tụt lại phía sau gần 2 dặm thì thấy 1 F-8 (sau đó được biết là Nickel 1) với 1 chiếc MiG bám đuôi phía sau bay ngược chiều. Nickel 3 gọi radio báo nhưng ngay lúc đó MiG khai hỏa, đuôi Nickel 1 bốc cháy và phi công nhảy dù.

    Nickel 4 thấy thêm 2 chiếc MiG lao xuống từ trong mây phía bên phải. Khi chiếc MiG đầu tiên lướt qua trước mặt, Nickel 4 khai hỏa cannon 20mm nhưng súng bị kẹt sau khi bắn 25 viên. Nickel 4 nghe thấy Nickel 3 gọi yêu cầu F-8 (Nickel 1) cơ động. Tưởng đó là mình, Nickel 4 tách khỏi MiG và rời khu vực.

    Sau khi thấy Nickel 1 nhảy dù, Nickel 3 quan sát phía sau và thấy 1 MiG-17 tiếp cận ở cự ly gần và khai hỏa. Nickel 3 cơ động nhưng không thể thắng được chiếc MiG do cánh lái bị hỏng, do vậy Nickel 3 tăng tốc lên 600 knot và tách khỏi MiG. Khi bay xa dần Nickel 3 thấy chiếc MiG từ bỏ tấn công và quay lại với 1 vòng lượn đơn giản về bên trái. Nickel 3 quay lại và tiếp cận bắn AIM-9 ở cự ly khoảng 4000ft (~1200m). Quả AIM-9 đầu tiên không rời giá phóng, quả thứ 2 nổ bên trái đuôi chiếc MiG. Do đã cạn nhiên liệu nên Nickel 3 lập tức rời khu vực nhưng kịp thấy MiG lao xuống, bốc khói dữ dội. CHiếc MiG sau đó được xác nhận là bị bắn hạ.


    Theo VN Air Losses, ngày 21/06/66 F-8E 149152 thuộc phi đoàn 211 trên TSB Hancock do thiếu tá Cole Black, phi đoàn phó lái bị MiG-17 bắn hạ. Phi công nhảy dù và bị bắt làm tù binh.

    Theo F-8 Units, F-8E 150300 do trung úy Phil Vampatella (Nickel 3) và F-8E 150910 do đại úy Eugene Chancy (Nickel 2) thuộc phi đoàn 211 mỗi người bắn hạ 1 MiG-17.

    F-8E 150300
    Vampatella (chính giữa) ảnh trái và Chancy ảnh phải

    Vết thương của Nickel 3 do đạn cao xạ
    Tổng kết:
    - Ta claim 2 F-8E, Mỹ công nhận 1.
    - Mỹ claim 2 MiG-17, ta công nhận 1.

  9. Thanks NADAI73 thanked for this post
  10. #16
    babykiller Guest
    Theo LS dẫn đường KQ:

    Trưa 29 tháng 6 năm 1966, địch tập trung lực lượng đánh kho xăng Đức Giang từ hướng bắc. Thủ trưởng trực chỉ huy Trung đoàn 923 Đỗ Hữu Nghĩa quyết định cho biên đội: Trần Huyền - số 1, Võ Văn Mẫn - số 2, Nguyễn Văn Bảy - số 3 và Phan Văn Túc - số 4, đang trực chiến tại Nội Bài, xuất kích. Kíp trực ban dẫn đường Trung đoàn không quân 921: Phạm Công Thành tại sở chỉ huy, Lê Thiết Hùng trên hiện sóng và trực ban dẫn đường Quân chủng Nguyễn Văn Chuyên đã phối hợp chặt chẽ với nhau, cho biên đội giá độ cao 500m, vòng qua cầu Đa Phúc, men theo phía nam dãy Tam Đảo, rồi kéo cao vọt lên, vào tiếp địch ở giữa hai đỉnh 1591 và 1263. Với góc vào 60 độ, số 3 phát hiện địch xa 15km. Cách dẫn táo bạo này đã tạo điều kiện rất thuận lợi cho các phi công Nguyễn Văn Bảy và Phan Văn Túc hạ liên tiếp 2 F-105. Khi quay về Nội Bài, nhờ có các thông báo về địch của đài chỉ huy bổ trợ tại núi Am Lợn (điểm cao 462, bắc sân bay Nội Bài 10km) và đài chỉ huy bay tại sân Nội Bài, nên biên đội đã nhanh chóng chuyển hướng xuống Gia Lâm hạ cánh an toàn. Đây là trận dẫn đánh nhanh - diệt gọn phá kỷ lục: chỉ mất 15 phút, bắn rơi 2 máy bay địch, lại là cường kích. Trong trận này còn thể hiện được cách dẫn mới đi thấp - kéo cao - vào tiếp địch rất hiệu quả và lần đầu tiên sử dụng đài chỉ huy bổ trợ bằng mắt thông báo tình hình trên không cho phi công rất kịp thời.

    Theo Clashes:

    Ngày 29/06, biên đội 4 F-105 Wild Weasel mật danh Bison đang thực hiện nhiệm vụ Iron Hand (chế áp PK) xung quanh HN. Khi họ bắt đầu tìm kiếm các trận địa SAM, biên đội chia làm 2 tốp với Bison 3 và 4 ở phía sau và bên phải khoảng nửa dặm (~800m). Bison 4 phát hiện 3 MiG-17 tiếp cận phía sau khoảng nửa dặm và ở độ cao vài ngàn ft bên dưới. Bison 4 báo có MiG và Bison 3 gọi yêu cầu cơ động về bên trái. Bison 1 và 2 không nhìn cũng như không nghe thấy báo động và tiếp tục bay bằng, thẳng. Chiếc MiG đầu tiên khai hỏa nhằm vào Bison 3 nhưng trượt, 3 chiếc MiG tiếp tục hướng thẳng đến Bison 1 và 2.

    Bison 1 phát hiện ra MiG và báo động. CHiếc MiG đi đầu bắt đầu khai hỏa vào Bison 2 đang ngoặt và bắn trúng nhiều phát vào bên trái, 1 phát đạn 23mm xuyên qua buồng lái Bison 2, đập trúng cần lái và phá hủy hầu hết các bộ phận, kể cả máy ngắm cannon. Sau khi bắn, chiếc MiG bay vượt lên và gần như ngay trước mặt Bison 2. Tận dụng sai lầm này, Bison 2 bắn khoảng 200 phát cannon 20mm và thấy khoảng 10 viên trúng cánh trái. CHiếc MiG đảo và bổ nhào thẳng xuống đám mây thấp ngay trên mặt đất.

    Bison 2 thấy chiếc MiG thứ 2 bên trái khoảng 200ft (~60m) đang khai hỏa vào Bison 1, bắn trúng nhiều phát vào đuôi. Khi Bison 2 định hỗ trợ thì 1 chiếc MiG khác lao xuống phía sau và bắt đầu tấn công, buộc Bison 2 phải cơ động trốn thoát vào trong mây.

    Trong khi đó Bison 3 và 4 đụng độ chớp nhoáng với chiếc MiG thứ 4 và rồi ngoặt để rời khu vực. Trên đường Bison 3 thấy Bison 1 đang bị bám đuôi. Bison 3 nhằm vào chiếc MiG bắn khoảng 100 viên 20mm. Tuy không trúng nhưng chiếc MiG ngừng tấn công Bison 1 và biên đội rời khỏi khu vực.


    Theo USAF F-4&F-105 MiG Killers, F-105D 58-1156 thuộc phi đoàn 421, không đoàn 388 của KQ Mỹ ở căn cứ Korat (Thái Lan) do thiếu tá Fred Tracy lái tuyên bố bắn hạ 1 MiG-17.

    F-105D 58-1156 và vết đạn 23mm bắn xuyên qua buồng lái. Chiếc F-105 này sau đó bị đạn cao xạ cỡ lớn bắn trúng ngày 21/01/67 khi tấn công sân bay Kép. Phi công lết được ra biển và nhảy dù.
    Tổng kết:
    - Ta claim 2 F-105. Mỹ công nhận 2 F-105 bị thương (nhưng không rơi).
    - Mỹ claim 1 MiG-17. Ta không công nhận bị bắn hạ (có bị thương không thì không rõ)
    Về lực lượng, đến tháng 06/66, KQNDVN được bổ sung thêm 13 phi công MiG-21 và MiG-17 được huấn luyện ở LX mới về nước.
    Theo LS f371:

    Thời kỳ này, MIG-21 tạm dừng xuất kích để tập trung nghiên cứu, rút kinh nghiệm tìm nguyên nhân để đánh thắng. Trong các cuộc họp, các phim chụp từ máy bay chiến đấu trở về đều được in tráng để đưa vào bình giảng. Những phi công trực tiếp thực hiện trận đánh dù thất bại hay thành công cũng đều phải tường trình lại cụ thể, tỉ mỉ từng giai đoạn của trận đánh, tình huống xảy ra, hiện tượng quan sát được cũng như cách xử trí của người lái. Qua các cuộc trao đổi rút kinh nghiệm nghiêm túc, các cấp lãnh đạo và cơ quan chuyên môn đã đi đến kết luận bước đầu: Nguyên nhân chính làm cho MIG-21 chưa đánh thắng là do chưa phát huy được tính năng kỹ thuật của máy bay để có cách đánh phù hợp. Trong các trận đánh, phi công, nhất là số mới chuyển loại từ MIG- 17 sang và cả các cán bộ chỉ huy vẫn đều áp dụng chiến thuật của MIG - 17 cho MIG - 21. Trong khi đó, âm mưu của địch vô cùng xảo quyệt, thủ đoạn lại luôn thay đổi. Vì vậy, chiến thuật cũ không thể áp dụng cho loại máy bay mới được, muốn đánh thắng, MIG-21 phải có chiến thuật đánh của MIG-21. Phi công không chỉ có dũng cảm, táo bạo, thông minh mà trước hết phải nắm thật chắc tính năng kỹ thuật của máy bay. Đây là những yếu tố rất quan trọng để bảo đảm cho MIG-21 đánh thắng. Qua các cuộc nghiên cứu, trao đổi, cơ quan lãnh đạo cũng rút ra được những kinh nghiệm bước đầu như chọn thời cơ cất cánh, chọn mục tiêu, độ cao bay và chiến đấu thích hợp cho MIG-21, cách dẫn MIG-21 vào tiếp cận mục tiêu. Trên cơ sở đó phương án chiến đấu của MIG-21 được bổ sung thêm nhiều nội dung mới. Một đợt huấn luyện cho MIG-21 theo phương án chiến đấu mới được gấp rút tổ chức.

    MIG-21, sau một thời gian rút kinh nghiệm và huấn luyện theo cách đánh mới lại tiếp tục được vào trực chiến. Theo phương án, MIG-21 sẽ chặn đánh địch ngay tại vùng trời trên và khu vực xung quanh sân bay là chủ yếu. Trung đoàn 921 sẽ tổ chức cho MIG-21 đánh một số trận theo phương án mới để rút kinh nghiệm tiếp, bổ sung kịp thời cho các phương án, cách đánh đã được chuẩn bị.

    Sau khi phát hiện một điều gần như thành quy luật máy bay Mỹ cất cánh từ Thái Lan sang đánh khu vực Thái Nguyên đều bay theo hướng bay Phú Thọ, bắc Tam Đảo, thậm chí đã có những lần chúng bay lướt qua cả khu vực sân bay Nội Bài, trung đoàn quyết định đón đánh địch ngay trên vùng trời Nội Bài. Phương án được triển khai và được tập luyện khá chu đáo. Chọn đánh địch ngay tại vùng trời sân bay sẽ phát huy được lợi thế, phi công ta thuộc địa hình sẽ giành được thế chủ động, bất ngờ. Mặt khác, được đài chỉ huy cất, hạ cánh ở sân bay và các đài bổ trợ hướng dẫn quan sát địch, được dẫn dắt, chỉ huy, xử trí khi xuất hiện các tình huống phức tạp.

    Ngày 7 tháng 7 năm 1966, mạng ra đa phát hiện nhiều tốp máy bay Mỹ cất cánh từ Thái Lan có hướng bay về phía Thái Nguyên. Được lệnh của Quân chủng, Trung đoàn 921 cho biên đội MIG-21 trực chiến gồm Nguyễn Nhật Chiêu và Trần Ngọc Xíu cất cánh. Sau khi ổn định độ cao, hai chiếc MIG-21 được dẫn vào khu chờ.

    Đúng như dự kiến, những tốp F -105 từ Thái Lan sang đã xuất hiện sau dãy núi Tam Đảo. Gần giống như những bọn đi đánh trước, những chiếc F -105 này khi bổ nhào cắt bom cũng bay qua Nội Bài. Lập tức, từ khu chờ, hai chiếc MIG-21 lao tới bất ngờ, khiến địch kinh hoàng không kịp đối phó, đội hình hỗn loạn. Ở thế thuận lợi, Trần Ngọc Xíu đưa ngay một chiếc gần nhất vào vòng ngắm rồi ấn nút phóng tên lửa. Máy bay địch trúng đạn, bùng cháy, rơi ngay tại chỗ. Hai chiếc MIG-21 được lệnh tăng tốc độ, thoát ly khỏi khu vực chiến đấu. Bọn tiêm kích Mỹ đi hộ tống cũng không kịp ứng phó. Biên đội bay về sân bay Gia Lâm và hạ cánh an toàn.

    Trận đánh đã thực hiện đúng theo phương án đề ra: Bí mật, bất ngờ, đánh nhanh, rút nhanh, bảo toàn lực lượng. Mặc dù trong trận này, ta chỉ bắn rơi một chiếc nhưng đây là trận đầu tiên MIG-21 bắn rơi máy bay có người lái của Mỹ bằng tên lửa. Do trận đánh diễn ra nhanh chóng đến mức bất ngờ nên tuy có thể rút ra được một số kinh nghiệm nhưng cũng chưa có đủ điều kiện để khẳng định cách đánh tương đối hoàn chỉnh cho MIG-21. Ví dụ, tên lửa tuy bắn trúng mục tiêu nhưng cự ly phóng đã có thể xác định chắc chắn là ở tầm có hiệu quả chưa?


    Theo VN Air Losses, Mỹ không tổn thất máy bay nào do MiG vào ngày 07/07/66. Có 1 F-105D số 59-1741 thuộc phi đoàn 354, không đoàn 355 KQ Mỹ ở sân bay Takhli (Thái Lan) bị cao xạ 85mm bắn rơi ở tây bắc Yên Bái 10 dặm (~16km). Đại úy phi công Jack H. Tomes nhảy dù và bị bắt làm tù binh.
    Theo LS KQNDVNLS f371, ngày 11/07/66 biên đội 2 MiG-21 của Vũ Ngọc Đỉnh - Đồng Văn Song của trung đoàn 921 bắn rơi 1 F-105 bằng tên lửa K-13 trên vùng trời Sơn Dương, Tuyên Quang.

    Phi công Đồng Văn Song.

    Phi công Vũ Ngọc Đỉnh (sau này là đại tá, AH LLVTND)
    Theo VN Air Losses, ngày 11/07/66, F-105D 61-0121 thuộc không đoàn 355 KQ Mỹ ở sân bay Takhli do thiếu tá W. L. McClelland lái không chiến với 1 chiếc MiG gần Thái Nguyên, bị hỏng và hết dầu. Phi công cố lái về Thái Lan nhưng phải nhảy dù ở Lào vì hết dầu và được giải cứu. Ngoài ra 1 F-105D trong tốp đánh cầu Vu Chua (?) bị cao xạ bắn bị thương và rơi ở Lào.


    Trường hợp này vẫn tính là 1 kill, nhỉ
    Theo LS e923:

    Sáng ngày 13 tháng 7, máy bay địch xuất hiện 2 chiếc vào thăm dò hoả lực phòng không ở khu vực Thái Bình, Hưng Yên. Biên đội MIG-17 gồm Phan Văn Na (số 1), Nguyễn Thế Hôn (số 2), Trần Văn Triêm (số 3) và Lưu Huy Chao (số 4) được lệnh cất cánh kịp thời chặn đánh địch ở phía Nam Hà Nội. Biên đội ta đã chiến đấu anh dũng với 12 chiếc A-4D và 6 chiếc F-8 của địch, bắn rơi hai chiếc: một chiếc F-8 và một chiếc A-4D của địch. Nhưng do địch quá đông, chúng phóng tên lửa liên tục vào đội hình ta. Một lần, do cơ động tránh không kịp, máy bay số 3 của ta đã bị trúng tên lửa địch, phi công nhảy dù, song do độ cao quá thấp đã hy sinh.

    Theo USN F-4 MiG Killers, ngày 13/07/66 biên đội 4 F-4B thuộc phi đoàn 161, không đoàn 15 HQ Mỹ trên TSB Constellation đang làm nhiệm vụ bay tuần phòng yểm trợ các máy bay của TSB Constellation đánh phá cầu Co Trai (?) thì nhận được tín hiệu cấp cứu từ 2 chiếc A-4 Iron Hand, cho biết bị MiG truy đuổi. 4 F-4B không chiến với 6 MiG-17 và F-4B 15-1500 do đại úy William M. McGuigan và trung úy Robert M. Fowler lái bắn hạ 1 MiG-17 bằng 1 quả tên lửa AIM-9.

    F-4B 15-1500

    Chân dung 2 thằng chết dẫm bắn rụng máy bay mình đây
    Phía Mỹ không ghi nhận bất cứ máy bay nào bị bắn hạ trong ngày này

  11. Thanks NADAI73 thanked for this post
  12. #17
    babykiller Guest
    Trận đánh của MiG-21 theo LS f371:

    Trong khi MIG-17 của Trung đoàn 923 liên tiếp lập công thì MIG-21 vẫn còn gặp khó khăn. Sau trận 14 tháng 7 năm 1966, biên đội hai chiếc MIG-21 đánh với bọn F-4 và F-l05 không thành công (không bắn rơi địch, hai phi công ta phải nhảy dù), trung đoàn chỉ tổ chức một trận cho một chiếc Mig-21 đánh máy bay trinh sát không người lái tầng cao rồi tạm dừng để rút kinh nghiệm, tìm cách đánh. Trong những ngày này, MIG-21 chủ yếu làm nhiệm vụ huấn luyện. Số phi công vừa học ở Liên xô về nước cuối tháng 6 cũng đưa vào huấn luyện và làm nhiệm vụ trực chiến cùng các phi công cũ.

    Nhiều phương án được đưa ra để tổ chức huấn luyện, nhưng vẫn còn nhiều điều vướng mắc. Có vấn đề đã được khẳng định là: MIG-21 tốc độ lớn không thể đánh quần vòng hẹp ở độ cao thấp như MIG 17. Vậy đánh ở độ cao nào là thích hợp, là phát huy được tính ưu việt của MIG- 21. Muốn có được câu trả lời thuyết phục, phải có thực tế. Nhưng trước hết phải nghiên cứu kỹ những phương án có tính khả thi để MIG-21 lại xuất kích, tiếp tục gánh vác nhiệm vụ cùng MIG-17 và những lực lượng phòng không khác.


    Tổng hợp các tài liệu Mỹ:

    Ngày 14/07/66, biên đội F-4C MiGCAP thuộc phi đoàn 480, không đoàn 35 KQ Mỹ ở căn cứ Đà Nẵng mật danh Jupiter đang yểm trợ biên đội F-105 Iron Hand thì phát hiện 1 chiếc MiG-21 phía sau họ và 1 chiếc MiG-21 khác đang tiếp cận tốp F-105.

    Jupiter 1 thả thùng dầu phụ và lao thẳng tới chiếc MiG thứ 2. Do quá gần để bắn AIM-7 nên Jupiter 1 lần lượt bắn 3 quả AIM-9B. Quả thứ nhất sượt qua buồng lái chiếc MiG mà không nổ, báo động cho phi công MiG biết sự hiện diện của F-4. Phi công MiG bật tăng lực leo cao. Lúc này quả AIM-9B thứ 2 nổ phía sau nhưng quả AIM-9B thứ 3 lock được mục tiêu tốt từ luồng xả của động cơ, bắn trúng làm gãy đuôi chiếc MiG.

    Trong lúc đó Jupiter 2 tách tốp và tìm cách di chuyển vào góc 6h đối với chiếc MiG kia. MiG bắn 1 quả K-13 vào Jupiter 4 nhưng trượt và bật tăng lực leo cao. Jupiter 2 bám đuôi và bắn 1 quả AIM-9B duy nhất trúng mục tiêu, buộc phi công MiG phải nhảy dù.


    Theo USAF F-4 MiG Killers, F-4C 63-7489 mật danh Jupiter 1 do đại úy William J. Swendner và trung úy Duane A. Buttell Jr lái và F-4C (không rõ số) mật danh Jupiter 2 do trung úy Ronald G. Martin và trung úy Richard N. Krieps lái.


    F-4C 63-7489. Ngày 20/12/67 chiếc này bị PK bắn rơi gần Đồng Hới.

    Tổ bay Jupiter 1.

    Hình chiếc MiG sơn trên thân F-4C 63-7489.
    Trận đánh của MiG-17 theo LS e923:

    Tiếp theo trận đánh ngày 13, ngày 14 tháng 7, biên đội MIG-17 gồm 2 chiếc do Phạm Thành Chung (số 1), Ngô Đức Mai (số 2) lại cất cánh chiến đấu bắn rơi hai máy bay Mỹ trên vùng trời Ân Thi - Hải Hưng. Trong hai chiếc máy bay Mỹ bị biên đội Chung, Mai bắn hạ có chiếc máy bay thứ 1.200 bị quân dân miền Bắc bắn rơi.

    Theo Clashes, ngày 14/07/66 biên đội 3 F-8 thuộc phi đoàn 162 HQ Mỹ trên TSB Oriskany đang yểm trợ 1 phi vụ không kích thì đụng và không chiến với 3 chiếc MiG-17. 1 F-8 bị bắn hạ, trong khi đó 1 MiG bị trúng nhiều phát đạn nhưng chạy thoát sau khi cannon của chiếc F-8 đang truy đuổi bị kẹt.

    Theo VN Air LossesF-8 Units, chiếc F-8E 15-0908 do trung tá Richard M. Bellinger, phi đoàn trưởng lái trúng đạn cannon bị hỏng nặng. Phi công lết về được cách Đà Nẵng 16 dặm (~25km) thì hết nhiên liệu và phải nhảy dù.

    (Bellinger là 1 tay kỳ cựu, từng chiến đấu trong WW2 và CT Triều Tiên trước khi sang VN).

    Tổng kết lại:
    - Ta claim 2 F-8, Mỹ công nhận 1.
    - Mỹ claim 2 MiG-21, ta công nhận. Ngoài ra Mỹ ghi nhận 1 MiG-17 bị thương, phía ta không có thông tin.
    Theo LS e923:

    Trước hiệu lực về cách đánh của MIG-17, địch bị thiệt hại, chúng tích cực đối phó bằng cách tổ chức không chiến với không quân ta. Ngày 19 tháng 7 năm 1966, địch huy động 12 máy bay F-105 không mang bom mà mang tên lửa đối không và súng 20 ly do tên thiếu tá Giêm Catslơ "phi công ưu tú của không lực Hoa Kỳ" chỉ huy bay từ phía Thái Lan sang Tuyên Quang vào sân bay Nội Bài với âm mưu dùng không chiến tiêu diệt MIG-17. Phán đoán trước được âm mưu của địch, trung đoàn đã giao nhiệm vụ cho hai phi công có kinh nghiệm và bản tính chiến đấu, kỹ thuật giỏi trong đợt huấn luyện bay thấp vừa qua là Nguyễn Biên (số 1) và Võ Văn Mẫn (số 2) trực ban chiến đấu, sẵn sàng đánh địch theo phương án chuẩn bị trước.

    14 giờ 47 phút, Sở chỉ huy trung đoàn nhận được báo cáo: Có nhiều tốp F-105 bay thấp dọc theo sườn đông dãy Tam Đảo. Dựa vào nhận định của Quân chủng, Trung đoàn phán đoán: địch có thể xuống đánh Đông Anh, chắc chắn một bộ phận của chúng sẽ phải kiềm chế sân bay. Sở chỉ huy lệnh cho biên đội Biên - Mẫn cất cánh tuần tiễu trên đỉnh sân bay. Cùng lúc đó, đài chỉ huy bổ trợ đặt trên núi Hàm Lợn báo gấp về: Có ba tốp F-105 ở cuối lõng núi Tam Đảo, tốp cách tốp 5 km, bay thấp. Sở chỉ huy nhắc nhở biên đội Biên - Mẫn chuẩn bị phương án tác chiến trên đỉnh sân bay. Điểm cốt lõi nhất của phương án này là ghìm địch xuống thấp, trong vòng sân bay, tận dụng sở chỉ huy của các đài bổ trợ và sự yểm hộ của các đơn vị pháo phòng không bảo vệ sân bay.

    Được sự dẫn trường của mặt đất, biên đội MIG-17 tạt chéo qua đỉnh sân bay.

    Tốp địch bay đầu gồm bốn chiếc F-105 đã xuất hiện trước mặt biên đội. Chúng bay theo đội hình bậc thang, hai chiếc sau cách hai chiếc trước khoảng 1.500 mét và độ cao hơn ta không nhiều. Biên đội trưởng Nguyễn Biên thông báo cho số 2 rồi kéo máy bay bay lên tạo thế ghìm địch xuống. Khoảng cách đến chiếc F-105 bay đầu ngắn dần, Biên đưa chiếc máy bay dẫn đầu vào vòng ngắm và nổ súng khi cách địch 600 mét.

    Tên địch trượt cánh ngoặt xuống thấp. Chiếc F-105 bay số hai gần như đồng thời làm theo động tác tên số một khiến Võ Văn Mẫn phải vội giảm tốc độ cắt phía trong vòng ngoặt của địch.

    Địch hạ thấp độ cao. Biên lệnh cho Mẫn bám đuổi địch. Ở độ cao thấp, tốc độ máy bay ta không kém địch, còn lượn vòng thì hẹp hơn hẳn F-105. Ta và địch xoay tròn với nhau như những chiếc lá trong cơn lốc trong trạng thái xen kẽ, một chiếc địch một chiếc ta bám đuổi nhau. Hai chiến sĩ của có thời cơ là nổ súng và địch cũng tạo nhiều cơ hội bắn trả.

    Qua bảy vòng quần vẫn không phân thắng bại, cái vòng lốc dần dần bị đẩy vào vòng hoả lực mặt đất của sân bay Nội Bài. Đài chỉ huy bổ trợ trên núi Hàm Lợn đã phát huy tốt tác dụng thông báo kịp thời cho hai chiến sĩ lái của ta.

    Phát hiện nguy cơ từ mặt đất, chiếc F-105 số hai vội dứt ra định tháo chạy nhưng Võ Văn Mẫn kịp thời giảm độ nghiêng đuổi theo, đến cự ly thích hợp anh bắn hai loạt đạn tiêu diệt đối phương, máy bay địch bốc cháy lao thăng xuống đất . Thấy đồng bọn bị bắn rơi lũ F-105 lạo về hướng chiếc MIG của Võ Văn Mẫn nhưng vấp phải hoả lực phòng không bảo vệ sân bay đánh chặn, bắn cháy một chiếc buộc chúng phải giãn đội hình bay ngược lại. Hai phút sau, Nguyễn Văn Biên bám được một chiếc F-105, anh nổ súng ở cự ly 400 mét bắn rơi chiếc thứ hai.

    Trận không chiến diễn ra trên đỉnh sân bay rất quyết liệt Đài chỉ huy sân bay dưới mặt đất đã nhiều lần thong báo kịp thời cho hai chiếc MIG tránh đạn. Mặc dù đã cơ động tránh đạn rất tốt xong máy bay của Mẫn vẫn bị đạn địch bắn vào cánh với nhiều lỗ thủng. Các trận địa pháo phòng không ở sân bay cũng phát huy hoả lực kịp thời yểm trợ cho máy bay ta, buộc địch phải tháo chạy.

    Lúc đó, Nguyễn Văn Biên và Võ Văn Mẫn đã hợp lại với nhau bay một vòng rồi hạ cánh an toàn xuống sân bay Gia Lâm theo lệnh của mặt đất.

    Với chiến thắng bắn rơi hai máy bay địch ngay trên vùng trời sân bay, bảo vệ an toàn lực lượng của mình các chiến sĩ phi công Trung đoàn không quân 923 được sự hiệp đồng của lực lượng phòng không mặt đất đã lập một chiến công xuất sắc hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cách đánh của MiG-17, vấn đề chỉ huy, dẫn đường của hệ thống đài chỉ huy ở sân bay và các đài bổ trợ mặt đất bảo đảm cho không quân phát huy ưu thế trong chiến đấu, vấn đề hiệp đồng chiến đấu giữa không quân và hoả lực phòng không mặt đất... được bổ sung thêm nhiều điểm mới, góp phần làm phong phú nghệ thuật tác chiến của không quân. Cách đánh "quần vòng ở độ cao thấp" của máy bay MIG-17 bắt đầu hình thành từ trận đánh này.


    Theo VN Air Losses, F-105D 59-1755 do trung úy Stephen W. Diamond lái thuộc phi đoàn 354, không đoàn 355 KQ Mỹ ở căn cứ Takhli (Thái Lan) bị MiG-17 của Võ Văn Mẫn tấn công và bắn hạ trên vùng trời Phúc Yên. Phi công được cho là đã nhảy dù nhưng sau đó mất tích và được ghi nhận là đã chết.

    MiG-17/19 Units thì lại cho rằng chiếc F-105D này do Nguyễn Biên bắn hạ với dẫn chứng là gun camera của Nguyễn Biên.

    Chiếc F-105D này thuộc biên đội có nhiệm vụ không kích các kho dự trữ nhiên liệu (POL). Các tài liệu Mỹ đều không đề cập đến việc sử dụng F-105 để tìm diệt MiG. LS QC PKKQ của ta cũng viết rằng tốp F-105 này vào đánh kho dầu Đông Anh.

    Như vậy ta claim 2 F-105D, Mỹ công nhận 1. Phía ta không có tổn thất.
    Theo LS e923, ngày 29/07/66 biên đội 2 MiG-17 của trung đoàn 923 gồm Trần Huyền (số 1) và Võ Văn Mẫn (số 2) bắn rơi 1 C-47 trên vùng trời Mai Châu - Hoà Bình. VN Air Losses xác nhận ngày 29/07/66, RC-47D 43-48388 thuộc phi đoàn đặc biệt 606 (ACS), không đoàn hỗ trợ tác chiến 634 (CSG) KQ Mỹ ở sân bay Nakhon Phanom bị MiG-17 bắn rơi làm toàn bộ tổ lái 8 người chết. Chiếc RC-47D này đang làm nhiệm vụ trinh sát ở khu vực Sầm Nưa (Lào) ở sát biên giới với BVN và có thể đã vượt qua biên giới.

    Đây được coi là 1 thành công lớn của KQNDVN. Trước đó phía Mỹ vẫn thường phát hiện MiG hoạt động gần biên giới Lào nhưng đã cho rằng họ không gây đe dọa tới các máy bay hoạt động ở Sầm Nưa.

    Hình ảnh chiếc RC-47D bị bắn hạ
    Theo Clashes, tính đến hết tháng 07/66, tổn thất của 2 bên như sau:
    - F-4 bắn hạ 14 MiG-17 (5 do F-4B của HQ), tổn thất 1; hạ 2 MiG-21, tổn thất 0. Tỷ lệ 16/1.
    - F-8 bắn hạ 4 MiG-17, tổn thất 2.
    - F-105 bắn hạ 1 MiG-17 và bắn bị thương 4, tổn thất 3 và bị thương 7.


  13. Thanks NADAI73 thanked for this post
  14. #18
    babykiller Guest
    Theo LS dẫn đường KQ:

    Chiều ngày 12 tháng 8 năm 1966, sau khi nhận được tin địch sẽ tổ chức đánh các mục tiêu xung quanh Hà Nội và Hải Phòng, thủ trưởng trực chỉ huy Quân chủng Nguyễn Văn Tiên đã chỉ thị cho MIG-17 và MIG-21 sẵn sàng xuất kích. Ý định tổ chức đánh phối hợp, hiệp đồng được nhanh chóng truyền đạt xuống sở chỉ huy Trung đoàn 923 và Trung đoàn 921. Quyết tâm đánh địch bay vào từ phía Yên Châu lên Yên Bái-Tuyên Quang của thủ trưởng trực chỉ huy Trung đoàn 923 Lê Oánh đã được Quân chủng đồng ý và trên cũng quyết định dùng MiG-21 làm nhiệm vụ yểm hộ. Kíp trực ban dẫn đường Quân chủng chịu trách nhiệm dẫn chính, còn các kíp trực ban dẫn đường của hai trung đoàn không quân đảm nhiệm dẫn bổ trợ.

    16 giờ 37 phút, trên mạng B1 xuất hiện địch. Ban đầu chúng bay vào đúng theo dự tính của ta, nhưng sau đó lại lên Nghĩa Lộ. 16 giờ 39 phút, ra-đa dẫn đường phát hiện 1 tốp ở đông Phù Yên 25km, vừa vòng cơ động vừa chuyển dịch dần vị trí và cũng lên Nghĩa Lộ. Qua tính toán khái quát của trực ban dẫn đường Nguyễn Văn Chuyên, thủ trưởng Nguyễn Văn Tiên quyết định cho MiG-17, MiG-21 vào cấp 1 và yêu cầu dẫn đường điều chỉnh cách dẫn.

    16 giờ 49 phút, đôi bay MiG-17 đánh chính: Phan Văn Túc-số 1 và Lưu Huy Chao-số 2 cất cánh từ Gia Lâm, bay theo sông Hồng, qua Sơn Tây, Thanh Sơn; đến đông Vạn Yên 25km vòng phải vào khu chiến đông nam Nghĩa Lộ 25km. 16 giờ 57 phút, đôi MiG-21 yểm hộ cất cánh từ Nội Bài, bay theo triền phía tây dãy Tam Đảo lên phía Sơn Dương. Tại khu chiến, trực ban dẫn đường Quân chủng Nguyễn Văn Chuyên dẫn đôi đánh chính vào phía sau địch với góc 30 độ, số 1 phát hiện F-105, 15km. Ta chủ động không chiến, phi công Lưu Huy Chao bắn rơi 1 F-105, sau đó tách tốp, xuống thấp và thoát ly theo hướng đông nam. Đúng lúc đó, 2 chiếc MiG-21 đã được dẫn từ Sơn Dương ra nam Yên Bái 15km và có mặt yểm hộ ngay trên hướng rút về của MIG-17. MIG-17 bay cắt qua sông Hồng, rồi xuôi theo phía bờ bắc về Gia Lâm. MiG-21 vòng trái qua khu chiến, bay xuống Thanh Sơn, rồi vòng ngược lên hướng bắc, cách Đoan Hùng 15km thì vòng phải về Nội Bài. Kíp trực ban dẫn đường Quân chủng đã dẫn chính thành công 1 tốp MiG-17 đánh chính và 1 tốp MiG-21 yểm hộ, từ hai sân bay khác nhau, hoạt động đúng ý định tác chiến của người chỉ huy, các kíp trực ban dẫn đường trung đoàn không quân đã cho cất cánh đúng yêu cầu và dẫn phi công về hạ cánh an toàn.


    Theo Clashes, ngày 12/08/66, 2 F-105D thuộc phi đoàn 333, không đoàn 355 từ sân bay Takhli (Thái Lan) bị bắn rơi trên vùng trời Thái Nguyên nhưng đều do hỏa lực PK mặt đất.
    Theo LS e923, ngày 17/08/66 biên đội 2 MiG-17 thuộc trung đoàn 923 do Mai Đức Toại và Nguyễn Biên lái bắn rơi 1 máy bay (không rõ loại). Tài liệu Mỹ không ghi nhận tổn thất nào về máy bay trong ngày này.
    Theo LS e923:

    Tiếp đó, ngày 17 tháng 8, biên đội Lê Quang Trung - Ngô Đức Mai và biên đội Nguyễn Biên - Phan Văn Túc cất cánh từ hai sân bay Nội Bài và Gia Lâm đã hiệp đồng chiến đấu bảo vệ Hà Nội. Hai biên đội đã phá tan âm mưu dùng tốp nhỏ bay thấp bất ngờ vào đánh cầu Đuống góp phần bảo vệ an toàn mục tiêu. Phi công Lê Quang Trung bắn rơi 1 F-105, hai biên đội hạ cánh an toàn.

    Theo Clashes, ngày 17/08/66 có 3 F-105D thuộc phi đoàn 333 và 354, không đoàn 355 và phi đoàn 469, không đoàn 388 bị bắn rơi trên vùng trời Thái Nguyên nhưng đều do hỏa lực PK mặt đất.

    Theo LS dẫn đường KQ, cũng trong ngày 17/08/66, MiG-21 xuất kích và tấn công F-105 bằng tên lửa nhưng không bắn rơi được địch.
    Theo LS e923:

    Ngày 18 tháng 8, nhận định địch sẽ vào đánh Hà Nội với số lượng đông hơn, trung đoàn chỉ thị cho bộ phận thợ máy chuẩn bị máy bay thật tốt và lệnh cho hai biên đội trực chiến đấu sẵn sàng chiến đấu cao. Vào trận, biên đội thứ nhất Lê Quang Trung và Lưu Đức Sĩ quần nhau với địch ở khu vực Tam Đảo. Hai phi công đã liên tiếp áp sát địch và nổ súng nhưng chưa trúng máy bay địch. Biên đội thứ hai gồm Phạm Thành Chung và Nguyễn Thế Hôn cất cánh khẩn cấp phải đối đầu với 8 F-105 vào đánh cầu Đuống. Tuy ta ít, địch đông lại gặp phải đối tượng vừa tiêm kích vừa cường kích nhưng hai chiến sĩ lái đã bình tĩnh xử lý tránh tên lửa địch và dũng cảm lao vào đánh tốp đi đầu Trận đánh đã phá tan âm mưu vào đánh cầu Đuống của địch, buộc chúng phải vứt bom bừa bãi ngoài khu vực mực tiêu rồi bỏ chạy. Ta bắn cháy một máy bay F-105 nhưng phi công Phạm Thành Chung đã anh dũng hy sinh.

    Theo Aces&Aerial Victories:

    Ngày 18/08/66, biên đội 4 F-105D thuộc phi đoàn 34, không đoàn 388 KQ Mỹ ở căn cứ Korat đang làm nhiệm vụ chế áp SAM thì phát hiện 2 MiG-17. 1 chiếc MiG đi đầu khai hỏa nhằm vào chiếc F-105D đi đầu. Số 2 cơ động vào phía sau chiếc MiG này và bắn khoảng 200 viên đạn cannon 20mm từ cự ly 400-600ft (120-180m). MiG bốc cháy và đâm xuống đất. Toàn bộ trận đánh diễn ra trong dưới 2 phút. CHiếc MiG còn lại rút lui.

    Theo USAF F-4&F-105 MiG Killers, F-105D 60-458 mật danh Honda 2 do thiếu tá Kenneth T. Blank lái.

    F-105D 60-458
    Tài liệu Mỹ chỉ ghi nhận trong ngày 18/08/66 mất 1 F-8E của HQ ở Vinh do PK mặt đất.
    Theo LS e923:

    Ngày 22 tháng 8, hai biên đội MIG-17 của trung đoàn đã chiến đấu với số lượng lớn máy bay F-105 vừa tiêm kích vừa cường kích vào đánh phá các mục tiêu phía bắc Hà Nội. Vấp phải sự chặn đánh quyết liệt của trung đoàn, đội hình địch bị phá vỡ vội quăng bom bừa bãi và bỏ dở kế hoạch đánh phá. Ta đã bắn cháy 2 F-105 nhưng một phi công ta - đồng chí Nguyễn Kim Tu nhảy dù ở độ cao quá thấp (70m) đã anh dũng hy sinh.


    Tài liệu Mỹ không ghi nhận tổn thất nào do MiG, cũng không ghi nhận bắn rơi chiếc MiG nào.

    Tổng kết của trung đoàn 923 trong tháng 8 là 5 lần xuất kích bắn rơi 3 máy bay, bắn bị thương 2 chiếc khác, hy sinh 2 phi công.

    Theo tài liệu Mỹ, trong tháng 8 chỉ có 10 vụ đụng độ giữa 2 bên, không có tổn thất nào cho phía Mỹ do MiG, bắn rơi 1 MiG-17 hôm 18/08/66.
    Theo LS e923:

    Ngày 5 tháng 9, biên đội trực chiến gồm Nguyễn Văn Bảy (số 1) và Võ Văn Mẫn (số 2) đã phải chịu đựng cái nóng nắng gay gắt. Buổi sáng không quân địch đã tổ chức vào đánh cầu Họ, cầu Sắt và khu vực Bình Lục- Nam Hà. Trời đã về chiều nhưng cả biên đội và các thành phần trực chiến vẫn ở tư thế sẵn sàng.

    16 giờ 30 phút, được lệnh cất cánh, theo sự dẫn đường của mặt đất biên đội đã tới khu vực Phủ Lý, Nam Định.

    Sở chỉ huy thông báo: phía trước có địch!

    Nguyễn Văn Bảy nhanh chóng phát hiện hai máy bay địch phía trước bên phải khoảng 30km ở cao độ từ 1800 đến 2000m. Biên đội trưởng nhanh chóng thông báo cho số 2 rồi vứt thùng dầu phụ và tăng lực vọt lên độ cao 1500 mét tiếp địch. Phát hiện có máy bay MIG, chiếc F-8 tăng lực luồn qua đám mây để chạy nhưng Nguyễn Văn Bảy phán đoán chính xác đường bay của địch. Anh không lượn vòng đuổi theo mà lợi dụng kẽ hở giữa hai đám mây xuyên qua cắt bán kính chặn địch. Do tốc độ lớn nên máy bay ta bị soãi ra ngoài nhưng Bảy đã kịp thời ép độ nghiêng. Lúc đó chiếc F-8 thứ hai vòng ra. Khi còn cách địch khoảng 400, 500m Nguyễn Văn Bảy liền nổ súng, đạn lệch trái. Anh hiệu chỉnh đường ngắm và bắn loạt thứ hai trúng buồng lái chiếc F-8 khiến nó lật nghiêng. Bảy bồi tiếp loạt đạn thứ ba chiếc F-8 bốc cháy rồi lao thẳng xuống đất. Trong khi số một công kích, số 2 Võ Văn Mẫn luôn bám sát yểm hộ cho biên đội trưởng. Khi thấy máy bay địch bốc cháy, quan sát phía sau không có gì uy hiếp, Võ Văn Mẫn vọt lên phía trước lao vào công kích chiếc F-8 số 1. Nguyễn Văn Bảy hô to: "Bình tĩnh, có tôi yểm hộ!". Như tiếp thêm sức lực, Võ Văn Mẫn tiếp cận tới cự ly khoảng 400, 500 mét anh liền nổ súng nhưng loạt đầu không trúng. Anh vào gần hơn bắn liền ba loạt. Máy bay địch bốc cháy rồi lao xuống đất. Sau khi diệt gọn cả tốp hai chiếc F-8, Nguyễn Văn Bảy và Võ Văn Mẫn giữ vững đội hình thực hành hạ cánh an toàn tại sân bay Gia Lâm. Lúc đó là 16 giờ 49 phút.

    Đây là một trận đánh xuất sắc của Trung đoàn 923 nó diễn ra chớp nhoáng, địch hoàn toàn bất ngờ khi phát hiện ra máy bay ta chúng đã bị tiến công và bắn rơi (Từ lúc cất cánh đến khi hạ cánh an toàn có 19 phút!) Do nắm vững thời cơ, trung đoàn đã cho biên đội xuất kích kịp thời đánh vào đợt hoạt động cuối cùng trong ngày nên chúng chủ quan và bị ta diệt gọn cả tốp. Trong thực hành chiến đấu các chiến sĩ lái đã dũng cảm mưu trí vận dụng tốt chiến thuật xạ kích: bắn gần, bắn mãnh liệt và bắn rơi tại chỗ (Do bắn quá gần nên ba mảnh mê ca của nắp buồng lái chiếc F-8 lọt vào ống dẫn khí của máy bay do Võ Văn Mẫn lái. Hồ sơ 223 năm 1966 – Tổng kết trận chiến đấu trên không ngày 5-9-1966 do thiếu tá Trần Thuyết, Tham mưu trưởng Trung đoàn 923 ký).


    Theo VN Air Losses, ngày 05/09/66, biên đội 2 F-8E thuộc phi đoàn 111 HQ Mỹ trên TSB Oriskany bị MiG-17 tấn công bất ngờ trên vùng trời Ninh Bình. Cả 2 chiếc F-8E đều trúng đạn cannon, trong đó F-8E 15-0986 do Đại úy Wilfred K. Abbott lái bị bắn rơi, phi công nhảy dù và bị bắt làm tù binh.

    Như vậy ta claim 2 F-8E, Mỹ công nhận 1 bị bắn rơi và 1 bị thương. Phía ta không có tổn thất.
    Theo LS e923:

    Ngày 16 tháng 9, biên đội MIG-17 gồm Hồ Văn Quỳ (số 1), Đỗ Huy Hoàng (số 2), Nguyễn Văn Bảy (số 3), Võ Văn Mẫn (số 4) được lệnh cất cánh đánh địch trên vùng trời Đông Bắc. Biên đội cất cánh từ sân bay Gia Lâm bay về hướng Phả Lại - Đông Triều (Quảng Ninh). Đến Phả Lại phát hiện địch, biên đội triển khai đội hình vào công kích ở độ cao 700m. Biên đội ta và bốn chiếc máy bay F-4C của Mỹ quần nhau trên bầu trời khu vực núi Năm Mẫu, hai bên xen kẽ quần nhau, địch 4 lần phóng 8 quả tên lửa song MIG ta tránh được, kết quả ta bắn rơi hai F-4C của địch và bắn bị thương một chiếc F-4C khác. Ta hạ cánh an toàn trở về.

    Theo VN Air Losses, ngày 16/09/66, biên đội 4 F-4C mật danh Moonglow thuộc phi đoàn 555, không đoàn 8 KQ Mỹ ở căn cứ Ubon (Thái Lan) đánh phá cầu Đáp Cầu đã bị MiG tấn công. F-4C 63-7643 bị trúng đạn cannon và đâm xuống đất cách sân bay Kép khoảng 24km về phía đông nam. Trong số 2 phi công lái, thiếu tá John L. Robertson chết, trung úy Hubert E. Buchanan nhảy dù và bị bắt làm tù binh.

    Theo Aces&Aerial Victories:

    Ngày 16/09/66, biên đội 3 F-4C thuộc phi đoàn 555 đang làm nhiệm vụ không kích/tuần phòng ở khu vực cầu Đáp Cầu thì phát hiện ít nhất 4 MiG-17. Trong trận đánh, F-4C chỉ huy bắn toàn bộ AIM-9 và 2 AIM-7 vào MiG nhưng đều không trúng. Số 3 không chiến với 2 chiếc MiG và không quay về.

    Trong khi số 4 cố gắng tiếp cận phía sau 1 chiếc MiG để bắn AIM-9, MiG chậm nhưng cơ động hơn ngoặt gấp và vào vị trí ở phía sau F-4. Khi MiG bắt đầu khai hỏa cannon 23mm, F-4 bật tăng lực, vòng về bên trái sau đó về bên phải để thoát. Sau đó F thả bom và thùng dầu phụ để tiếp tục không chiến. F phát hiện 1 MiG khác phía trước nhưng không thể bắt được tín hiệu radar để bắn AIM-7 nên vượt qua chiếc MiG, bật tăng lực lần nữa và vòng về bên phải và lại thấy 1 MiG nữa ở góc 12h. F-4 khai hỏa 2 tên lửa, sau đó ngoặt trái và trở về phải để tránh 1 chiếc MiG đang bắt đầu nhằm bắn. Trong khi cải bằng phi công F quan sát thấy mảnh vụn và 1 phi công nhảy dù.


    Theo USAF F-4 MiG Killers, ngày 16/09/66, F-4C 63-7650 mật danh Jupiter 4 thuộc phi đoàn 555, không đoàn 8 do trung úy Jerry W. Jameson và trung úy Douglas B. Rose lái bắn hạ 1 MiG-17 bằng AIM-9B.


    F-4C 63-7650 và tổ bay Jupiter 4
    Tổng kết:
    - Ta claim bắn hạ 2 và bắn bị thương 1 F-4C, Mỹ công nhận 1 F-4C bị hạ.
    - Mỹ claim bắn hạ 1 MiG-17, ta không công nhận.

  15. Thanks NADAI73, n24kt1 thanked for this post
    Likes n24kt1 liked this post
  16. #19
    Ngày gia nhập
    May 2009
    Bài gửi
    305
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    24
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)
    Trong chiến tranh phá hoại lần 1 tỷ lệ (hạ máy bay đối phương)Ta-Địch là 3:1.
    Lần 2 : là 1-1.

  17. #20
    Ngày gia nhập
    May 2009
    Bài gửi
    111
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    0
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)
    Mic, đọc mỏi mắt thật vẫn ráng đọc, thank chủ thớt nhé

Chủ đề tương tự

  1. Chiến thuật - chiến lược trong chiến tranh hiện đại .
    By hoanglongvn in forum Hỏi đáp, trao đổi kiến thức Quân sự - Quốc phòng
    Trả lời: 61
    Bài mới gửi: 21-05-2012, 09:25 AM
  2. Bàn về các dòng máy bay MIG và khả năng thay thế MIG-21 của KQNDVN
    By Neko gorudo in forum Tìm hiều về các loại vũ khí quân sự
    Trả lời: 144
    Bài mới gửi: 16-10-2011, 03:54 PM
  3. [Thảo luận] Những máy bay có thể sẽ được trang bị cho KQNDVN
    By alfa_tym in forum [Lưu trữ]QS-QP Việt Nam 2011
    Trả lời: 100
    Bài mới gửi: 21-09-2011, 11:13 PM
  4. Các vụ tai nạn máy bay của KQNDVN.
    By Winner in forum [Lưu trữ]QS-QP Việt Nam từ 2009 trở về trước
    Trả lời: 12
    Bài mới gửi: 28-11-2009, 07:38 PM

Bookmarks

Quyền hạn Gửi bài

  • Bạn không thể gửi chủ đề
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài của mình
  •