HOANGSA.ORG ĐÃ CHUYỂN SANG DIỄN ĐÀN MỚI- DIỄN ĐÀN CŨ CHỈ ĐỂ LƯU TRỮ KHÔNG THỂ VIẾT BÀI.

ĐỂ ĐI ĐẾN DIỄN ĐÀN MỚI XIN VUI LÒNG CLICK VÀO ĐÂY HTTP://HOANGSA.ORG/F

HOANGSA.ORG ĐÃ CHUYỂN SANG DIỄN ĐÀN MỚI- DIỄN ĐÀN CŨ CHỈ ĐỂ LƯU TRỮ KHÔNG THỂ VIẾT BÀI.

ĐỂ ĐI ĐẾN DIỄN ĐÀN MỚI XIN VUI LÒNG CLICK VÀO ĐÂY HTTP://HOANGSA.ORG/F

User Tag List

Trang 1 trong 2 12 Cuối cùngCuối cùng
Kết quả từ 1 tới 10 trên 11
  1. #1
    Ngày gia nhập
    Feb 2009
    Bài gửi
    881
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    0
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)

    Cuộc cải cách ruộng đất-vết nhơ trong lịch sử Việt nam

    Cải cách ruộng đất tại miền Bắc Việt Nam là chương trình nhằm xóa bỏ văn hóa phong kiến, tiêu diệt các thành phần bị xem là "bóc lột", "phản quốc" (theo Pháp, chống lại đất nước), "phản động" (chống lại chính quyền) như địa chủ, Việt gian, cường hào, các đảng đối lập... được Đảng Lao động Việt NamChính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thực hiện vào những năm 19531956. Cải cách ruộng đất tịch thu tài sản, đất đai của những người này và chia cho bần nông, cố nông; đồng thời tiến hành đấu tố và xử tội họ.
    Đây là một trong những phương cách chính yếu mà những người theo chủ nghĩa cộng sản nghĩ rằng phải thực hiện để lập lại công bằng xã hội, đồng thời thiết lập nền chuyên chính vô sản nhằm tiến lên chủ nghĩa xã hội một cách nhanh chóng. Trong bản Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản (Manifesto), Karl Marx đã tuyên bố: "cách mạng ruộng đất là điều kiện để giải phóng dân tộc".
    Dựa theo mô hình thổ địa cải cách của Trung Quốc (19461949), cuộc cải cách ruộng đất ở miền Bắc được tổ chức với tinh thần đấu tranh giai cấp triệt để[1] với sự cố vấn trực tiếp của các cán bộ đến từ Trung Quốc[2]. Tuy nhiên, với tình hình nông thôn Trung Quốc và Việt Nam hoàn toàn khác nhau, việc áp đặt giáo điều tình hình hai quốc gia đã gây ra nhiều phương hại[3]. Cuộc cải cách và đấu tố này đã gây một không khí kinh hoàng tại nông thôn miền Bắc lúc ấy, và tác hại mạnh đến sự đoàn kết dân tộc và nhiều thế hệ người Việt.
    Mục đích

    Chương trình cải cách ruộng đất là một bước trong tiến trình đưa miền Bắc Việt Nam tiến lên xã hội chủ nghĩa, do Đảng Lao động Việt Nam tổ chức và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thực thi, hệ thống hóa và khai triển trên địa bàn rộng, công việc mà nhiều chính quyền địa phương đã làm từ những năm đầu Cách mạng tháng Tám:

    1. tịch thu tài sản ruộng đất do người Pháp, người dân di cư, hay Việt gian (những người theo Pháp) bỏ lại, hay bỏ hoang vì chiến tranh,
    2. phân chia cho tá điền,
    3. cắt giảm địa tô,
    4. bãi bỏ mọi khoản tiền thuê ruộng.

    Theo tài liệu của Đảng Cộng sản Việt Nam thì các công việc này cũng được đảng và chính phủ tiếp tục từng bước giải quyết trong kháng chiến chống Pháp, nhưng đến 1953 thì mới được phát triển rộng (khởi sự tại Thái Nguyên)[4]
    Tại kì họp thứ ba của Quốc hội, để phát động chiến dịch, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Hồ Chí Minh phát biểu: "Luật cải cách ruộng đất của ta chí nhân, chí nghĩa, hợp lí hợp tình, chẳng những là làm cho cố nông, bần nông, trung nông ở dưới có ruộng cày, nhưng đồng thời chiếu cố đồng bào phú nông, đồng thời chiếu cố đồng bào địa chủ"[5].
    Trong bài trả lời phỏng vấn đài RFA của nhà nghiên cứu sử Trần Gia Phụng thì cải cách ruộng đất bắt đầu từ năm 1949. Thứ nhất là từ năm 1949, năm này để khuyến khích nông dân ra sức cày bừa thì nhà cầm quyền Việt Minh ra sắc lệnh để thành lập hội đồng giảm tô. Họ ấn định rằng các chủ đất phải giảm tối thiểu và đồng bộ tiền thuê đất (tô tức là tiền thuê đất) cho tá điền (tức là nông dân cày ruộng). Có nơi giảm đến 35% tiền thuê đất.
    Sau đó, thông tư liên bộ của năm 1949 đưa ra nguyên tắc chủ yếu về phân chia tạm thời ruộng đất cho nông dân mà những ruộng đất này họ tịch thu được từ điền chủ của người Pháp, từ điền chủ là những người mà Việt Minh gọi là "Việt gian", tức là những người mà Việt Minh kết tội thông Pháp.

    Tổ chức

    Tháng 11 năm 1953, Quốc hội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nhóm họp và thông qua dự luật cải cách ruộng đất 197/HL. Chủ tịch Hồ Chí Minh phê thuận và chính thức ban hành bộ luật này vào ngày 19 tháng 12 năm 1953 để kỷ niệm ngày Toàn quốc Kháng chiến, mang tên "Luật Cải cách Ruộng đất". Đồng thời điểm này, Ủy ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam và Đại hội Toàn quốc Đảng Lao động Việt Nam cũng họp và tổ chức chuẩn bị thi hành cải cách ruộng đất sâu rộng trên toàn lãnh thổ. Đảng này cũng chỉ định một ủy ban lãnh đạo chương trình cải cách ruộng đất và hoạch định tiến trình cải cách ruộng đất.

    Ban lãnh đạo


    1. Phát động và làm tư tưởng chiến dịch: Hồ Chí Minh (Chủ tịch Đảng Lao động Việt Nam và nhà nước)
    2. Trưởng ban chỉ đạo trực tiếp: Trường Chinh (Tổng Bí thư đảng)
    3. Trưởng ban chỉ đạo thí điểm Thái Nguyên: Hoàng Quốc Việt (Ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương đảng)
    4. Trưởng ban chỉ đạo thí điểm Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh: Lê Văn Lương (Ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương đảng)
    5. Giám đốc trực tiếp điều hành chiến dịch: Hồ Viết Thắng (Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương đảng)


    Tiến trình

    Chương trình cải cách ruộng đất được áp dụng qua bốn bước chính:

    Huấn luyện cán bộ

    Các cán bộ Đảng Lao động tham gia cải cách ruộng đất được đưa đi học khóa Chỉnh huấn 1953, và một số được đưa đi huấn luyện tại Trung Quốc. Các chương trình học tập nhằm giúp cán bộ nắm vững đường lối của đảng trong cải cách ruộng đất, quán triệt quan điểm: "trí, phú, địa, hào đào tận gốc trốc tận rễ". Tổng số cán bộ được điều động vào công tác là 48.818 người.

    Chiến dịch Giảm tô

    Bước đầu, các đội cán bộ cải cách ruộng đất đi vào các làng xã và áp dụng chính sách "3 Cùng" (cùng ăn, cùng ngủ, cùng làm) với các bần cố nông trong làng xã đó, kết nạp họ thành "rễ", thành "cành" của đội, sau đó triển khai chiến dịch từng bước như sau:

    • Phân định thành phần: Đội Cải cách Ruộng đất ra mắt làng xã, và tất cả các gia đình trong xã được họ phân loại thành 5 thành phần: (a) địa chủ; (b) phú nông; (c) trung nông cứng - sở hữu 1 con bò, 1 con heo, 1 đàn gà; (d) trung nông vừa - sở hữu 1 con heo, 1 đàn gà; (e) trung nông yếu - sở hữu 1 đàn gà hay không có gì cả; (f) bần nông; (g) cố nông. Gia đình có 2 con heo đã có thể gọi là phú nông. Tỷ lệ địa chủ được quy định trước là 5,68% dân số nông thôn và các đoàn và đội cải cách đều cố truy bức để đôn tỷ lệ địa chủ lên 5% như một quy định bắt buộc, gọi là "kích thành phần".
    • Phân loại địa chủ: Tất cả các gia đình bị xếp vào thành phần địa chủ như nói trên được đội cải cách phân loại thêm một lần nữa thành (a1) Địa chủ gian ác; (a2) Địa chủ thường; (a3) Địa chủ có ủng hộ kháng chiến. Thành phần địa chủ gian ác bị đội cải cách bắt ngay lập tức và quản thúc.
    • Áp dụng thoái tô: Đối với các gia đình có địa chủ bị bắt nói trên, đội cải cách thông báo với họ về các sắc lệnh giảm tô của chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, bao gồm: sắc lệnh giảm tô xuống còn 25% vào tháng 11 năm 1945, sắc lệnh số 87/SL năm 1952 và 149/SL năm 1953 giảm tô thêm 25%. (Chú thích: Tại miền Bắc, tô hay địa tô là tiền thuê ruộng mà tá điền phải trả cho địa chủ sau mùa gặt, có thể trả bằng thóc.) Căn cứ theo đó, địa chủ nào chưa giảm tô cho nông dân thì bây giờ phải trả số nợ đó — gọi là "thoái tô". Nếu không trả đủ nợ thì tài sản bị tịch thu, phân phát do nông dân. Sau bước này, hầu hết gia đình địa chủ lâm vào hoàn cảnh khánh kiệt, nhiều người đến chỗ tự sát — vì nếu sống trong vùng kiểm soát của Pháp thì không biết gì về các sắc lệnh của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.[6]
    • Học tập tố khổ, lùng bắt địa chủ: Các bần nông, cố nông, "chuỗi", "rễ" được đội cải cách cho học lớp tố khổ do họ mở, qua đó học viên được nhận dạng các tội ác của địa chủ, và được khuyến khích nhớ ra tội ác của từng địa chủ đã bóc lột họ như thế nào. Sau khi học qua lớp tố khổ nhiều bi kịch xảy ra: con tố cha, vợ tố chồng... Du kích và cốt cán cải cách ruộng đất tìm bắt địa chủ, việt gian, thậm chí họ "vác súng vào thành phố lùng bắt địa chủ và con cái địa chủ là cán bộ công nhân viên chức nhà nước".[7]
    • Công khai đấu tố: Các buổi đấu tố được tổ chức, thông thường vào ban đêm. Số lượng người tham gia đấu tố được huy động từ vài trăm đến cả ngàn người, và thời gian đấu tố từ một đến ba đêm tùy theo mức độ tội trạng của địa chủ. Trong đêm đấu tố, các bần nông bước ra kể tội địa chủ đã bóc lột họ như thế nào. Tại các tỉnh có tổ chức cải cách ruộng đất, Đảng Lao động cho ra tờ báo lấy tên là Lá Rừng (ngụ ý tội ác địa chủ nhiều như lá rừng) tường thuật chi tiết các vụ đấu tố. Sau khi bị đấu tố các địa chủ được tạm giam trở lại để chờ tòa án nhân dân xét xử, cũng có người bị đánh chết ngay trong lúc đấu tố[cần dẫn nguồn]. Gia đình và thân nhân người bị đấu tố thì bị cô lập, bị bỏ đói và chịu nhiều sự phân biệt đối xử và nhục hình.
    • Xử án địa chủ: Tại các huyện, một tòa án nhân dân đặc biệt được lập ra và đi về các xã xét xử các địa chủ. Sau khi kết án, địa chủ bị xử bắn trước công chúng do đội tự vệ xã hành quyết. Những người không được xử bắn thì bị cô lập trong các làng xã, một số bị thiệt mạng vì bị bỏ đói.

    Tổng cộng có tám đợt giảm tô từ 1953 đến 1956 tiến hành tại 1.875 xã.

    Chiến dịch Cải cách Ruộng đất

    Nhiều tháng sau khi Chiến dịch Giảm tô được triển khai, chương trình Cải cách Ruộng đất chính thức bắt đầu, với hình thức tương tự nhưng trên địa bàn rộng lớn hơn, và các gia đình địa chủ có thành tích kháng chiến, kể cả các gia đình có đảng viên, cán bộ, bộ đội phục vụ trong kháng chiến cũng bị đấu tố. Tổng cộng có năm đợt cải cách ruộng đất từ 1953 đến 1956 tiến hành tại 3.314 xã. Người đầu tiên bị buộc tội chết trong cải cách ruộng đất là một phụ nữ, bà Nguyễn Thị Năm ở Thái Nguyên, bà là địa chủ kháng chiến có nhiều công lao lớn với cách mạng Việt Nam[8].
    Tổng cộng có 6 đợt lớn cải cách ruộng đất. Từ cuối năm 1954, dưới sức ép của cố vấn Trung Hoa, chiến dịch cải cách ruộng đất bắt đầu được đẩy mạnh và nhanh, với cường độ lớn. Từ giữa năm 1955 ở một số nơi đã xuất hiện hiện tượng đấu tố tràn lan, mất kiểm soát. Từ đó đến cuối năm 1955, cảnh đấu tố địa chủ xảy ra tràn lan, nhiều lúc chỉ đơn thuần bằng một lời tố giác đơn giản, những thành viên trong tòa án nhân dân cũng có thể xử tử hình hay tù khổ sai đối với người bị tố giác. Đã xuất hiện tình trạng lạm dụng quyền hành của các cán bộ đội viên đội công tác ruộng đất trong công tác đất đai. Họ đấu tố mọi nhà, đấu tố mọi người, nhưng lại quên đấu tố bản thân. Số người chết trong đợt này là rất lớn, trong đó số người chết oan chiếm tỷ lệ cao. Quyết liệt nhất là ở Thái Bình, nơi có đến 294 xã được đưa vào cải cách.
    Theo tài liệu của Đảng Cộng sản Việt Nam, tháng 11 năm 1953, Hội nghị Ban chấp hành trung ương đảng lần thứ 5 quyết định tiến hành việc cải cách ruộng đất tại miền Bắc Việt Nam. Từ năm 1953 tới 1957, 810.000 hécta ruộng đất ở đồng bằng và trung du miền Bắc đã được chia cho 2 triệu hộ nông dân, chiếm khoảng 72,8% số hộ nông dân ở miền Bắc. Trong khi đó, phân bố ruộng đất miền Bắc trước năm 1945, chỉ có 4% dân số đã chiếm hữu tới 24,5% tổng số ruộng đất.
    Tuy nhiên, ở một góc độ khác việc thực hiện cải cách ruộng đất ở miền Bắc Việt Nam đã gây ra nhiều hậu quả to lớn. Đã có rất nhiều người bị đấu tố oan. Theo tài liệu của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhiều nông dân trong tầng lớp trung nông đã bị đấu tố là địa chủ và việc đấu tố oan là do "bị địch lũng đoạn". Những sai lầm này, như đã được đề cập đến trong bài phát biểu tháng 10 năm 1956 tại Mặt trận Tổ quốc Việt Nam của giáo sư, luật sư Nguyễn Mạnh Tường,[6] đã làm Đảng Cộng sản Việt Nam bị mất uy tín đối với nhiều người dân.

    Chiến dịch Sửa sai

    Do nhận định chiến dịch Cải cách Ruộng đất giết lầm nhiều người vô tội và gây ra chống đối mạnh trong dân chúng, Đảng Lao động Việt Nam và chính phủ tiến hành các bước sửa sai như sau:

    • Tháng 2 năm 1956, Hội nghị Trung ương đảng lần thứ 9 tuyên bố các sai lầm trong cải cách ruộng đất.
    • Tháng 3 năm 1956, Quốc hội họp lần thứ 4 tường trình bản báo cáo các sai lầm và biện pháp sửa sai.
    • Ngày 18 tháng 8 năm 1956, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho đồng bào và cán bộ nhìn nhận sai lầm và cho biết Trung ương đảng và chính phủ đã nghiêm khắc kiểm điểm các sai lầm.
    • Ngày 24 tháng 8 năm 1956, báo Nhân Dân công bố có một số đảng viên trung kiên đã bị hành quyết sai lầm trong chiến dịch Cải cách Ruộng đất.
    • Tháng 9 năm 1956, Hội nghị lần thứ 10 Ban Chấp hành Trung ương đảng (họp từ 25/8 đến 24/9/1956) nhận định các nguyên nhân đưa đến sai lầm, và thi hành biện pháp kỷ luật đối với Ban lãnh đạo chương trình Cải cách Ruộng đất như sau: ông Trường Chinh phải từ chức Tổng Bí thư đảng, hai ông Hoàng Quốc ViệtLê Văn Lương ra khỏi Bộ Chính trị[9], và ông Hồ Viết Thắng bị loại ra khỏi Chấp hành Trung ương đảng.
    • Ngày 29 tháng 10 năm 1956, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, người không tham gia trực tiếp vào sai lầm chương trình Cải cách Ruộng đất, thay mặt chủ tịch nước đọc bản báo cáo của Hội nghị lần thứ 10 Ban Chấp hành Trung ương đảng tại nhà hát lớn Hà Nội, kê khai sai lầm và phát động chiến dịch sửa sai, phục hồi các chức vụ tài sản cho cán bộ, bộ đội bị đấu tố.

    Theo tổng kê đến tháng 9 năm 1957, thì chiến dịch sửa sai phục hồi khoảng 70-80% số người bị kết án, chỉ trả lại số ít[cần dẫn nguồn]. Nếu đã chết thì vợ con hay thân nhân được bồi thường rất ít tài sản[cần dẫn nguồn]. Theo báo Nhân Dân thì chiến dịch sửa sai cũng gây thêm chết chóc khi các đảng viên được phục hồi trả thù những người đã đấu tố họ oan ức, hoặc chưa kịp trả thù thị bị thủ tiêu trước để tránh việc trả thù.
    Phong trào trả thù bằng bạo động lan rộng khiến nhà chức trách phải dùng quân đội trấn áp. Ở Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An, có bản báo cáo ghi nhận 20.000 nông dân mang gậy gộc chống lại quân đội khi chính quyền dùng vũ lực để tái lập trật tự.[10]
    Tuy nhiên, theo nhiều nhân chứng, việc sửa sai chỉ đơn thuần là phục hồi đảng tịch, quy lại thành phần (từ địa chủ, phú nông trở lại thành trung nông) chứ không hề có trả lại tài sản, nhà đất. Đến năm 2004, theo báo Hà Nội Mới, Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội mới ra quyết định trợ cấp cho một số trường hợp bị qui sai thành phần và có tài sản bị trưng thu, trưng mua trong thời kì Cải cách Ruộng đất với mức ba triệu đồng một trường hợp[1].

    Các đợt cải cách

    Đợt
    Thời điểm Địa bàn Số xã đưa vào
    Cải cách Ruộng đất Đợt Thí điểm
    (25/12/1953 - 22/10/1954) Thái Nguyên không rõ Đợt 1
    (1/4/1954 - 15/01/1955) Một số các vùng kiểm soát không rõ Đợt 2
    (23/10/1954 - 15/01/1955) Thái Nguyên 22 Phú Thọ 100 Bắc Giang 22 Thanh Hóa 66 Đợt 3
    (18/02/1955 - 20/06/1955) Vĩnh Phúc 65 Phú Thọ 106 Bắc Giang 84 Sơn Tây 22 Thanh Hóa 115 Nghệ An 74 Đợt 4
    (27/06/1955 - 31/12/1955) Vĩnh Phúc 111 Phú Thọ 17 Bắc Giang 1 Bắc Ninh 60 Sơn Tây 71 Thanh Hóa 207 Nghệ An 5 Hà Tĩnh 227 Hà Nam 98 Ninh Bình 47 Đợt 5
    (25/12/1955 - 30/07/1956) Bắc Ninh 8 Nghệ An 163 Hà Tĩnh 6 Ninh Bình 45 Quảng Bình 118 Vĩnh Linh 21 Hải Dương 217 Hưng Yên 149 Thái Bình 294
    Những sai lầm trong chiến dịch


    Sai lầm chung


    • Đánh giá sai lầm về tình hình khác biệt giữa nông thôn Trung Quốc và Việt Nam, quá tin tưởng và chịu sức ép của các cố vấn Trung Quốc. [cần dẫn nguồn]
    • Đánh giá sai và nâng sản lượng, nâng thuế lên quá cao, quá sức người dân. Như ở Hà Tĩnh, có những mẫu ruộng tính sản lượng là 32, 35 tạ một mẫu ta. Khá nhiều ruộng tốt được tính sản lượng ít nhất phải 25, 28 tạ. Trong khi đó như ở Liên Xô, theo ông Đặng Thái Mai: "ở LX cũng mới trù tính việc tăng năng suất các miền ruộng có thủy lợi (terres-irriguées) cho đến mức 40-50 tạ một hectare. Như vậy là với phương tiện kỹ thuật, nhân công, tổ chức của nông nghiệp Liên Xô, mà trong 4 năm nữa người ta mới yêu cầu tới mức 20 hay 25 tạ nửa hectare, nghĩa là còn hơn một mẫu ta..."[11]
    • Chiến dịch càng lên cao điểm càng mất kiểm soát dẫn đến tình trạng vô chính phủ, nhiều oan sai và cô lập, đối xử nhục hình với gia đình người bị đấu tố. Hơn 70% người bị quy vào thành phần địa chủ và phú nông là quy sai. Điển hình như:


    • Trường hợp tử hình bà Nguyễn Thị Năm, chủ hiệu Cát Thanh Long ở Hà Nội, mẹ nuôi của Lê Đức Thọ, Phạm Văn ĐồngTrường Chinh, có con trai một là trung đoàn trưởng một trung đoàn của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Trong Tuần Lễ Vàng, gia đình bà cũng đã hiến 100 lạng vàng cho chính quyền mới thành lập.[2]
    • Trường hợp thiếu tướng Vương Thừa Vũ, tư lệnh Đại đoàn 308, nguyên tư lệnh mặt trận Hà Nội năm 1946, chủ tịch Ủy ban quân quản Hà Nội bị các cán bộ cải cách bắt ở ngoại thành Hà Nội vì có người đấu tố ông là "địa chủ, có xuất thân là tư sản, lập trường chính trị không rõ ràng" [cần dẫn nguồn].
    • Các cháu nội của cụ Phan Bội Châu, trong đó có một người là Trung đội trưởng, nhà nghèo, 3 sào đất cho 3 mẹ con, nhưng cũng bị quy là địa chủ [cần dẫn nguồn].
    • Đặc biệt có cụ phó bảng Đặng Văn Hướng, bộ trưởng phụ trách Thanh-Nghệ-Tĩnh trong chính phủ Hồ Chí Minh bị đấu tố chết tại quê nhà Diễn Châu [cần dẫn nguồn].


    • Ngoài việc tịch thu nhà đất của những người bị quy là địa chủ, những mục đích khác của chiến dịch không đạt được. Thực tế đau buồn khác là kết quả của cuộc cải cách ruộng đất lại không như người nông dân mong đợi khi ngay sau đó: vụ mùa năm 1957 được đánh giá là thất thu.
    • Cuộc đấu tố và cô lập, lùng bắt địa chủ và con cái của họ đã gây một không khí kinh hoàng tại nông thôn miền Bắc thời ấy. [cần dẫn nguồn] Giết lầm nhiều người vô tội và gây ra chống đối mạnh trong dân chúng, mất tin tưởng vào Đảng Cộng sản và nhà nước, gây chia rẽ trong nhiều thế hệ [cần dẫn nguồn].


    Sai lầm trên phương diện pháp lý

    Theo bài diễn văn luật sư Nguyễn Mạnh Tường đọc tại cuộc họp Mặt trận Tổ quốc ở Hà Nội ngày 30 tháng Mười 1956, cuộc cải cách ruộng đất được thực hiện với phương châm "thà chết 10 người oan còn hơn để sót một địch"; phương châm này đi ngược lại với quy tắc cơ bản của pháp luật, trong trường hợp này là "thà 10 địch sót còn hơn một người bị kết án oan". Cụ thể các quy tắc pháp lý đã bị xâm phạm là:

    • Không xử phạt các tội đã phạm quá lâu đến hiện tại mới điều tra ra.
    • Trách nhiệm của phạm nhân thì chỉ một mình phạm nhân chịu, không quy kết cho vợ con, gia đình.
    • Muốn kết án một người phải có bằng chứng xác đáng.
    • Thủ tục điều tra, xét xử phải bảo đảm quyền lợi của bị can. Bị can có quyền nhờ luật sư bào chữa. Phải tôn trọng bị can trong quá trình truy tố và xét xử; khi bị can ra trước tòa không được xiềng xích và không được dùng nhục hình.

    Các nguyên nhân sai lầm được cho là: quan điểm ta-địch, thù-bạn của chính quyền đương nhiệm rất mơ hồ; chính quyền bất chấp pháp luật, lấy chính trị lấn át pháp lý; bất chấp ý kiến của giới chuyên môn.[6]



    Số người bị đấu tố

    Tổng cộng chiến dịch Giảm tô tịch thu của địa chủ, phú nông 31.110 tấn thóc tô, 15.475 ha ruộng, 8.246 trâu bò. Tổng cộng chiến dịch Cải cách Ruộng đất tịch thu của địa chủ 810.000 ha ruộng, 106.448 trâu bò, 1.846.000 nông cụ, 148.565 ngôi nhà. Số tài sản này được phân chia cho 2.104.138 hộ bần nông, trung bình mỗi hộ được 0,38 ha, 0,87 nông cụ, 0,071 ngôi nhà. Giai cấp địa chủ hoàn toàn bị tiêu diệt tại miền Bắc[cần dẫn nguồn].
    Số lượng người bị giết trong chương trình Cái cách Rộng đất là không thể thống kê chính xác và còn gây tranh cãi. Nhưng theo chủ trương ở một số địa phương phải tìm cho ra tỷ lệ 5% địa chủ, "Việt gian" để mang ra đấu tố[3] thì con số sẽ không ít.
    Theo nhiều nguồn tin khác nhau, số lượng người bị giết là 100.000 đến 200.000 người:

    • Theo Bernard Fall thì không thể biết chính xác con số, nhưng ít nhất khoảng 50.000 người bị giết và 100.000 người bị bắt giam[12](cần số trang).
    • Theo Tibor Mende, khoảng 15.000 người bị giết.[cần dẫn nguồn]
    • Theo Tiến sĩ Võ Nhân Trí, dựa trên tài liệu văn khố Trung ương đảng[cần dẫn nguồn], thì khoảng 15.000 người bị giết.
    • Theo tuần báo Time ngày 1 tháng 7 1957 thì khoảng 15.000 người bị giết[13].
    • Theo ông Bùi Tín[cần dẫn nguồn], tại buổi hội thảo "Những kinh nghiệm đau buồn từ 'Cải cách ruộng đất' ở đất Bắc 1953-1956" do Mạng lưới dân chủ tổ chức cuối tháng 6 năm 2003 tại thủ đô Berlin, nêu lên con số nạn nhân là 500.000 người theo như Michel Tauriac, nhà văn-nhà báo người Pháp đưa ra. Bùi Tín cho rằng con số này cũng hợp lý nếu kể cả những người bị giết, bị chết trong tù, bị chết sau khi thả ra và tự tử hoặc thân nhân, gia đình gián tiếp chịu đày đọa.
    • Ông Vũ Thư Hiên, trong cuốn Đêm giữa ban ngày thì cho rằng con số nạn nhân là ít hơn con số năm chục vạn của ông Tín rất nhiều, tuy vậy ông chỉ có thể ước tính, chứ không có số liệu hoặc tài liệu nào cụ thể:

    "Người ta thường nói tới con số khoảng 15.000 người. Tôi nghĩ con số có thổi phồng. Trong tài liệu của Bernard Fall và Wesley Fishel con số còn được đẩy tới 50.000. Nếu tính tổng số xã đã cải cách ruộng đất là khoảng 3.000, mỗi xã có trung bình một hoặc hai người bị bắn, bị bức tử, bị hãm cho chết đói, (những xã có số người bị bắn lên tới ba hoặc bốn rất ít gặp, có những xã không có ai bị) thì số người chết oan (kể cả trong Chỉnh đốn Tổ chức, tính cả người bị bức tử) nằm trong khoảng từ 4.000 đến 5.000 người. Nói chung, đó cũng là đoán phỏng. Chẳng bao giờ chúng ta biết được con số chính xác nếu không có một cuộc điều tra khoa học."
    • Thống kê chính thức của nhà nước Việt Nam được đăng trong cuốn Lịch sử kinh tế Việt Nam (tập hai) cho biết là đã có 172.008 người bị quy vào thành phần địa chủ và phú nông (trong đó có 123.266 người bị quy sai, hơn 70%, tức là bị oan). Theo quan điểm của những người thực hiện cuộc cải cách ruộng đất, đây là những người bị xếp vào loại kẻ thù của nhân dân, bị "đào tận gốc, trốc tận rễ". Điều này đồng nghĩa với việc họ có thể bị bắn tại chỗ hoặc bị lãnh án tù rồi chết trong nhà giam[cần dẫn nguồn].

    Về thành phần của con số 172.008 nạn nhân này, bảng thống kê ghi như sau: Địa chủ cường hào gian ác : 26.453 người, trong đó 20.493 người bị oan (77,4%). Địa chủ thường : 82.777 người, trong đó 51.480 người bị oan (62%). Địa chủ kháng chiến : 586 người, trong đó 290 bị oan (49%). Phú nông : 62.192 người, trong đó 51.003 người bị oan (82%). Tổng cộng : 172.008 nạn nhân, trong đó 123.266 người bị oan : 71,66%. Con số địa chủ kháng chiến theo thống kê trên là 586 người, trong khi theo báo cáo của Bộ chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam tháng 10 năm 1956 thì riêng tổng số đảng viên bị "xử trí" lên tới 84.000 người. Số lượng này chưa kể đến thân nhân, gia đình của những người bị quy sai, cũng bị cô lập và đối xử phân biệt. Theo giáo sư Lê Xuân Khoa thì chương trình Cải cách Ruộng đất là một trong ba nguyên nhân chính đưa đến cuộc di tản 1954. Ngoài ra, ông nhận định lượng lúa gạo sản xuất ở đồng bằng sông Hồng bị giảm sút trầm trọng trong những năm cải cách ruộng đất và ngay sau đó. Tuy nhiên, nhận định này khác rất nhiều với các ý kiến, nhận định về cuộc di cư năm 1954 trong các sách chính thức về lịch sử ở Việt Nam hiện nay.

    Ý kiến và nhận định riêng


    • Luật sư Nguyễn Mạnh Tường đã nói về tình cảnh oan sai như sau, trong diễn văn đọc trước Mặt Trận Tổ Quốc, ngày 30 tháng 10 năm 1956 tại Hà Nội: “Qua cuộc Cải cách Ruộng đất ta thấy bao nhiêu các chiến sĩ cách mạng thành tích lộng lẫy, có người ngực gắn tới hai huy chương kháng chiến bị kết án là phản động, cường hào gian ác và, sau khi nhận tội, bị tống giam hay bị hành hình” [...] “Trong cuộc kháng chiến anh dũng của ta, những đồng bào đã hi sinh, có thể nói được, chết với trong lòng chan chứa nỗi vui sướng vì chết cho sự nghiệp giải phóng dân tộc khỏi nanh vuốt của địch. Họ chết vì địch, cho ta, đó là cái chết tích cực, cái chết vẻ vang, cái chết oanh liệt mà Tổ quốc ghi nhớ muôn thuở. Trái lại, các người chết oan vì các sai lầm trong cuộc Cải cách Ruộng đất này, lúc tắt thở, cay đắng đau xót vì chết với một ô danh. Chúng ta đã xoá bỏ cái ô danh đó, nhưng con cháu của các nạn nhân tài nào mà không ngậm ngùi? Đau đớn hơn, bây giờ ta làm thế nào mà biến cái khổ cực của người tắt thở thành một niềm an ủi cho họ được?”[6]


    • Nhà văn Trần Mạnh Hảo ở Hà Nội: "Tôi nhận ra cái điều này cũng lâu rồi, mà nhận từ từ, bởi vì tôi đã đựơc chứng kiến cụôc Cải cách Ruộng đất ở ngoài miền Bắc mà gia đình tôi là nạn nhân. Tôi thấy nó rất là khủng khiếp. Tôi không hiểu cái chủ nghĩa gì mà nó chỉ có một biện pháp duy nhất là trấn áp ngừơi ta, mang người ta ra đấu tố và bắn bỏ người ta, mà không có xét xử công minh, cũng không có bằng cớ gì cả. Cuộc CCRĐ là một cuộc diệt chủng như là Pol PotYeng Sari (đã làm bên xứ chùa Tháp) mà thời đó tôi đã chứng kiến."[cần dẫn nguồn]


    • Năm 2005, nguyên Thủ tướng Việt Nam Võ Văn Kiệt nhìn nhận "Trong các chiến dịch cải cách ruộng đất và cải tạo công thương nghiệp, nhiều nhân sĩ yêu nước, nhiều nhà kinh doanh có công với cách mạng đã không được coi như bạn nữa, gây những tổn thất lớn về chính trị và kinh tế"[14].

    Hai ông Bùi TínVũ Thư Hiên, từng là nhân chứng sống trong cải cách ruộng đất, tại buổi hội thảo "Những kinh nghiệm đau buồn từ 'Cải cách ruộng đất' ở đất Bắc 1953-1956" do Mạng lưới dân chủ tổ chức cuối tháng 6 năm 2003 tại thủ đô Berlin, cho biết sở dĩ chính sách cải cách ruộng đất có được là do chỉ thị của Liên XôTrung Quốc, nhất là học theo cách đấu tranh giai cấp của Trung Quốc, nên cuộc đấu tố đã diễn ra một cách tàn bạo, dã man chưa từng thấy[

  2. #2
    Ngày gia nhập
    Mar 2009
    Bài gửi
    213
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    0
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)
    sai lầm đó ko cho phép dc tái lập lại một lần...vào Giai đoạn này mà còn sai lầm kiểu đó thì gây nên rất nhiều hệ lụy ko tưởng dc nữa..Nhìn chung những tháng ngày đó là khá đen tối

  3. #3
    Ngày gia nhập
    Feb 2009
    Bài gửi
    881
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    0
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)
    Đau đớn thay,sai lầm này đã làm Việt Nam tự chặt đi tay chân của mình,triệt hạ biết bao nhiêu những người con ưu tú của dân tộc Việt.Kẻ nào phải chịu trách nhiệm cho nỗi oan thấu trời này!

  4. #4
    Ngày gia nhập
    Feb 2009
    Bài gửi
    881
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    0
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)
    Trung quốc và Trường chinh đặt chỉ tiêu phải có 5 % dân chúng là địa chủ -> thảm hoạ

  5. #5
    Ngày gia nhập
    May 2009
    Nơi cư ngụ
    Hà Nội yêu thương
    Bài gửi
    886
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    6
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)
    ai cũng có sai lầm , quan trọng là họ biết sửa sai . Đây là lỗi lầm to lớn nhất trong lịch sử và tôi tin nó sẽ ko bao h lập lại nữa
    thêm 1 lý do to đùng KO BAO GIỜ ĐC TIN NHỮNG GÌ ANH TUNG CỦA NÓI , NGHE ANH Ý CÓ NGÀY BÁN NHÀ
    Ngày nay không đánh cho tơi bời
    Mà đánh cho vạn năm sau còn nhớ
    Nước Việt ta đâu phải cứ im hơi là sợ
    Bởi tấm lòng muốn để chút bình yên...

  6. #6
    Ngày gia nhập
    Feb 2009
    Bài gửi
    881
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    0
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)
    Cải cách ruộng đất
    Hình ảnh về cải cách ruộng đất do nhiếp ảnh gia Liên Xô Dmitri Baltermants (1912-1990) chụp năm 1955 tại Việt Nam






  7. #7
    Ngày gia nhập
    Feb 2009
    Bài gửi
    881
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    0
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)

    “…Vẫn cần nhắc lại và rút ra những bài học sâu sắc hơn, giúp ích cho con đường đi lên và hòa nhập của đất nước, để chia tay dứt khoát với những sai lầm trong quá khứ, để mạnh bước trên con đường đổi mới thật sự…”



    Cuộc Cải cách ruộng đất (CCRĐ) được thực hiện trên miền Bắc nước ta đã hơn một nửa thế kỷ. Sau 3 năm thực hiện, do sai lầm nặng nề và phổ biến, Đảng Cộng sản (ĐCS) buộc phải nhìn nhận sai lầm (tháng 10-1956) và sửa sai. Họ không thành tâm và cũng không thể sáng suốt để nhìn thật rõ và thật đủ những sai lầm, do đó họ không sửa được sai lầm.

    Bi kịch CCRĐ kéo dài trong không gian và thời gian, chồng chất ngày càng nhiều những đau khổ và tàn phá cho đất nước và dân tộc. Lúc này, những người dân chủ và yêu nước nhìn lại bi kịch ấy và phân tích cho sâu sắc hơn là một việc làm cần thiết, có ích.

    Nhân dịp này, những bài viết của anh Nguyễn Minh Cần, anh Trần Gia Phụng và những buổi phát thanh chuyên đề của Đài Châu Á Tự do (RFA) rất có giá trị.

    Có người bảo CCRĐ đã diễn ra hơn nửa thế kỷ, đi sâu vào dĩ vãng rồi, hay ho gì mà bới móc ra. ĐCS đã sửa sai, đã đổi mới hơn 20 năm rồi, nhắc lại chuyện xưa cũ làm gì!

    Không! Vẫn cần nhắc lại và rút ra những bài học sâu sắc hơn, giúp ích cho con đường đi lên và hòa nhập của đất nước, để chia tay dứt khoát với những sai lầm trong quá khứ, để mạnh bước trên con đường đổi mới thật sự. Cần nhìn lại cuộc CCRĐ với con mắt thực tiễn, tôn trọng sự thật lịch sử, trên tinh thần nghiên cứu khoa học cũng như trên lập trường đấu tranh cho dân chủ, tự do. Từ đó cũng nên nhìn rộng ra vấn đề chiến lược: quan hệ giữa ĐCS với nông dân Việt Nam. Sau khi có thời gian nửa thế kỷ để nhìn lại và suy nghĩ, chúng ta nên tập trung chú ý đến những vấn đề và bài học dưới đây:

    1. Cục diện mới dẫn đến Cải cách ruộng đất

    Những ai từng sống những năm giữa thế kỷ 20 ở Việt Nam có thể nhớ lại không khí lãng mạn nhẹ nhàng trong cuộc chiến đấu chống thực dân Pháp, với những bài hát sôi nổi "Bao chiến sỹ anh hùng…", "Nào ta đi hùng binh…", "Diệt phát xít…". ĐCS rút vào bí mật, các cuộc thanh trừng diễn ra kín đáo, tuổi trẻ sẵn sàng xông ra trận để bảo vệ nền độc lập.

    Từ cuối năm 1949, năm 1950 và 1951 một cục diện mới mở ra. Đảng Cộng sản Trung Quốc thắng to và rất nhanh, chiếm cả lục địa Trung Hoa, lập nên nước Cộng hòa Nhân dân, Quân giải phóng Trung Quốc đến biên giới Trung-Việt; Việt Nam chấm dứt thời kỳ bị cô lập, quan hệ Việt–Trung về mọi mặt mở ra rất rộng rãi về ngoại giao, kinh tế, quân sự, văn hóa… Ảnh hưởng của Trung Quốc tràn vào Việt Nam như nước lũ, từng đoàn cố vấn Trung Hoa nhập Việt, cùng với viện trợ quân sự đủ trang bị mới hoàn toàn cho 6 sư đoàn bộ binh và 1 sư đoàn pháo binh; rồi gạo, vải, đường, thuốc men, xe Giải phóng…; hàng ngàn cán bộ quân sự, kinh tế, giáo dục, y tế, văn hoá sang Trung Quốc học tập; mọi người nô nức học tiếng Tàu và tiếng Nga. Khắp nơi nhảy ương ca, "đồ đồ đồ sol đồ, đồ đồ đồ sol rê, rê rê rê mí xì rê, rê rê mí rê đô là…"; những đoàn văn công Trung Quốc sang biểu diễn…; sách đỏ Mao tuyển và huy hiệu hình Mao tràn ngập.

    Cuối năm 1949, ông Hồ Chí Minh đi Bắc Kinh và Moskva, gặp Mao Trạch Đông và Stalin. Tháng 2–1950 La Quý Ba, đại sứ Trung Quốc cùng đoàn chuyên gia đến Việt Bắc. Tháng 9–1950 Chiến dịch Biên giới, được đoàn chuyên gia quân sự cầm đầu bởi tướng Trần Canh làm quân sư, mở rộng biên giới Việt-Trung từ Cao Bằng, Lạng Sơn đến Tiên Yên, Móng Cái. Có thể nói lý luận Trung Quốc, kinh nghiệm Trung Quốc, hàng hóa Trung Quốc, vũ khí Trung Quốc, phim ảnh Trung Quốc, sách báo Trung Quốc… trở thành cuộc sống bao trùm các vùng giải phóng, còn gọi là "vùng tự do". Vì vùng giải phóng là vùng tự túc, khép kín, cách biệt với vùng tạm chiếm nên cũng là cách biệt hẳn với thế giới bên ngoài; hàng phương Tây đều gọi là hàng địch, hàng lậu, hàng cấm.

    Chính trong không khí ấy, trong những điều kiện ấy mà cuộc Cải cách ruộng đất là một sản phẩm Trung Quốc, mang nhãn hiệu thuần Trung Quốc, từ mục tiêu đến cách tiến hành theo các bước cụ thể; có thể khẳng định đây là một đặc sản Trung Quốc.

    2. Đặc sản Trung Quốc

    Từ chủ trương đến phương châm và biện pháp: tháng Giêng năm 1950, khi ông Hồ gặp Mao Trạch Đông ở Bắc Kinh và Stalin ở Moskva, cả 2 lãnh tụ cộng sản này đều thúc giục ông Hồ phải về làm ngay cải cách ruộng đất để còn đi đến xóa bỏ tư hữu ở thành thị và nông thôn. Stalin còn phân công cho ĐCS của Mao việc giúp đỡ cho cách mạng vô sản ở châu Á, trước hết là Việt Nam. Ông Hồ luôn coi Stalin và Mao là hai bậc thầy của mình, những người không bao giờ phạm sai lầm, nên khi về nước là thực hiện.

    Cũng theo thúc giục của Stalin và Mao, đầu năm 1951 Đại hội II của ĐCS họp ở Tuyên Quang, ra công khai trở lại dưới tên mới Đảng Lao động Việt Nam và ra Nghị quyết về Cải cách ruộng đất. Từ Á–Phi sang Âu-Mỹ, xưa nay đã có biết bao nhiêu cuộc cải cách ruộng đất. Các cuộc cách mạng tư sản dân quyền đều đặt vấn đề chia lại ruộng đất cho nông dân. Thế nhưng khi các Đảng Cộng sản Liên Xô và Trung Quốc đặt ra vấn đề CCRĐ thì mục đích không phải là chia ruộng cho nông dân, mà là một mục đích khác, đó là thiết lập và củng cố sự thống trị còn mới mẻ của ĐCS lên toàn xã hội, điều mà họ công khai tuyên bố: thiết lập nền chuyên chính vô sản, một nền chuyên chính đầy máu và nước mắt.

    Ở Trung Quốc, sau cuộc Vạn lý Trường chinh (từ tháng 10-1934 đến tháng 10-1935) ĐCSTQ bị mất đến 9/10 lực lượng. Quốc dân Đảng của Tưởng Giới Thạch phát triển mạnh; sau khi phát xít Nhật thua trận, Quốc dân Đảng củng cố chính quyền trên toàn quốc theo hướng quân phiệt. Cuối năm 1945, được Stalin chuyển cho toàn bộ số vũ khí tước được của đội quân Quan Đông Nhật ở quân khu Mãn Châu, Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc lớn mạnh rất nhanh và chỉ trong 2 năm, từ 1948 đến 1949 đã Nam hạ, chiếm toàn lục địa Trung Quốc. Đột nhiên chiếm được một vùng đất lạ mênh mông lâu năm dưới sự cai trị của Quốc dân Đảng, nên ĐCSTQ cần làm gấp cuộc CCRĐ để quét sạch tàn dư còn khá nặng nề và nguy hiểm ấy. Điạ chủ Quốc dân Đảng bị bắn, giết, chôn sống như rạ. Cần nói rõ rằng các cố vấn Trung Quốc về CCRĐ sang Việt Nam đều dự "thổ địa cải cách" ở Trung Quốc, có khá nhiều kinh nghiệm thực tế ở vùng Hoa Nam; nhưng họ có trình độ văn hóa rất hạn chế, hầu hết xuất thân từ thành phần cơ bản bần cố nông nghèo khổ thất học, lần đầu tiên đi ra nước ngoài, lại mang nặng tư tưởng nước lớn Đại Hán tộc, nên luôn có thái độ trịch thượng, tự coi mình là giỏi giang, cái gì cũng biết để dạy bảo người khác. Về phía Việt Nam, các cấp đoàn ủy (chỉ đạo một vùng) và đội (chỉ đạo một xã) cũng đều được tuyển lựa trong lớp bần cố nông - 3 đời nghèo khổ -, nên thường là dân mù chữ, đi làm thuê, mới được học bình dân học vụ và bổ túc văn hóa, không có khả năng lãnh đạo, càng không có tư duy độc lập, nên chỉ còn biết vâng dạ trước các đồng chí cố vấn, "phái viên quý báu" của "Mao chủ tịch vĩ đại", dù cho các vị này - từ tổng cố vấn Kiều Hiểu Quang trở xuống - chỉ chuyên mang thực tế Trung Quốc thay cho thực tế Việt Nam. Máu đổ rùng rợn từ đó.

    Vậy mà năm 1956, khi nhìn ra sai lầm, thú nhận sai lầm và đề ra sửa sai ở Hội nghị Trung ương 10, những người lãnh đạo ĐCSVN không một ai dám nói gì đụng đến Trung Quốc.

    Tất nhiên trách nhiệm trước hết là ở thái độ chủ quan, giáo điều, xa rời thực tế của ĐCSVN, nhưng không thể bỏ qua cội nguồn của những sai lầm ấy là thái độ sùng bái Trung Quốc, sùng bái Mao, sùng bái ĐCSTQ, sùng bái đoàn cố vấn CCRĐ, sùng bái kinh nghiệm Trung Quốc. Những người lãnh đạo ĐCSVN đã từ nhiệm vai trò chủ nhân ông đất nước mình, từ nhiệm vai trò làm chủ trong lãnh đạo đất nước, tự biến mình thành kẻ tay sai ngay trên đất nước mình.

    Chính do thái độ mù quáng, sùng ngoại, tê liệt trong tư duy và suy luận, thiếu bản lĩnh tự hào dân tộc mà Bộ Chính trị ĐCSVN suốt trong năm 1954 và đến cuối 1955 vẫn tin và truyền bá công khai rằng: địa chủ Việt Nam ta rất ma quái, phần lớn giấu thành phần giai cấp để chỉ là phú nông và trung nông; rất nhiều địa chủ giả bộ, đóng kịch làm địa chủ kháng chiến; rất nhiều tên địa chủ giả vờ hăng hái ủng hộ cách mạng, góp vàng bạc, tiền, hiến nhà chỉ để che giấu tội ác; nhiều tên chui vào ĐCS, không ít tên còn chui sâu, leo cao…; phần lớn Đảng bộ và chi bộ Đảng vùng đồng bằng Bắc bộ là do Đơ Bê - deuxième bureau, Phòng nhì quân viễn chinh Pháp - tổ chức...

    Theo thôi thúc của cố vấn Tàu, các tôn giáo bị diệt thẳng tay, sư sãi cha cố bị đi làm khổ sai, tiếng chuông chùa im bặt, tượng Phật, ảnh Chúa bị liệng xuống ao.

    Tôi nhớ lại, giữa năm 1955, khi "địa chủ cường hào ác bá kiêm Việt gian" bị bắn la liệt và bừa bãi - suốt từ Thái Nguyên về Hưng Yên, Thái Bình, Kiến An, từ Hà Đông, Ninh Bình vào Nghệ An, Hà Tĩnh, gây xôn xao dữ dội, các tờ thông tin và đặc san về CCRĐ vẫn đưa tin về chỉ thị của Bộ Chính trị là "tỷ lệ 5% dân số là địa chủ là tỷ lệ chính xác (!) trên thực tế", và "mỗi xã phải có ít nhất 2 đến 3 địa chủ ác bá để chịu tội tử hình là đúng đắn’’. Nơi nào không đạt những tỷ lệ ấy là đã bị nhiễm căn bệnh hữu khuynh, phải làm lại; phải luôn nhớ đây là "cuộc cách mạng long trời lở đất’’, phải nắm vững phương châm "phóng tay phát động quần chúng, nghĩa là làm mạnh, dù có tả khuynh đôi chút cũng không sao, còn hơn là hữu khuynh’’; "đừng e ngại các biện pháp mạnh, như đấu tố, dùng đông đảo quần chúng áp đảo địch và kẻ lừng chừng, dùng tòa án và các cuộc xử tử tại chỗ để gây khí thế’’. Chính lãnh đạo ĐCS đã thôi thúc cuộc tàn sát, đến tận giữa năm 1956 khi xã hội đã phản ứng mạnh mẽ.

    Rõ ràng tình hình Trung Quốc và Việt Nam khác hẳn nhau về chính trị, kinh tế, về chiếm hữu ruộng đất, về các giai cấp và tầng lớp ở nông thôn, về các đảng phái chính trị. Áp dụng máy móc kinh nghiệm Trung Quốc vào Việt Nam rõ ràng là sai lầm cơ bản nhất, là nguyên nhân của những nguyên nhân sai lầm kéo dài dai dẳng hơn 2 năm trời qua cả 5 đợt cải cách, đến năm 1956, sau khi Đại hội 20 của ĐCS Liên xô (tháng 2-1956) công khai công nhận sai lầm về sùng bái cá nhân Stalin, cuộc họp Trung ương lần thứ 10 Đảng Lao động Việt Nam (tháng 9-1956) mới dám làm theo để công khai công nhận sai lầm của mình.

    Cần chỉ ra thật rõ rằng cuộc kiểm điểm sai lầm này vẫn còn rất hời hợt, không sâu sắc triệt để, sửa sai do đó vẫn chỉ sơ sài hình thức, vin cớ là trong thời kỳ chiến tranh, "phải tránh không cho địch lợi dụng’’, "phải chiếu cố miền Nam, tránh làm cho bà con trong Nam giảm niềm tin, kẻ địch trong Nam lợi dụng…’’.

    Do thái độ sùng bái Trung Quốc, e sợ ĐCSTQ, kiểm điểm sai lầm không dám đụng đến Trung Quốc nên từ đó ĐCSVN vẫn kéo dài căn bệnh cúi đầu trong ứng xử với Trung Quốc, với những hệ quả tai hại lâu dài cho đất nước và dân tộc, kéo dài cho đến tận ngày nay mà vẫn chưa biết bao giờ mới chấm dứt.

    3. Bàn tay của Trung Quốc trong chia đôi Việt Nam

    Tuy không trực tiếp liên quan đến cuộc CCRĐ, nhưng chuyện này không thể bỏ qua khi nói đến CCRĐ vì nó xảy ra ngay khi CCRĐ đang ở cao điểm tại Việt Nam và nó cũng bắt nguồn từ thái độ sùng bái Trung Quốc, ở thái độ từ nhiệm quyền tự chủ, quyền độc lập của Việt Nam.

    Chuyện này khá dài. Chỉ xin nói rất gọn để rõ do đâu mà nước ta vốn liền một dải bỗng nhiên bị chia làm hai, hai chế độ, hai nhà nước, hai chính phủ, hai phe…; vết thương chia cắt đến nay vẫn chưa thành sẹo, sự chia cắt đã tác động sâu sắc đến cuộc sống của mỗi gia đình, mỗi con người Việt Nam trong hơn nửa thế kỷ qua.

    Nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được thành lập ngày 1-10-1949, đến những năm 1953, 1954, vị trí quốc tế còn rất thấp (mãi đến năm 1971 Bắc Kinh mới được vào Liên Hợp Quốc). Mao và Chu Ân Lai đã sử dụng cuộc chiến tranh Pháp-Việt như một phương tiện để tìm kiếm một tư thế ngoại giao trên trường quốc tế. Moskva đã tiếp tay cho Bắc Kinh, đề xướng cuộc họp quốc tế ở Genève (Thụy Sỹ) đầu năm 1954 nhằm tìm giải pháp cho hai cuộc chiến tranh ở Triều Tiên và ở Việt Nam. Mỹ, Anh và Pháp đều tán thành. Đây là cuộc ra mắt quốc tế đầu tiên của nước Trung Hoa cộng sản. Đoàn đại biểu Trung Quốc do Thủ tướng kiêm Ngoại trưởng Chu Ân Lai dẫn đầu. Qua kể lại, văn kiện hội nghị và hồi ký của những nhân vật tham dự như Molotov (Ngoại trưởng Liên Xô), Chu Ân Lai (Ngoại trưởng Trung Quốc), Phạm Văn Đồng (Ngoại trưởng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa), Tạ Quang Bửu (Thứ trưởng Quốc phòng miền Bắc Việt Nam)… thì thoạt đầu đoàn miền Bắc chỉ có một dự kiến là ngừng bắn tại chỗ, trong khi chờ thời hạn cuộc tổng tuyển cử tự do trên toàn quốc. Đó là ngừng bắn theo kiểu "da báo’’, từng vùng xen kẽ với nhau, không chia đôi, không cắt ngang đất nước qua một vĩ tuyến nhất định.

    Trong tư tưởng quân sự của các tướng Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Chí Thanh, Lê Trọng Tấn, Trần Văn Trà… hồi ấy, lập trường "ngừng bắn tại chỗ’’ dựa trên thế trận đang thuận lợi trên toàn quốc, và nhìn rộng hơn, là thế trận trên toàn chiến trường Đông Dương. Trên chiến trường chính là miền Bắc, chiến thắng vang dội Điện Biên Phủ đã được sự phối hợp và hỗ trợ khá mạnh của các chiến trường Trị Thiên, Tây Nguyên (nơi cả GM 100 bị tiêu diệt trên đường 13 và 14), Đông Nam bộ và đồng bằng sông Mêkông, cũng như ở gần Luang Prabang, Phong Saly, Paksé-Sénô ở Lào. Vùng giải phóng rộng lớn ở đồng bằng Liên khu 5 là nguồn nhân lực và vật lực quan trọng cho cuộc chiến.

    Người đề ra việc chia cắt Việt Nam làm hai miền chính là Chu Ân Lai, nhằm làm cho cuộc họp kết thúc nhanh, được phía chính phủ Pháp tán thành ngay giữa thái độ sửng sốt, ngỡ ngàng của trưởng đoàn Phạm Văn Đồng và tất cả đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đầu tháng 7-1954, Chu Ân Lai từ Genève trở về Bắc Kinh báo cáo với Mao rồi ghé qua Liễu Châu ở Quảng Tây, gần biên giới Trung- Việt, triệu tập ông Hồ Chí Minh và tướng Giáp sang gặp tại đó, ép buộc chấp nhận giải pháp chia cắt. Chu ép rằng "Mao chủ tịch đã tán thành ý kiến này; chia cắt chỉ tạm thời thôi, trong khi chờ tổng tuyển cử toàn quốc; phải giải quyết sớm không thì Mỹ sẽ can thiệp…’’. Ông Hồ băn khoăn đành cúi đầu, tướng Giáp cay đắng vẫn phải vâng lời. Chu còn ngỏ ý việc chia cắt sẽ ở vào quãng vĩ tuyến 16, nơi hồi 1945 các nước Đồng minh quy định ranh giới cho việc giải giới quân phát xít Nhật (quân Anh ở phía Nam, quân Trung Hoa Tưởng ở phía Bắc).

    Ngày 20/7/1954, ngay trước ngày ký Hiệp định Genève, chính cũng lại Chu Ân Lai ép Phạm Văn Đồng chấp nhận việc chia cắt ở vĩ tuyến 17, dọc theo sông Bến Hải, viện cớ rằng Thừa Thiên-Huế là Cố đô, có nhiếu lăng tẩm nhà Nguyễn nên Pháp và ông Bảo Đại không chịu nhượng bộ. Lại một quả đắng phải nuốt vì trước đó Phạm Văn Đồng, Tạ Quang Bửu nhận điện của tướng Giáp từ Hà Nội… đã cò kè với phía Pháp đường chia cắt phải ở vĩ tuyến 13 (qua đèo Cả) rồi lùi về vĩ tuyến 14, 15, rồi cố giữ ở vĩ tuyến 16 (phía Nam đèo Hải Vân) như Chu Ân Lai từng hứa hẹn, mà cũng không được. Chỉ thị trước đó của Phạm Văn Đồng cho Tạ Quang Bửu khi mặc cả với phía Pháp: "không được để mất vùng Nam Ngãi Bình Phú (Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên)’’ chỉ là ý muốn hão huyền.

    Chính con dao Bắc Kinh trong bàn tay của Mao và Chu Ân Lai đã cắt đôi đất nước ta với sự đồng thuận của nhóm lãnh đạo cộng sản ở Hà Nội. Sự chia cắt độc ác ấy nằm trong chiến lược chia để trị truyền thống của các thế lực bành trưởng cũng như của thực dân, để lại những di hại lâu dài. Bắc Kinh là kẻ hưởng lợi lớn nhất tại Genève năm 1954, được nâng cao vị trí quốc tế, được tiếng là có "đóng góp nổi bật cho hòa bình ở châu Á’’, được đóng vai cường quốc thế giới.

    Thái độ cam chịu làm chư hầu cho Trung Quốc là đường lối chiến lược nhất quán xưa nay của ĐCSVN, được khẳng định trong điều lệ của Đảng kể từ năm 1960 (Đại hội III, ghi rõ lấy tư tưởng Mao làm nền tảng lý luận). Đường lối ấy chỉ tạm ngưng một thời gian ngắn khi bùng nổ mâu thuẫn Xô–Trung và chiến tranh biên giới Việt–Trung (1979), nhưng ngay sau khi ĐCS Liên xô tan vỡ (tháng 8-1991), đường lối ấy lại được khôi phục, còn mặn mà chặt chẽ hơn trước, suốt từ sau Đại hội VII (1991) đến Đại hội X, được Đỗ Mười và Lê Đức Anh bảo kê, còn kéo dài chưa biết đến bao giờ mới hết!
    Chính hai nhân vật này một mặt phải chịu trách nhiệm trong việc để Bắc Kinh lấn đất, lấn biển nước ta qua hai Hiệp định Việt–Trung 1999 và 2000, mặt khác trong việc trì hoãn ký kết Hiệp định Việt- Mỹ, cản bước Việt Nam sớm gia nhập WTO theo thâm ý của các nhà lãnh đạo ở Bắc Kinh.

    Nhắc đến thái độ bạc nhược của nhóm lãnh đạo cộng sản ở Hà Nội trước thế lực bành trướng Trung Quốc, xin nhớ ông cha ta vẫn căn dặn là phải cứng cỏi về nguyên tắc, dựa vào ý chí độc lập của toàn khối dân tộc, không thể chia rẽ, yếu đuối để họ lấn lướt "được đằng chân lân đằng đầu’’, đồng thời không khiêu khích, khôn khéo giữ hòa khí để duy trì quan hệ láng giềng bình thường và bình đẳng.

    Nhiều nhà trí thức dởm bênh che cho thái độ quỵ lụy dai dẳng của Bộ Chính trị ĐCSVN thường viện vị trí địa lý Việt Nam ở sát nước khổng lồ nên phải có thái độ biết thân phận mình, theo học thuyết địa lý-chính trị; họ lý giải: người ta không thể chọn láng giềng, đây là định mệnh (!), phải biết sống để tồn tại, cứ phải chờ, Trung Quốc đổi mới đến đâu ta đổi theo đến đấy.

    Song chẳng phải một loạt nước sống cạnh Trung Quốc, có biên giới với Trung Quốc: Ấn Độ, Miến Điện, Mông Cổ... vẫn giữ vững độc lập tự chủ đó sao? Họ đâu có thúc thủ chịu đựng cái bất hạnh địa lý–chính trị là có một nước láng giềng khổng lồ. Bản thân dân tộc Hán lớn đến vậy, luôn tự hào là Đại Hán tộc, sống từ ngàn xưa trên đất Trung Quốc, thế mà từng bị những dân tộc nhỏ bé ở Mông Cổ và Mãn Châu tràn sang thống trị thời Nguyên Mông và Mãn Thanh.

    Ngày nay, với khoa học kỹ thuật và công nghiệp quốc phòng phát triển cao, không gian và thời gian bị thu lại rất hẹp, quan hệ quốc tế trên cơ sở những giá trị của thời đại được toàn cầu hóa với tổ chức Liên Hợp Quốc, không phải dễ gì mà một nước lớn lấn áp, thống trị được một nước láng giềng, trừ phi nhóm lãnh đạo của chính nước đó dại dột tự nguyện làm chư hầu cho nước lớn.

    4. Món nợ lưu cữu của Đảng Cộng sản đối với nông dân Việt Nam

    Trong CCRĐ nông dân Việt Nam đã chịu bao nhiêu tổn thất? Theo thống kê nội bộ của ĐCS (chưa được công khai hóa), ở những vùng đã làm CCRĐ:

    · Số "địa chủ thường’’: 82.777, số quy sai: 51.480, tỷ lệ sai: 62%
    · Số "địa chủ kháng chiến’’: 586, số quy sai: 290, tỷ lệ sai: 49%
    · Số "địa chủ cường hào ác bá’’: 26.453, số quy sai: 20.493, tỷ lệ sai: 77%

    Như vậy là đã có hơn 80 ngàn gia đình địa chủ đã bị bắt bớ, đấu tố, hành hạ; mỗi gia đình có trung bình 4 đến 5 người, bị liên quan, nên số bị nạn lên đến 400 ngàn người. Họ mất nhà, mất tiền của, một số tự sát, còn sống cũng đói khổ, ốm đau, suy kiệt; khá đông gia đình bị tan vỡ, con cái thất học, bơ vơ…

    Số "cường hào ác bá’’ (bị coi là oan hay không oan) bị tù đầy, đánh đập, tra tấn rồi bị bắn lên đến hơn 26 ngàn, tính cả gia đình bị điêu đứng theo thì con số bị nạn có thể lên đến hơn 100 ngàn. Vậy là tính sơ sơ, số nạn nhân trực tiếp nói chung lên đến nửa triệu con người.

    Chưa hết, theo thống kê nội bộ, trong chỉnh đốn tổ chức được tiến hành ở 2.876 chi bộ ĐCS gồm có 15 vạn đảng viên, đã có đến 84.000 đảng viên bị xử trí (bị tù, tra tấn, xỉ vả, bị giết) chiếm 47%. Con số khủng khiếp này - nhiều hơn số địa chủ bị đấu tố - đã được giữ rất kín. Tôi có những bạn thân, đồng đội cấp trung đoàn (hồi ấy chưa có quân hàm) là trung đoàn trưởng, tỉnh đội trưởng… bị đánh rụng hết răng, mù mắt, gẫy chân; một số khi sửa sai thì đã bị lao phổi nặng do phải nằm đất ẩm, chỉ có manh chiếu rách. Số đảng viên bị tra tấn còn tàn khốc hơn dân thường vì bị coi là phần tử thù địch chui vào Đảng để phá từ bên trong. Hầu hết là đảng viên trí thức, có trình độ học vấn khá.
    Những biện pháp sửa sai đều hời hợt qua loa vì phần lớn của cải đã bị chia chác rơi vãi tan nát hết, còn người chết, tật bệnh hiểm nghèo, đau khổ không thể khôi phục nổi. Cần chỉ rõ thái độ vô trách nhiệm, đạo đức giả của lãnh đạo khi ba hoa về sửa sai "kịp thời’’, "thành khẩn’’, "hoàn thành sửa sai".

    Với thời gian nửa thế kỷ, nhìn lại cho sâu sắc, thế là cả một lớp nông dân thuộc tầng lớp trên ở nông thôn, có văn hóa và kiến thức, am hiểu sâu nghề làm ruộng truyền thống đã bị tiêu diệt nhân danh cách mạng vô sản.

    Món nợ của ĐCS vẫn chưa hết. Ngay sau CCRĐ, chưa kịp sửa sai xong, ĐCS đã ép nông dân đi vào con đường tập thể hóa nông nghiệp, theo chỉ thị của Stalin và Mao. Hợp tác xã từ bậc thấp lên bậc cao, từ hợp tác xã từng xóm thôn đến hợp tác xã toàn xã theo kiểu Công xã nhân dân Trung Quốc và nông trường xô viết ở Nga. Máu không tuôn chảy nhưng đó là con đường nghèo đói rã họng, chết dần chết mòn, suốt 25 năm từ 1960 đến 1985, nông dân chỉ sống cầm hơi nhờ mảnh đất 5% để lại cho từng hộ, trong khi 95% diện tích đưa vào tập thể không sản xuất nổi sản phẩm ngang bằng 5% kia. Mặc cho nông dân nghèo đói đến cùng cực, mặc cho vô vàn đảng viên kêu trời lên về sự phi lý ngu muội, như bí thư tỉnh ủy Vĩnh Phú Kim Ngọc bị vùi dập không thương tiếc; nông dân nhiều nơi bị dồn đến thế khốn cùng đã xé rào, tự cứu lấy mình, lúc ấy Đảng mới "sáng suốt’’, chịu mở mắt theo.

    Ngay sau khi nông dân thoát khỏi chiếc gông cùm tập thể hóa của ĐCS, được tự do sản xuất trên đồng ruộng mình sau năm 1986, lập tức sản lượng gạo nhảy vọt để Việt Nam trở thành nước sản xuất gạo hàng đầu; điều này càng chứng tỏ ĐCS đã tận tình tàn phá và bần cùng hóa nông nghiệp đến mức nào trong suốt gần 30 năm trời mụ mẫm và mù quáng.

    Cùng với tai họa khủng khiếp tập thể hóa nông ngiệp, ĐCS huy động hàng triệu thanh niên nông thôn vào quân đội nhân dân, không ít tuổi trẻ đã phải sinh Bắc tử Nam, và ngay sau đó hơn 50 vạn lính nông dân đã bỏ mạng trên đất Cambốt (với 20 vạn bị thương). Và hiện nay Đảng đang đền ơn đáp nghĩa nông dân ra sao? Biết bao mẹ anh hùng, mẹ liệt sĩ nối đuôi nhau trước các nhà "tiếp dân’’ vì ruộng đất, nhà cửa đã bị quan chức Đảng, cường hào cộng sản cướp đoạt.

    Vậy thì câu hỏi ĐCS đã trả hết nợ với nông dân hay chưa vẫn còn nguyên tính chất nóng bỏng. Đồng ruộng đất đai là sinh mạng của nông dân. Hiến pháp vẫn khẳng định ruộng đất thuộc quyền sở hữu của toàn dân. Nhà nước do ĐCS dựng nên, thay mặt toàn dân nắm quyền sở hữu ấy. Cuối cùng là ĐCS lộng quyền, tự tung tự tác, chia chác ruộng đất tùy tiện, để đến nay quan chức Đảng các cấp phần lớn trở thành những địa chủ tư sản mới, chủ nhà đất mới, phú nông mới, làm chủ đất, ruộng, rừng, hồ ao… ở khắp mọi nơi.

    Nông dân, người dân Việt ngày nay gọi các quan chức Đảng là lũ "địa tặc’’, lũ giặc cướp đất của dân; những kiện cáo, khiếu kiện về ruộng đất, nhà cửa ở khắp mọi nơi ngày càng chồng chất, một vụ chưa giải quyết đã lại nổ ra trăm ngàn vụ khác, oan khiên oán giận ngút trời, không có cách gì giải quyết nổi.

    Nhìn chung nông dân nước ta như con bò cái khỏe mạnh đã bị vắt kiệt sữa, bỏ đói dài dài, nay trơ xương, cay đắng nhìn về thành phố ra vẻ sung túc phồn vinh, ngậm ngùi về sự lạc hậu bất công, về sự phản bội lời hứa xây dựng một nông thôn xã hội chủ nghĩa tiên tiến giàu sang của ĐCS. Đây là món nợ cực lớn.

    Kết luận

    Nhìn lại cuộc CCRĐ và mối quan hệ giữa nông dân Việt nam và ĐCS trong hơn nửa thế kỷ qua, có thể kết luận đó là mối quan hệ tuyệt hảo, tốt đẹp hay chỉ là một bi kịch kéo dài. Câu hỏi nóng bỏng rút ra từ thực tế lịch sử là:

    Đến bao giờ ĐCSVN mới trả lại quyền tư hữu ruộng đất đầy đủ cho nông dân, những người đã và đang khai khẩn, lao động làm ra nông sản cho xã hội, và trả lại cho mọi tầng lớp xã hội quyền tự do đầy đủ về kinh tế, chính trị, văn hóa và tôn giáo, như trong một xã hội dân chủ văn minh?

    Đến bao giờ ĐCSVN mới trở về với nền độc lập tự chủ của dân tộc, từ bỏ thái độ thần phục nước lớn, khôi phục các vùng đất và vùng biển đã mất, để cùng nhân dân mình theo con đường phát triển đúng đắn gắn bó với thời đại dân chủ văn minh?

    Trên đây là hồi tưởng và suy nghĩ của một người từng ở trong lòng cuộc CCRĐ để quan sát và thuật lại, nhân dịp nửa thế kỷ cuộc sửa sai (tháng 10-1956). Xin chớ vội cho là tôi đã cố tình thổi phồng sự kiện, phóng đại tình hình vì cay cú không còn ở trong Đảng. Tôi đã cố giữ tinh thần trung thực của một chiến sĩ dân chủ, lấy sự thật và chỉ có sự thật làm mục tiêu và động lực tinh thần, nhằm làm cho bà con nông dân ta, tuổi trẻ và cả những người cộng sản nhìn lại một cách tỉnh táo và lương thiện về những vấn đề chiến lược: nền độc lập dân tộc và quan hệ giữa nông dân Việt nam và ĐCSVN.
    Người viết mong được nhiều ý kiến nhận xét, đối thoại và tranh luận từ mọi hướng, từ các nhà nghiên cứu ở trong nước, các viện sĩ, giáo sư, sinh viên ngành chính trị, lịch sử, triết học, kinh tế, văn hóa của Học viện Chính trị Quốc gia và Viện Khoa học Xã hội và Nhân văn, đặc biệt là từ tuổi trẻ trong và ngoài nước và bà con nông dân quý mến.

  8. #8
    Ngày gia nhập
    Jun 2009
    Nơi cư ngụ
    thành phố buồn!
    Bài gửi
    866
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    2
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)
    đau đớn thay!! sai lầm này là 1 bước thụt lùi rất lớn của đất nước!! ngày nay cần phải rút ra kinh nghiệm cho bất kì 1 cuộc cải cách nào!!
    Chẳng bao giờ xảy ra chuyện ta yêu mà người con gái không hề hay biết - ta tin rằng mình đã tỏ tình một cách rõ ràng bằng một giọng nói, một ánh mắt, một cái chạm tay nhẹ nhàng!!!

    THÀNH VIÊN ĐỘC THÂN HỘI!

  9. #9
    Ngày gia nhập
    Dec 2008
    Bài gửi
    979
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    0
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)
    Liên Xô, Trung Quốc, Việt Nam đều cũng vậy hể CS lên nắm quyền là đều có những sai lầm gây chết người hàng loạt nên trên thế giới người ta kinh tỡm CS như là một loài quỹ dữ

  10. #10
    Ngày gia nhập
    Mar 2009
    Nơi cư ngụ
    japan
    Bài gửi
    265
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    2
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)

    Trong CCRĐ nông dân Việt Nam đã chịu bao nhiêu tổn thất? Theo thống kê nội bộ của ĐCS (chưa được công khai hóa), ở những vùng đã làm CCRĐ:

    · Số "địa chủ thường’’: 82.777, số quy sai: 51.480, tỷ lệ sai: 62%
    · Số "địa chủ kháng chiến’’: 586, số quy sai: 290, tỷ lệ sai: 49%
    · Số "địa chủ cường hào ác bá’’: 26.453, số quy sai: 20.493, tỷ lệ sai: 77%

    Như vậy là đã có hơn 80 ngàn gia đình địa chủ đã bị bắt bớ, đấu tố, hành hạ; mỗi gia đình có trung bình 4 đến 5 người, bị liên quan, nên số bị nạn lên đến 400 ngàn người. Họ mất nhà, mất tiền của, một số tự sát, còn sống cũng đói khổ, ốm đau, suy kiệt; khá đông gia đình bị tan vỡ, con cái thất học, bơ vơ…

    Số "cường hào ác bá’’ (bị coi là oan hay không oan) bị tù đầy, đánh đập, tra tấn rồi bị bắn lên đến hơn 26 ngàn, tính cả gia đình bị điêu đứng theo thì con số bị nạn có thể lên đến hơn 100 ngàn. Vậy là tính sơ sơ, số nạn nhân trực tiếp nói chung lên đến nửa triệu con người.

    Chưa hết, theo thống kê nội bộ, trong chỉnh đốn tổ chức được tiến hành ở 2.876 chi bộ ĐCS gồm có 15 vạn đảng viên, đã có đến 84.000 đảng viên bị xử trí (bị tù, tra tấn, xỉ vả, bị giết) chiếm 47%. Con số khủng khiếp này - nhiều hơn số địa chủ bị đấu tố - đã được giữ rất kín. Tôi có những bạn thân, đồng đội cấp trung đoàn (hồi ấy chưa có quân hàm) là trung đoàn trưởng, tỉnh đội trưởng… bị đánh rụng hết răng, mù mắt, gẫy chân; một số khi sửa sai thì đã bị lao phổi nặng do phải nằm đất ẩm, chỉ có manh chiếu rách. Số đảng viên bị tra tấn còn tàn khốc hơn dân thường vì bị coi là phần tử thù địch chui vào Đảng để phá từ bên trong. Hầu hết là đảng viên trí thức, có trình độ học vấn khá.
    Những biện pháp sửa sai đều hời hợt qua loa vì phần lớn của cải đã bị chia chác rơi vãi tan nát hết, còn người chết, tật bệnh hiểm nghèo, đau khổ không thể khôi phục nổi. Cần chỉ rõ thái độ vô trách nhiệm, đạo đức giả của lãnh đạo khi ba hoa về sửa sai "kịp thời’’, "thành khẩn’’, "hoàn thành sửa sai". đau xót khi đọc những dòng này,đó là lý do để tôi không còn căm ghét những người tôi chưa bao giờ gặp mà họ được gọi là những nhà hoạt động dân chủ.đều là người VIỆT với nhau mà còn đối xử với nhau ác như động vật.tôi không tin dân tộc VIỆT là một dân tộc độc ác,chỉ có những con người giữ mãi lòng hận thù mù quáng

Chủ đề tương tự

  1. [Tin tức] 105 nhà báo bị giết trong khi tác nghiệp trong năm 2010 .
    By donjuan_vn in forum [Lưu trữ]Thời sự quốc tế 2010
    Trả lời: 13
    Bài mới gửi: 31-01-2011, 11:27 PM
  2. Trả lời: 2
    Bài mới gửi: 05-09-2010, 10:30 PM
  3. Trong 10 Huynh Trưởng Hướng Đạo trong ảnh; đã có 4 Trưởng là ĐVĐCSVN
    By Củ khoai in forum Tuổi trẻ : Giáo dục & Cuộc sống
    Trả lời: 4
    Bài mới gửi: 19-06-2010, 06:49 PM
  4. Trả lời: 5
    Bài mới gửi: 26-04-2010, 11:14 AM

Bookmarks

Quyền hạn Gửi bài

  • Bạn không thể gửi chủ đề
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài của mình
  •