HOANGSA.ORG ĐÃ CHUYỂN SANG DIỄN ĐÀN MỚI- DIỄN ĐÀN CŨ CHỈ ĐỂ LƯU TRỮ KHÔNG THỂ VIẾT BÀI.

ĐỂ ĐI ĐẾN DIỄN ĐÀN MỚI XIN VUI LÒNG CLICK VÀO ĐÂY HTTP://HOANGSA.ORG/F

HOANGSA.ORG ĐÃ CHUYỂN SANG DIỄN ĐÀN MỚI- DIỄN ĐÀN CŨ CHỈ ĐỂ LƯU TRỮ KHÔNG THỂ VIẾT BÀI.

ĐỂ ĐI ĐẾN DIỄN ĐÀN MỚI XIN VUI LÒNG CLICK VÀO ĐÂY HTTP://HOANGSA.ORG/F

User Tag List

Trang 1 trong 2 12 Cuối cùngCuối cùng
Kết quả từ 1 tới 10 trên 13

Hybrid View

  1. #1
    Ngày gia nhập
    Dec 2007
    Nơi cư ngụ
    Rach Gia, Vietnam, Vietnam
    Bài gửi
    492
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    0
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)

    Cán quân quân sự tại Đông Nam Á: Đang chơi trò đuổi bắt

    Chỉ tính riêng giữa các nước Đông Nam Á, Singapore đã hiện đại hóa toàn diện 3 quân chủng vũ trang của nước này và đưa cả ba lên vị trí đầu tiên - biến quốc đảo này thành một vai trò an ninh quan trọng trong khu vực.
    >> Phần 1: Hải quân Trung Quốc mạnh cỡ nào?
    Chương trình Hiện đại hóa của Đông Nam Á
    Singapore đã đầu tư không chỉ vào các chiến đấu cơ F-15SG mới, các tàu ngầm lớp Archer được trang bị thiết bị độc lập khí, và các tàu khu trục nhỏ lớp Formidable; mà còn cả vào hoạt động huấn luyện chung và tích hợp hệ thống thông tin cần thiết để cực đại hóa khả năng chiến đấu của họ. Đến năm 2012, phi đội 111 của Singapore sẽ thay thế dàn máy bay cảnh báo và kiểm soát đường không E-2C bằng các máy bay Gulfstream G550 có sức chịu đựng dài hơn được trang bị các radar EL/W-2085 tốt hơn. Mặc dù không có quyền lợi trực tiếp trong tranh chấp lãnh hải Biển Đông, Singapore là nước có nền kinh tế phụ thuộc lớn vào thương mại luân chuyển qua vùng biển này. Và những lợi ích của nước này về tự do hàng hải thường hướng theo các lợi ích tương tự của Mỹ.
    Nhưng ngoài Singapore ra, tốc độ hiện đại hóa quân sự ở Đông Nam Á trong thập niên qua không đồng đều. Nhiều nước trong khu vực đã chứng kiến tiến bộ công nghệ mà họ từng nắm giữ vượt trội so với Trung Quốc hồi đầu những năm 1990 giờ đây đang tụt lùi. Từng được ca ngợi như "những con hổ kinh tế", các quốc gia như Indonesia, Malaysia và Thái Lan đã bắt tay vào các chương trình hiện đại hóa đầy tham vọng hồi thập niên 1990, trong đó Thái Lan đã tiến đến mức có được một tàu sân bay nhỏ năm 1997. Nhưng khi cuộc khủng hoảng kinh tế châu Á tàn phá nền kinh tế của họ, nhiều nước buộc phải cắt giảm ngân sách quốc phòng và phần lớn vẫn tiếp tục cắt giảm ngân khố nhiều năm sau khi khủng hoảng kết thúc.
    Chỉ một vài nước tiếp tục đẩy mạnh các nỗ lực hiện đại hóa. Malaysia có được hai tàu khu trục nhỏ lớp Lekiu năm 1999, hai tàu ngầm lớp Scorpene năm 2009, và 18 chiếc Su-30MKM bắt đầu từ 2007. Nhưng nước này phải từ bỏ hai tàu khu trục lớp Lekiu bổ sung để đổi lấy 6 tàu tuần tra ven biển lớp Kedah ít hiệu quả hơn nhưng rẻ hơn. Và thậm chí đến bây giờ, Malaysia có vẻ đã mua được chiến đấu cơ thế hệ tiếp theo của mình, nước này đã phải trì hoãn việc mua máy bay cảnh báo và kiểm soát trên không, đồng thời cắt giảm ngân sách huấn luyện. Trong khi đó, Việt Nam đã đạt được một số tiến bộ hồi những năm 2000, đặt mua 2 tàu khu trục lớp Gepard, 10 tàu hộ tống nhỏ lớp Tarantul V, và 4 chiến đấu cơ Su-30MK2V. Tuy nhiên, việc giao các tàu này rất chậm - với chỉ 2 tàu khu trục nhỏ và 3 tàu hộ tống nhỏ hiện đang hoạt động. Mặc dù vậy, Hà Nội đã quyết định tăng tốc chương trình hiện đại hóa của mình, tăng 70% ngân sách quốc phòng và đặt mua 6 tàu ngầm lớp Kilo cùng 20 chiến đấu cơ Su-30MK2V bổ sung năm 2009.
    Tuy nhiên, Malaysia và Việt Nam là hai ngoại lệ. Đối với phần lớn khu vực, các nước Đông Nam Á đã bước vào một thời kỳ bất ổn sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á. Một số lãnh đạo lâu năm trong khu vực phải từ bỏ quyền lực, trong đó có Suharto của Indonesia và Mahathir Mohamad của Malaysia, còn Thái Lan sa vào một loạt các cuộc khủng hoảng chính trị liên tiếp. Cùng lúc đó, các phong trào phiến quân bùng nổ. Abu Sayyaf và Mặt trận Giải phóng Hồi giáo Moro trở nên hung hăng hơn ở Philippines và quân nổi dậy Hồi giáo leo thang ở miền nam Thái Lan. Ở phía nam, Indonesia hứng chịu một phong trào nổi dậy ở Đông Timor và kết quả là vùng đất này trở thành nước độc lập năm 2002. Sau đó, quốc đảo này lại bị sóng thần tấn công với 200.000 người thiệt mạng năm 2004.
    Những bất ổn nội tại triền miên như vậy đã chuyển mối quan tâm khỏi phòng thủ bên ngoài, đặc biệt là khi nhiều nhà phân tích ở Đông Nam Á tin rằng sự ràng buộc đa phương của ASEAN với Trung Quốc sẽ dẫn tới các cuộc đàm phán về tranh chấp lãnh thổ. Trên tất cả, họ chỉ ra lợi ích của Trung Quốc trong sự ổn định kinh tế khu vực sẽ làm giảm bớt tiềm năng xung đột quân sự như thế nào. Những đánh giá như vậy ngày càng nhiều sau khi Bắc Kinh ký bộ quy tắc ứng xử với ASEAN. 16 Kết quả là, sự kết hợp của các ngân sách quốc phòng thu nhỏ, hướng tập trung vào an ninh nội địa và sự lạc quan về các lợi ích của hội nhập kinh tế đã khiến các nước Đông Nam Á dành ra các nguồn lực chỉ đủ để duy trì chứ không thực sự hiện đại hóa các năng lực quân sự của họ.
    Đánh giá cán cân quân sự
    Việc Đông Nam Á không hiện đại hóa với tốc độ có thể so với Trung Quốc kể từ cuối thập niên 1990 đã làm thay đổi cán cân quân sự ở Biển Đông. Nhiều yếu tố ảnh hưởng tới sức mạnh quân sự; trong đó quan trọng nhất trong các hoạt động hải quân là địa lý và công nghệ. Ở Biển Đông, địa lý chủ yếu giúp ích cho các bên tuyên bố chủ quyền ở Đông Nam Á. Brunei, Indonesia, Malaysia, Philippines và Việt Nam là những nước nằm sát với vùng biển mà họ nhận chủ quyền, trong khi Trung Quốc cách xa hơn. Thêm vào đó, Malaysia, Philippines và Việt Nam đã vận hành các sân bay nhỏ ở quần đảo Trường Sa và gần hơn nữa trên các đảo Borneo và Palawan.
    Ảnh minh họa: diplomat

    Lợi thế địa lý đó làm tăng lợi thế về công nghệ của các nước Đông Nam Á hồi đầu những năm 1990. Trong khi không bên tuyên bố chủ quyền nào ở Đông Nam Á có thể bảo vệ toàn bộ khu vực, hợp lại họ có thể thực hiện một chiến lược từ chối tiếp cận biển mà sẽ vô hiệu hóa một nỗ lực nhằm xác nhận quyền kiểm soát lâu dài của Trung Quốc ở Biển Đông, nếu họ hòa hợp các tuyên bố lãnh hải của mình với nhau. Tuy Trung Quốc thắng cả hai trận chiến trong khu vực, cả hai đều là những trận chiến ngắn bề nổi được giải quyết bằng hỏa lực và ngư lôi. Trong trận đầu, các tàu phóng ngư lôi của Trung Quốc đã đánh chìm một tàu quét thủy lôi của Miền Nam Việt Nam và hải quân của Miền Nam Việt Nam phải rút đi sau khi Mỹ từ chối giúp đỡ; ở trận thứ 2, hai tàu khu trục nhỏ của Trung Quốc đã áp đảo 3 tàu vận chuyển quân dụng được trạng bị nhẹ của Việt Nam. Chẳng trận nào Hải quân Trung Quốc buộc phải duy trì quyền kiểm soát biển ở những khu vực mà họ chiến đấu.
    Chắc chắn, nhược điểm hoạt động lớn nhất của Hải quân Trung Quốc hồi đầu những năm 1990 là họ không có năng lực bảo vệ chính mình trước những đối thủ trên không bằng các vũ khí tầm xa. Khi đó, chỉ một ít các tàu của nước này trang bị các tên lửa đất đối không hoặc hệ thống vũ khí tầm gần. Và không một chiến đấu cơ trên mặt đất nào của lực lượng không quân thuộc Hải quân đủ tầm bay để cung cấp đầy đủ lực lượng yểm hộ trên Biển Đông. Trong khi các chiến đấu cơ của họ có thể sử dụng đường băng trên đảo Woody để tiếp nhiên liệu, không gian hạn chế gây nghi ngờ về tỷ lệ xuất kích cao. Thậm chí sau khi Hạm đội Nam Hải nhận được dàn chiến đấu cơ Su-30MK2 mới, Trung Quốc cũng khó có thể duy trì một đội tuần tra chiến đấu trên không gồm hơn 6 chiếc Su-30MK2s trên bầu trời Biển Đông cùng một lúc, do nhu cầu phải luân phiên các chiến đấu cơ được tiếp đầy đủ nhiên liệu cho đội tuần tra và thời gian bay dài từ căn cứ của họ tới Quần đảo Trường Sa. Chỉ khi Hạm đội Nam Hải chuyển đổi một số máy bay ném bom H-6D thành máy bay tiếp nhiên liệu trên không thì một phần áp lực đó mới dịu bớt. 18 Tuy nhiên, nếu không có máy bay kiểm soát và cảnh báo sớm trên không, sự phối hợp với các tàu trên biển và đánh chặn hiệu quả sẽ vẫn rất mơ hồ.
    Thế nhưng, kể từ giữa thập niên 1990, chương trình hiện đại hóa hải quân mau chóng của Trung Quốc đã mang lại cho Hạm đội Nam Hải một số tàu được trang bị vũ khí phòng thủ trên không hiệu quả, trong đó có các tàu khu trục lớp Luyang II và Luyang I cùng các tàu lớp Jiangkai II.
    Tàu khu trục lớp Luyang II được lắp các máy phóng thẳng đứng được trang bị các tên lửa đất đối không 48 HHQ-9 có tầm bắn 100km - vượt xa tên lửa hành trình đối hạm AGM-84 Harpoon phóng từ máy bay. Tàu khu trục lớp Luyang I cũng có hệ thống phóng thẳng đứng, nhưng là loại được trang bị các tên lửa đất đối không 48 SA-N-12 có tầm bắn ngắn hơn (35km). Cuối cùng, tàu lớp Jiangkai II được trang bị các tên lửa đất đối không HHQ-16. Tất cả những tàu này cũng được trang bị hai hệ thống vũ khí tầm gần Type 730, gần giống với Phalanx của Mỹ, để thủ tiêu các tên lửa hành trình đối hạm sắp đến. Trong khi việc duy trì các chiến đấu cơ trên mặt đất sẽ vẫn khó khăn về mặt hậu cần, tàu sân bay của Trung Quốc cùng với dàn chiến đấu cơ J-15, có thể cung cấp sự hỗ trợ trên không kịp thời và liên tục cho các tàu Trung Quốc hoạt động trong khu vực.
    Cùng lúc đó, hải quân Trung Quốc đã tăng cường khả năng chiến đấu trên biển bằng các tên lửa hành trình chống hạm mới. Trong khi các tên lửa hành trình chống hạm YJ-83 vẫn là một vũ khí lợi hại với tầm bắn 120km, tên lửa hành trình chống hạm YJ-62, trên các tàu khu trục lớp Luyang II, có tầm bắn thậm chí còn xa hơn, 280km. Cuối cùng, các tàu ngầm tấn công mới của Trung Quốc, chẳng hạn như tàu lớp Shang, lớp Song và lớp Yuan được biên chế cho Hạm đội Nam Hải, đều được trang bị không chỉ các ngư lôi mà còn cả tên lửa hành trình chống hạm C-801A có tầm bắn 40km.
    Căn cứ vào số lượng và tầm bắn của các vũ khí chống tàu nổi của Trung Quốc, các lực lượng trên mặt biển ở Đông Nam Á sẽ rơi vào thế bất lợi nghiêm trọng. Tên lửa MM40 Exocet tiêu chuẩn của Hải quân Malaysia có tầm bắn chỉ 70km và chỉ có hai tàu khu trục lớp Lekiu của nước này hiện được trang bị năng lực tên lửa đất đối không. Mặc dù các tàu hộ tống lớp Kedah được chế tạo phù hợp với các tên lửa hành tình chống hạm và phòng không, những hệ thống tiện ích này vẫn đang chờ đợi ngân sách trong tương lai.
    Được trang bị các tên lửa hành trình chống hạm SS-N-25 có tầm bắn 130km, các tàu khu trục lớp Gepard và các tàu hộ tống lớp Tarantul V của Việt Nam đang tạo ra một thách thức nghiêm trọng hơn cho các lực lượng của Trung Quốc trên biển. Nhưng các tàu này hạn chế về khả năng phòng không, với các tên lửa đất đối không tầm ngắn trên các tàu lớp Gepard là tinh vi nhất. Rõ ràng, các lực lượng chiến đấu trên mặt biển ở Đông Nam Á sẽ phải cân nhắc thận trọng làm thế nào tận dụng tốt nhất việc sử dụng khí thải, tiếng ồn ven biển và dữ liệu mục tiêu để tiếp cận đủ gần một lực lượng hải quân Trung Quốc, từ đó có thể phóng đủ số tên lửa nhằm chọc thủng các hàng rào phòng thủ.
    Thách thức khi đối mặt với số lượng lớn các vũ khí chống tàu nổi của Trung Quốc cho thấy tầm quan trọng của hai tàu ngầm lớp Scorpene của Malaysia và 6 tàu ngầm điện-diesel lớp Kilo của Việt Nam, đặc biệt khi sự thành thạo của Trung Quốc trong chiến tranh chống tàu ngầm vẫn chưa được cải thiện thực sự. Rất khó bị phát hiện dưới nước, các tàu ngầm của Malaysia có thể dễ dàng tiếp cận một lực lượng Trung Quốc để triển khai các tên lửa Exocet SM39 của họ - một trong số đó đó đã được thử nghiệm thành công ở tầm bắn 40km trong cuộc tập trận hồi tháng 8/2010. Và tuy vẫn chưa biết rõ vũ khí nào sẽ song hành cùng các tàu ngầm hạt nhân mới của Việt Nam, có thể đoán chúng sẽ được trang bị cùng loại tên lửa SS-N-27 tầm bắn 180km gây thương vong cao được thấy trên các tàu ngầm lớp Kilo của Trung Quốc và Ấn Độ. Trong một cuộc chiến kéo dài, các tàu ngầm của Đông Nam Á sẽ đóng một vai trò quyết định. 19
    Kiểm soát các vùng trời phía trên Biển Đông là một bài toán quan trọng khác. Nếu Hạm đội Nam Hải phải dựa vào các chiến đấu cơ Su-30MK2 để yểm trợ trên không, các tư lệnh Đông Nam Á sẽ cố gắng kéo các chiến đấu cơ Trung Quốc xa về phía nam hết sức có thể trước khi va chạm, làm tăng khó khăn về hậu cần của Trung Quốc. Từ đó, các chiến đấu cơ F/A-18 và Su-30MKM của Malaysia hoặc Su-30MKV của Việt Nam có thể tập trung tham gia và vô hiệu hóa đội tuần tra không chiến nhiều khả năng nhỏ hơn của Trung Quốc để giành ưu thế cục bộ trên không. Sau đó, họ có thể nhằm vào các máy bay của Trung Quốc cũng như vào các hệ thống trên không đang cung cấp sự giám sát vượt quá chân trời và các dữ liệu mục tiêu cho hạm đội Trung Quốc, nhờ thế, các tàu chiến Đông Nam Á có thể tiến gần để thực hiện một vụ tấn công. Trong khi các chiến đấu cơ Đông Nam Á có thể tự thực hiện một cuộc tấn công bằng tên lửa hành trình do trước tiên cần phải chọc thủng vỏ bọc trên không của Trung Quốc, các chỉ huy của họ sẽ phải cân nhắc thận trọng mọi rủi ro của việc cử các chiến đấu cơ vào trận đánh trên không khi mang các vũ khí nặng như vậy. Tuy nhiên, nếu các tàu sân bay Trung Quốc có mặt, các lực lượng không quân của Đông Nam Á sẽ đối mặt với thách thức thậm chí gay gắt hơn khi phải đánh bại một số lượng tương đương các chiến đấu cơ J-15 đã được tiếp nhiên liệu đầy đủ. Trong trường hợp đó, sự thành công của Đông Nam Á có thể xoay quanh các lực lượng không quân hành động phối hợp, vốn có thể đòi hỏi cả sự đồng thuận trước về chính trị lẫn sự luyện tập chung.
    Ngay cả khi như vậy, các chiến đấu cơ và các tàu ngầm của Malaysia và Việt Nam hoạt động từ một số nhỏ các căn cứ, tạo ra điểm yếu mà Trung Quốc có thể tận dụng. Tất cả các Su-30MKM của Malaysia đều đóng tại Gong Kedak và tất cả các tàu ngầm của nước này sẽ được đặt tại một căn cứ mới ở Vịnh Sepanggar. Tương tự, tất cả các Su-27s và Su-30MKV của Việt Nam đều tập trung tại Biên Hòa và tất cả các tàu ngầm của nước này nhiều khả năng đóng tại Cam Ranh, nơi Việt Nam mới bắt đầu chương trình nâng cấp 3 năm đối với các cơ sở sửa chữa tàu và tàu ngầm tại cảng. Những căn cứ tập trung này sẽ trở thành mục tiêu hấp dẫn cho các tên lửa đạn đạo hoặc trên không tầm xa, nếu Bắc Kinh quyết định leo thang cuộc xung đột. Mặc dù phòng không trên mặt đất của Malaysia bao gồm một số hệ thống tên lửa đất đối không Rapier, chúng chỉ được thiết kế để đáp trả các mối đe dọa độ thấp và sẽ không hiệu quả trong việc chống lại các tên lửa đạn đạo. Việt Nam sẽ có một cơ hội tốt hơn. Năm 2003, nước này đặt mua hệ thống tên lửa đất đối không S-300PMU độ cao có thể tấn công các mục tiêu nhanh với độ chính xác 70%, bao gồm các tên lửa đạn đạo. Mặc dù đơn hàng này được tin là bao gồm hai khẩu đội pháo, chỉ có một khẩu đội gồm 12 máy phóng tên lửa và 62 tên lửa đã được xác nhận, và một bức ảnh cho thấy khẩu đội pháo này được triển khai gần Hà Nội.
    Chắc chắn, căn cứ hải quân Trung Quốc ở Vịnh Yalong giúp cho Hạm đội Nam Hải dễ dàng hơn trong việc hỗ trợ các chiến dịch hải quân quy mô lớn ở Biển Đông. Với thế chủ động, hải quân Trung Quốc có thể tiến hành một cuộc tấn công từ đó để chiếm giữ các đảo tranh chấp chỉ cần sự hỗ trợ của máy bay ném bom H-6G, như một số người nghĩ. Nhưng sự thành công của một chiến dịch như vậy - nếu gặp phải kháng cự kéo dài - sẽ đòi hỏi một sự giám sát liên tục trên biển mà có thể phát hiện và phân biệt giữa các mục tiêu thù địch đang tiến đến với sự ồn ào thương mại và ồn ào ven biển. Mặc dù hải quân Trung Quốc được tiếp cận các hệ thống HF-DF trên mặt đất và các radar vượt quá chân trời cũng như các máy cảm biến trên tàu, việc kết hợp chúng để tạo ra nhận thức năng động và mạch lạc vẫn là một thách thức lớn cần phải giải quyết.
    Điều đó đặc biệt đúng khi xem xét một viễn cảnh nhiều khả năng hơn ở Biển Đông, trong đó một cuộc đối đầu trên biển leo thang, các lực lượng được báo động và được triển khai chiến đấu. Trong trường hợp đó, tính sẵn sàng về hoạt động và cấu trúc của các lực lượng cả Trung Quốc và Đông Nam Á sẽ giữ vai trò then chốt trong việc xác định tương quan lực lượng tại điểm va chạm. Căn cứ vào khoảng cách từ Vịnh Yalong tới rìa bắc của quần đáo Trường Sa, các tàu chiến thuộc Hạm đội Nam Hải từ đó sẽ phải chạy 30 giờ với tốc độ 20 knot để tập trung sức mạnh. Vì vậy, nếu các lực lượng Đông Nam Á, đặc biệt là của Việt Nam và Malaysia, duy trì vị thế sẵn sàng cao hơn, họ có thể triển khai nhanh chóng hơn để cân bằng quy mô tham gia.
    Mặc dù vậy, Trung Quốc rõ ràng đã đi một chặng đường dài để khắc phục thế bất lợi về địa lý của nước này ở Biển Đông, bằng cách đầu tư vào công nghệ với tốc độ nhanh hơn so với Đông Nam Á. Do vậy, các quốc gia Đông Nam Á giờ phải chơi trò đuổi bắt. Trong khi một số nước, chẳng hạn như Việt Nam, đã đang ở trong tiến trình hiện đại hóa vũ khí, các nước khác, chẳng hạn như Philippines, chỉ vừa mới bắt đầu.

    http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/tu...-duoi-bat.html

  2. #2
    Ngày gia nhập
    Oct 2011
    Bài gửi
    779
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    0
    Uploads
    0
    Mentioned
    6 Post(s)
    Tagged
    1 Thread(s)
    Vạn lý trường thành xây bằng tay không mà thằng Khựa nó còn làm được. Huống gì bây giờ khoảng cách dài hơn có 1000 km chẳng là gì cả đâu.
    VN. Phi, Malai có chăng cũng chỉ kiểu như IRAN nói sẽ phong tỏa eo biển HOZ và chiến thắng Mỹ + Nato thôi.
    Tốt nhất thì vũ khí cứ mua. Nhưng nên cù cưa kéo xẻ cái đã, từ từ hẵng đánh. Đợi cho thằng Mỹ nó rảnh tay và nó hồi sức cấp cứu đi đã thì có gì tính.

  3. #3
    Ngày gia nhập
    Jul 2010
    Bài gửi
    587
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    0
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)
    "và tuy vẫn chưa biết rõ những vũ khí nào sẽ song hành cùng các tàu ngầm hạt nhân mới của Việt Nam..."

    Viết lách phiêu quá đâm nhầm nhọt hết cả!
    Xin đừng tấn công cá nhân. Hãy bình luận về nội dung bài viết, đừng bình luận về người viết! Việc tấn công người khác không giúp bạn thể hiện được ý kiến của mình; nó chỉ làm tổn thương cộng đồng và làm các thành viên mất hứng thú! (học theo WP:CKCN)

  4. #4
    Ngày gia nhập
    Oct 2009
    Bài gửi
    3.116
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    3
    Uploads
    0
    Mentioned
    1 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)

    Post ASEAN thức tỉnh trước đòn thâm sâu của Bắc Kinh

    Vietnamnet - "Trước khi các lãnh đạo Trung Quốc tin quân đội của họ đủ mạnh để chiến thắng hoặc các đối thủ của họ quá yếu để kháng cự, họ sẽ tiếp tục kiềm chế đưa quân của mình vào một cuộc tấn công chính thức (ở Biển Đông)". 30 Ngày nay, điều đó vẫn đúng. Những gì thay đổi trong thời gian chuyển tiếp đó là các lực lượng Trung Quốc lớn mạnh hơn còn các lực lượng ở Đông Nam Á lại yếu đi tương đối.


    Việt Nam

    Bắt tay vào chương trình hiện đại hóa nhanh chóng năm 2009, Việt Nam rõ ràng đã tập trung vào công nghệ với một sự việc bất ngờ ở Biển Đông trong tâm trí. Không lực Việt Nam không chỉ mua các chiến đấu cơ Su-30MKV mới mà còn đặt chúng ở Biên Hòa, gần với Quần đảo Trường Sa, thay vì gần Hà Nội. Trong khi đó, hiểu rõ vị trí đứng đầu của Trung Quốc về năng lực chiến đấu trên biển, hải quân Việt Nam chọn cách không mua thêm các tàu mặt nước mà đầu tư vào các tàu ngầm lớp Kilo và các cơ sở cảng để hỗ trợ cho chúng. Và hợp đồng mua 6 tàu ngầm đảm bảo rằng ít nhất 2 tàu ngầm có thể cùng tuần tra một lúc. Một sự tính toán hoạt động tương tự có thể đã dẫn tới các cuộc đàm phán giữa Việt Nam với Nga hồi tháng 8/2011 để mua thêm các khẩu đội tên lửa bờ biển K-300P được trang bị các tên lửa hành trình P-800 Yakhont có tầm bắn 300km. Những khẩu đội tên lửa di động này hoạt động từ bờ biển Việt Nam sẽ giúp giữ cho các tàu chiến đối phương ở xa bờ, mặc dù tầm bắn của chúng không đủ bao trùm quần đảo Trường Sa.

    Việt Nam đã có nhiều bước đi hợp lý để xây dưng lại năng lực ngăn chặn quân sự thông thường ở Biển Đông. Còn nhiều việc nữa cần được thực hiện. Việt Nam sẽ làm tốt để mua thêm các khẩu đội tên lửa đất đối không S-300PMU nhằm bảo vệ cơ sở hạ tầng quốc phòng của nước này ở căn cứ không quân Biên Hòa và căn cứ hải quân Vịnh Cam Ranh. Ở một mức độ cơ bản hơn, nước này có thể cải thiện sự ẩn giấu và sự tồn tại của các cơ sở này. Điều đó có thể bao gồm các nhà chứa máy bay được gia cố chắc chắn và kho nhiên liệu, các thiết bị sửa chữa đường băng, và chuẩn bị cho các cơ sở hỗ trợ luân phiên, trong đó có các tàu tiếp liệu cho các tàu ngầm.

    Tuy nhiên, nhiệm vụ hàng đầu của quân đội Việt Nam sẽ là cải thiện tính sẵn sàng về hoạt động và cấu trúc của các lực lượng. Đối với phần đa số, điều đó đồng nghĩa với các mức độ bảo trì và huấn luyện cao hơn, nhằm đảm bảo rằng thêm nhiều nền tảng chiến đấu nữa luôn sẵn sàng hoạt động và có năng lực triển khai nhanh.

    Tuy nhiên, do kinh nghiệm duy nhất có được từ trước về tàu ngầm là các tàu ngầm nhỏ lớp Yugo mà Việt Nam mua từ Triều Tiên năm 1997, hải quân Việt Nam sẽ có một đường cong học tập gấp khi có trong tay các tàu ngầm lớp Kilo.

    Trung Quốc đã mua loạt tàu ngầm lớp Kilo đầu tiên của mình hồi những năm 1990, và nước này phải khắc phục một loạt các bài thực hành bảo dưỡng yếu kém dẫn tới hỏng hóc thiết bị. Bên cạnh đó, các thủy thủ tàu ngầm Việt Nam sẽ phải dốc sức huấn luyện về chiến tranh tàu ngầm nhiều như huấn luyện về chiến tranh trên biển để khai thác các điểm yếu của Trung Quốc. Để làm như vậy, họ có thể hợp tác với hải quân nước ngoài, chẳng hạn như Nhật Bản, nước đặc biệt thành thạo về chiến tranh chống tàu ngầm.

    Đối với không quân Việt Nam, họ sẽ cần tăng cường số giờ bay cho các phi công Su-27SK và Su-30MKV cũng như phối hợp các bài huấn luyện chiến đấu thực tế hơn nữa. Họ cũng cần bổ sung các năng lực radar vượt quá đường chân trời và HF-DF trên đất liền, hoặc cân nhắc mua thêm các tài sản giám sát, chẳng hạn như máy bay tuần tra biển có hệ thống chỉ huy và cảnh báo sớm trên không, để đảm bảo rằng các chỉ huy hải quân và không quân của nước này có thể cực đại hóa việc sử dụng các lực lượng nhỏ hơn của họ.

    Tuy nhiên, có thể thách thức lớn nhất của Hà Nội là thanh toán chi phí hoàn tất và duy trì các hợp đồng mua vũ khí hạng nặng mới.

    Chi phí hoạt động hàng năm của một tàu ngầm điện-diesel có thể ngốn trung bình hàng chục triệu đôla. Các khoản này cộng với phí tổn hàng năm chắc chắn sẽ kéo căng ngân sách quốc phòng của Việt Nam.

    Philippines

    Với phần lớn Quần đảo Trường Sa nằm cách bờ biển Philippines chỉ vài trăm kilomet, nước này có vị thế tốt để bảo vệ các tuyên bố chủ quyền của mình ở Biển Đông. Tuy nhiên, Philippines gần như không có khả năng làm điều đó. Sau nhiều thập niên chiến đấu chống quân phiến loạn trên toàn quốc đảo, quân đội nước này đã hoàn toàn hướng vào an ninh nội địa. Phụ thuộc nặng nề vào hiệp ước quốc phòng chung với Mỹ để bảo vệ bên ngoài, Philippines đã để cho không quân và hải quân nước này sa sút. Cũng giống như Hà Nội, Manila đã thừa nhận cần phải hiện đại hóa các lực lượng thường của mình, nhưng cho đến gần đây vẫn chưa dành hết các nguồn lực để thực hiện cải tổ.


    Ảnh minh họa: diplomat

    Vào cuối năm 2005, Philippines đã ngừng hoạt động các chiến đấu cơ F-5A cuối cùng của nước này, khiến cho đất nước không còn chiến đấu cơ phản lực nào nữa. 10 năm trước đó, các máy bay này đóng một vai trò trong việc khẳng định chủ quyền của Philippines ở Quần đảo Trường Sa khi Trung Quốc bất ngờ chiếm bãi đá ngầm Mischief. Lúc đó, không quân Philippines triển khai các chiến đấu cơ tới Puerto Princesa trên Đảo Palawan, nơi họ có thể yểm hộ hải quân Philippines khi họ dỡ các cột mốc Trung Quốc khỏi 4 mỏm đá và bãi cát ngầm khác.
    Hải quân Philippines cũng trong tình cảnh tương tự. Khi họ vận hành hàng chục tàu tuần tra ven biển hỗ trợ các lực lượng chống phiến quân của quân đội, nòng cốt của hạm đội ngoài khơi của nước này là 3 tàu hộ tống lớp Jacinto mua của Anh sau khi Anh giải tán đội tàu chiến Hongkong.

    Mãi cho tới gần đây, chiến hạm quan trọng khác duy nhất của Hải quân là Rajah Humabon, một tàu khu trục hộ tống có từ thời Thế chiến II. Được trang bị các súng 76mm và không hề có tên lửa hành trình chống hạm hoặc hệ thống phòng thủ chống tên lửa, các tàu này hạn chế về giá trị trong chiến đấu hải quân hiện đại.

    Mặc dù vậy, vào cuối năm 2010, rất ít người tin quân đội Philippines có thể đạt được thành tích đáng kể trước khi bắt đầu Chương trình Nâng cấp Năng lực 2012-2018. Nhưng sự quyết đoán mới của Trung Quốc ở Biển Đông đã làm thay đổi điều đó. Năm 2011, Manila đã mua 2 tàu hạng Hamilton của Mỹ đã nghỉ phục vụ. Mặc dù các tàu này có chi phí bảo trì cao và được trang bị vũ khí không hơn các tàu hộ tống lớp Jacinto, chúng từng được trang bị các tên lửa hành trình chống hạm Harpoon RGM-84 và thiết bị phát hiện tàu ngầm, và hải quân Philippines sau này có thể trang bị thêm khi có tiền.

    Hơn nữa, các tàu này có thể cung cấp cho Hải quân Philippines các hệ thống radar tìm kiếm trên không chuyên dụng đầu tiên của họ cùng các nền tảng trực thăng trên tàu đầu tiên, vốn sẽ cung cấp 2 trực thăng hạng nhẹ giúp mở rộng các năng lực giám sát của các tàu. Tuy vậy, các tàu này không có hệ thống phòng không cơ bản và do đó sẽ đòi hỏi lực lượng yểm hộ phải hoạt động hiệu quả trong chiến tranh hiện đại.

    Bất chấp các hợp đồng gần đây, chương trình hiện đại hóa quân sự của Manila vẫn ở giai đoạn sơ khởi. Vào đầu năm 2011, hải quân Philippines mua các thiết kế cho một lớp các tàu tuần tra xa bờ biển từ Bộ tư lệnh đặc trách Hệ thống Hải lực Hải quân Mỹ, loại cung cấp sự hỗ trợ về bảo trì và máy móc cho Hải quân Mỹ. Trong khi đó, không quân Philippines vừa mới bắt đầu phác ra các kế hoạch mua một phi đội máy bay đa năng mới chế tạo. Đến nay, các chiến đấu cơ F/A-18 và MiG-29 đã được đề cử là các ứng viên thích hợp, nhưng một lựa chọn nhiều khả năng hơn sẽ là F-16C/D rẻ hơn nếu như ngân sách lại bị thu hẹp.

    Quan trọng không kém, không quân Philippines không nên bỏ qua việc mua các máy bay tuần tra biển có sức chịu đựng lâu để có thể giám sát liên tục gần Quần đảo Trường Sa, do thời gian bay từ các căn cứ không quân chính ở Luzon rất dài.

    Chắc chắn nếu Manila theo đuổi đến cùng cam kết mới của nước này nhằm thu về các mặt hàng quân sự trong 5 năm tới, không quân và hải quân Philippines có thể phục hồi sức mạnh. Nhưng những đơn hàng như vậy cần được xem xét thận trọng, không chỉ qua lăng kính của các hoạt động không quân và hải quân, mà còn với sự am tường về mức phí tổn để duy trì các lực lượng thông thường trong thời gian dài. Một lựa chọn mà Manila có thể theo đuổi sẽ là tối đa hóa lợi thế về vị thế địa lý của mình đối với Quân đảo Trường Sa, và đương đầu với thách thức kiểm soát biển ở Biển Đông bằng một lối tiếp cận bất đối xứng. Thay vì đối đầu với các lực lượng Trung Quốc với các lực lượng tương đương, họ có thể làm điều đó bằng một chiến lược được xây dựng xung quanh các hàng rào phòng thủ ven biển vốn có chi phí mua và bảo trì ít tốn kém hơn.

    Đảo Palawan chỉ cách 450km từ các phần xa nhất của quần đảo Trường Sa mà Philippines nhận chủ quyền. Các tên lửa di động từ mặt đất, chẳng hạn như RGM-84L Harpoon của Mỹ, BrahMos PJ-10 của Ấn Độ, hoặc các tên lửa hành trình chống hạm P-800 Yakhont của Nga có tầm bắn khoảng 300km, có thể khống chế hầu hết các vùng biển tranh chấp. Hai hoặc ba khẩu đội tên lửa như vậy được đặt trên các xe bánh xích và nằm rải rác dọc hệ thống đường bộ dài có thể phóng ra hỏa lực tập trung mà Philippines thiếu hụt, trong khi làm giảm khả năng Trung Quốc có thể đánh chặn họ bằng một cuộc không kích hoặc một cuộc tấn công tên lửa đạn đạo. Các lực lượng này sẽ không phải đối mặt với các lợi thế của Trung Quốc về công nghệ vũ khí phòng không hoặc chống hạm. Tất nhiên, những hàng rào phòng thủ ven biển như vậy đòi hỏi các máy bay tuần tra biển phải cung cấp những phát hiện vượt quá đường chân trời cùng các dữ liệu theo dõi mục tiêu và sự phối hợp cần thiết để phóng một loạt tên lửa đồng thời. Nhưng do tầm phát hiện hơn 600km của hệ thống chỉ huy và cảnh báo sớm trên không AN/APS-145, một chiếc E-2C vận hành nó có thể tuần tra tốt trong không phận Philippines và có các hệ thống tên lửa đất đối không bảo vệ nó từ mặt đất.

    Philippines sau đó có thể gia cố cấu trúc phòng thủ ven biển nòng cốt đó bằng một số lượng nhỏ các chiến đấu cơ giành ưu thế trên không và các tàu có sức chịu đựng cao. Một khái niệm chiến lược như vậy sẽ làm giảm bớt sự cần thiết phải đặt mua, bảo dưỡng và đào tạo một lực lượng không quân và hải quân có chi phí cao hơn và lớn hơn mà sẽ được cần đến để phóng ra một lượng hỏa lực tương đương để chọc thủng các hàng rào phòng thủ của hải quân Trung Quốc ở Biển Đông.

    Các bên tuyên bố chủ quyền khác ở Đông Nam Á

    Brunei và Malaysia cũng có những tuyên bố chủ quyền ở Quần đảo Trường Sa, trong khi Indonesia có một tuyên bố chủ quyền chồng lấn với Trung Quốc xa hơn về phía nam. Nhưng rơi vào bất ổn nội địa trong hơn một thập niên, Indonesia không hiện đại hóa quân đội một cách thích hợp kể từ những năm 1990. Tuy danh sách vũ khí của không quân nước này bao gồm 10 chiến đấu cơ F-16A/B, 5 chiếc Su-27SK, và 5 chiếc Su-30MK fighters, hầu hết đều đáng ngờ về khả năng phục vụ. Trong khi đó, hải quân Indonesia chủ yếu được trang bị các tàu khu trục và máy bay tuần tra đã lỗi thời với các radar tìm kiếm có tầm phát hiện hạn chế đến mức chúng chỉ vượt quá tầm bắn của các tên lửa hành trình chống hạm. Chỉ sau khi hải quân Indonesia tiếp nhận chiếc cuối cùng trong 4 tàu khu trục lớp Sigma mới năm 2009 thì họ mới cải thiện một cách khiêm tốn năng lực chiến đấu hải quân. Trong khi đó, khả năng phóng sức mạnh ra Biển Đông của Brunei là rất nhỏ.

    Trong số các bên khác tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông, Malaysia có lực lượng hải quân và không quân hiện đại nhất. Tuy nhiên, thách thức hoạt động lớn nhất của nước này nằm ở số lượng hạn chế các nền tảng chiến đấu. Do đó, nước này cần cực đại hóa tất cả các nền tảng, có nghĩa là phải trang bị thêm cho các tàu ngầm lớp Scorpene bằng động cơ đẩy độc lập khí để mở rộng khả năng tuần tra dưới nước của chúng. Và cũng giống Việt Nam, nước này cần tập trung vào cải thiện tính sẵn sàng về hoạt động và cấu trúc của hải quân và không quân.

    May cho Malaysia, nước này có các căn cứ hải quân và không quân gần Kota Kinabalu và Labuan mà có thể tạo điều kiện thuận lợi cho việc triển khai nhanh chóng các lực lượng vào Biển Đông. Thêm vào đó, các tàu hậu cần lớp Sri Indera Sakti được thiết kế để hỗ trợ các tàu chiến hải quân triển khai trước tới các cảng dân sự dọc bờ biển Borneo. Nhưng việc hoàn thành căn cứ hải quân mới ở Vịnh Sepanggar, cách Kota Kinabalu 12km về phía bắc, liên tục bị trì hoãn sau 12 năm xây dựng. Tuy vậy, hải quân và không quân Malaysia đã tăng cường các cuộc tập trận trong khu vực, và sẽ tổ chức một cuộc tập trận chung lớn dựa trên một sự kiện bất ngờ ở Biển Đông năm 2012. Những nỗ lực như vậy nhằm nâng cao tính sẵn sàng phải tiếp tục với cường độ ngày càng lớn nếu các lợi thế của Trung Quốc được bồi đắp.

    Kết luận

    Với cách hành xử quyết đoán hơn của Trung Quốc ở Biển Đông trong những năm gần đây, các bên tuyên bố chủ quyền ở Đông Nam Á phải nhận ra họ đang đối mặt với một thách thức lớn. Các năng lực quân sự của họ không thể được tái thiết ngày một ngày hai và các tình trạng khẩn cấp về kinh tế hoặc chính trị có thể làm trật bánh các kế hoạch hiện đại hóa đã được sắp đặt rất tốt của họ. Do các nỗ lực hiện đại hóa của Trung Quốc đã gặt hái được lợi ích của 15 năm đầu tư thích hợp, hải quân và không quân nước này sẽ có một lợi thế quyết định đối với các nước khác ở Đông Nam Á, cho đến khi các chương trình hiện đại hóa của họ có thể đạt được tiến bộ xa hơn.

    Một khi tàu sân bay mới của Trung Quốc và dàn chiến đấu cơ của nó đi vào hoạt động đầy đủ, hải quân Trung Quốc sẽ vượt qua được những bất lợi về công nghệ và địa lý trước đó của họ ở Biển Đông. Để đối phó, các nước Đông Nam Á sẽ phải tìm cách khắc phục khó khăn tài chính của việc hiện đại hóa quân đội, tận dụng lợi thế về vị thế nằm gần khu vực tranh chấp, và cực đại hóa tính sẵn sàng về hoạt động và cấu trúc của các hàng rào phòng thủ.

    Tuy nhiên, cho đến khi các quốc gia Đông Nam Á có thể cải thiện được sức mạnh quân sự của mình thì chỉ ảnh hưởng từ một cường quốc bên ngoài mới có thể khôi phục sự cân bằng. Vì thế, một khi các thành viên chủ chốt của ASEAN thay đổi đánh giá của họ về các ý định của Trung Quốc, thì không ngạc nhiên mấy khi họ chấp nhận sự dính dáng nhiều hơn của Mỹ vào tranh chấp khu vực. Đối với Mỹ, nước này phải thận trọng khi mang mãi phần lớn gánh nặng cân bằng. Nước này cũng phải tránh bị kéo vào một cuộc tranh đua với Trung Quốc để giành các đồng minh ở Đông Nam Á thông qua viện trợ kinh tế và quân sự - một chính sách phát sinh ra tham nhũng và nhờ vả trong thời Chiến tranh Lạnh. Tuy hoàn cảnh này mang lại cho Mỹ một cơ hội để củng cố các mối quan hệ trong khu vực, nước này sẽ phải thận trọng để không sa vào những sắp xếp kém linh hoạt mà vô tình kéo căng quá mức các lực lượng của nước này, đặc biệt là vào lúc bắt đầu của một thời kỳ mà chi tiêu quốc phòng của Mỹ có thể sụt giảm. Điều quan trọng nhất mà Mỹ có thể làm cho các nước Đông Nam Á là giúp họ tự bảo vệ mình thông qua các hợp đồng vũ khí tăng dần và tư vấn quân sự.

    Cách đây 15 năm, tôi dám chắc trong tạp chí Orbis rằng: "Trước khi các lãnh đạo Trung Quốc tin quân đội của họ đủ mạnh để chiến thắng hoặc các đối thủ của họ quá yếu để kháng cự, họ sẽ tiếp tục kiềm chế đưa quân của mình vào một cuộc tấn công chính thức (ở Biển Đông)". Ngày nay, điều đó vẫn đúng. Những gì thay đổi trong thời gian chuyển tiếp đó là các lực lượng Trung Quốc lớn mạnh hơn còn các lực lượng ở Đông Nam Á lại yếu đi tương đối. Nhiều yếu tố góp phần tạo nên thực trạng này, trong đó có các thời kỳ khó khăn kinh tế, bất ổn chính trị, và sự lạc quan rằng các ý định về lãnh thổ của Trung Quốc có thể được kiềm chế bằng cách xã hội hóa các quy chuẩn đa phương của ASEAN. Mãi gần đây các nước ASEAN mới hoàn toàn thức tỉnh trước sự thay đổi cán cân quân sự và trước sự thâm sâu trong quyết tâm của Bắc Kinh ở Biển Đông. Việc họ kiểm soát phản ứng đối với những thách thức này giờ đây sẽ tác động một cách nghiêm trọng đến khả năng bảo vệ các lợi ích lãnh thổ của họ trong những năm sắp tới.

    Thanh Hảo dịch theo viet-studies

  5. #5
    Ngày gia nhập
    Jul 2009
    Bài gửi
    410
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    0
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)
    vnn có bài viết mạnh bạo ghê nhỉ, nói thẳng Việt Nam mua đồ chủ yếu là để chiến với Trung Quốc, không biết một lát nữa có bị gỡ xuống không đây.

  6. Thanks vietthuong thanked for this post
  7. #6
    Ngày gia nhập
    Oct 2009
    Bài gửi
    3.116
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    3
    Uploads
    0
    Mentioned
    1 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)
    Việt Nam đã tự tin đối với vấn đề Biển Đông rồi! Xu hướng hiện tại, Mỹ đang ra roi với TQ cũng là cơ hội để VN cũng cố quốc phòng tại Biển Đông.

  8. #7
    Ngày gia nhập
    Mar 2011
    Bài gửi
    3.776
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    1
    Uploads
    0
    Mentioned
    6 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)
    Chi phí hoạt động hàng năm của một tàu ngầm điện-diesel có thể ngốn trung bình hàng chục triệu đôla. Các khoản này cộng với phí tổn hàng năm chắc chắn sẽ kéo căng ngân sách quốc phòng của Việt Nam.
    Phí tiền quá, năn nỉ anh Ngố cho xin 1 chân tham gia vào sx tàu ngầm đi, chứ đắt đỏ thế này thì sao chịu thấu ??
    1 kinh nghiệm ở HSO: Nick dưới 200 bài viết thường là nick clone :p

  9. Thanks vietthuong thanked for this post
  10. #8
    Ngày gia nhập
    Aug 2011
    Bài gửi
    1.705
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    0
    Uploads
    0
    Mentioned
    1 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)
    "Trong khi đó, hải quân Indonesia chủ yếu được trang bị các tàu khu trục và máy bay tuần tra đã lỗi thời với các radar tìm kiếm có tầm phát hiện hạn chế đến mức chúng chỉ vượt quá tầm bắn của các tên lửa hành trình chống hạm."

    Ông viết bài này chắc đã quên hay không biết đến sự lợi hại của Indonesia đã nâng cấp tên lữa Yakhont trên chiến hạm củ kỷ lỗi thời hiện chưa có nước nào trong khối ASEAN có tàu chiến mang tên lữa có tầm bắn 300km mà nó lại là tên lữa Yakhont 1 tên lữa có uy tín và nổi tiếng với sự lợi hại của nó lại được mang trên chiến hạm.Ông thử tưởng tượng ra đối đầu với địch có tàu chiến mang tên lữa Yakhont ntn!!!

    Bệ phóng Yakhont trên biển(04/08/2011 1326) - Indonesia là nước thứ 3 sở hữu loại tên lửa siêu âm đời mới Yakhont. Điều đặc biệt, Indonesia triển khai các tên lửa này từ trên chiến hạm lớp Ahmad Yani cũ kỹ.

    Hải quân Indonesia lắp đặt tên lửa Yakhont lên chiến hạm lớp Ahmad Yani.
    Vị trí lắp đặt Yakhont ở bên hông nhà chứa máy bay trực thăng
    Nắp ống phóng tên lửa Yakhont.
    Yakhont trên Siahaan 354 đã diệt tàu mục tiêu ở khoảng cách 250km.


    Tag: http://vntime.vn/QuocTe-QuanSu/KhiTa...-3e8aad57.htmlHải quân các nước ASEAN, Hải quân Indonesia, Tên lửa siêu âm chống hạm

  11. Thanks vietthuong thanked for this post
  12. #9
    Ngày gia nhập
    Jun 2011
    Bài gửi
    476
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    0
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)
    mua vũ khí tốn rất nhiều tiền, lại còn fai bảo dưỡng nó nữa,, Tốn ko bít bao nhiêu tiền cho vừa,

  13. Thanks vietthuong thanked for this post
  14. #10
    Ngày gia nhập
    Oct 2009
    Bài gửi
    3.116
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    3
    Uploads
    0
    Mentioned
    1 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)
    ASEAN, nhất là Việt Nam, Philippine có ít nhất là 5 năm để chuẩn bị cho cuộc chiến Biển Đông. Đó là thời gian Khựa làm chủ TSB.

Bookmarks

Quyền hạn Gửi bài

  • Bạn không thể gửi chủ đề
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài của mình
  •