HOANGSA.ORG ĐÃ CHUYỂN SANG DIỄN ĐÀN MỚI- DIỄN ĐÀN CŨ CHỈ ĐỂ LƯU TRỮ KHÔNG THỂ VIẾT BÀI.

ĐỂ ĐI ĐẾN DIỄN ĐÀN MỚI XIN VUI LÒNG CLICK VÀO ĐÂY HTTP://HOANGSA.ORG/F

HOANGSA.ORG ĐÃ CHUYỂN SANG DIỄN ĐÀN MỚI- DIỄN ĐÀN CŨ CHỈ ĐỂ LƯU TRỮ KHÔNG THỂ VIẾT BÀI.

ĐỂ ĐI ĐẾN DIỄN ĐÀN MỚI XIN VUI LÒNG CLICK VÀO ĐÂY HTTP://HOANGSA.ORG/F

User Tag List

Kết quả từ 1 tới 5 trên 5
  1. #1
    Ngày gia nhập
    Apr 2011
    Bài gửi
    911
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    0
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)

    Gặp Hoàng Sa ở Lý Sơn

    Cách đất liền 18 hải lý, đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi) trông xa như một chiến hạm nổi giữa trùng khơi. Chiến hạm ấy đang chở trên mình nó 21.000 số phận. Họ là những hậu duệ của Đội hùng binh Hoàng Sa lừng lẫy một thời, đang ngày đêm canh giữ một góc trời phía đông của Tổ quốc.

    Chiến hạm nổi giữa biển Đông

    Lý Sơn không chỉ được biết đến như một “vương quốc” của loại đặc sản nổi tiếng là tỏi, mà hòn đảo ấy đang trầm tích trong lòng nó những điều kỳ diệu về lịch sử và văn hóa của một vùng đất khắc nghiệt nhưng cũng rất đỗi kiêu hùng. Tất cả những gì mà các nhà nghiên cứu phát hiện trên đảo Lý Sơn hôm nay là minh chứng sống động về quá trình mở cõi, chinh phục biển Đông của cha ông ta cách đây 4 thế kỷ. Những ai lần đầu đặt chân lên hòn đảo này đúng vào dịp diễn ra Lễ Khao lề thế lính (16 tháng 3 âm lịch hằng năm) sẽ được gặp một Hoàng Sa bàng bạc trên mỗi lá cây ngọn cỏ, trong mỗi câu hát, điệu hò của người dân nơi đây.

    Đối với mỗi người dân Lý Sơn, Hoàng Sa chưa bao giờ lặng gió trong lòng họ. Ngọn lửa yêu nước, yêu Hoàng Sa đã được Đội hùng binh thắp sáng từ hơn 300 năm trước vẫn được con cháu trên “chiến hạm nổi” ấy duy trì cho đến hôm nay.



    Núi Thới Lới - nơi có miệng núi lửa lớn nhất của đảo Lý Sơn - Ảnh: Trần Đăng
    Từ Cù lao Ré…
    Đối với mỗi người dân Lý Sơn, Hoàng Sa chưa bao giờ lặng gió trong lòng họ. Ngọn lửa yêu nước, yêu Hoàng Sa đã được Đội hùng binh thắp sáng từ hơn 300 năm trước vẫn được con cháu trên “chiến hạm nổi” ấy duy trì cho đến hôm nay
    Đi từ cảng Sa Kỳ bằng tàu cao tốc mất khoảng một tiếng là có thể đặt chân lên đảo Lý Sơn. Một hành khách cùng đi nói với chúng tôi rằng, loại tàu khách này mới đưa vào sử dụng được 4-5 năm nay thôi, ngày trước mà đi Lý Sơn chỉ có “tàu chợ”, phải mất 3 giờ mới tới, khách nằm lẫn với đủ các loại thực phẩm mắm muối dầu đèn, có cả âm thanh từ những chú heo, chị gà, anh vịt xấu số ra đảo để hiến tế nữa. Mất có 3 tiếng mà ai cũng rên, chả bù với ông bà mình ngày xưa đi bằng thuyền nan mỏng manh, giương buồm lên đợi gió, ấy thế mà đảo Lý Sơn chẳng lúc nào vắng bóng người. Thế mới biết, khát vọng chinh phục biển Đông luôn là nỗi canh cánh trong lòng người xưa.

    Tiến sĩ khảo cổ học Đoàn Ngọc Khôi (Bảo tàng Quảng Ngãi), thành viên của nhóm khảo cổ tham gia khai quật di chỉ Suối Chình ở Lý Sơn, cho biết những hiện vật thu được từ đợt khảo cổ cách nay hơn 10 năm đã gửi cho hậu thế nhiều thông điệp thú vị từ ngàn xưa, rằng từng có một thời, Lý Sơn là nơi giao thương giữa các chủ nhân của nhiều nền văn hóa, có cả Đông Sơn xen với Sa Huỳnh; có Champa lẫn với một số nền văn minh ở Đông Nam Á. Các lớp gốm cổ từ những nền văn hóa ấy được xếp chồng lên nhau qua các hố đào thám sát, chứng tỏ chủ nhân của Lý Sơn đã có mặt từ rất sớm và định cư qua rất nhiều thế hệ tại đây.

    Cái tên Cù lao Ré có lẽ xuất hiện cùng lúc với con người có mặt trên hòn đảo này. Hòn đảo có nhiều cây ré, đặt “chết” tên luôn, thế thôi. Có người hỏi: Sao không gọi Cù lao Tỏi, hay đảo Tỏi mà là Cù lao Ré? Đơn giản là vì cây tỏi, cây hành, dù được xem là “thương hiệu” của Lý Sơn hiện nay nhưng chúng có mặt sau cây ré mọc hoang. Loài cây vô dụng này đã dần dần nhường chỗ cho nhiều loại cây trồng hữu dụng khác nên bây giờ, cây ré rất khó tìm ở Lý Sơn nhưng cái tên Cù lao Ré thì vẫn “sống” trong lòng mỗi người dân đất đảo.

    Cánh đồng tỏi Lý Sơn - Ảnh: Trần Đăng

    …đến đảo Lý Sơn


    Truyền thuyết của người Cor ở huyện Trà Bồng (Quảng Ngãi) kể rằng, sau cơn rùng mình của tạo hóa từ thuở hồng hoang, một dãy núi từ huyện vùng cao này đã văng ra và trôi dạt trên biển, tạo nên đảo Lý Sơn bây giờ. Thực ra thì đảo Lý Sơn được hình thành từ 5 miệng núi lửa: hòn Thới Lới, hòn Vung, hòn Giếng Tiền, hòn Tai và hòn Sỏi. Có lẽ đây là đảo duy nhất ở Việt Nam vẫn còn nguyên 5 miệng núi lửa khổng lồ. Trong lịch sử tồn tại của mình, Lý Sơn chưa thấy ai lý giải vì sao lại mang tên như thế? Sơn thì là núi, dĩ nhiên rồi, vậy Lý có nghĩa gì? Chịu! Chỉ biết rằng, 5 ngọn núi lửa ấy đã “rùng mình” từ hàng triệu năm trước để làm nên một Lý Sơn xinh đẹp hôm nay. Riêng đảo Bé, một trong hai đảo của Lý Sơn, thì có lẽ được “tách ra” và trôi dạt từ đảo Lớn. Bằng chứng dễ nhận ra nhất là ở đảo Bé không có miệng núi lửa nào, không có nước ngầm, hình như chúng bị “rỗng ruột” thì phải. Mưa được hạt nào xuống đảo là trôi tuột luôn ra biển. Vì vậy, người dân đảo Bé sống hoàn toàn dựa vào nước trời. Mấy trăm năm khai phá đảo Bé nhưng chỉ có 100 nhà còn trụ lại với đảo là vì thế.

    Gần 20 năm trước, đảo Lý Sơn là hai xã của huyện Bình Sơn nên tên đầu của hai xã này đều là “Bình”: Bình Vĩnh, Bình Yến - hai cái tên lạ hoắc với gốc gác của Đội hùng binh Hoàng Sa! Cho đến khi Lý Sơn được tách riêng ra thành một huyện độc lập vào năm 1993, hai xã của đảo mang lại tên mà ông bà xưa đã ra đảo khai khẩn đặt tên cho làng: An Vĩnh, An Hải, thêm một xã của đảo Bé mang tên An Bình. An Vĩnh, An Hải là tên của hai làng thuộc xã Tịnh Kỳ, huyện Sơn Tịnh (Quảng Ngãi). 13 tộc họ đầu tiên ra khai khẩn Lý Sơn, phần lớn là dân Tịnh Kỳ. Có lẽ để nhắc con cháu sau này luôn nhớ về gốc gác của mình, các bậc tiền bối khai sơn phá thạch Lý Sơn đã mượn tên làng cũ để đặt tên cho làng mới.

    Tên làng tên xã có thể thay đổi theo từng giai đoạn nhưng lịch sử khai phá đảo Lý Sơn thì vẫn vẹn nguyên. Chưa dừng lại ở hòn đảo này, những cư dân đầu tiên vùng Sa Kỳ có mặt ở Lý Sơn cũng đã mạnh dạn giong buồm thêm 2 ngày 2 đêm nữa để được đặt dấu chân mình lên một vùng đất khắc nghiệt hơn: Bãi cát vàng có tên là Hoàng Sa. Sách Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn có đề cập đến việc chinh phục Hoàng Sa của người dân vùng Sa Kỳ - Lý Sơn vào thời “đầu bản triều”, tức là từ khi Chúa Nguyễn Hoàng trấn nhậm phương Nam vào khoảng cuối thế kỷ 16 đầu thế kỷ 17. Như vậy là, khi cha ông ta chinh phục Hoàng Sa thì Lý Sơn trở thành “chiến hạm nổi”, đóng vai trò là “trạm trung chuyển” trong hành trình xuyên đại dương, vừa là nơi “tiếp sức” lương thảo để ra khơi vừa là nơi cung cấp “nhân sự” gồm những con người can trường và đầy kinh nghiệm biển cả để có thể đương đầu với những bất trắc trong những cuộc hải hành dài ngày trên biển. (còn tiếp)
    Trần Đăng - Đỗ Hùng - Hiển Cừ
    Theo thanhnien
    Cái đáng mừng là ai cũng muốn nước ta mạnh giàu lên, mọi người đều bày tỏ sự sục sôi trước những biến động trên biển Đông. Điều đó nói lên rằng dù khó khăn, chật vật nhưng lòng yêu nước của dân ta không hề nguội lạnh !


    "Nguyên Phó thủ tướng Vũ Khoan"

  2. Thanks anh2 thanked for this post
  3. #2
    Ngày gia nhập
    Mar 2008
    Nơi cư ngụ
    Tp.Hồ Chí Minh
    Bài gửi
    4.477
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    189
    Uploads
    153
    Mentioned
    2 Post(s)
    Tagged
    5 Thread(s)

    Gặp Hoàng Sa ở Lý Sơn: Trời nước mênh mông

    “Hoàng Sa trời nước mênh mông/Người đi thì có mà không thấy về. Câu ca trên đã song hành cùng người dân Lý Sơn hàng trăm năm nay như một minh chứng cho sự có mặt của ông bà ta tại dải cát vàng Hoàng Sa từ rất lâu rồi.



    Thả thuyền tượng trưng trong lễ khao lề - Ảnh: Đ.Hùng
    Ông Nguyễn Đăng Vũ, Giám đốc Sở VH-TT-DL Quảng Ngãi, tác giả của luận án tiến sĩ xuất sắc về các phong tục văn hóa miền biển, có một phát hiện khá lý thú về Lý Sơn sau nhiều năm đi điền dã để lấy tư liệu làm luận án. Theo ông Vũ, các bà mẹ ở Lý Sơn hát ru con toàn những câu ca dao liên quan đến Hoàng Sa, điều rất khác biệt với các bà mẹ ở đất liền: “Hoàng Sa mây nước bốn bề/Tháng hai khao lề thế lính Hoàng Sa”; hoặc “Hoàng Sa đi có về không/Lệnh vua sai phải quyết lòng ra đi”... Ông hỏi chúng tôi có biết vì sao như vậy không? Rồi tự trả lời: “Văn học dân gian, trong đó có ca dao tục ngữ là tấm gương phản chiếu những gì gan ruột nhất, máu thịt nhất và cũng ám ảnh nhất về những công việc của người dân nơi đó. Lý Sơn có cây tỏi, cây hành, có khai thác hải sản; tuy nhiên, thu hút toàn bộ tâm lực của người dân hòn đảo này suốt mấy trăm năm qua vẫn là chinh phục Hoàng Sa. Để ý mà xem, những câu ca dao nói về việc ra Hoàng Sa của dân Lý Sơn đều mang âm hưởng bi hùng nhưng tuyệt nhiên không hàm chứa một sự phản kháng nào. Đó là điều hiếm gặp trong ca dao khi đề cập đến việc “chấp hành mệnh lệnh cấp trên” thời phong kiến. Là bởi, việc sai phái binh phu ra Hoàng Sa của vua thời ấy đã song trùng với tâm nguyện chinh phục biển Đông của người dân ở đảo Lý Sơn này”.
    Chinh phục
    Kể từ khi trấn nhậm phương Nam cuối thế kỷ 16, Chúa Nguyễn đã nghĩ ngay đến việc “ra Hoàng Sa”. Các thư tịch cổ của triều Nguyễn cũng như những ghi chép của Lê Quý Đôn trong Phủ biên tạp lục hoặc Hoàng Việt địa dư chí của Phan Huy Chú đều đề cập khá tỉ mỉ về những cuộc chinh phục Hoàng Sa này. Theo đó, hằng năm, các Chúa Nguyễn đã sai người tuyển 70 dân đinh giỏi nghề đi biển ở hai làng An Vĩnh và An Hải vùng cửa biển Sa Kỳ, sau này là dân đinh ở hai phường An Hải và An Vĩnh của đảo Lý Sơn giương buồm theo gió nồm vượt sóng ra Hoàng Sa. Cứ tháng 2 nhận lệnh ra đi, tháng 8 trở về cửa Eo (cửa Thuận An) để nộp cho kinh thành Huế các loài hải sản quý hiếm và các vật dụng thu lượm được từ những con tàu buôn bị đắm và trôi giạt vô đảo. Cụ ông Võ Hiển Đạt, người gác miếu Hoàng Sa hơn 60 năm nay ở đảo Lý Sơn, tác giả của những chiếc thuyền câu vừa được phục dựng đang trưng bày tại Bảo tàng Quảng Ngãi, lý giải về những cuộc ra đi của các binh phu Lý Sơn bằng những chiếc thuyền câu này: “Thuyền nhẹ và nhỏ nên chỉ chứa trên 10 người, không dùng chèo đâu, chèo chi nổi! Tất cả đều dùng buồm, lựa con nước và hướng gió mà đi. Bây giờ thuyền máy, chạy thẳng một lèo là tới nơi chứ thời ông bà mình đi bằng thuyền câu này, có những lúc nhìn thấy đảo rồi nhưng gặp hôm trời trở chứng, đổi hướng gió, buộc phải giương buồm lèo lái thuyền đi đường vòng, có khi hai ba ngày sau mới đặt được chân lên đảo”.
    Quan sát chiếc thuyền câu mà cha ông ta đi Hoàng Sa được phục dựng tại Bảo tàng Quảng Ngãi, rồi nhìn những chiếc thuyền được cách điệu, thả trôi trên biển trong Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa đủ để hình dung những gian truân mà ông bà mình phải vượt qua sau khi “nhận lệnh vua sai”! Trước khi đi Hoàng Sa, mỗi người lính phải chuẩn bị cho mình ngoài 6 tháng lương thực còn có 7 đòn tre, 7 sợi dây mây, một đôi chiếu, một thẻ bài có ghi tên họ, bản quán… Hành trang này không báo hiệu một chỉ dấu bình yên nào cho người ra đi cả. Mỗi binh phu đều tiên liệu cho mình cái chết nên mới chuẩn bị những thứ hành trang như thế để nhỡ khi gặp nạn trên đường thì đồng đội bó xác lại rồi thả xuống biển với hy vọng là trong đất liền sẽ biết được tông tích của người xấu số khi vớt xác. Dù đầy bất trắc dọc đường nhưng dấu chân của những binh phu Lý Sơn hầu như đặt lên tất cả các hòn đảo trong quần đảo Hoàng Sa. Không chỉ tìm bắt hải sản đơn thuần mà nhiệm vụ thiêng liêng hơn là họ đo đạc hải trình, vẽ bản đồ Hoàng Sa và dựng bia cắm mốc chủ quyền lãnh hải quốc gia ngoài đó. Không phải ngẫu nhiên mà tại Hoàng Sa, nhiều hòn đảo đã mang tên những vị anh hùng trong đội hùng binh như đảo Hữu Nhật, đảo Quang Ảnh - những cai đội lừng lẫy một thời chinh phục Hoàng Sa là người Lý Sơn này. Nhà sư Thích Đại Sán người Trung Quốc, sau khi đi xứ Đàng Trong về, đã có những ghi chép khá tỉ mỉ về “dải cát vàng” Hoàng Sa được người Việt chinh phục, đặc biệt ông vô cùng thán phục về công năng của chiếc thuyền câu, một phương tiện đi biển độc đáo của người Việt, có thể chạy nhanh gấp 10 lần so với tàu gỗ nặng nề nếu “thuận buồm xuôi gió”.
    Và một lễ hội độc đáo
    Những rủi ro luôn đón chờ các binh phu chinh phục Hoàng Sa. Họ được ví như những chàng Kinh Kha một đi không trở lại. Tri ân họ, và cũng là để “trấn an” những chàng trai trẻ của Lý Sơn trước lúc lên đường, người dân hòn đảo này tổ chức một lễ hội mang tên Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa, hay còn được gọi bằng một tên khác, thay chữ “thế lính” bằng “tế lính”. Khi nói “thế lính” là dùng để chỉ các bước tiến hành của buổi lễ mà ở đó, thầy pháp (phù thủy) bằng phép thuật của mình đã “yểm” vào các hình nhân thế mạng cũng như các con thuyền cách điệu là sẽ phải “chết thế” (thế lính) cho số binh phu sắp lên đường. Còn nói “tế lính” là để chỉ việc tri ân những người đã bỏ mạng ngoài Hoàng Sa hoặc “tế sống” những người sắp lên đường. Tháng 3 là tháng cúng thanh minh của các làng nhằm tưởng nhớ những bậc tiền hiền đã có công khai hoang lập ấp và những linh hồn không nơi thờ phượng. Dân Lý Sơn đã kết hợp “việc lề” này làm lễ “khao quân” trước khi các binh phu lên đường ra Hoàng Sa.
    Khác với nhiều lễ hội khác, lễ khao lề ở Lý Sơn độc đáo ở chỗ nó gắn liền với việc chinh phục Hoàng Sa của ông bà, nghĩa là gắn liền với chủ quyền lãnh hải của đất nước, nhưng đây là lễ hội không có sự “dài tay” của chính quyền mà là do các bô lão trong làng định liệu. Lễ (phần hội gồm đua thuyền, ném cù, dồi bòng…) được cắm trong lòng nhân dân nên nó bền lâu, được người dân duy trì mấy trăm năm qua mà không hề bị mai một. Nếu nói bằng chứng về chủ quyền Hoàng Sa thì lễ khao lề ở Lý Sơn là một “bằng chứng” phi vật thể không thể chối cãi. Vì thế, với người dân Lý Sơn hôm nay, duy trì lễ khao lề cũng đồng nghĩa với việc duy trì sự khẳng định chủ quyền bất di bất dịch của Việt Nam ở Hoàng Sa vậy.

    theo TNO

    Đem Đại Nghĩa để thắng Hung tàn, lấy Trí Nhân để thay Cường bạo!

  4. #3
    Ngày gia nhập
    Mar 2008
    Nơi cư ngụ
    Tp.Hồ Chí Minh
    Bài gửi
    4.477
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    189
    Uploads
    153
    Mentioned
    2 Post(s)
    Tagged
    5 Thread(s)

    Gặp Hoàng Sa ở Lý Sơn - Kỳ 3: Những hình nhân chết thế

    “Lệnh vua sai phải quyết lòng ra đi”. Để vững lòng người đi, người dân Lý Sơn đã nghĩ ra một cách: bắt hình nhân phải “chết thế”, bắt các thuyền bằng giấy phải “chìm thay”!

    Những thầy pháp ở Lý Sơn giữ vai trò rất quan trọng trong việc bắt hình nhân phải “chết thế - chìm thay” này. Thầy pháp như điểm tựa tâm linh của lính Hoàng Sa trong mỗi đợt xuất quân. Ở Lý Sơn hiện nay có hai thầy pháp, một là ông Võ Văn Toại ở thôn Đông, xã An Vĩnh; hai là ông Nguyễn Trung Thành, tục gọi là Nữ, quê thôn Tây, xã An Hải. Cả hai ông hiện đã ngoài 75 tuổi nhưng còn rất minh mẫn và tráng kiện. Ông Toại đang sinh sống ở Lý Sơn, còn ông Thành thì đã vào Đồng Nai từ hơn 30 năm nay nhưng hễ đến dịp Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa, ông lại lên tàu về quê tham gia “hâm nóng” bầu không khí của buổi tế lễ rất quan trọng trong đời sống tâm linh của hơn hai vạn dân trên hòn đảo này.
    “Cứ lên thuyền, đã có người chết thế rồi!”
    Ông Nữ mặc áo lụa đỏ, có khi lụa xanh, đầu đội mũ tam sơn, tay cầm mõ và một thanh kiếm bằng… nhung, mắt quắc, miệng lầm rầm câu thần chú, rồi chợt hét vang những tiếng “gọi hồn”. Một bên là đám quân sĩ, đầu đội khăn điều, tay cầm mác có quấn cờ đuôi nheo, mặt rất căng thẳng, tập trung cao độ để nghe câu chú của thầy pháp; một bên là tiếng ốc u vang lên từ một “nghệ nhân” của làng. Âm thanh réo rắt phát ra từ ốc u, vừa như “gọi bầy”, lại vừa như thúc quân ra trận. Tất cả hòa quyện trong một không gian cô đặc đầy huyền nhiệm. Ông Nữ giải thích một phần nội dung của câu chuyện gọi hồn: “Trước hết là “mời” các ông ấy (vong hồn lính Hoàng Sa) về dự bữa với con cháu hôm nay. Trong phần “thế lính” còn có câu chuyện “yểm” vào các hình nhân, mỗi hình nhân tương ứng với một người lính ra đi, mỗi chiếc thuyền bằng giấy tương ứng với một thuyền câu.
    Các hình nhân và thuyền giấy này được xem như là người (vật) sẽ chết thay, chìm thay cho số binh phu chuẩn bị lên đường”. Nhìn khuôn mặt ông Nữ khi đọc thần chú rồi tay ông cầm bó nhang “vẽ” lên không trung, có cảm giác như ông đang làm một công việc nặng nhọc là trút đi nỗi lo toan sợ hãi của những binh phu sắp lên đường ra Hoàng Sa vì phải luôn đối mặt với những bất an suốt trong suốt chuyến hải hành. Vì vậy, nhìn vào điệu bộ và những câu “chú” của thầy pháp, những người lính ra Hoàng Sa có thể rất an lòng vì đã có người chết thế cho mình rồi! Cũng là một “liệu pháp tinh thần” thế thôi, vì hơn ai hết, dân Lý Sơn cảm nhận được những gì mà con em họ phải nếm trải mỗi khi lên đường. “Hoàng Sa trời nước mênh mông/Người đi thì có mà không thấy về” là vậy.

    Thầy pháp Nguyễn Trung Thành tại lễ khao lề năm 2010 - Ảnh: Trần Đăng
    Những gì còn lại
    Trong số 70 binh phu được tuyển chọn để ra Hoàng Sa mỗi năm thuở ấy, trừ những “cựu binh” dạn dày trận mạc như Đặng Văn Siểm, Nguyễn Văn Hùng... là được đi vài lần, tất cả những người còn lại đều là “trai tân” mới lớn và đi lần đầu. Quy định của các vua triều Nguyễn đối với những binh phu ra Hoàng Sa là con thứ và chưa lập gia đình mới được đi, con trưởng phải ở nhà để lo thờ phụng tổ tiên. Ngay trong nội dung của quy định này đã hàm chứa những tiên báo về một sự rủi ro rất lớn cho người ra đi. Người ta không muốn nỗi đau mất mát trùm thêm lên cả vợ con của người xấu số nên phải chọn những chàng trai chưa lập gia đình là vì thế.
    Dù đã được “trấn an” bằng một buổi “thế lính” đượm chất bi hùng và huyền hoặc, dù đã được các hình nhân thế mạng cho mình trong lễ khao lề rồi nhưng phần lớn những chàng trai ra đi ngày ấy đều không trở lại. 6 tháng phải đương đầu với thời tiết khắc nghiệt ở Hoàng Sa, lại phải thường xuyên chống chọi với gió bão bất thường trong quá trình lênh đênh trên biển, câu chuyện được trở về đoàn tụ với gia đình đã trở nên quá xa vời với họ. Phần lớn trong số họ, hoặc là gửi xác giữa biển khơi, hoặc là nằm lại với Hoàng Sa. Thời mà quần đảo này còn chưa “nổi sóng” như hiện nay, ngư dân Lý Sơn đi đánh bắt hải sản ngoài ấy đã phát hiện rất nhiều ngôi mộ bằng đất nằm rải rác trên các đảo. Chính những binh phu xấu số ấy đã hóa thân thành những cột mốc biên cương nơi Hoàng Sa từ thuở nào rồi.
    Tưởng nhớ những binh phu đã hy sinh vì nghĩa lớn mà không tìm thấy xác, người dân Lý Sơn đã nghĩ ra việc đắp các ngôi mộ gió để tưởng vọng họ. Hàng trăm ngôi mộ gió đã tồn tại trên đất đảo như một phần máu thịt không thể thiếu của người dân trên hòn đảo này. Như đã nói ở trên, các thầy pháp giữ một vai trò quan trọng trong việc trấn an quân sĩ trong lễ khao lề. Tuy nhiên, nhiệm vụ của họ chưa phải đã kết thúc sau buổi lễ mà sẽ còn được tiếp tục với nhiều nghi thức đậm màu bi ai khi phải “an táng” những hình nhân bằng đất sét trong các ngôi mộ gió.
    Sau 6 tháng mà không thấy con em mình trở về, người nhà đi rước thầy pháp và tiến hành các thủ tục cho người xấu số. Trước tiên là lên núi Giếng Tiền để lấy đất sét về trộn với bông gòn, bỏ vô cối giã thật nhuyễn để nặn hình nhân. Bông gòn có tác dụng “kết nối” đất sét lại với nhau mà không làm cho hình nhân bị nứt. Thầy pháp lấy thân cây dâu làm xương, lấy hạt cây đu đủ tía làm tim, gan cho hình nhân. Xong các công đoạn, hình nhân được bỏ vào một chiếc quách nhỏ, thầy pháp bắt đầu gọi hồn về để hồn “nhập” vào xác hình nhân. Hồn nhập xong, hình nhân được mang ra nghĩa địa.
    Ông Võ Văn Toại là đời thứ 8 của dòng họ Võ ở thôn Đông, xã An Vĩnh chuyên nặn hình nhân trong các ngôi mộ gió. Nghe ông lý giải ý nghĩa của từng “nguyên liệu” để đưa vào “nội tạng” của hình nhân, chúng tôi chợt nhận ra rằng vì sao cây dâu vẫn tồn tại và song hành với người dân Lý Sơn hàng trăm năm qua dù nghề nuôi tằm dệt vải không có ở hòn đảo này; bỗng hiểu vì sao Lý Sơn đất chật người đông như thế mà người dân vẫn dành một phần ít ỏi của quỹ đất để cho các ngôi mộ gió tồn tại. Với họ, đó như là nghĩa trang liệt sĩ dành riêng cho những binh phu đi Hoàng Sa thuở trước, con cháu hôm nay cần phải chăm sóc và giữ gìn.
    Mộ gió là những gì còn lại sau mỗi chuyến đi của những binh phu xấu số. Nhưng không hẳn vậy, ở phía xanh mờ nơi Hoàng Sa kia, những cột mốc chủ quyền của Tổ quốc đã được chính những binh phu ấy dựng lên bằng xương máu của mình. Có lẽ, đó mới là những gì còn lại để chúng ta suốt đời ơn nghĩa họ.
    theo TNO

    Đem Đại Nghĩa để thắng Hung tàn, lấy Trí Nhân để thay Cường bạo!

  5. Thanks thanhnamonline thanked for this post
    Likes thanhnamonline liked this post
  6. #4
    Ngày gia nhập
    Aug 2009
    Bài gửi
    315
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    0
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)

    Thật đáng trân trọng lòng yêu nước của dòng họ Đặng ở đảo Lý Sơn

    http://www.thanhnien.com.vn/pages/20120424/gap-hoang-sa-o-ly-son-ky-4-bang-chung-day.aspx

    Nhiệm vụ của báo ,đài là phải tuyên truyền sâu rộng cho bạn bè quốc tế hiểu về chủ quyền chính đáng của VN ;Mỗi người dân là một đại sứ quảng bá cho chủ quyền Hoàng Sa - Trường Sa



  7. Thanks nguyenthuychienthan, vnphong1 thanked for this post
  8. #5
    Ngày gia nhập
    Aug 2010
    Bài gửi
    787
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    0
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)
    Sao đưa có mỗi cái link ko vậy,

    Hoàng Sa là lãnh thổ của Việt Nam, điều đó là bất biến. Nếu có ai đó hỏi “bằng chứng đâu?”, xin thưa: “Nó đây, “sổ đỏ” của Hoàng Sa đây!”.

    >> Kỳ 3: Những hình nhân chết thế
    “Sổ đỏ” đó chính là Tờ lệnh điều quân ra Hoàng Sa có từ thời Minh Mạng được dòng họ Đặng ở thôn Đồng Hộ xã An Hải, huyện đảo Lý Sơn gìn giữ từ năm 1834 đến năm 2009, đúng 175 năm. Có thể xem đây là “bằng chứng” sống động nhất về chủ quyền của nước ta tại Hoàng Sa.
    Bằng cách nào mà dòng họ Đặng giữ được báu vật ấy một cách nguyên vẹn trong điều kiện có quá nhiều đổi thay của thời cuộc suốt 175 năm qua cũng như sự khắc nghiệt của thiên nhiên nơi vùng đất này? Đó là câu chuyện đậm chất truyền kỳ mà sự cẩn trọng, chỉn chu của người giữ nó không thôi chưa đủ, cần phải có một ý thức rất cao về lòng yêu nước, yêu Hoàng Sa thì mới thực hiện được.
    Lần giở trước đèn
    Trên đường ra Chùa Hang, di tích văn hóa cấp quốc gia của Lý Sơn, trước khi gặp biển, rẽ trái theo con đường làng một quãng ngắn là gặp nhà thờ họ Đặng ở thôn Đồng Hộ. Đó là gian nhà ngói khiêm nhường nhưng ấm cúng, nép mình dưới hàng cây cổ thụ sum suê lá xanh và rực đỏ hoa giấy mùa này. Họ Đặng không phải là tộc họ lớn ở Lý Sơn, song có một nhân vật của dòng họ này đã thành “giai thoại” của làng. Đó là Đặng Văn Siểm, người đời sau ví ông như con kình ngư của biển khơi. Cũng nghe “đồn đoán” vậy thôi chứ chẳng có tài liệu nào đề cập đến nhân vật này. Cho đến mùa hè năm 2009, khi thấy Đặng Văn Siểm được nêu tên trong “Tờ lệnh”, lại được giao làm đà công thì dòng họ Đặng mới biết thêm về tổ tiên mình.

    Trao Tờ lệnh cho Bộ Ngoại giao - Ảnh: Trần Đăng
    Ông Đặng Tôn, trưởng tộc họ Đặng, là người chăm sóc hương hỏa đồng thời cũng là người duy nhất được dòng họ giao cho chìa khóa giữ chiếc rương có đựng “tài liệu quý”. Chữ Hán của ông Tôn chỉ đủ nhận mặt nhất nhị tam tứ ngũ nên ông chẳng biết gì về nội dung của các tài liệu toàn chữ Hán được cha ông trao lại đang để trong chiếc rương nọ. Theo di chúc của tổ tiên, họ Đặng quy định phải 20 năm mới được mở chiếc rương một lần. Chủ yếu là xem thử có mối mọt hao khuyết gì không để còn khắc phục. Năm 2004, ông Đặng Tôn mất, em trai ông là Đặng Lên được phép “kế tục” anh trai. Ông Lên nhớ lại: “Tôi được biết là chiếc rương kia đã được mở vào các năm 1939, 1959, 1979, 1999, đúng như quy ước của dòng họ. Lẽ ra đến năm 2019 thì mới được mở nhưng năm 2009, chỉ 10 năm sau lần mở cuối cùng, tôi xin phép dòng tộc được mở rương”. Hỏi ông Lên vì sao lại “phá lệ”? Ông nghiêm trang nói: “Hình như có ai đó mách bảo rằng, chiếc rương ấy đang mang trong lòng nó một sứ mệnh nên tôi quyết định xin phép được mở ra. Và đúng là như thế”.
    Kể từ năm 2005, ngư dân Lý Sơn liên tục bị Trung Quốc bắt bớ và đòi tiền chuộc mỗi khi họ ra Hoàng Sa đánh cá, với lý do là vi phạm chủ quyền của Trung Quốc. Nghe giọng điệu ấy, ông Lên tức lắm. Linh cảm đã mách bảo với ông rằng, tài liệu trong chiếc rương kia có thể giúp được gì chăng trong việc khẳng định chủ quyền của nước ta tại Hoàng Sa. Và rồi ông quyết định sắm một lễ cúng để “xin phép” tiên linh mở rương nhân lệ cúng xuân tháng 4.2009. Đó không phải là lần đầu tiên ông Lên chứng kiến mở chiếc rương nhưng việc “lần giở” báu vật của tiền nhân lần này, lòng ông rộn lên nỗi niềm khó tả! Gần như tập tài liệu vẫn còn nguyên nếp gấp, còn thơm mùi mực, như thể ông bà dòng họ Đặng cất chúng vào rương vừa mới hôm qua. Ông sai đứa cháu sao chụp toàn bộ tài liệu nọ và tìm người dịch giúp. Bản dịch cho biết đó là Tờ lệnh điều động binh phu ra Hoàng Sa năm 1834, trong đó, ông Đặng Văn Siểm được giao làm đà công! Dòng họ Đặng rồi cả đảo Lý Sơn, rồi tỉnh Quảng Ngãi và cả nước như sôi lên với tài liệu này.
    Ý thức của dòng tộc
    Ông Đặng Lên nói: “Một lần nữa tôi biết ơn tiền nhân dòng họ Đặng đã giữ được báu vật này cho đất nước. Phải rất có ý thức thì mới giữ được, vì suốt 300 năm qua, bao lớp trai làng trên đảo Lý Sơn ra Hoàng Sa, có rất nhiều tờ lệnh điều động nhưng chỉ giữ được có mỗi một tờ này. Ông cha chúng tôi đã để tài liệu ấy vào chiếc rương bằng gỗ tra bể, một loại danh mộc gần như thất truyền ở Lý Sơn này”. Cũng theo ông Lên, nếu để Tờ lệnh vào chiếc rương bằng loại gỗ khác, e có khi đã hỏng lâu rồi. Tra bể là loại gỗ chống mối mọt và giữ được độ ẩm cao, bảo vệ được lớp giấy dó và chữ viết trên đó còn nguyên vẹn.
    Nghe phát hiện “sổ đỏ” cho Hoàng Sa, nhiều cuộc điện thoại “trong bóng đêm” đã tới tấp gọi về nhà ông Lên và xin mua với giá 2 tỉ đồng. Ông Lên đã chối từ và cấp báo sự việc trên với tỉnh Quảng Ngãi. Lập tức một tiểu đội cảnh sát cơ động được cấp tốc điều ra đảo để giữ Tờ lệnh và đợi ngày chuyển vào đất liền để giao cho Bộ Ngoại giao. Lần đầu tiên dân Lý Sơn mới nhìn thấy sắc phục của cảnh sát cơ động trên đảo, không phải để “trấn áp tội phạm” hay xử lý “nóng” các vụ đâm chém mà là để bảo vệ Tờ lệnh. Thế mới biết, giá trị và ý nghĩa của Tờ lệnh như thế nào.
    Trước ngày đưa Tờ lệnh vào đất liền để hiến cho Nhà nước, dòng họ Đặng lại có một đêm mất ngủ. Các bà, các cô, các chị trong làng đã tề tựu về đây để cùng với con cháu họ Đặng “cúng cơm” xin ông bà cho phép được hiến báu vật ấy cho quốc gia. Trên mâm cỗ cúng ông bà hôm ấy, người ta lại thấy bày ra những món ăn quen thuộc dành cho lính Hoàng Sa thuở trước. Này là bánh nổ - một loại lương khô khá đặc thù của Quảng Ngãi, nọ là bánh thuẩn, kia là bánh ít lá gai… Đây là những loại bánh dùng làm lương khô, có thể để lâu ngày trên thuyền đi biển mà không sợ hỏng. Cách thức làm những thứ bánh đó được những người đàn bà trên đảo Lý Sơn gìn giữ hết đời này sang đời khác. Gìn giữ và “truyền đời” các loại bánh đó cho con cháu như lưu ký những kỷ niệm của tổ tiên và cũng là hâm nóng Hoàng Sa, là gieo vào lòng thế hệ trẻ hôm nay để chúng biết rằng hiện vẫn còn một góc trời của Tổ quốc nơi Hoàng Sa đang nằm trong tay kẻ khác.
    Đáp lại sự hiến dâng đó của dòng họ Đặng, mới đây, đại diện Bộ Ngoại giao đã về tận Lý Sơn để trao cho tộc họ Đặng tấm bằng khen của Bộ. Thay mặt dòng tộc, ông Đặng Lên cảm ơn sự quan tâm đó đồng thời kiến nghị, nên làm cách nào đó để cho Tờ lệnh được “cựa quậy”, được phát huy tác dụng về giá trị của nó trong việc đòi lại chủ quyền đối với Hoàng Sa chứ không nên biến nó thành một thứ “hàng mẫu” trưng bày trong viện bảo tàng.
    Tờ lệnh là bằng chứng về chủ quyền tại Hoàng Sa là điều không bàn cãi nữa. Nhưng, với thế hệ hậu bối của dân Lý Sơn, họ có một “tờ lệnh” khác cho riêng mình mà không cần bất cứ một ấn chỉ nào. Đó là tấm lòng của con cháu đối với Hoàng Sa, để mỗi khi nổ máy rời bến tàu, các mũi thuyền lại hướng về quần đảo ấy, bất chấp những tai ương đang chờ đón họ.

  9. Thanks thanhnamonline, anh2 thanked for this post
    Likes thanhnamonline liked this post

Bookmarks

Quyền hạn Gửi bài

  • Bạn không thể gửi chủ đề
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài của mình
  •