HOANGSA.ORG ĐÃ CHUYỂN SANG DIỄN ĐÀN MỚI- DIỄN ĐÀN CŨ CHỈ ĐỂ LƯU TRỮ KHÔNG THỂ VIẾT BÀI.

ĐỂ ĐI ĐẾN DIỄN ĐÀN MỚI XIN VUI LÒNG CLICK VÀO ĐÂY HTTP://HOANGSA.ORG/F

HOANGSA.ORG ĐÃ CHUYỂN SANG DIỄN ĐÀN MỚI- DIỄN ĐÀN CŨ CHỈ ĐỂ LƯU TRỮ KHÔNG THỂ VIẾT BÀI.

ĐỂ ĐI ĐẾN DIỄN ĐÀN MỚI XIN VUI LÒNG CLICK VÀO ĐÂY HTTP://HOANGSA.ORG/F

User Tag List

Trang 4 trong 8 Đầu tiênĐầu tiên ... 23456 ... Cuối cùngCuối cùng
Kết quả từ 31 tới 40 trên 78
  1. #31
    Ngày gia nhập
    Oct 2010
    Bài gửi
    1.484
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    0
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    1 Thread(s)
    Phi công Mỹ cũng hèn hạ như phi công Đức: bắn vào dù đối phương.

  2. #32
    Ngày gia nhập
    May 2009
    Bài gửi
    2.718
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    6
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)
    Tôi cho rằng, nếu chỉ nói về những phi công đánh ngày mà không nói đến lực lượng đánh đêm thì quả là thiếu sót lớn. Tôi cũng từng bay đêm một thời gian nên tôi hiểu cái vất vả riêng của bay đêm, của cái “thân vạc thân cò” ấy. Tuy bả đêm, đánh đêm, nhưng các phi công bay đêm vẫn tham gia trực chiến ban ngày, vẫn xuất kích chiến đấu, vẫn đánh nhau như các phi công bay ngày. Tôi lấy một số trận như sau : biên đội 3 chiếc gồm Nguyễn Đăng Kính, Phạm Văn Mạo và Nguyễn Hồng Nhị ( anh Kính và anh Mạo là phi công bay đêm ) xuất kích từ sân bay Thọ Xuân – Thanh Hóa vào khu vực Đô Lương – Nam Đàn của tỉnh Nghệ An. Đây là trận đánh đầu tiên của Đại đội bay đêm ở chiến trường khu Bốn. Biên đội của ta đã không chiến với biên đội F-8 của địch. Anh Nguyễn Hồng Nhị đã bắn rơi 1 chiếc F-8 của địch, nhưng sau đó máy bay của anh cũng bị trúng đạn, anh đã phải nhảy dù. Trận ấy xảy ra ngày 1 tháng 8 năm 1968.
    Hơn 2 tuần sau, biên đội Đinh Tôn, Nguyễn Văn Minh cũng xuất kích chiến đấu từ sân bay Thọ Xuân, được dẫn dắt vào khu vực Đô Lương không chiến với biên đội F-4 của địch và anh Nguyễn Văn Minh đã bắn rơi 1 chiếc F-4..
    Sân bay Thọ Xuân – Thanh Hóa là sân bay cơ động được đón tiếp nhiều biên đội trực ban chiến đấu nhất và cũng là căn cứ để xuất kích chiến đấu vào hoạt động ở các khu vực thuộc khu Bốn nhiều nhất. Giai đoạn ấy, hầu như địch làm chủ bầu trời từ khu Bốn trở vào. Các sân bay ta ở Vinh, Anh Sơn, Đồng Hới … thường xuyên bị đánh phá. Máy bay của ta bay vào trong đó chỉ cần bay với độ cao hơi cao một chút là bị phát hiện và tên lửa đối không Ta-los của địch từ Hạm đội ngoài biển Đông bắn lên liền. Cũng đã có mấy trường hợp máy bay ta bị trúng tên lửa Ta-los, phi công phải nhảy dù rồi. Ta gặp rất nhiều khó khăn khi cơ động đến các sân bay ở phía trong đó. Cũng vì vậy, hầu hết những chuyến xuất kích chiến đấu đều được tổ chức từ Thọ Xuân.
    Sang tháng 9, biên đội Đinh Tôn, Vũ Đình Rạng xuất kích từ sân bay Thọ Xuân bay vào khu vực Đô Lương – Nghệ An không chiến với biên đội 4 chiếc F-8 của địch. Trong trận này, Vũ Đình Rạng bị bắn rơi, phải nhảy dù.
    Vài ngày sau, biên đội Nguyễn Đăng Kính, Nguyễn Cát A xuất kích từ sân bay Đa Phúc lên đánh chặn máy bay không người lái và anh Kính đã bắn hạ chiếc không người lái ấy trên bầu trời Thanh Hóa.
    Cũng ở tháng 9 này, sau một thời gian gấp rút bay huấn luyện ban đêm, Đại đội bay đêm đã tổ chức trực ban chiến đấu ban đêm ở sân bay Đa Phúc và phi công trực ban chiến đấu ban đêm đầu tiên là anh Đặng Xây..
    Ngày 26 tháng 10, biên đội Nguyễn Đăng Kính, Vũ Xuân Thiều xuất kích từ sân bay Thọ Xuân được dẫn vào khu vực Đô Lương. Sở chỉ huy thông báo có 2 chiếc F-4 bay thấp từ hướng cửa Lò vào. Cùng lúc ấy, trạm chỉ huy bằng mắt thông báo tiếp là chúng đã đến cầu Cấm và lấy hướng về phía Nam. Anh Kính dẫn đội lấy hướng 180 độ và tăng tốc độ bay. Hôm ấy, lượng mây Cu khoảng 6 – 7 phần ( mây Cu là loại mây đống và nếu chia bầu trời ra làm 10 phần thì hôm ấy lượng mây Cu chiếm 6-7 phấn ), đáy mây 800 m, đỉnh mây 4000 m. Sau khi lấy hướng 180 độ thì biên đội phát hiện được 2 chiếc F-4 bay từ phía trái qua phải, ở cự li chừng 4-5 km. Biên đội bật tăng lực tiếp cận. Khi bay vào mây, Thiều đã lạc mất đội. Sở chỉ huy dẫn Thiều quay về trước. Anh Kính tiếp tục bám theo biên đội F-4. Khi đang ngắm bắn thằng số 2 thì nó bỗng đảo chiều, bay sang phía bên kia. Anh Kính ngắm luôn vào thằng số 1 và ấn nút phóng tên lửa. Thằng số 1 cháy bùng, lao thẳng xuống địa phận Hương Khê – Hà Tĩnh.
    Thời gian sau đó ( vào khoảng tháng 12 ) thì trung đội của tôi bước vào bay đêm. Trung đội tôi có anh Nguyễn Văn Thuận là trung đội trưởng, rồi các anh trung đội viên là Nguyễn Cát A, Vũ Xuân Thiều, Trần Ngọc Nhuận và tôi. Anh Nhuận sớm phải rời bỏ đời bay về tiếp tục học Đại học vì lí do sức khỏe. Anh bị bệnh viêm hành tá tràng, rồi chảy máu dạ dày (tức là cả một hệ thống đường tiêu hóa như hệ thống đường bộ của Cục đường bộ - Bộ giao thông vận tải) đều có vấn đề. Vậy là còn lại có 3 trung đội viên. Trung đội trưởng Thuận là người chơi vi-ô-lông khá hay. Khi còn học bay ở bên Nga, anh đã từng lên sân khấu biểu diễn. Anh muốn tất cả các trung đội viên của anh cũng phải biết chơi nhạc cụ này – cái nhạc cụ mà anh em chúng tôi vẫn gọi đùa là “nhị Tây” ấy. Trong đoàn bay của tôi thì anh Trần Cung là người kéo nhị rất giỏi, hình như hồi ở nhà, anh đã từng ở trong đội văn nghệ của xã thì phải. Vậy là trong lực lượng bay đêm có cả người chơi “nhị Tây”, người chơi “nhị Ta”. Tôi thì tay chân cứng qoèo vì chơi xà, chơi tạ nhiều nên tìm cách “phá bĩnh”, không học. Thiều thì nói sẽ chơi ghi-ta và Thiều vác ghi-ta ra chơi thật, cứ phập phừng, … phập phùng chẳng giống ai. Còn lại mỗi anh A thì khi ngắm bàn tay anh A, trung đội trưởng chỉ còn cách … lắc đầu. !. Anh Cát A từng được mệnh danh là người có “ngón tay thần”. Anh kể, từ hồi nhỏ, khi cùng một số người nữa đi khiêng giúp tấm gỗ lim cho ai đó, khi hạ tấm gỗ xuống, vì hiệp đồng với nhau không chuẩn, người buông tay trước, người buông sau nên anh A bị gỗ đè ngay vào ngón tay trỏ của bàn tay trái. Ngón tay tòe ta, máu chảy lênh láng. Sau khi dịt thuốc lào để cầm máu, tuy khỏi, nhưng ngón tay không còn tròn trịa nữa mà đầu ngón tay bẹp như đầu con rắn. Khi anh giơ ngón tay ra giả vờ mổ mổ vào đứa cháu thì nó sợ quá, khóc thét lên. Từ đó, anh hay tìm cách giấu ngón tay ấy đi. Một lần, nhân lúc anh ngủ, tôi ngắm nghía ngón tay anh, rồi lẳng lặng lấy bút mực vẽ theo đường rãnh sẹo, rồi vẽ mồm, vẽ mắt trông thật không khác gì đầu rắn. Khoái chí về thành quả của mình, tôi gọi mấy anh khác đến để “chiêm ngưỡng” cái tác phẩm ấy. Mấy anh thấy vậy thì cười phá lên. Có lẽ biệt danh “ngón tay thần” xuất xứ từ đấy. Anh A tỉnh dậy bực lắm, tôi sợ anh sẽ cho tôi một trận, nhưng khi anh nhìn vào ngón tay anh thì anh cũng phải bật cười và lẩm bẩm :”Cái thằng !”.Vậy là tôi thoát nạn. Mà riêng anh cũng có lắm giai thoại lắm cơ ! Ví dụ như chuyện ngáy chẳng hạn. Anh được cái là ngủ rất nhanh và ngáy cũng không giống ai, kể cả về tần xuất, về biên độ dao động và về âm lượng. Nói chung, khi anh đã “cất tiếng” là tất cả 3 người từ trung đội trưởng đến các trung đội viên còn lại ở trong phòng đều phải thức giấc hêt. Thế là dép, giày và tất cả những thứ gì có thể ném được sang phía giường anh A là đều được huy động ném cho hết. Khổ nỗi, anh chỉ “giữ im lặng” được vài giây thôi, rồi lại đâu vào đấy. Một lần, trung đội trưởng khua chúng tôi dậy lúc khuya :
    - Các cậu dậy họp Trung đội !
    Tôi và anh Thiều lồm cồm chui ra khỏi màn, chưa hiểu đầu đuôi ra sao thì anh Thuận nói luôn :
    - Tớ nghĩ ra rồi ! Ta ném giày dép chẳng qua chỉ thức tinmhr nó được tí thôi. Gốc gác là nó bị viêm họng. Có viêm họng thì mới gây ra ngáy. Bây giờ là phải trị tận gốc !.
    Nói xong, trung đội trưởng giao nhiệm vụ cho tôi phải xuống nhà bếp lấy muối. Tôi nói khuya thế này thì làm sao mà nhà bếp mở cẳ, hay để đến ngày mai hãy làm, nhưng anh Thuận bắt tôi đi ngay. Rồi tôi cũng tìm cách mang được muối về, chưa hiểu trung đội trưởng sẽ “điều trị” thế nào thì trung đội trưởng vốc ngay một nắm, thả vào miệng anh A bấy giờ đang há một cách hồn nhiên với lượng âm thanh khó tả.
    Nghe tiếng “khực” !. Bao nhiêu muối trong miệng anh A bắn tung tóe hết ra xung quanh. Trung đội trưởng Thuận lắc đầu ngán ngẩm :
    - Vậy là y học bó tay ! Bây giờ chỉ còn mỗi nước là khiêng “cụ” ra sân bóng chuyền mà thôi !
    Sân bóng chuyền thì ngay cạnh đấy. Ba anh em khiêng anh A ra đặt giữa sân bóng chuyền thật. Suốt cả quá trình khiêng “cụ” đi, tiếng ngáy vẫn vang lên đều đặn, không bị đứt đoạn tí nào. Chừng nửa đêm, trời đổ mưa, giường chiếu anh A bị ướt hết cả, anh tỉnh dậy, thấy mình ở giữa sân bóng chuyền thì vùng dậy lao vào nhà la hét, quát tháo ầm ỹ. Tôi sợ quá, giả vờ ngủ say và còn … ngáy nhè nhẹ nữa. Cũng từ hôm đó, anh đâm ra rất “ý tứ”. Đến giờ đi ngủ, anh vẫn lảng vảng ngoài hành lang hoặc ra phòng họp ngồi đọc báo cốt để cho anh em trong phòng ngủ đã rồi mới vào. Nghĩ cũng thương anh thật, nhưng khi anh về, cho dù chúng tôi đã ngủ cả rồi, tới lúc anh “cất tiếng” thì chúng tôi cũng vẫn cứ phải dậy như thường. Chúng tôi đành chịu đựng, lâu rồi thành quen. Đôi lúc vắng anh, vắng tiếng ngáy của anh lại thấy nhơ nhớ, lại thấy như bị thiếu hụt một cái gì đó. Đấy cũng chỉ là một vài chi tiết nhỏ của đời sống thường nhật của chúng tôi thôi.
    Vậy là ý định của Trung đội trưởng muốn cho các trung đội viên của mình chuyển sang lĩnh vực khai thác “nhị Tây” đã không thành. Tôi thì vẫn cứ ra bãi xà, bãi tạ. Thiều thì thi thoảng vẫn vác ghi-ta ra phập phừng và anh A thì chẳng chơi bộ môn nào hết, lâu lâu lại lấy “ngón tay thần” ngoáy mũi một cái !.

  3. Thanks utbinh, yeutoquoc_vietnam thanked for this post
    Likes conanbk, toan93 liked this post
  4. #33
    Ngày gia nhập
    May 2009
    Bài gửi
    2.718
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    6
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)
    Việc chuẩn bị đón nhận máy bay vào trực ở các sân bay tuyến trong, đặc biệt là Đồng Hới diễn ra rất kỳ công. Đồng Hới là sân bay nằm ngay sát biển. Địch trinh sát liên tục và đánh phá liên tục vì có lẽ chúng đã “đánh hơi” thấy không quân ta không chỉ lấy sân bay Đa Phúc làm căn cứ chính mà còn sẽ cơ động vào các sân bay phía trong để vươn đánh xa hơn, và một khi đã có MiG cơ động vào trong đó thì các hoạt động của các máy bay Mỹ, nhất là B-52 sẽ gặp nhiều nguy hiểm hơn. Địch cứ đánh, ta lại sửa gấp, cứ liên tục diễn ra như vậy ngày ngày. Đoàn của anh Phạm Ngọc Lan được cử vào Đồng Hới để triển khai nhiệm vụ, thực hiện quyết tâm của ta phải cơ động được vào Đồng Hới, phải xuất kích chiến đấu từ sân bay Đồng Hới. Thời kỳ đó là thời kỳ mưa nhiều, sân bay thì lầy lội, địch thì rải các loại bom phá, bom bi nên mặt đường băng lở lói như người bị rỗ mặt vậy. Sở chỉ huy tiền phương rất sốt ruột, anh Trần Hanh trực ở đó gọi điện kiểm tra liên tục :
    - Tình hình sức khỏe của cháu độ này thế nào ?
    - Mấy ngày nay cháu bị sốt, bị thủy đậu, mặt bị rỗ nhiều quá. Nó quấy khóc suốt thôi !
    ( Nội dung trao đổi có nghĩa là : tình hình sân bay thế nào ? / Sân bay bị địch đánh phá, đường băng bị nhiều hố bom. / Trời thì mưa liên tục )
    Vài ngày sau lại có điện :
    - Tình hình mặt mũi cháu thế nào rồi ?
    - Cũng khô ráo rồi !
    - Cậu chuẩn bị đón mấy cô em gái mình nhé !
    - Các cô ấy bao nhiêu tuổi ?
    - 17, 18 gì đó !
    - Để làm gì thế ?
    - Chúng lớn rồi thì phải tạo điều kiện cho chúng đi lấy chồng chứ !
    - Vâng, sẵn sàng, 17, 18, 19, 20, 21 đều được cả. Càng vui !
    ( Nội dung : đường băng khô ráo rồi thì chuẩn bị tiếp thu các loại máy bay MiG-17, MiG-21 để chuẩn bị cho chiến đấu )
    Và, Đại đội trưởng đại đội bay đêm – anh Đinh Tôn đã chuyển sân từ Đa Phúc cơ động vào sân bay Đồng Hới.
    Tất cả các máy bay chuyển sân vào khu vực phía trong thuộc khu Bốn đều phải giữ bí mật qua vô tuyến, không được phép liên lạc suốt từ lúc cất cánh đến tận lúc hạ cánh. Dọc đường hành trình, qua các điểm kiểm tra được xác định trước chỉ được bấm vào nút phát của vô tuyến một tiếng “cạch” hoặc 2 tiếng “cạch” theo đúng hiệp đồng.
    Chuyến ấy, anh Đinh Tôn bay vào bị lệch sang phía Tây đường bay, nghe tiếng “cạch” rồi mà anh Lan đứng trên đài chỉ huy không nhìn thấy máy bay đâu. Sợ anh Tôn đi quá xa, anh Lan đành phát “liều” qua đối không :
    - Ai vừa bấm nút đấy ?
    - 216 !
    Biết đấy là anh Đinh Tôn, anh Lan lệnh cho tất cả các thành phần trên đài chỉ huy tăng cường quan sát xem máy bay ta đang ở đâu. Phút sau,phát hiện được máy bay ta, anh lệnh cho bật đèn đường băng và chỉ huy cho anh Tôn vòng lại, về hạ cánh.
    Sau chuyến hạ cánh của anh Đinh Tôn, trời lại tiếp tục mưa tầm tã. Kiểu mưa này là kiểu mưa không thể tạnh ngay được. Phải tính đến việc sơ tán máy bay thôi. Và 3 trung đội dân quân đã được huy động vừa làm đường vừa kéo máy bay vào khu vực đường sắt của Đồng Hới. Ở đó, nền đường tương đối cứng, hơn nữa lại có thành ta-luy ngay bên cạnh, nên lực lượng công binh chăng, kéo lưới ngụy trang cũng thuận tiện hơn.
    Máy bay vào nơi sơ tán, ngụy trang xong xuôi thì xuất hiện chiếc máy bay không người lái bay dọc đường băng. Chiều đến lại xuất hiện một chiếc RF quần đảo trên khu vực sân bay nhưng chúng không hề phát hiện được nơi ta cất giấu máy bay. Sự phối hợp khéo léo, ăn ý giữa các thành phần quân dân và lực lượng công binh đã tạo nên hiệu quả bất ngờ, thật tuyệt vời.
    Mưa vẫn tiếp tục kéo dài thêm 2 ngày nữa, tới ngày thứ ba mới tạnh, mới thấy trời hửng nắng. Anh Trần Hanh ở ngoài sở chỉ huy sốt ruột hỏi :
    - Mấy ngày nay em gái mình ở đâu mà không thấy ca hát gì cả ?
    - Cô ấy nhớ nhà, khóc nhiều lắm, vừa rồi động viên mãi nên mặt mới tươi tỉnh được tí chút. Đêm nay nếu anh đồng ý thì cho tham gia một tiết mục văn nghệ !
    - Vậy cậu gửi em gái mình ở đâu thế ?
    - Ở So-manh Đờ-phe !
    - Ừ, nếu tươi tỉnh thì đồng ý cho hát !
    ( Nội dung : mấy ngày nay tình hình ra làm sao mà không tổ chức trực ?/Vì mưa nhiều, bây giờ trời mới hửng/Có thể thể tổ chức trực đêm nay nếu được cấp trên đồng ý/Máy bay được giấu ở đâu ?/Ở đường sắt (tiếng Pháp – Sơ manh Đờ phe là đường sắt – anh Trần Hanh và anh Phạm Ngọc Lan đều biết tiếng Pháp)/Vậy đêm nay có thể xuất kích đấy ! )
    Chiều tối ngày 4 tháng 10, máy bay được kéo ra sân bay để chuẩn bị trực chiến. Trước đó, vào khoảng 2-3 giờ chiều, một biên đội 4 chiếc F-4 bay dọc sân bay Đồng Hới, ném 8 quả bom xuống sân bay. 4 quả nổ ngay, còn 4 quả rơi gần ngay đài chỉ huy thì nằm chờ nổ.
    Tất cả kíp trực đã hoàn tất công tác chuẩn bị sẵn sàng chờ lệnh. Vào lúc 19 giờ, có lệnh cho anh Đinh Tôn vào cấp 1 và sau đó là khẩu lệnh :
    - Ấp Bắc ! Cờ Hồng ! (Mở máy ! Cất cánh ! )

    Đồng đội dembienlanh ạ ! Máy bay khi chuẩn bị vào không chiến đều phải vứt thùng dầu phụ để tăng sức cơ động ( kể cả máy bay ta và địch vì nếu đeo thùng dầu phụ thì lực cản rất ln và cơ động rất khó khăn ). Đơn giản chỉ là vậy thôi !

  5. Thanks utbinh, yeutoquoc_vietnam thanked for this post
    Likes leeloo, toan93 liked this post
  6. #34
    Ngày gia nhập
    Mar 2012
    Nơi cư ngụ
    Đà Nẻng
    Bài gửi
    217
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    0
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)
    Đồng đội dembienlanh ạ ! Máy bay khi chuẩn bị vào không chiến đều phải vứt thùng dầu phụ để tăng sức cơ động ( kể cả máy bay ta và địch vì nếu đeo thùng dầu phụ thì lực cản rất ln và cơ động rất khó khăn ). Đơn giản chỉ là vậy thôi !
    Cho em hỏi là khi vứt thùng dầu phụ thì bỏ luôn hay là sao ạ? Còn dầu trong thùng thì làm sao???

  7. #35
    Ngày gia nhập
    May 2009
    Bài gửi
    2.718
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    6
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)
    Cho em hỏi là khi vứt thùng dầu phụ thì bỏ luôn hay là sao ạ? Còn dầu trong thùng thì làm sao???
    Vứt nó đi thì số dầu còn trong đó cũng bỏ luôn, bạn ạ!

  8. #36
    Ngày gia nhập
    May 2009
    Bài gửi
    2.718
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    6
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)
    Lão Songvamco không chịu chăm sóc vườn tược nhà cửa gì cả! Cỏ mọc um tùm hết cả rồi nè!

    Trong đội ngũ các phi công tiêm kích từng tham gia các trận không chiến thì anh Nguyễn Văn Cốc bắn được 9 máy bay Mỹ, đứng đầu bảng, mà Bác Hồ kính yêu khi gặp bộ đội Không quân đã nói rằng : “ Bác mong có nhiều Cốc hơn nữa !”. Sau anh Cốc là các anh : Phạm Thanh Ngân, Nguyễn Hồng Nhị, Mai Cương ( Mai Văn Cương ) mỗi anh đều bắn hạ 8 máy bay địch. Các anh đã được tuyên dương danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, taisaolainhuvay ạ !
    Về việc để khi nhảy dù cho dù rơi nhanh hơn thì anh huyphongssi đã trả lời hộ tôi rồi. Không phải là cho thêm chì mà chính là cần phải kéo một dây dù cho dù lệch đi, khi đó dù sẽ rơi nhanh hơn. Huonghn 76 có thể tìm hiểu thêm và nhất là trực tiếp tham gia câu lạc bộ nhảy dù thì càng rõ.
    Tôi được “nếm” trận bom B-52 của Mỹ rải đầu tiên là ở Thanh Hóa từ 13 tháng 4 năm 1972. Đêm đó tôi trực chỉ huy bay cho anh Bùi Doãn Độ trực chiến. Báo động vào cấp, rồi lại xuống cấp và báo động sơ tán. Chúng tôi chưa kịp chui vào hầm thì suốt dọc đường băng của sân bay Thọ Xuân đã nháng lửa và tiếng bom rền như xay lúa, mãi không dứt. Mọi đường liên lạc hữu tuyến về Sở chỉ huy bị đứt hết, đối không cũng chẳng nghe được, lại rất nhiễu ( sau mới phát hiện là các cột ăng-ten bị mảnh bom phạt gãy hết, các đường dây cũng bị băm nát cả ). Tôi rất sốt ruột không biết tình hình ra sao nữa. Đài chỉ huy nằm ở phía Bắc đường băng. Lực lượng trực chính lại ở phía Nam đường băng.
    Thật như ngồi trên đống lửa. Tôi trồi lên hầm để ngó xem thì bị anh Vũ Trọng Tân ( trực quân báo ) lôi xuống, không cho lên, nhỡ tôi “vướng” mảnh bom thì xong. Đợt đánh này khá dài. Tiếng máy bay nghe rất nặng và rền. Dứt đợt đánh, tôi voptj lên khỏi hầm , hét gọi về phía trực xem tình hình bên đó thế nào thì thấy một bóng đen chạy từ phía đường băng lên nói với tôi là đường băng bị đánh hỏng hết rồi, lại đưa cho tôi 2 chú gà gô, nói là bắt được ở bên lề bảo hiểm đường băng. Hai chú chim bị sóng kích của bom làm cho nghễnh ngãng, quay quay như người bị động kinh. Tôi cũng chẳng còn bụng dạ nào nghĩ cách xử lí chúng nữa, lại thả ra rồi cùng với đồng chí công binh kia đi kiểm tra đường băng.
    Trong ánh sáng mờ mờ của trời đêm, cúi sát mặt đất nhìn thì thấy mọi tấm ghi lát trên đường cất hạ cánh đều bị đánh cong, bật lên khỏi mặt đất tựa như những dẻ xương sườn của một con vật nào cực kỳ khổng lồ được dóc hết thịt giành cho đám nhậu rồi vứt hỗn độn ra đấy. Bãi chiến trường ngổn ngang thế này thì bao giờ mới sửa được, mới lại bay, lại trực được ?. Tôi vừa uất hạn, vừa ngao ngán quay về hầm trực để thông báo cho số phi công và thợ máy trực chiến biết tình hình. Khu chúng tôi sơ tán và Sở chỉ huy thì nghĩ rằng chúng tôi bị “làm cỏ” không còn một mống nào rồi. Gần sáng thì chúng tôi mò được về nhà. Cả khu vực ấy râm ran, hân hoan, náo nhiệt hẳn lên. Đúng là chúng tôi từ cõi chết trở về thật, chẳng ai dám nghĩ là chúng tôi lại còn đủ như thế sau những đợt rải thảm hàng mấy trăm tấn bom của B-52 xuống khu trực. Sự may rủi, sống chết trong chiến tranh đúng là lạ lùng, không ai lường được.
    Chúng tôi phải đi đường bộ ngược ra Đa Phúc. Một tuần sau, sân bay sửa xong, tôi lại bay vào trực. Từ trên trời nhìn xuống mới ngại : một vệt chiều ngang khoảng hơn 2 km, chiều dài khoảng chục cây số chui chít hố bom, chỉ thấy hố bom là hố bom trong cái diện tích ấy, tưởng tượng như mình nhìn vào tổ ong bỏ không, không có ong thế nào thì đúng như vậy. Hôm ấy, nếu bọn lái đi chệch chỉ cần 1 độ sang phía đầu Tây sân bay thôi thì chắc số anh em chúng tôi trực chiến hôm ấy xương thịt, đất cát sẽ được băm nhừ, nhào vào nhau thành một hỗn hợp mà chẳng hề tìm được tên gọi của cái hỗn hợp ấy trong từ điển của loài người.
    Rồi một nỗi căm giận bùng lên trong tôi. Đất trời này là của dân mình, sao lại có bọn ngoại bang láo xược dám đến đây gây ra bao thảm họa, bao mất mát, đau thương cho dân tộc mình ?. Suốt cuộc chiến tranh, biết bao lần chúng tôi phải căm giận đến bầm gan tím ruột, bao lần máu như sôi lên trong huyết quản, bao lần phải đặt ra cái câu hỏi kia.
    Chúng tôi hiểu, những điều đó tạo cho chúng tôi thêm sức mạnh. Ngọn súng của chúng tôi không bao giờ chệch hướng. Cái chết cũng nhẹ tựa lông hồng. Chúng tôi vượt được mọi gian nan, hiểm nguy có lẽ cũng nhờ từ lòng yêu quê hương, yêu đất nước vô bờ. Rất nhiều sân bay dã chiến, ngắn hẹp mà chỉ nói ra thôi chắc bây giờ không ai tưởng tượng nổi đấy lại gọi là sân bay, càng không dám nghĩ rằng chúng tôi đã trực chiến ở những nơi ấy. Chúng tôi cất hạ cánh cả ở trên đường lăn. Có lệnh cất cánh là xuất kích, đánh nhau không tìm được nơi hạ cánh nữa thì nhảy dù, chỉ tâm niệm một điều duy nhất : phải đánh, phải chiến thắng !
    Sửa bởi dongminh : 02-10-2012 lúc 03:42 PM

  9. Thanks utbinh, toan93 thanked for this post
  10. #37
    Ngày gia nhập
    May 2009
    Bài gửi
    2.718
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    6
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)
    Tuan b5 có hỏi tôi về trường hợp của chiếc MiG-17 ở khu vực Diễn, rất tiếc là tôi tra sổ chưa ra, khi nào có tin chính thức chắc chắn tôi sẽ gửi ngay để tuan b5 rõ. Có điều, đã ở máy bay phản lực chiến đấu thì không thể nào ép hạ cánh bắt buộc được, nhất là lại “kèm vào tận trong Nam” nữa vì tính cơ động của máy bay tiêm kích rất cao và dầu liệu cho một lần xuất kích cũng chỉ có hạn thôi.
    Trở lại chuyến bay của anh Đinh Tôn :
    19 giờ 30 phút, máy bay rời đất và anh được dẫn vào khu vực chiến đấu, phát hiện được2 chiếc B-52 ở thế đối đầu nên không thể đánh được, phải quay về sân bay Thọ Xuân hạ cánh.
    Tuy chưa bắn được B-52 nhưng lần xuất kích ấy đã gieo được niềm tin vào khả năng dẫn đường sẽ dẫn được MiG bắn rơi B-52. Sau trận ngày mồng 4 tháng 10, sân bay Đồng Hới bị địch trinh sát và đánh phá dữ dội. Trạm ra-đa C-41 cũng bị địch phóng tên lửa gây hỏng hóc. Các lực lượng của ta lại tập trung sửa gấp sân bay, sửa ra-đa, tiếp tục chuẩn bị cho những cuộc xuất kích mới.
    Sân bay Đồng Hới đã bị lộ, phương án đánh lại phải nghiên cứu lại và chuẩn bị thật tỉ mỉ, chu đáo. Sân bay Anh Sơn đã được chọn làm sân bay cơ động để đánh B-52.. Khi cất cánh, từ sân bay Anh Sơn đến khu chờ ở Tân Ấp, đường bay ở gần núi cao ( thuộc dãy Trường Sơn phía Tây và núi Đại Huệ - Hông Lĩnh ở phía Đông ), phi công phải tự bay thấp theo số liệu đã tính toán trước, không được phép liên lạc để đảm bảo bí mật.
    Chuyến bay như vậy rất dễ mất an toàn, rất khó khăn đối với phi công bay đêm ở khu vực núi non hiểm trở như thế này, nhưng với quyết tâm đánh B-52, tất cả đều chấp nhận sự mạo hiểm.
    Nếu như chỉ cần bay cao một chút, tuy đảm bảo an toàn nhưng địch sẽ phát hiện được máy bay ta ngay, chúng sẽ gây nhiễu đối không và tổ chức đối phó, ta không thể đánh được địch mà còn bị tổn thất nữa là đằng khác. Kinh nghiệm của một số trận đánh ngày đã cho chúng ta áp dụng vào đánh đêm.
    Anh Vũ Đình Rạng đã cơ động đến sân bay Anh Sơn.
    Sân bay Anh Sơn là sân bay ngắn hẹp, với cự li 1800 m chiều dài và 27 m chiều rộng.
    Vào đêm 20 tháng 11 năm 1971, có 2 chiếc MiG-21 trực ở 2 sân bay. Anh Hoàng Biểu trực ở Vinh và anh Vũ Đình Rạng trực ở Anh Sơn.
    Anh Hoàng Biểu cất cánh trước, bay vào khu vực Tân Ấp, đèo Mụ Giạ ở độ cao 10.000 m. Địch phát hiện, trận đánh không thành, anh bay về hạ cánh ở sân bay Thọ Xuân.
    Địch nghĩ rằng từ trước tới giờ ta chỉ trực 1 chiếc mà thôi, khi xuất kích rồi sẽ về hạ cánh ở căn cứ chính là Đa Phúc và đêm hôm đó là không còn lực lượng nào ở các sân cơ động nữa. Chuyến xuất kích của anh Hoàng Biểu đã tạo được yếu tố bất ngờ cho chuyến sau.
    20 giờ 30 phút, anh Vũ Đình Rạng vào cấp và xuất kích. Sau 8 phút bay im lặng, không liên lạc gì, mò mẫm trong trời đêm theo đúng phương án với đầy những mối hiểm nguy rình rập khi bay đêm ở độ cao thấp, anh đã được dẫn và phát hiện được mục tiêu trên ra-đa của máy bay. Khi anh báo cáo đã phát hiện được mục tiêu, tất cả Sở chỉ huy nín lặng chờ đợi, hồi hộp và xúc động.
    Khi máy bay nằm trong cự li phóng tên lửa, máy bay ta đã đã đạt tốc độ tối ưu, anh ấn nút phóng tên lửa vào chiếc B-52 đi đầu và kéo cao, thoát li. Khi quan sát thấy 1 chiếc B-52 khác, anh đưa máy bay mình tiếp cận mục tiêu, bám sát và đến cự li cho phép thì phóng nốt quả tên lửa thứ 2 rồi về sân bay Anh Sơn hạ cánh an toàn.
    Trận đánh của anh Vũ Đình Rạng tuy không bắn rơi được B-52 tại chỗ, nhưng sau này địch phải thừa nhận có một B-52 bị bắn trọng thương, phải về hạ cánh bắt buộc ở sân bay U-đon ( Thái Lan ) mà không về được U-ta-pao.
    Sau đêm 20 tháng 11, bọn B-52 chỉ dám hoạt động từ nam đường 9 trở vào. Từ khu vực đường 9 trở ra đến khu Lùm Bùm, Ta-lê-phu-nhích, đèo Mụ Giạ …chúng không dám mò ra nữa. Ban ngày chỉ có loại F-4 hoạt động, ban đêm có thêm loại C-130 đánh phá chốt bản Đôn. Điều đó tạo điều kiện thuận lợi rất lớn cho ta vận chuyển tiếp tế cho chiến dịch trên cung đường từ đường 12, 20 cho đến đường 9.
    Nhiều phi công bay đêm đã liên tục mai phục, xuất kích để tiêu diệt B-52 như các anh Đinh Tôn, Hoàng Biểu, Đặng Xây, nhưng chưa lần nào “săn” được chúng. Chừng như chúng sợ “vía” các anh nên lần nào các anh xuất kích là chúng cũng tháo chạy từ sớm, hoặc khi các anh cơ động vào các sân bay Vinh, Anh Sơn … thì không hề thấy bóng dáng B-52 bén mảng cả trong thời gian dài. Thời gian ấy, trong Đại đội bay đêm đã có câu : “Biểu “Xê-Pôn” , Tôn “đường 9” …nghĩa là, các anh hoạt động chiến đấu ở các khu vực ấy quá nhiều. Có thể, kẻ địch không tường tận dung mạo các anh, nhưng dò qua sóng đối không, nghe giọng nói của các anh Đinh Tôn, Hoàng Biểu, Đặng Xây … là chúng có thể phán đoán được đấy là những con người thế nào rồi và chúng đã gờm lắm rồi. Biết đâu ( mà cũng có thể có lắm chứ ) các anh cũng nằm trong trường hợp tương tự như Anh hùng Liên Xô – phi công huyền thoại Pô-cơ-rư-skin trong cuộc chiến tranh Vệ Quốc Vĩ Đại, mỗi khi người Anh hùng ấy cất cánh là bọn Đức lại thông báo : “Chú ý ! Chú ý ! Có Pô-cơ-rư-skin ở trên trời !”.

  11. Thanks utbinh thanked for this post
    Likes MrDualCore, toan93 liked this post
  12. #38
    Ngày gia nhập
    May 2009
    Bài gửi
    2.718
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    6
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)
    Câu hỏi mà qtdc hỏi cũng là câu hỏi mà nhiều người từng đặt ra. Đúng là cần phải phóng 2 quả cùng một lúc. Trên bảng đồng hồ vũ khi có 1 công tắc có các vị trí như sau : 1 quả một và bắn loạt ( 2 quả hoặc 4 quả ) luôn. Anh Vũ Đình Rạng đã để công tắc ấy ở vị trí bắn 1 quả một. Chính vì vậy mới thật đáng tiếc trong cái cơ hội ngàn năm có một này. Cũng chẳng có lí do gì khác đâu. Hồi đó, sau khi anh Rạng về hạ cánh, khi rút kinh nghiệm chiến đấu, cũng có ý kiến cho là anh sợ chêt, dao động tư tưởng đấy. Thật là oan cho anh. Nếu sợ chết thì sao dám cất cánh đi đánh nhau, sao dám gặp địch, sao dám bắn lần một rồi lại vào bắn lần hai. Tôi thì chỉ thấy thật đáng tiếc, vô cùng tiếc cho anh ấy mà thôi, bằng không thì anh ấy đã được phong Anh hùng ngay sau trận ấy rồi. Chẳng lẽ đấy lại là số phận ?. Ngay cả những cầu thủ lừng danh, khi sút phạt 11 mét mà có khi còn không vào gôn nữa là. Biết giải thích thế nào được ?.
    Còn chuyện bên phía Mỹ thì đương nhiên họ phải giấu nhẹm thông tin đi rồi. Lá bài cuối cùng với con ngoáo ộp "pháo đài bay bất khả xâm phạm" mà bây giờ bị như thế thì có khác gì nhận được một cú tát trời giáng vào giữa mặt. "Cái kim trong bọc lâu ngày cũng lòi ra" huống hồ đây là cái B-52. Sau này, chính họ đã công nhận và bấy giờ chúng ta cũng công bố chiến công ấy cho anh Vũ Đình Rạng, altus ạ !
    Thực ra, số phi công đánh đêm của ta không nhiều. Lực lượng tham gia trực chiến và tham gia chiến đấu trong những giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh Mỹ sử dụng không quân đánh ra miền Bắc chỉ có khoảng chục phi công đánh đêm mà thôi.
    Lực lượng mỏng, nhiệm vụ lại rất nặng nề, nhưng trách nhiệm trước Đảng, trước Bác Hồ, trước nhân dân đã giúp cho các phi công đánh đêm không hề chùn bước trước khó khăn, quyết tâm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.
    Năm 1972 thực sự là môth năm khó khăn, gian khổ. Sự ác liệt, khốc liệt của cuộc chiến tranh tăng từng ngày một.
    Số lần xuất kích chiến đấu ngày càng dày hơn, những trận không chiến cũng xảy ra thường xuyên hơn, cuộc chiến đấu ngày càng phức tạp hơn. Mỹ dựa vào tiềm lực kinh tế, vào vật chất kỹ thuật, quốc phòng, dùng trăm phương ngàn kế tạo yếu tố bất ngờ trong từng trận, từng đợt chiến đấu hòng đánh vào ý chí, quyết tâm chiến đấu của ta, gây nên những tổn thất lớn cho ta. Mỗi trận đánh, mỗi trận không chiến - thủ đoạn của chúng đều thay đổi.
    Cuộc sống, nề nếp sinh hoạt của đội ngũ phi công cũng bị xáo trộn theo những cuộc cơ động hết sân bay này đến sân bay khác. Bom đạn Mỹ không để cho bất kỳ sân bay nào của ta được yên ổn quá lâu. Chúng đánh liên tục, ban ngày đánh rồi, ban đêm đánh tiếp, đánh không theo quy luật nào. Chuyện phải cất cánh ở đường băng ngắn hẹp, cất hạ cánh ở cả đường lăn, xung quanh còn đầy hố bom, hố đạn ... đều là chuyện bình thường đối với tất cả các lực lượng phi công đánh đêm và đánh ngày.
    Tôi đã từng phải nhịn đói cả ngày trời khi trực chiến ở sân bay Gia Lâm vì bom địch thả rơi trúng bếp ăn, toàn bộ khu bếp bị đánh sập. Chúng tôi thì lúc nào cũng chờ xuất kích, chẳng ai nghĩ đến ăn nữa. Sang ngày hôm sau thì chính trị viên Thường đi theo kíp trực của bọn tôi đến mãi trận địa pháo phòng không xin được xoong cơm ngô và một bát dưa muối đem về. Anh em chúng tôi chia nhau mỗi người lưng bát. Không ai có cảm giác đói. Có lẽ, sự căng thẳng, tinh thần sẵn sàng ở tuyến trực ... đã làm cho chúng tôi quên đi những nhu cầu tối thiểu của thường ngày. Tôi cũng mất chứng mất ngủ từ ngày ấy. Đến tận bây giờ, may lắm mỗi đêm chỉ ngủ được vài tiếng là cùng. Trưa thì chẳng bao giờ chợp mắt rồi. Âu cũng là di chứng của chiến tranh.
    Tôi đi đâu là bị bom đạn đuổi theo lằng nhằng đến đấy. Một ngày phải cơ động không biết bao nhiêu sân bay mà kể. Bạn hữu tôi cũng vậy, hạ cánh cả khi địch vừa đánh xong, hạ cánh cả khi lúc chúng đang đánh, rồi có khi hạ cánh xong thì chúng đánh. Cứ thấy có thời điểm có thể hạ cánh được là chúng tôi phải xuống luôn. Chỉ cần một phút đắn đo thôi, thời điểm đó qua đi là "bị" ngay. Mọi xử lí phải thật nhanh, thật chuẩn xác. Cũng có những anh hạ cánh xong, trên đường chạy xả đà, lao xuống hố bom, rồi lao cả xuống ao, rồi lật ngửa máy bay, lật nghiêng máy bay ... đủ cả.
    Cười nhất là hôm anh Đỗ Văn Lanh ( anh Lanh về sau được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân ) hạ cánh ở sân bay Gia Lâm. Dù giảm tốc bị đứt, máy bay cứ lao ào ào ( mặc dù anh đã tắt máy, đã phanh hết cỡ rồi ) nhằm ao phía trước thẳng tiến. Phút chốc, trong chớp mắt nghe cái "ùm" !. Nước ao bắn tung tóe, từ xa trông tới chỉ còn thấy mỗi chiếc đuôi đứng máy bay nhô lên tựa như vây con cá mập ở ngoài biển khơi. Mọi người hốt hoảng tìm xe ứng cấp để đến cứu phi công. Lâu sau mới có xe. Đến khi chạy tới bờ ao, nhìn ra chẳng thấy phi công đâu. Gọi chẳng thấy ai trả lời ! Xăm soi hết quanh các bụi lau, bụi sậy ở bờ ao chẳng thấy vết tích gì ! Cả đoàn ngơ ngác không ai hiểu nổi chuyện gì đã xảy ra.
    Trong khi đó thì anh Lanh đang ngồi luộc ốc ở khu nhà gần đó. Số là, sau khi "lăn tùm" xuống ao, Lanh mở nắp buồng lái, cởi giày, cởi quần bay đeo hết lên cổ, nhảy ra cánh máy bay, lội ngay lên bờ. Ngoái lại xung quanh thấy có rất nhiều ốc nhồi ( cái khoản ấy thì các ao ở quanh sân bay Gia Lâm sẵn lắm ) liền bắt mấy chục con, cho vào ống quần bay, túm lại, xách về để chiêu đãi bọn tôi.
    Đoàn đi cấp cứu phi công bị nạn dò về đến nơi thì thấy mấy thằng bọn tôi đang nhể ốc ăn. Ba hòn gạch chụm lại, một ống bơ sắt tây bắc lên, nhóm lửa mấy phút là có thể "chiến đấu" được với đám đặc sản ấy rồi !.
    Thôi thì tiếng cười, tiếng quát, tiếng chửi, tiếng khóc ... văng ra đủ cả !. Đúng là chiến tranh ! Cái gì cũng có thể xảy ra bất kỳ lúc nào và bất kể lúc nào cũng có thể xảy ra bất kể cái gì !.
    Cảm động nhất là hôm tôi xuống hạ cánh ở sân bay Miếu Môn, phải đi vào tít trong bản, sơ tán ở nhà dân, rét vô cùng. Chủ nhà cho mượn chiếc chăn bông để đắp. Chiếc chăn bông của đôi vợ chồng mới cưới nhau, chồng lại vừa đi B ( vào Nam chiến đấu ). Chăn nồng mùi lạ, tôi không sao ngủ nổi. Ngoài kia, khi có cơn gió thổi thốc lại thì toàn mùi thịt người - mùi thịt của bọn giặc lái Mỹ cháy cùng máy bay rơi hồi tối xông đến nồng nặc, vừa gây, vừa khét, thối đến buồn nôn. Tôi chỉ mong cho chóng sáng mà sao đêm lại dài đến vậy, dài như vô tận. Thời gian bò chậm chạp tưởng như không nhúc nhích nữa. Sáng ra, tới nơi ăn sáng thì thấy 6 bát mì tôm hãm, để trên bàn ăn. Tôi nghĩ thầm : chắc đêm qua có số cơ động đến bổ sung. Ngồi đợi chẳng thấy ai xuất hiện. Hỏi ra thì mới biết đấy là tiêu chuẩn ăn sáng của tôi !. Trời đất quỷ thần ơi ! Hóa ra là bếp ở đây chưa hề nấu cho phi công ăn bao giờ, chẳng có gì cả ngoài mì tôm và tiêu chuẩn ăn sáng của tôi tương đương với 6 bát mì thì cứ thế mà duyệt, mà thẳng thừng phục vụ thôi ! Chiến tranh cũng lắm cái buồn cười thật !.

  13. Thanks utbinh thanked for this post
    Likes MrDualCore, toan93 liked this post
  14. #39
    Ngày gia nhập
    May 2009
    Bài gửi
    2.718
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    6
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)
    Các chuyến bay xuất kích đều là những chuyến bay cảm tử. Cuối tháng 2 năm 1972, Đại đội phó đại đội bay đêm Hoàng Biểu đã có chuyến bay như vậy. Anh cơ động vào sân bay Vinh. Sân bay Vinh bấy giờ là sân bay đất với kích thước chiều dài 2000 m và chiều rộng là 30 m được lu, nền, được trang bị hệ thống đèn dạ hàng dã chiến ở hai bên đường băng rất thưa và có khi chỉ sáng được có một bên. Khi đi kiểm tra đường băng, Chính ủy Hoàng Phương nói với anh Phạm Ngọc Lan ( người chỉ huy ở Vinh ) rằng : "Hôm nay ta mở mặt trận Quảng Trị. Không quân ta phải bay vào đó. Đây là chuyến bay cảm tử. Bằng cách nào cũng phải cất cánh !".
    Vì hai anh Phạm Ngọc Lan và Hoàng Biểu đều từng là những phi công bay đêm với nhau, từng hiểu nhau nên hiệp đồng giữa người trực chỉ huy và người trực chiến rất chóng vánh và chặt chẽ.
    Chế độ trực sẵn sàng chiến đấu tại sân bay Vinh là trực ngay dưới cánh máy bay, thời gian chưa có lệnh báo động chuyển cấp thì có thể nằm nghỉ ngay trên chiếc cáng cứu thương đặt cạnh máy bay. Gần 1h sáng thì có lệnh chuyển cấp. Máy bay của anh Hoàng Biểu được đeo 2 thùng dầu phụ, đường băng thì lại ngắn, cất cánh là một vấn đề nan giải, phải rất cố gắng và liều nhấc máy bay cho tách đất ở tốc độ nhỏ mới được. Hôm ấy trời rất xấu, tầm nhìn kém và mây xệ xuống thấp. Máy bay tách đất một cách khó nhọc, khi bay chưa đến độ cao thu càng thì đã chui vào mây. Sở chỉ huy lệnh cho anh lấy độ cao lên 8000m ( thông thường là phải đi rất thấp và phải giữ bí mật liên lạc qua đối không, nhưng lần này lại khác, Sở chỉ huy dẫn ngay từ đầu bằng các khẩu lệnh qua đối không và cho lấy độ cao luôn ). Tính toán theo thời gian thì đã đến gần đường 9, anh nhận được lệnh bật tăng lực lấy độ cao 14000 m, giữ nguyên tăng lực, vòng 2 vòng ở độ cao này, sau đó xuống 6000 m vòng tiếp rồi xuống 2000 m vòng tiếp một vòng nữa và lấy độ cao bay ra.
    Quá trình trên đường về, anh được dẫn theo đường bay zic-zăc. Anh biết mình đã bị tiêm kích địch đuổi theo nhưng không thể bám được anh. Đến khu vực Hồng Lĩnh thì anh được dẫn xuyên xuống hạ cánh. Thời tiết rất xấu, mây quá thấp nên anh xuyên mây đến 2 lần mà vẫn không thấy được đường băng, đi sang sân bay dự bị Anh Sơn thì tình trạng thời tiết không có gì khả quan hơn là ở Vinh. Dầu liệu đã cạn mà không thể hạ cánh được. Anh đành phải rời bỏ chiếc máy bay đã hết dầu, nhảy dù xuống đất Yên Thành, tiếp đất trên ruộng khoai rồi lần mò về được sân của Hợp tác xã. Anh đã được đưa về Sở chỉ huy tiền phương. Chính ủy đã gặp anh, thăm hỏi, động viên anh đã thực hiện tốt chuyến bay cảm tử và chuẩn bị tinh thần cho những chuyến bay mới.
    Việc chuyến bay vì thời tiết xấu, sau khi xuất kích đi làm nhiệm vụ về bay đến hết cả dầu mà không hạ cánh được, phải rời bỏ máy bay thì không phải chỉ có mình anh Hoàng Biểu mà sau này còn có các trường hợp tương tự, ví dụ như anh Vũ Đình Rạng, anh Nguyễn Đức Chiến cũng gặp phải cảnh ngộ tương tự. Trình độ bay đêm của các phi công ta bấy giờ chưa được cao, tiêu chuẩn bay còn rộng, hầu hết là 300/3000, một số còn 400/400 ( tức là tiêu chuẩn kỹ thuật chỉ được phép hoạt động khi đáy mây thấp nhất là 300 mét, tầm nhìn thấp nhất là 3000 mét hoặc đáy mây thấp nhất là 400 mét và tầm nhìn thấp nhất là 4000 mét mới được bay ), nhưng không hề ai để ý, quan tâm đến chuyện ấy. Việc hoàn thành nhiệm vụ phải đặt lên trên hết. Cất cánh ! Đánh nhau ! Nếu vì lí do nào đó không thể hạ cánh được thì rời bỏ máy bay về lấy máy bay khác trực, cất cánh tiếp ! Thế thôi !.
    Ngay chuyện về hạ cánh cũng có những trường hợp phải bỏ máy bay. Trong suốt chiến dịch 12 ngày đêm, ta mất 4 máy bay ( không hạ cánh được phải nhảy dù và khi hạ cánh bị hỏng ) : bay hết dầu mà không hạ được phải nhảy dù là anh Vũ Đình Rạng và Nguyễn Đức Chiến, hạ cánh xong máy bay bị hỏng là anh Trần Cung và Phạm Tuân.
    Hồi đó, máy bay MiG-21 của ta được Liên-xô viện trợ không hoàn lại nên chúng ta tuy có tổn thất, mất mát về khí tài nhưng vẫn còn đủ sức chiến đấu.
    Cả hai lực lượng đánh đêm và đánh ngày trong giai đoạn ấy có thể đếm trên đầu ngón tay được. Đi sân bay nào chúng tôi cũng chỉ có những gương mặt ấy gặp nhau mà thôi. Chỉ mong sao có thêm những gương mặt mới nhưng chưa kịp đưa vào trực thì thôi, những gương mặt cũ ấy đừng có hao tổn đi là hạn phúc lắm rồi !

  15. Thanks utbinh thanked for this post
  16. #40
    Ngày gia nhập
    May 2009
    Bài gửi
    2.718
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    6
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)
    Với thời gian chuyến bay cảm tử của anh Hoàng Biểu, anh đã nhớ và kể lại cho tôi cùng đủ mọi cảm giác mừng lo lẫn lộn về chuyến bay ấy. Việc chuyến bay ấy có đúng vào giờ G của phương án mở mặt trận hay không thì tôi chịu, không thể biết được.
    Suốt giai đoạn cuối tháng 12, chúng tôi quay như đèn cù. Cất cánh đã khó khăn, hạ cánh còn khó khăn hơn. Ngay đêm 18 tháng 12 đã có 2 chuyến xuất kích và cả hai chuyến đều bị trục trặc khi về hạ cánh. Đêm ấy, Phạm Tuân trực ở đầu Tây sân bay Đa Phúc. Máy bay chiến thuật F-111 đánh trong vòng 2 đợt, phá hỏng quá nửa đường cất hạ cánh. Khi Phạm Tuân nhận lệnh chuyển cấp, mở máy, lăn ra chuẩn bị cho cất cánh thì đạn vẫn nổ chi chít quanh máy bay. Anh cố cất cánh kéo máy bay tách đất. Đến khu vực Hòa Bình, anh phát hiện thấy những hàng đèn trên thân các máy bay B-52. Anh vòng lại, lấy độ cao và bật ra-đa trên máy bay mình thì lập tức, bọn B-52 tắt luôn đèn và lũ tiêm kích F-4 đi bảo vệ B-52 quay vào phóng tên lửa vào máy bay của Tuân. Anh cơ động zic-zăc tránh bọn F-4 và bọn F-4 cũng mất mục tiêu. Anh vòng tiếp 2 vòng ở Mộc Châu - Sơn La rồi quay về Đa Phúc hạ cánh. Thời điểm đó, đài chỉ huy của sân bay bị đánh hỏng nên không thể liên lạc được. Pháo phòng không nghe thấy tiếng máy bay là bắn lên dữ dội. Trong ánh sáng trăng và vào đúng thời điểm một chiếc B-52 bị bắn cháy, rơi ở Phủ Lỗ, lợi dụng ánh sáng đó cộng với đèn pha trên máy bay, anh lao xuống hạ cánh. Tiếp đất xong thì nghe cái "Rầm !". Biết có vấn đè, Tuân tắt máy, bóp phanh hết cỡ nhưng cũng chẳng ăn thua gì. Máy bay đã lao xuống hố bom, quay ngược lại 180 độ. Anh lấy chân đạp vào phần nắp buồng lái đã vỡ cho rộng hơn rồi bỏ mũ bay, bỏ áo da, lần lượt tống ra ngoài và chui ra khỏi buồng lái.
    Trước đó, anh Trần Cung trực ở sân bay Hòa Lạc cũng xuất kích trong tình trạng tương tự mà còn nguy hiểm hơn nữa vì các tấm ghi lát trên đường cất hạ cánh bị đánh bong, cong qoeo, dựng ngược cả lên. Anh liều kéo máy bay tách đất ở tốc độ nhỏ. Anh được dẫn đi đánh bọn B-52 nhưng vì nhiễu dày đặc và bọn tiệm kích đi yểm hộ phát hiện được anh, quây lại bắn tên lửa. Anh cơ động và cũng nhận được lệnh về Đa Phúc hạ cánh. Đài chỉ huy tại sân bị bom đánh hỏng, anh quay về Kép, nhưng đài chỉ huy ở Kép cũng bị phá hủy, không liên lạc được. Anh nhận lệnh vòng về Gia Lâm. Đến Gia Lâm thì sân bay cũng vừa bị đánh xong, một lần nữa anh lại quay lại sân bay Đa Phúc. Anh liều xuống hạ cánh . Vừa tiếp đất là tắt máy luôn và thả dù giảm tốc. Máy bay chồm qua một hố bom cỡ nhỏ rồi dừng lại trước một hố bom cỡ lớn. Anh nhảy ra khỏi buồng lái được chừng một hai phút thì thấy một chiếc máy bay lao xuống hạ cánh, có hai vệt lửa sáng chạy dọc theo đường băng trước khi máy bay lao xuống hố bom. Thì ra đấy là máy bay của Phạm Tuân. Khi hạ cánh, do lực va chạm mạnh nên hai quả tên lửa K-13 đã "nhảy" ra khỏi bệ, trà xát trên mặt đường băng tạo ra hai vệt lửa mà anh Cung đã thấy.
    Anh Trần Cung vội chạy lại phía máy bay vừa hạ cánh thì thấy Phạm Tuân đang đạp nắp buồng lái để chui ra.
    Hai anh dò dẫm vượt qua bãi bom bi và được đón về Sở chỉ huy để rút kinh nghiệm.
    Bọn chúng tôi suốt giai đoạn ấy cứ "lang thang", "lông bông" tứ xứ, đi hết sân này đến sân khác, chẳng mấy khi về đến căn cứ chính của Trung đoàn. Quần áo còn lại không mặc đến thì hôi rình, có thể thu hoạch mộc nhĩ mọc ra từ quần áo được. Thời gian ở trong hầm của bọn tôi khá nhiều nên nhiều anh bị mắc căn bệnh mà tôi gọi là "bệnh hươu". Thực chất là lang ben, trông cứ như những con hươu sao ấy nên gọi vậy cho tiện.
    Cuộc chiến đấu trong chiến dịch 12 ngày đêm thực sự ác liệt và cam go. Mỗi lần vào cấp, ngồi vào buồng lái, tôi lại hít một hơi dài, nén trong lồng ngực, thầm nhủ : có lẽ đây cũng là lần cuối của mình ! . Nhưng khi đã nổ máy thì ý nghĩ ấy tiêu tan ngay. Biết bao nhiêu việc phải làm dồn dập sau khi ấn nút khởi động. Xuất kích, săn lùng, không chiến, xử lí các tình huống bất trắc, tìm đường về hạ cánh ... luôn luôn ở tột đỉnh của sự căng thẳng. Hạ cánh xong, ra khỏi buồng lái mới thở phào : ta vẫn còn sống ! Và chuẩn bị tiếp cho lần xuất kích mới. Cứ thế, chúng tôi ở trong vòng xoáy đến chóng mặt. Râu ria cũng chẳng mấy khi kịp cạo. Ngày đánh nhau, đêm lại họp bàn, rút kinh nghiệm trận đánh, tìm cách đánh đến khuya. Rồi báo động, rồi trú ẩn ... Chợp mắt được một chút thì đã đến giờ đi trực. Mà đã trực thì không có lúc nào rỗi cả. Có ngày, tôi có đến 11 lần chuyển cấp, 6 lần mở máy, 4 lần xuất kích. Lần báo động chuyển cấp cuối cùng là lúc trời đã nhá nhem tối, tôi không còn đủ sức chạy ra máy bay nữa. Vào máy bay ngồi, tôi nói với tổ trưởng thợ máy : " Chắc lần này cất cánh là tao đi tong thôi vì mệt lắm rồi !". Tổ trưởng thợ máy mắng lại : "Phỉ thui cái mồm mày, chỉ được cái nói gở là không ai bằng ! Ngậm miệng vào ngay !". Quả thực, ngày đó tôi mệt đến muốn ngất. Hầu như suốt ngày không có hạt cơm nào vào bụng vì vừa bưng bát cơm, và được một miếng là báo động. Tay xách mũ bay, vừa chạy vừa nhổ cơm trong miệng ra, lau miệng vào ống tay áo, cất cánh rồi về hạ cánh ở sân bay khác. Quay hơn đèn kéo quân như vậy thì đến đá cũng phải đổ mồ hôi !.

Chủ đề tương tự

  1. [Tin tức] Nga săn lùng nơi đồn trú cho tàu sân bay siêu khủng
    By phanlongmk92 in forum [Lưu trữ]QS-QP Thế giới 2011
    Trả lời: 29
    Bài mới gửi: 05-10-2012, 10:34 AM
  2. [Thảo luận] Xem UAV TQ săn mồi!
    By vnphong1 in forum Tìm hiều về các loại vũ khí quân sự
    Trả lời: 34
    Bài mới gửi: 19-05-2012, 12:51 AM
  3. Trả lời: 10
    Bài mới gửi: 11-03-2012, 10:33 AM
  4. [Tin tức] Quân đội Mỹ săn Taliban như săn Thỏ.
    By Kilo636 in forum [Lưu trữ]QS-QP Thế giới 2010
    Trả lời: 25
    Bài mới gửi: 01-11-2010, 09:49 PM
  5. Chùm ảnh: “Đột nhập” tàu săn tàu ngầm của Hải quân Nga
    By nhocbagai in forum [Lưu trữ]Thời sự quốc tế 2009 trở về trước
    Trả lời: 0
    Bài mới gửi: 11-04-2009, 07:42 PM

Bookmarks

Quyền hạn Gửi bài

  • Bạn không thể gửi chủ đề
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài của mình
  •